Cảm Nhận Về Hai Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ “Sóng”

Xuân Quỳnh là một nhà thơ tiêu biểu trong thời kỳ chống Mỹ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn tha thiết với khát vọng về hạnh phúc bình dị, đời thường. Với các tác phẩm chính như: Thơ Tơ tằm – chồi biếc, Hoa dọc chiến hào, Gió Lào cát trắng,… Trong đó, “Sóng” là bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh, in trong tập “Hoa dọc chiến hào”.

Bài thơ “Sóng” được sáng tác vào năm 1947, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình). Trong bài thơ, tác giả thông qua việc khám phá những nét tương đồng giữa “Sóng” và “Em” để miêu tả vẻ đẹp tâm hồn, khát vọng tình yêu tha thiết, nồng nàn, thủy chung và hạnh phúc của người phụ nữ đang yêu.

Ở đây, “Sóng” là hình tượng trung tâm, ẩn dụ dùng để bộc lộ những cảm xúc trong tình yêu. Sóng là sự hòa nhập và phân tán của nhân vật trữ tình “Em”. Nhân vật trữ tình “Em” được tác giả phân thân ra để bộc lộ cảm xúc của chính mình. Tác giả đã sáng tạo hình tượng sóng khá độc đáo, vừa tả thực những trạng thái thăng trầm của con sóng, vừa thể hiện những cung bậc tình cảm và tâm trạng của người phụ nữ đang yêu.

Với bài thơ “Sóng” nổi bật là hai khổ thơ đầu. Nghĩ về sóng, cảm xúc trong tình yêu:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể.

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ.”

Trước hết, tình yêu mang tính phức tạp:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể”

Ở khổ thơ, hai câu đầu ngắt nhịp 2/3, hai câu sau chuyển sang nhịp 3/2. Xuân Quỳnh đã mô tả được sự thay đổi mau lẹ, biến hóa không ngừng của sóng biển và sóng tình. Sóng hiện ra như một con người có nội tâm nhiều biến động, con sóng mang những trạng thái trái ngược nhau: Lúc thì “Dữ dội” khi thì “Dịu êm”, lúc thì “Ồn ào” khi thì “Lặng lẽ”. Đó là hai trạng thái tâm hồn đối lập nhau, giằng xé nhau, buồn vui lẫn lộn.

Nhưng tại sao lại thế? Có phải sóng đang yêu, yêu âm thầm, lặng lẽ?

Sóng không biết! Sóng không hiểu!

Vậy nên, nếu “Sông không hiểu nổi mình” thì sóng dứt khoát từ bỏ, vượt qua giới hạn chật hẹp để “Tìm ra tận bể”, tìm đến cái bao la, vô cùng… Cũng như sóng, tình yêu cũng có những trạng thái phức tạp. Khi thì sôi nổi, mãnh liệt, khi thì dịu dàng, sâu lắng. Để hiểu nổi mình, tình yêu đã hướng đến cõi nhân gian rộng lớn. Rõ ràng, hành trình “Tìm ra tận bể” của sóng cũng chính là quá trình tự khám phá, tự nhận thức chính bản thân và khao khát sự đồng cảm, đồng điệu trong tình yêu của nhân vật “Em”.

Để rồi, hiện rõ khát vọng về tình yêu của tuổi trẻ:

“Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ.”

Sóng “Ngày xưa” và sóng “Ngày sau” vẫn vậy, vẫn trường tồn với thời gian, vẫn khát khao vào bờ. Và tình yêu cũng thế, vẫn vĩnh hằng với thời gian và tuổi trẻ. Như Xuân Diệu từng nói: “Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo – Hãy để tuổi trẻ nói hộ tình yêu”. Tình yêu gắn liền với tuổi trẻ, tình yêu ở quá khứ, hiện tại và tương lai đều là khát vọng muôn đời của tuổi trẻ “Nỗi khát vọng tình yêu – Bồi hồi trong ngực trẻ”. Hai tiếng “Bồi hồi” cứ rộn ràng, rung động, xao xuyến trong tim, thúc đẩy tuổi trẻ đi tìm chân lí yêu đương. Nhưng không riêng gì tuổi trẻ mà con người ai cũng đều nồng nàn và bồi hồi trước tình yêu.

Quả thật, tình yêu là gì? Khó có ai lý giải được! Kể cả “Ông hoàng thơ tình” là Xuân Diệu còn phải chịu thua và than thở:

“Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?

Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…”

Thế nhưng, con người ta vẫn cứ khát vọng, khát vọng lớn lao, vĩnh hằng với tình yêu.

Như vậy, bằng nghệ thuật tương phản, biện pháp ẩn dụ cùng phép liên kết độc đáo, Xuân Quỳnh đã làm nổi bật cảm xúc của người phụ nữ đang yêu và nỗi khát vọng của họ về một tình yêu mãnh liệt, nồng nàn và vĩnh cửu.

Cảm Nhận Của Em Về Đoạn Đầu Của Bài Thơ Tây Tiến Và Đoạn 5 Trong Bài Tiếng Hát Con Tàu

Đề bài: Cảm nhận của em về đoạn đầu của bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng và đoạn thơ từ” Nhớ bản sương giăng…khi ta đi đất đã hóa tâm hồn” trong bài tiếng hát con tàu của Chế lan Viên.

Mở bài: Giới thiệu về đoạn đầu của bài thơ Tây Tiến và đoạn 5 trong bài Tiếng hát con tàu

Quang Dũng và nhà thơ Chế Lan Viên đều là những nhà thơ của cách mạng, các tác phẩm của ông đều xoay quanh những vấn đề mang tính xã hội, nó không chỉ thể hiện tiếng lòng của chính tác giả về những miền nỗi nhớ, mà đó còn là những suy tư trắc trở của tác giả về cuộc sống. Cả hai bài thơ Tây Tiến và bài Tiếng Hát con Tàu đều có những điểm chung.

Thân bài: Cảm nhận của em về đoạn đầu của bài thơ Tây Tiến và đoạn 5 trong bài Tiếng hát con tàu

Hình ảnh của bài thơ Tây Tiến hiện lên trong lòng của đọc giả chính là cung bậc của những nỗi nhớ, ở đó con người được trải nghiệm những năm tháng đã qua, và khi mọi thứ đều đã đi vào quỹ đạo rồi thì con người trở về với đúng quy luật cũng như những giá trị của chính mình. Bài thơ khi mỗi tác giả sáng tác ra đó đều là những tác phẩm được đúc kết sâu sắc, và nó trở thành một nguồn tư tưởng riêng trong tâm hồn của những người thi sĩ, con người được trải nghiệm, được sống trong những năm tháng xưa, và nay nỗi nhớ đó đang dần dâng trào trong tâm hồn thơ ca của những người thi sĩ cách mạng:

Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!

Hình ảnh đầu của bài thơ Tây Tiến có thể nói là một câu cảm thán, tác giả được tha thiết với hình ảnh của dòng song Mã đã qua, hình ảnh của Tây Tiến, Tây tiến ơi đó chính là tiếng lòng mà tác giả dành cho vùng đất đã từng gắn bó máu thịt với những người chiến sĩ, ở đó con người đang dần được hòa nhập với cộng đồng, với tình đồng chí đồng đội:

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Còn trong bài tiếng hát con tàu, ở đây cũng là đang đề cập đến nỗi nhớ, nhưng nó đi từ những cái nỗi nhớ riêng biệt, không còn là tiếng gọi tha thiết về một vùng đất nữa, hình ảnh sương giăng, hình ảnh mây phủ, ở đây tác giả đang mang trong mình những nỗi nhớ về những vùng đã từng gắn bó, từng sống, từng mang đậm tâm hồn của những người chiến sĩ cách mạng:

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Tiếp theo hình ảnh rừng núi đã được chính tác giả cảm nhận bằng những hình ảnh đặc trưng và mang đậm trong giá trị của tác phẩm, hình ảnh núi rừng, xoay quanh là những nỗi nhớ chơi vơi, những đoàn quân mỏi, những hình ảnh đó đều nói lên tâm hồn của những người chiến sĩ cách mạng đang bị rung động trước tình và cảnh ở đây, nó gắn bó máu thịt trong tâm hồn của tác giả, làm cho những kỉ niệm đó sẽ không bao giờ có thể quên được.

Cả hai bài thơ đều là những nỗi nhớ, nỗi nhớ đó da diết và mang đậm những giá trị của sự tiếc nuối về một thời đã qua, đó là những kỉ niệm từng gắn bó máu thịt với quê hương, đất nước, những trải nghiệm riêng để lại cho tâm hồn những người chiến sĩ những trải nghiệm riêng về cuộc sống:

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?

