Các Bài Thơ Nói Về Trăng Của Hàn Mặc Tử / 2023 / Top 21 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Kovit.edu.vn

Trăng Trong Thơ Hàn Mặc Tử / 2023

TRẦN THOẠI NGUYÊN

HÀN MẶC TỬ (1912-1940) bậc tài hoa yểu mệnh,thiên tài kiệt xuất của thơ ca hiện đại Việt Nam với một hồn thơ trăng láng lai bất tuyệt rất đặc biệt,hết sức độc đáo,tôi đoan chắc rằng thơ ca nhân loại chúng sinh xưa nay không có một nhà thơ,thi nhân,thi sĩ nào có thể gùn ghè cập kè so sánh !

Ấy vậy mà trong một loại sách văn học lớp 11 của chương trình phổ thông,cái gọi là “Sách giáo viên” được xem như cẩm nang của thầy cô giáo dạy văn,vị giáo sư văn học ở ĐH đã phán về hai câu thơ trăng độc đáo nhứt của bài thơ ĐÂY THÔN VĨ DẠ của HÀN MẶC TỬ như sau:”Có người đặc biệt ca ngợi hình ảnh nầy ở khổ thơ thứ hai “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó.Có chở trăng về kịp tối nay?”.Đó quả là một hình ảnh thơ mộng và đẹp.Nhưng độc đáo thì không phải.”Thuyền gối bãi”,”Thuyền đậu bến”,”Thuyền chở trăng”,những hình ảnh thơ đó thực ra đã trở thành ước lệ được dùng phổ biến trong thơ ca kim cổ (thơ Đỗ Mục,Trương Kế,Nguyễn Trãi,Hồ Chí Minh,Quách Tấn,Yến Lan,Thúc Tề v.v…) “

Tôi thật ngỡ ngàng!

Hướng dẫn NỘI DUNG và PHƯƠNG PHÁP giảng dạy “nhằm hổ trợ trực tiếp và thiết thực cho người dạy” theo lời nói đầu của “Sách giáo viên” ấy mà viết như thế về hai câu thơ trên trong bài thơ ĐÂY THÔN VĨ DẠ của HÀN MẶC TỬ,thật càng làm cho tối và rối thêm! Nhất là đối với thầy cô giáo vốn trước kia chẳng được học bài thơ nầy ở chương trình phổ thông cũng như ở trường ĐHSP ngày ấy!

Người soạn sách đã nhặt từ ra một cách tùy tiện rồi gán ghép nào “Thuyền gối bãi”,Thuyền đậu bến”,”Thuyền chở trăng” đã làm lệch đi hình ảnh thơ của HÀN MẶC TỬ. Do cảm nhận hình ảnh thơ với những chi tiết hiện thực cụ thể như thế nên người soạn sách đã vội phán “độc đáo thì không phải”! Câu chữ trong thơ HÀN MẶC TỬ vốn mơ hồ,chập chờn,hư ảo “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó.Có chở trăng về kịp…”. “Thuyền ai” thật phiếm chỉ,mơ hồ không xác định,thật mông lung. “Bến sông trăng” đã là bến mộng. Đọc kĩ toàn bài thơ: “Đó” đối lập với “Đây”(Ở đây sương khói mờ nhân ảnh) đã gieo vào tâm trí người đọc về cõi mộng,cõi mơ ước chứ không chỉ là từ xác lập nơi chốn hiện thực cụ thể nào. Và tiếng gọi bi thiết,chới với “Có chở trăng về kịp…” càng thêm phi thực, hư ảo phiêu linh vô cùng. Thử hỏi các nhà thơ từng có thơ về trăng mà người soạn sách đã liệt kê ra như ở trên có tạo ra được hình ảnh thơ nào về trăng lại chập chờn mộng ảo độc đáo đến như thế,gợi cảm đến như thế?

Vị giáo sư nọ đã đồng hóa hình ảnh thơ rất riêng về trăng của HÀN MẶC TỬ với những hình ảnh thơ “Ước lệ được dùng phổ biến trong thơ ca kim cổ” và chẳng hướng dẫn gợi ý gì thêm,rồi lại đưa ra hàng loạt nhà thơ xưa nay viết về trăng,thật chẳng khác gì tung hỏa mù!

Lẽ nào ánh trăng thanh thản ung dung lạc quan tin tưởng trong “Yên ba thâm xứ đàm quân sự/Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền” (Giữa dòng bàn bạc việc quan/Khuya vế bát ngát trăng ngân đày thuyền) của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chi Minh cũng là ánh trăng”Giang nguyệt minh”,”Nguyệt mãn thuyền” trong thơ đời Đường của Trung Quốc xưa?

Lẽ nào hình ảnh trăng trong trong hai câu thơ trên của HÀN MẶC TỬ cũng giống như hình ảnh trăng trong thơ Hồ Chí Minh? Lẽ nào hình ảnh”Thuyền ai đậu bến sông trăng…Có chở trăng về kịp…” của HÀN MẶC TỬ lại không ẩn chứa cảm xúc xao xuyến,náo nức,khao khát hạnh phúc tình yêu của “cái tôi” thời đại Thơ Mới?

Nhà phê bình Hoài Thanh ( trước CM tháng 8,1945) đã từng có lời bình rất đáng suy ngẫm (để học tập) về hỉnh ảnh con cò trong thơ ca : “Từ con cò của Vương Bột lặng lẽ bay trong ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân có sự cách biệt của hơn ngàn năm và của hai thế giới.” (Thế giới quan cổ điển và thế giới quan hiện đai)

Hơn nữa,vị giáo sư nọ không đặt gắn hình ảnh “Thuyền ai đậu bến sông trăng…” vào trong toàn bài thơ,vào hồn thơ tài hoa ảo mộng HÀN MẶC TỬ. Xuyên suốt bài thơ ĐÂY THÔN VĨ DẠ không chỉ “Thuyền ai…” mà nào”Vườn ai…” và rồi “Ai biết tình ai…” Tất cả tạo nên một hệ thống phiếm chỉ,bàng bạc,mông lung mơ hồ mà lại day dứt ám chỉ đến nghẹn ngào trong con tim không thể gọi tên! Trước khi dựng hình ảnh trăng bến mộng nầy,HÀN MẶC TỬ đã tê tái con tim cho cảnh chia lìa “Gió theo lối gió,mây đường mây”,anh đường anh,em đường em,không còn chung lối mộng nữa rồi! Thật là nghìn trùng xa cách,xa cách trong không gian,xa cách trong thời gian,xa cách trong tâm hồn người thơ đang ám ảnh cái chết,giây phút lìa đời! Hình ảnh thơ trăng hết sức kỳ lạ,mang hồn vía thơ HÀN MẶC TỬ xuất hiện trong khoảnh khắc chấn động tâm tư ấy,người soạn sách có nắm bắt cảm nhận mảy may nào không? “Trữ tình HÀN MẶC TỬ là gợi cảm chứ không phải là truyền cảm.Nhà thơ không truyền thẳng cảm xúc của mình tới độc giả nhờ phương tiện ngôn ngữ,mà bằng bản thân ngôn ngữ thức dậy thứ năng lượng đó vốn tiềm ẩn trong mỗi độc giả,vì vậy mà cảm xúc thẩm mĩ của người đọc no đủ hơn,sâu sắc hơn bởi như tránh được một sự áp đặt từ bên ngoài.” (Đỗ Lai Thúy)

Mỗi bạn đọc yêu thơ đến với thơ ca nói chung,với hai câu thơ về trăng nầy của HÀN MẶC TỬ nói riêng (Dù là bạn đọc trẻ tuổi,học trò học văn) phải là người đồng sáng tạo với tác giả,có thể cảm nhận theo cách riêng của mình,nhưng dứt khoát không được chủ quan áp đặt cho rằng hình ảnh thơ trăng nầy không có gì sáng tạo “Độc đáo thì không phải”,và “nó đã trở thành ước lệ được dùng phổ biến trong thơ ca kim cổ”!

Đừng có vì một thần tượng linh thiêng(!),giáo điều nào mà quy chiếu trói buộc thơ,đặc biệt là thơ HÀN MẶC TỬ vào một khuôn,một hướng (thơ Đường…thơ Hồ Chí Minh-đặc biệt một người không ham mê thơ “Lão phu nguyên bất ái ngâm thi”,làm thơ bộc lộ ngôn chí,cốt để nói chính trị mà thôi!).

Bình giảng thơ như thế là giết chết thơ ca!

Bình giảng thơ như thế là đầu độc,giết chết những tâm hồn trong trẻo hồn nhiên mơ mộng của các em nhỏ học trò thơ ngây!

Từ những vị đại giáo sư cây đa cây đề như thế,đến các lớp thầy cô giáo dạy văn được đào tạo rập khuôn như thế,đừng trách chi học trò ngày nay không thích học môn văn,không muốn thi vào ngành văn ở trường đại học!

NÓI ĐI RỒI LẠI NÓI LẠI:

Người yêu thơ nào cũng biết : Trăng là một hình tượng thơ độc đáo,hết sức lạ kỳ,vừa mang “màu sắc cụ tượng” vừa mang “màu sắc trừu tượng”,chuyển tải hồn thơ hư linh thần mộng HÀN MẶC TỬ. Đọc toàn bộ thơ văn của HÀN MẶC TỬ, người đọc như lạc vào một thế giới trăng huyền ảo với đủ mọi tầng bậc(Thượng giới,hạ giới,cõi mộng,ngọc tuyền…) lấp lánh phiếu diễu cơ man nào màu sắc,vô lượng,vô biên…!

Không gian dày đặc toàn trăng cả

Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng.

Mỗi ảnh mỗi hình lên phiếu diễu…

(HUYỀN ẢO)

Trăng đã trở thành một bầu khí quyển bao bọc vây quanh mọi cảm giác,mọi suy tưởng,chan hòa trong cả thể xác lẫn tâm hồn người thơ! Và trăng xuất hiện trong thơ HÀN MẶC TỬ ở mỗi bài,mỗi đoạn thơ ở mỗi thời khắc tâm trạng khác nhau với mỗi sắc thái biểu cảm tình ý khác nhau của một óc tưởng tượng hết sức độc đáo.