Những hình ảnh làm nên những giá trị thiêng liêng trong tác phẩm đó là hình ảnh những mây phủ, những sương giăng, những rừng núi, và hơn hết nó còn bao gồm cả những núi rừng mênh mông. Để lại cho người thi sĩ những nỗi nhớ nhung, những tình cảm gắn bó, mật nồng, thiết tha với vùng đất mà họ đã từng sống.

Mặc dù, khi ở đó hình ảnh của nó chỉ là những người bạn, nhưng khi đi ra khỏi vùng đất đã từng gắn bó, nó trở thành một người bạn lâu bền, một người bạn từng gắn bó mặn nồng với ta trong biết bao nhiêu năm, keo sơn, đó quả thực là những tình cảm thiêng liêng và làm lưu luyến tình người nhất.

Tất cả những hình ảnh đó đều để lại cho người đọc những cái nhìn đầy suy tư, biết bao nhiêu trải nghiệm và cả những ấn tượng sâu sắc nhất về những vùng đất mà chúng ta đã từng gắn bó, nó keo sơn, mang nặng tình người. Điều đó thật làm cho mỗi người chúng ta cảm thấy lưu luyến, xót xa trước những hình ảnh đã qua.

Khi ta ở, chi là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Tâm hồn của những người thi sĩ vẫn đang lưu luyến trước mọi cảnh vật. Đúng như Chế Lan Viên đã từng nói, khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi đã đi thì tình cảm đó lại ngấm sâu vào trong tâm hồn của những người chiến sĩ cách mạng như ta. Đó thực là những tình cảm mặn nồng của một thời từng gắn bó và đoàn kết với nhau.

Kết bài: Bài văn nêu Cảm nhận của em về đoạn đầu của bài thơ Tây Tiến và đoạn 5 trong bài Tiếng hát con tàu

Cả hai bài thơ đều để lại cho người đọc biết bao nhiêu suy tư và cảm xúc, trước khung cảnh nỗi nhớ đang bao vay và trùm lên trên toàn bộ không gian của tác giả.

TỪ KHÓA TÌM KIẾM PHÂN TÍCH NỖI NHỚ TRONG KHỔ 1 CỦA BÀI THƠ TÂY TIẾN VÀ KHỔ 5 CỦA TIẾNG HÁT CON TÀU PHAN TICH NOI NHO CUA KHO 1 TAY TIEN VA KHO 5 CUA TIENG HAT CON TAU SO SANH NOI NHO CUA BAI TAY TIEN VA TIENG HAT CON TAU SO SÁNH NỖI NHỚ CỦA BÀI TÂY TIẾN VÀ TIẾNG HÁT CON TÀU Theo chúng tôi

Cảm Nhận Về Hai Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ “Sóng” – Xuân Quỳnh

Cảm nhận về hai khổ thơ đầu của bài thơ “Sóng” – Xuân Quỳnh.

Xuân Quỳnh là một nhà thơ tiêu biểu trong thời kỳ chống Mỹ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn tha thiết với khát vọng về hạnh phúc bình dị, đời thường. Với các tác phẩm chính như: Thơ Tơ tằm – chồi biếc, Hoa dọc chiến hào, Gió Lào cát trắng,… Trong đó, “Sóng” là bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh, in trong tập “Hoa dọc chiến hào”. 

Bài thơ “Sóng” được sáng tác vào năm 1947, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình). Trong bài thơ, tác giả thông qua việc khám phá những nét tương đồng giữa “Sóng” và “Em” để miêu tả vẻ đẹp tâm hồn, khát vọng tình yêu tha thiết, nồng nàn, thủy chung và hạnh phúc của người phụ nữ đang yêu.

Ở đây, “Sóng” là hình tượng trung tâm, ẩn dụ dùng để bộc lộ những cảm xúc trong tình yêu. Sóng là sự hòa nhập và phân tán của nhân vật trữ tình “Em”. Nhân vật trữ tình “Em” được tác giả phân thân ra để bộc lộ cảm xúc của chính mình. Tác giả đã sáng tạo hình tượng sóng khá độc đáo, vừa tả thực những trạng thái thăng trầm của con sóng, vừa thể hiện những cung bậc tình cảm và tâm trạng của người phụ nữ đang yêu.