Hình ảnh trăng xuất hiện trong thơ HÀN MẶC TỬ với một tầng số rất cao và biến hóa kỳ ảo vô cùng,có khi hữu thể như có thể nắm bắt được và có khi vô hình mông lung trong cõi phi tưởng xứ rất trừu tượng siêu hình,có khi trong sáng hồn nhiên yêu kiều và có khi mê hoặc điên dại đến kinh hoàng.

+Có khi trăng là biểu tượng cho tâm hồn đẹp trong sáng,trinh trắng,e ấp của tình yêu mới chớm,một tình yêu thơ mộng thanh quý cao thượng vô cầu:

Mới lớn lên trăng đã thẹn thò,

Thơm như tình ái của ni cô.

(HUYỀN ẢO)

Con trăng mắc cỡ sau cành thông.

(TÌNH THU)

+Có khi trăng là biểu tượng cho cái đẹp duyên dáng, tình tứ trong mong chờ đợi yêu:

Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi.

(BẼN LẼN)

+Có khi trăng là biểu tượng cho cái đẹp tuyệt đối chân như:

Ô kìa,bóng nguyệt trần truồng tắm

Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.

+Có khi trăng là biểu tượng cho vàng ngọc châu báu lấp lánh lâu đài tình ái tráng lệ sáng láng đến mê hoặc:

Trăng tan tành rơi xuống một vũng cù lao,

Hóa đài điện đã rất nên tráng lệ.

(PHAN THIẾT! PHAN THIẾT!)

Trăng,trăng,trăng là trăng,trăng,trăng

Ai mua trăng toi bán trang cho.

(TRĂNG VÀNG TRĂNG NGỌC)

+Có khi trăng là biểu tượng cho hồn thơ điên dại kinh hoàng:

Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy,

Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra.

(SAY TRĂNG)

Ta hoảng hồn,hoảng vía,ta hoảng thiên

Nhảy ùm xuống giếng vớt xác trăng lên.

(TRĂNG TỰ TỬ)

Và còn biết bao là hình ảnh trăng trong thơ HÀN MẶC TỬ mang biểu tượng khác nữa,có khi rất siêu hình huyền bí không dễ gì giải mã.Thậm chí trong cùng một hình ảnh trăng nhưng lại gợi lên những hình tượng trăng với những tầng biểu tượng mang ý nghĩa rất khác nhau!.Bởi vì,người đọc,tụng thơ của một nhà thơ mình say mê,luôn phải là người đồng sáng tạo cùng tác giả,làm cho màu sắc trừu tượng của hồn thơ kia trở nên hiển hiện lên màu sắc cụ tượng có thể nắm bắt được.

Xin mời bạn yêu thơ đọc thơ (và cả vị giáo sư văn học đã đỡ đầu cho bao luận án tiến sĩ văn học kia!) đọc lại lời của Thi sĩ HÀN MẶC TỬ:

“Màu sắc,như ta đã thấy trong các thi phẩm đông tây,đều gồm hai tính cách:

1.Màu sắc cụ tượng 2.Màu sắc trừu tượng Màu sắc cụ tượng thì lộ nguyên hình bằng bản chất của nó,như gấm,như hoa,mà ta rờ được,nắm được với đôi tay (palpable),còn màu sắc trừu tượng là thứ gì nửa thực,nửa hư,nghe,thấy,biết mà không làm chủ được nó,ví dụ:ánh sáng,hương thơm,nhạc vui,không gian,thanh khí…Màu sắc cụ tượng dễ tìm,dễ kiếm;trái lại màu sắc trừu tượng rất khó sáng tạo,vì đây là cái đẹp của thơ,và phải có con mắt của thi nhân,của một kẻ siêu phàm,thoát tục mới nhận thấy cái đẹp thiêng liêng,phép tắc ấy,và mới thấu triệt hết tinh hoa của nó. Với màu sắc trừu tượng ,thi nhân có cái công phu làm cho trở nên cụ tượng . Nghĩa là có thể nắm được một nạm hào quang ,lùa không gian vào vạt áo ,dồn kinh cầu nguyện về phương Nam,cho hai tiếng sáo đuổi nhau là là… Bắt cái vô hình trở nên hữu hình,khiến cái chết trở nên sống,cho vật câm không còn là câm nữa. Đấy là tất cả nghệ thuật và trí tưởng tượng phi thường của thi nhân,nếu thi nhân là một thiên tài.”

(Trích trong BÍCH KHÊ THI SĨ THẦN LINH,bài tựa thi phẩm TINH HUYẾT của Bích Khê)

Thi sĩ thiên tài đã: “Bắt cái vô hình trở nên hữu hình,khiến cái chết trở nên sống,cho vật câm không còn câm nữa.” thì người yêu thơ đọc thơ hãy mở hồn mình,đánh thức các giác quan tinh sắc nhứt của mình để cùng rúng động nao nao âm hưởng đồng sáng tạo cùng người thơ! Người yêu thơ đọc thơ,tụng thơ HÀN MẶC TỬ cần nhập tâm quán tưởng để có cái nhìn trong sáng thoát tục mới nhận thấy cái đẹp thiêng liêng,tinh túy tinh hoa của thơ. Nghĩa là thế nầy: Nhiều khi hình ảnh trăng trong thơ HÀN MẶC TỬ không còn là hình ảnh trăng của giới tự nhiên dương gian nầy nữa,mà là hình ảnh trăng rất trừu tượng gợi lên ý nghĩa biểu tượng nào đó trong thơ. Mây,gió cũng vậy: “Gió theo lối gió,mây đường mây” không còn là hình ảnh mang màu sắc cụ tượng mà đã hóa thành hình ảnh mang màu sắc trừu tượng gợi lên ý nghĩa biểu tượng cho sự ngăn cách,chia lìa,không cùng chung lối mộng. Cho nên,người yêu thơ đến với hình ảnh thơ trăng trong thơ HÀN MẶC TỬ cần biết:Phải có một nỗi ám ảnh lạ thường về trăng như thế nào,phải có một trạng thái tinh thần và thể xác rúng động đến lạ thường về trăng như thế nào,mới có thể khiến HÀN MẶC TỬ trào lên đầu ngọn bút những câu thơ về trăng độc đáo lạ thường,hay đẹp đến như thế!

Riêng về hình ảnh trăng trong hai câu thơ trong bài ĐÂY THÔN VĨ DẠ mang biểu tượng về cái đẹp sáng láng nguyên sơ êm đềm của hạnh phúc tình yêu mà nhà thơ đang khao khát mong ước”Có chở trăng về kịp tối nay?”. Nếu chúng ta biết rằng HÀN MẶC TỬ đang có một ám ảnh sâu sắc về cái mong manh mệnh yểu,cuộc đời mình quá ngắn ngủi do đang mắc phải căn bệnh phong,hiểm nghèo,khốc liệt,không có thuốc đặc tri,phải đưa vào trại phong Quy Hòa cách li với đời sống xã hội,và đặc biệt,nếu ta biết rằng hồn thơ HÀN MẶC TỬ yêu thương cuộc đời tha thiết “Ta còn triều mến biết bao người/ Vẻ đẹp xa hoa của cuộc đời…” mà phải run rẩy nuối tiếc trong giây phút sắp chia lìa “Ta trút linh hồn giữa lúc đây,/Gió sầu vô hạn nuối trong cây…”,thì ta mới thấu hiểu,cảm nhận hết được tình ý trong nổi khao khát cháy bỏng về hạnh phúc tình yêu của HÀN MẶC TỬ hiện thể trong hai câu thơ trên.Thật là một nổi niềm khát khao hạnh phúc tình yêu chân thành đến tê tái ,chấn động lòng người!

Hình ảnh về Thuyền (tình) và Bến (mộng) bàng bạc một màu trăng nguyên sơ êm đềm hạnh phúc,sáng láng phiếu diễu như trong cõi mộng ấy đã góp phần miêu tả,ca ngợi cảnh vật đêm trăng trên dòng Hương giang của xứ Huế đẹp mộng mơ và tình tứ,nhưng ấn tượng sâu xa khó phai mờ,ám ảnh mãi trong tâm hồn người yêu thơ đọc thơ là tiếng gọi vọng lên từ nổi lòng riêng của HÀN MẶC TỬ về một tình yêu đơn phương câm lặng,xót xa trong tuyệt vọng cùng người đẹp xứ Huế mà Thi sĩ đã thầm yêu trộm nhớ thuở nào! Tiếng gọi đò yêu thương chới với,tiếng gọi đò vô thanh độc đáo có một không hai ấy,chứa chan bao là khao khát yêu thương giữa trời trăng hư ảo ấy sẽ đồng vọng ngân dội mãi nơi tầng sâu kín nhất trong tâm hồn người đọc hôm nay và mai sau!

NÓI LẠI RỒI LẠI NÓI ĐI:

Qua hai câu thơ về trăng trong bài thơ ĐÂY THÔN VĨ DẠ của HÀN MẶC TỬ,từ sự phê phán cách giảng bình hủ nút bắt bướm bỏ hộp cho có “tính tư tưởng” của vị quan thầy văn học (Rất nhiều vị quan thầy văn hoc nghệ thuật như thế trong thời đại nầy!),tôi đã khai mở đưa dẫn người yêu thơ đọc thơ thâm nhập vào hình tượng thơ trăng của HÀN MẶC TỬ chút ít…,nhưng tôi cũng thật sự băn khoăn…! Bởi hình ảnh trăng trong thơ HÀN MẶC TỬ là một hình tượng thơ rất tượng trưng,trừu tượng,siêu thực không dễ gì hàm hồ nắm bắt lĩnh hội được,và đặc biệt hơn nữa,hồn thơ trăng dị thường HÀN MẶC TỬ đòi hỏi phải cảm nhận bằng một trạng thái tâm hồn khác thường thì mói thâm nhập cõi bí mật huyền diệu thượng thừa của thi ca!

Ta hãy nghe HÀN MẶC TỬ rao giảng:

“Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi yếu đuối quá. Tôi bị cám dỗ. Tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi,máu tôi,hồn tôi đều hết sức giữ bí mật. Và nghĩa là tôi mất trí,đã phát điên. Nàng đánh tôi đau quá,tôi bật ra tiếng khóc,tiếng gào,tiếng rú.”