Với bài thơ “Sóng” nổi bật là hai khổ thơ đầu. Nghĩ về sóng, cảm xúc trong tình yêu:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể.

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ.”

Trước hết, tình yêu mang tính phức tạp:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể”

Ở khổ thơ, hai câu đầu ngắt nhịp 2/3, hai câu sau chuyển sang nhịp 3/2. Xuân Quỳnh đã mô tả được sự thay đổi mau lẹ, biến hóa không ngừng của sóng biển và sóng tình. Sóng hiện ra như một con người có nội tâm nhiều biến động, con sóng mang những trạng thái trái ngược nhau: Lúc thì “Dữ dội” khi thì “Dịu êm”, lúc thì “Ồn ào” khi thì “Lặng lẽ”. Đó là hai trạng thái tâm hồn đối lập nhau, giằng xé nhau, buồn vui lẫn lộn.

Nhưng tại sao lại thế? Có phải sóng đang yêu, yêu âm thầm, lặng lẽ?

Sóng không biết! Sóng không hiểu!

Vậy nên, nếu “Sông không hiểu nổi mình” thì sóng dứt khoát từ bỏ, vượt qua giới hạn chật hẹp để “Tìm ra tận bể”, tìm đến cái bao la, vô cùng… Cũng như sóng, tình yêu cũng có những trạng thái phức tạp. Khi thì sôi nổi, mãnh liệt, khi thì dịu dàng, sâu lắng. Để hiểu nổi mình, tình yêu đã hướng đến cõi nhân gian rộng lớn. Rõ ràng, hành trình “Tìm ra tận bể” của sóng cũng chính là quá trình tự khám phá, tự nhận thức chính bản thân và khao khát sự đồng cảm, đồng điệu trong tình yêu của nhân vật “Em”.

Để rồi, hiện rõ khát vọng về tình yêu của tuổi trẻ:

“Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ.”

Sóng “Ngày xưa” và sóng “Ngày sau” vẫn vậy, vẫn trường tồn với thời gian, vẫn khát khao vào bờ. Và tình yêu cũng thế, vẫn vĩnh hằng với thời gian và tuổi trẻ. Như Xuân Diệu từng nói: “Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo – Hãy để tuổi trẻ nói hộ tình yêu”. Tình yêu gắn liền với tuổi trẻ, tình yêu ở quá khứ, hiện tại và tương lai đều là khát vọng muôn đời của tuổi trẻ “Nỗi khát vọng tình yêu – Bồi hồi trong ngực trẻ”. Hai tiếng “Bồi hồi” cứ rộn ràng, rung động, xao xuyến trong tim, thúc đẩy tuổi trẻ đi tìm chân lí yêu đương. Nhưng không riêng gì tuổi trẻ mà con người ai cũng đều nồng nàn và bồi hồi trước tình yêu.

Quả thật, tình yêu là gì? Khó có ai lý giải được! Kể cả “Ông hoàng thơ tình” là Xuân Diệu còn phải chịu thua và than thở:

“Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?

Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…”

Thế nhưng, con người ta vẫn cứ khát vọng, khát vọng lớn lao, vĩnh hằng với tình yêu.

Như vậy, bằng nghệ thuật tương phản, biện pháp ẩn dụ cùng phép liên kết độc đáo, Xuân Quỳnh đã làm nổi bật cảm xúc của người phụ nữ đang yêu và nỗi khát vọng của họ về một tình yêu mãnh liệt, nồng nàn và vĩnh cửu.

Cảm Nhận Của Anh Chị Về Đoạn Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ thời kì chống Mỹ cứu nước. Thơ của nữ thi sĩ dễ đi vào lòng người đọc với vẻ đẹp giản dị mà đằm thắm. Đó là những tâm tình, suy tư của người phụ nữ luôn khao khát được yêu thương. Trong đó, “Sóng” là một thi phẩm nổi bật của thơ Xuân Quỳnh. Đặc biệt là những dòng thơ đầu : “Dữ dội và dịu êm…Khi nào ta yêu nhau”.

Xuyên suốt trung tâm của bài thơ là hình tượng sóng và hình tượng em. Sống là một hiện tượng của thiên nhiên. Nhưng ẩn sâu trong đó là sóng tình yêu, sóng lòng trong tâm hồn của người phụ nữ. Hình tượng em là sự hóa thân của nhà thơ Xuân Quỳnh. Nữ sĩ trải lòng mình trên những trang thơ, mượn hình ản sóng để nói lên những nỗi lòng.