Và để cho ra đời những vần thơ trăng đẹp thơ mộng mang ý nghĩa biểu tượng cao siêu ấy,Hàn Mặc Tử đã sống,đã cháy đời mình với ngọn lửa thiêng trong từng phút giây: “Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim,bằng phổi,bằng lệ,bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cảm giác của tình yêu. Tôi đã vui,buồn,giận,hờn đến gần đứt sự sống”

Nghĩa là: Chưa “mất trí“,chưa “phát điên”,chưa bị “Nàng đánh tôi đau quá”,chưa biết thế nào là “đến gần đứt sự sống” thì chưa bao giờ hiểu thơ HÀN MẶC TỬ,và đừng nói chi đến giảng bình thơ HÀN MẶC TỬ!

Ta hãy nghe chính HÀN MẶC TỬ viết mở đầu cho tác phẩm CHƠI GIỮA MÙA TRĂNG:

“Trăng là ánh sáng? Nhất là trăng giữa mùa thu,ánh sáng càng thêm kỳ ảo thơm thơm,và nếu người thơ lắng nghe một cách ung dung sẽ nhận thấy có nhiều miếng nhạc say say… Trăng rằm trung thu: Một đêm siêu hình,vô lượng,tượng trưng của một mùa ao ước…hiện hình của một mùa khoái lạc chê chán…”

Một đêm siêu hình?

Trăng rằm trung thu sáng trưng,vằng vặc,trong lành,thanh khiết như một tấm gương trong.Đó là hình ảnh mang màu sắc cụ tượng:

“Trung thu trăng sáng như gương” (Hồ Chí Minh)

Còn với hồn thơ HÀN MẶC TỬ:

Và giữa trời trăng mây nước CHIÊM BAO VÀ SỰ THỰC nầy (Nhan đề một tác phẩm của HÀN MẶC TỬ) ,Thi sĩ đã đánh thức người yêu thơ đọc thơ: “Hỡi quý nhân,người có nghe thấy điều gì mới lạ,tinh khôi,reo lên,hiện lên và sử linh tư tưởng của người?”

Sử linh tư tưởng?

Đó là con đường,dòng chảy của thế giới tâm hồn,tâm linh trong đêm siêu hình huyền bí theo trực giác tâm linh của HÀN MẶC TỬ. Thi sĩ đã nói về trạng thái tinh thần khi làm thơ: “Khi ngòi bút của tôi đã thấm nhuần những ý nghĩ cao cường,truyền sang bởi điện tinh truyền của trí tuệ…” …”Như có ma lực vô song xô tôi đến bờ huyền diệu.” Trong những giây phút xuất thần hồn thơ trào dâng lai láng ấy,Thi sĩ đã tự phơi lộ: “Tôi phải tự giảng: Đang khi trăng,sao,mây khói dần cao hòa hợp thành khí hạo nhiên,tôi không thở bằng phổi nữa,tôi thở bằng hơi thở tinh sạch của hồn tôi.”…”Từ sự thực đi tới bào ảnh,từ bào ảnh đến huyền diệu và từ huyền diệu đi tới chiêm bao.Mông lung đã trùm lên sự vật và cõi thực,bị ánh sáng của chiêm bao vây riết.”

Nghĩa là hồn thơ của HÀN MẶC TỬ đã hòa nhập vào cõi bờ “Sử linh tư tưởng”,thoát ly hoàn toàn dòng chảy lịch sử tháng năm của xã hội loài người xưa nay. Cho nên,cõi thơ HÀN MẶC TỬ đã siêu vượt các phạm trù thời gian,không gian,hệ thống tư tưởng văn hóa của xã hội loài người xưa nay,mà đó là cõi thơ của “Một đêm siêu hình”,chân trời của “Sử linh tư tưởng”,một Cõi Thơ Thuần Túy giữa “Nguồn Trong Trẻo” (Chữ của HMT) cho tình yêu và tôn giáo..Chỉ có hồn thơ ấy mời có thể :

Bay từ Đao Ly đến trời Đâu Suất.

Và,trăng trong thơ HÀN MẶC TỬ là trăng trong cõi bờ”Sử linh tư tưởng” (Có nơi HMT sử dụng từ “Tơ Tưởng”) của “Một đêm siêu hình” ấy.

HÀN MẶC TỬ nói về “BÍCH KHÊ THI SĨ THẦN LINH”,nhưng cũng là nói về chính mình: “Nếu chẳng phải là một nghệ thuật siêu thần,thi nhân làm sao đưa đến một nguồn sáng phong tình và thanh khiết cho giai nhân? Để có cái ma lực huyền diệu cám dỗ được ngụ quan của người trần?” …”Sự say mê,tìm kiếm những nguồn hoan lạc vô biên đã dần dần đẩy thi nhân vào bờ bến huyền diệu. Ở đấy,sự mường tượng của thi nhân lại dồi dào hơn nữa,người ta chỉ gặp toàn âm thanh ngả ngớn,với muôn thứ xạ hương bay lẵng lơ trong lồng nhạc,trong khi có hằng hà sa số là ánh hào quang va vào nhạc,chạm nhằm không khí lạ.”