Trong hai câu thơ trên, tác giả nêu lên những trạng thái đối lập của sóng: lúc thì mạnh mẽ, dữ dội, lúc lại trôi lững lờ. Đó cung là đặc điểm của tâm trạng người con gái khi yêu. Có lúc cuồng nhiệt, đắm say, có lúc lại dè dặt e ấp. Những trạng thái tuy đối lập nhưng lại thống nhất với nhau. Hai câu thơ đầu được tổ chức theo phép đối, tạo nên cấu trúc hài hòa, cân xứng. Tác giả đặt những tính từ như “dịu êm”, “lặng lẽ” ở dưới mỗi câu thơ cũng cho thấy được sự nữ tính của con sóng .

Phép nhân hóa đã thổi hồn vào sóng để biến nó trở thành một con người. Sóng không chấp nhận giới hạn chjat chội, khi không được sông hiểu,khi không tìm thấy được sự đồng điệu, nó vươn ra tìm đến với đại dương mênh mông. Cũng giống như trong tình yêu, người phụ nữ không chấp nhận những gì tầm thường, chật hẹp mà luôn hướng tới những điều cao cả, lớn lao.

Ở đoạn thơ tiếp theo, tác giả viết:

Con sóng đa vỗ bờ từ ngàn xưa, cho đến bây giờ và mãi mãi sau này. Đó là quy luật bất biến của tự nhiên. Trong tình yêu, cũng có sự tương đồng khi mà tình yêu, nỗi khao khát luôn thường trực trước đây, ngày nay và mãi cả về sau. Chừng nào con người còn tồn tại thì tình yêu cũng như một món quà diệu kì mà thượng đế ban tặng cho nhân loại. Khát vọng tình yêu là khát vọng bất diệt của con người, đặc biệt là những con người trẻ tuổi.

Nhân vật trữ tình đứng trước biển khơi với những suy nghĩ sâu lắng:

Người con gái đang yêu nghĩ về bản thân mình, nghĩ về người thương và cũng suy tư về sóng biển. Nhân vật trữ tình đang ở trong niềm khao khát lí giải nguồn gốc của sóng cũng như nguồn gốc của tình yêu.

“Em” đã không đi truy tìm được căn nguyên của sóng, cũng như tình yêu. Tình yêu diệu kì nhưng cũng thật bí ẩn như thế giới tự nhiên. Nó là những rung động của con tim, có những khi lí trí không thể chiến thắng được con tim mách bảo. Tình yêu vẫn luôn là câu hỏi không khó nhưng cũng chẳng dễ dàng nào có thể lí giải được căn nguyên, cội nguồn. Nhân vật trữ tình cũng phải bộc lộ rằng “em cũng không biết nữa/khi nào ta yêu nhau”. Chính ái không biết đấy ủa em lại là minh chứng chân thành nhất cho tình yêu sâu đậm, không toan tính. Đó chính là tiếng lòng của người phụ nữ đang yêu.

Có thể thấy rằng, đoạn thơ mở đầu khắc họa được trọn vẹn hình tượng sóng và hình tượng em. Sóng là em và em cũng là sóng. Sóng mang ý nghĩ biểu trưng cho những trạng thái cảm xúc của người phụ nữ đang yêu. Qua hình tượng sóng để tác giả cũng nói lên quy luật bất diệt của tình yêu. Các câu thơ mặc dù ngắn về số lượng từ nhưng lại có sức cô dộng và giàu giá trị gợi hình gợi tả. Để rồi, người đọc cũng cảm thấy những con sóng đang gối thúc vào lòng mình.

Cảm Nhận Của Em Về Đoạn Kết Của Bài Thơ Đồng Chí

Cam nhan ve bai tho Dong chi. Đề bài: Em hãy viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về đoạn kết của bài thơ Đồng chí- Chính Hữu

Việt Nam đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mĩ đầy gian khổ, đau thương nhưng không kém phần hào hùng. Và một câu hỏi đặt ra ở đây là vì sao một đất nước nhỏ bé, lạc hậu như Việt Nam lại có thể đương đầu và giành chiến thắng vẻ vang trước hai cường quốc sừng sỏ, hùng mạnh như Pháp và Mĩ. Việt Nam tuy nhỏ bé nhưng tinh thần kiên cường, bất khuất của con người Việt Nam thì chẳng thể nói hết được bằng lời. Đặc biệt, để tạo được sức mạnh lớn như vậy trong chiến đấu là vì con người Việt Nam biết đoàn kết, biết hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong chiến tranh. Bài thơ Đồng chí của tác giả Chính Hữu đã thể hiện được tương quan đoàn kết đầy đặc biệt giữa những người lính- cơ sở sức mạnh của kháng chiến.

Bài thơ Đồng chí được sáng tác năm 1948- đây là thời điểm mà cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta bước vào giai đoạn khốc liệt, căng thẳng. Những người lính đã trải qua những ngày tháng chiến đấu vô cùng gian khổ, nhưng cũng chính trong hoàn cảnh này, tình đồng chí, đồng đội đã xua đi được cái khốc liệt của khói lửa của chiến tranh,làm sáng lên tình người giữa con người với con người.

Những người lính đến từ khắp nơi của đất nước, họ là những con người xa lạ, không hề có sự quen biết từ trước nhưng giữa họ có những đặc điểm chung. Trước hết, họ là những người con nghèo sinh ra từ những vùng quê nghèo khó, những người nông dân lam lũ ấy bị ngọn lửa của chiến tranh, ngọn lửa của lòng căm thù đốt lên lí tưởng mãnh liệt, đó chính là giành lại độc lập, bảo vệ cuộc sống của những người mà họ thương yêu. Từ đó mà họ trở thành những người lính, những người đồng đội:

” Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Tôi với anh đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”

Những người lính ra trận mang theo những khát vọng đẹp, đó là mang hòa bình về cho đất nước, mang tự do về cho dân tộc, họ ra đi và nguyện dâng hiến hết mình cho đất nước.Trong những ngày tháng chiến đấu, bên cạnh sự hiểm nguy luôn rình rập thì họ còn trải qua cuộc sống sinh hoạt vô cùng khắc liệt nhưng họ đều cùng nhau đương đầu và vượt qua tất cả.

Không chỉ là những người có tinh thần chiến đấu mạnh mẽ, có tinh thần đoàn kết, yêu thương đáng ngưỡng mộ mà những người lính còn là những người luôn lạc quan và hi vọng về một ngày mai tươi sáng.Khổ thơ cuối được coi là những câu thơ hay nhất của bài thơ:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu sung trăng treo”

Câu thơ vừa gợi ra được cái khắc liệt của hoàn cảnh sống, hoàn cảnh chiến đấu mà còn sáng lên tinh thần lạc quan, niềm hi vọng mãnh liệt vào một tương lai tươi sáng. “đêm nay rừng hoang sương muối” gợi ra khoảnh khắc đêm khuya khi những làn sương bao phủ lên núi rừng. Sương muối trong rừng không chỉ lạnh cắt da cắt thịt mà nó còn bao phủ tầm nhìn của những người lính. Trong hoàn cảnh chiến đấu ấy nếu không có sự kiên cường, quyết tâm thì khó có thể vượt qua.

Trong không gian đầy đặc biệt ấy, những người lính vẫn thực hiện nhiệm vụ của mình, đứng canh gác và chờ giặc tới. Có thể thấy những người lính trong kháng chiến không có một phút nào lơ là, mất cảnh giác mà luôn trong tư thế chiến đấu với tinh thần quyết tâm cao độ. Họ đã bên nhau cùng chờ giặc tới, trong cái lạnh giá của sương muối, trong sự hiểm nguy rình rập vẫn sáng lên hơi ấm của tình người, đó là tình đồng đội, tình đồng chí.

Câu thơ cuối được đánh giá là hàm súc nhất và mang nhiều ý nghĩa “Đầu sung trăng treo”, về ý nghĩa tả thực, nó gợi ra hình ảnh những mũi sung của người lính luôn trong tư thế chiến đấu, không gian đêm khuya xuất hiện ánh trăng tròn, do đó nhìn từ xa ta có thể thất được ánh trăng đang treo ở trên đầu súng. Về ý nghĩa biểu tượng nó tượng trưng cho khát vọng hòa bình của những người lính.

TỪ KHÓA TÌM KIẾM ĐỒNG CHÍ DONG CHI CHÍNH HỮU PHÂN TÍCH BÀI THƠ ĐỒNG CHÍ Theo chúng tôi