Đó là Trời Cao Cả trong Mơ Ước một Mùa Trăng Bát Ngát của Thi sĩ : “Không có sự say đắm nào ở phương xa,hay sự mong nhớ nào cách biệt mà không đến đây để sum vầy,gây nên cảnh tượng đoàn viên của một mùa thơ ,mùa trăng bát ngát “

Mùa Trăng Bát Ngát ấy không có thực ở cõi hạ giới nầy Mùa Trăng Bát Ngát ấy là ánh sáng hào quang,là hương thơm xạ hương,là ánh nhạc hồn hoa của một đêm siêu hình huyền bí vượt ra ngoài nghĩ suy tư tưởng của thế nhân,mà chỉ có trong “sử linh tư tưởng” trong sáng bất nhị,vô biên…Khi ấy,sẽ thấy được ” Từng lá trăng rơi trên xiêm áo như những mảnh nhạc vàng” Và trong ánh trăng sáng láng phiếu diễu nguyên sơ mà rực rỡ hào quang ấy đã soi sáng linh hồn thi nhân:” Soi sáng linh hồn tôi và giải thoát cái “ta” của tôi ra khỏi giam cầm của xác thịt” để thi sĩ “.. bay thẳng lên trời để tìm ánh sáng muôn đời thôi”. Cả một đời sáng tạodù ngắn ngủi nhưng cháy rực một thứ lửa thiêng của HÀN MẶC TỬ đã thể hiện một khát vọng mãnh liệt dữ dội của hồn người nơi dương thế bao la sầu này như câu chữ HÀN MẶC TỬ sử dụng:”Cái ước mơ vô hạn của một linh hồn khát khao vàng ngọc của trời cao cả”.

Xin nói lại,với HÀN MẶC TỬ,Mùa Trăng Bát Ngát siêu hình huyền bí không có trong cõi thế gian nầy.Cái mùa trăng bát ngát huyền diệu chỉ có ở cõi ” Nước Trời Cao Cả” của ” Sử Linh Tư Tưởng” trong cõi mộng vĩnh hằng thôi!Hãy nghe HÀN MẶC TỬ tỏ bày: “Tìm mãi cái đẹp không thấy,vì tất cả mọi sự ở thế gian đều tầm thường cả,thi sĩ mới nhận ra rằng chỉ có cái gì đời đời ,cái gì hằng sống (éternité) mới thỏa mãn nổi khát khao thương nhớ vô hạn của thi sĩ” .

Trong thơ, HÀN MẶC TỬ cũng từng bộc lộ như thế:

Anh đứng cách xa hàng thế giới,

. Lặng nhìn trong mộng miệng em cười.

LƯU LUYẾN

Người thơ HÀN MẶC TỬđã từng có những giây phút xuất thần trong sáng tạo thi ca:“Tôi vừa thoát ra khỏi cực lạc giới,toàn thân tôi rung động như một sợi đường tơ.”để cho ra đời những vần thơ trăng siêu thoát bất tuyệt!

Do vậy,đến với trăng trong thơ và hồn thơ trăng của HÀN MẶC TỬ ,người yêu thơ đọc thơ cần phải biết,phải nhớ đến lời khai mở của chính Thi sĩ HÀN MẶC TỬ:

“Cái thơ trên cái thơ khác nữa”

Nghĩa là cõi thơ HÀN MẶC TỬ là cõi thơ siêu thoát linh thánh của Thế Giới Huyền Bí để đi đến chỗ Tuyệt Đích là:Tôn Giáo (HÀN MẶC TỬ đã chú thích:Xin hiểu nghĩa chữ ấy với tất cả tinh thần của nó).

Có hiểu được điều như thế,ta mới hiểu vì sao một thi sĩ theo đạo Thiên Chúa rất thuần thành ngoan đạo đã tụng ca tấu lạy Bà Ave Maria ơn phước cả với một cảm xúc thánh tẩy ” Run như run thần tử thấy long nhan,/ Run như run hơi thở chạm tơ vàng.” ,thi sĩ HÀN MẶC TỬ vẫn tư tưởng về thế giới nhiệm mầu của nhà Phật một cách xác quyết: “Và tôi sẽ ký thuyết minh một cách rất nhà Phật là sắc cũng như không,chết cũng như sống,gần cũng như xa và hư cũng như thực…Những điều phải trái ấy dầu thế nào,cũng có liên lạc mật thiết và thông cảm nhau.”

Bởi vậy,cảm nhận bình giảng về hình tượng trăng,hồn thơ trăng trong thơ HÀN MẶC TỬ với kẻ phàm phu tròng mắt thịt là điều bất khả,mà lại còn bị che chắn trói buộc bởi học thuyết nầy nọ nhị nguyên nhị tướng …thì càng thêm bất khả!

Lời của Thi sĩ HÀN MẶC TỬ đã viết ta thán lúc còn sống vẫn còn nhắc bảo người yêu thơ đọc thơ : “Thi sĩ rơi xuống cõi đời,bơ vơ,bỡ ngỡ và lạ lùng.Không có lấy một người hiểu mình!”

Đã hơn 70 năm qua,những lời nhiếp dẫn khai lộ của Thi sĩ HÀN MẶC TỬ mà tôi đã nhặt trích lại ở trên,không mấy ai chịu đọc kĩ lưỡng,thật quá hò hững không một chú lưu tâm để mở nếp gấp bước vào cõi thơ “Sử linh tư tưởng” của “Một đêm siêu hình” của hồn thơ HÀN MẶC TỬ ,kể cả nhà phê bình xuất sắc Hoài Thanh,tác giả Thi Nhân Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám 1945 ! (Kể chi khi đã dính nhập trói buộc vào học thuyết nầy nọ thì đã lầm lạc rồi!)

Soi chiếu những điều hiểu biết về hồn thơ tài hoa ảo mộng của HÀN MẶC TỬ vào bài thơ ĐÂY THÔN VĨ DẠ ,người yêu thơ đọc thơ mới hiểu ra rằng: Cảnh thôn VĨ DẠ trong bài thơ dường như là cõi thực của mây gió sông nước trời trăng xứ Huế mộng mơ,nhưng đã là cõi ảo mộng,chiêm bao đấy thôi! Từ những chi tiết hình ảnh sắc màu trừu tượng:“Nắng hàng cau nắng mới lên,xanh như ngọc,lá trúc che ngang mặt chữ điền,gió theo lối gió mây đường mây,bến sông trăng,mơ khách đường xa,trắng quá nhìn không ra,sương khói mờ nhân ảnh…” cho đến ý tình hồn thơ đã là mộng ảo,đã được “ánh sáng của chiêm bao vây riết” của “một đêm siêu hình” trong “Sử linh tư tưởng” đấy thôi!

Và hai câu thơ mang cốt cách hồn vía thơ trăng lãng mạn tài hoa ảo mộng HÀN MẶC TỬ:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó, Có chở trăng về kịp tối nay?

Không chỉ là tiếng gọi đò thất thanh của cái tôi chàng trai HÀN MẶC TỬ khao khát hạnh phúc tinh yêu trong giây phút hoảng loạn tuyệt vọng sắp lìa đời:

Ta trút linh hồn giữa lúc đây Gió sầu vô hạn nuối trong trong cây – Còn Em sao chẳng hay gì cả? Xin để tang anh đến vạn ngày.

Mà còn là nổi niềm mơ ước khao khát chung của thế nhân!

Người yêu thơ đọc thơ cần phải sụp lạy Thi sĩ Thiên tài HÀN MẶC TỬ,bằng tất cả cảm nghiệm đau thương của mình ở thế gian mà “Đau đớn lòng” (Chữ của Đại thi hào Nguyễn Du),Thần Thơ HÀN MẶC TỬ đã đánh thức,đã lay gọi,đã khơi gợi,đã tinh truyền đến hồn ta,đến linh hồn của mọi mọi người đời về một khát vọng tình yêu cháy bỏng,khát vọng hạnh phúc cao đẹp tuyệt đích vô biên,siêu thoát,vĩnh hằng. Một tiếng gọi đò vô thanh vô lượng về hạnh phúc tình yêu cao đẹp trọn vẹn tuyệt đích vô biên vĩnh hằng ở cõi”Sử linh tư tưởng” của “Đêm siêu hính” thần bí ấy ,thuyền ơi có chở niềm vui cực lạc ấy về kịp trong đêm tối dương gian nầy không?! Bởi cuộc đời nầy,cõi dương gian nầy quá phù du ngắn ngủi mà chìm ngập trong bao la sầu đau!

Bạn có nghe ra lời thơ như kinh cầu nguyện cúa HÀN MẶC TỬ? Lời kinh cầu nguyện của các tôn giáo ở thế gian nầy cũng thế thôi?

Ai trong đời ngày đêm sống thao thức ước mong nguyện cầu điều như thế,tâm hồn mình hẳn cao đẹp thánh thiện biết bao!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Hàn Mặc Tử Và Giai Điệu Thơ Trăng / 2023

(Vanchuongphuongnam.vn) – Hàn Mặc Tử (1912-1940) là bút danh chính thức của nhà thơ tên thật Nguyễn Trọng Trí. Nhắc đến thi sĩ, không ai tránh khỏi ngậm ngùi cho số phận nghiệt ngã của một thi tài bạc mệnh mà từ lúc mở mắt chào đời cho đến khi mất, mãi gặp cảnh nghiệt ngã đau thương…

Sau ngày nước thanh bình, bên cạnh những tác giả hiện thực phê phán và hiện thực cách mạng, tác phẩm của những nhà văn, thi sĩ nổi tiếng thuộc dòng văn học lãng mạn như Khái Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Quang Dũng, Hàn Mặc Tử,… được chính thức giảng dạy ở nhà trường với phần giới thiệu khách quan. Với Hàn Mặc Tử, nhà thơ mới thuộc dòng văn học lãng mạn tiền phong đã có đến hai bài thơ được chọn giảng dạy ở bậc Trung học: Mùa xuân chín (lớp 9) và Đây thôn Vỹ Giạ (lớp 11). Phần lớn những bài thơ của Hàn Mặc Tử gắn liền với hình tượng trăng, và tạo nên giai điệu đặc biệt ở những bài thơ trăng của thi sĩ.

Những bài thơ nói về trăng dạt dào giai điệucủa Hàn Mặc Tửlà Tiếng hát đau thương của nhà thơ tài hoa bất hạnh này.Xưa nay,thi ca (poetry/poésie) vốn đã có sẵnâm ba lên xuống theo sóng hình sin (sinoide) trong từng chữ câu thơ, tạo nên giai điệu(melody/mélodie) như những “ton” cao thấp trong bản nhạc. Điều này càng dễ thấy ở thi pháp Việt Nam qua niêm luật và sáu thanh từ không dấu đến dấu nặng. Dù cuộc đời có nghiệt ngã khổ đau, Hàn Mặc Tử vẫn có những bài thơ vững vàng thi pháp (prosody), tứ thơ rất thâm thúy, nghệ thuật vững vàng và âm điệu phong phú.

Là một trong “Bàn thành tứ hữu” (Bốn người bạn văn ở thành Đồ Bàn),cùng với Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên, cùng với Bích Khê (1916-1946), Hàn Mặc Tử là những tên tuổi nổi bật trong phong trào thơ mới, được nhiều người coi là nhà thơ tiền phong của trào lưu thi ca lãng mạn Việt Nam, tiêu biểu cho Trường Thơ Loạn (hay Thơ Điên) màtuyên ngônlàtuyên ngôn là bài tựa tập thơ Điêu tàn của Chế Lan Viên.

Bắt đầu sáng tác sớm (năm 16 tuổi), Hàn Mặc Tử đã có bài “Thức khuya” (trong Lệ Thanh thi tập), cùng với các bài: Chùa hoang, Gái ở chùa,… làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật được danh sĩ yêu nước Phan Bội Châu (1867-1940) đề cao, họa lại và giới thiệu đăng báo. Sau khi bị rút lại suất học bổng đi Pháp vì quá thân thiết với nhà cách mạng Phan Bội Châu, Hàn Mặc Tử vào Sài Gòn (năm 21 tuổi). Ban đầu làm việc ở sở Đạc Điền, tiếp tục làm thơ và viết báo, Hàn Mặc Tử ký với các bút danh: Minh Duệ Thị, Lệ Thanh, Phong Trần, Hàn Mạc Tử rồi sau cùng, nghe theo ý kiến của nhà thơ Quách Tấn, lấy luôn bút danh Hàn Mặc Tử cho đến cuối đời.

Tác giả “Mùa cổ điển” (1) viện lẽ ý nghĩa không ổn của các bút danh trước: Lệ Thanh nghe có vẻ thục nữ yểu điệu, Phong Trần hàm ý cuộc đời gió bụi truân chuyên, Hàn Mạc Tử là kiếp rèm lạnh cơ hàn. Với Hàn Mặc Tử, chỉ anh chàng bút mực tức là khách văn chương nghe được hơn cả.

Sau khi xuất bản tập “Gái quê” (1936), Hàn Mặc Tử đi Huế, Quảng Ngãi rồi dự định trở lại Sài Gòn, khi bà Bút Trà muốn mời Hàn Mặc Tử làm Chủ bút tờ “Phụ nữ Tân văn”, nhà thơ mới nghĩ đến bệnh tật của mình. Hàn Mặc Tử muốn trị dứt chứng phong ngứa rồi mới yên tâm vào Sài Gòn làm báo. Không ngờ, nhà thơ đã mắc phải bệnh phong cùi. Khi biết mình mắc bệnh nan y, Hàn Mặc Tử bỏ nhà đi thuê một chòi tranh ở Gò Bồi, cách Quy Nhơn mười lăm cây số và bắt đầu không tiếp xúc với bạn bè. Hai năm sau, Hàn Mặc Tử có biểu hiện bị chứng bệnh quái ác đó làm đau đớn dữ dội do người chung quanh nhận xét. Tuy nhiên, bên ngoài, không ai nghe nhà thơ rên rỉ khóc than vì nỗi đau đớn bệnh tật mà Hàn Mặc Tử vẫn âm thầm tiếp tục sáng tác, gởi thơ đăng báo. Có điều người đọc nhận ra ở thơ Hàn Mặc Tử dù chỉ gián tiếp biểu lộ, người đọc vẫn hiểu được lời thơ mô tả nỗi khổ ghê gớm bởi ác bệnh do trực khuẩn Hansen hành hạ nhà thơ. Cũng may, có người em bà con chú bác là Phạm Hành thương anh, bỏ học theo chăm sóc cho Hàn Mặc Tử.

Bên cạnh đó, trong số nhiều phụ nữ được nhắc đến trong cuộc đời tình ái của Hàn Mặc Tử như: Mai Đình, Mộng Cầm, Hoàng Cúc, Ngọc Sương, Thương Thương… cũng có người đến thăm nhà thơ khi vướng bệnh nan y hay làm thơ biểu lộ tình yêu và sự cảm thông của mình với nhà thơ. Nữ sĩ Mai Đình đã dám xông vào con người phong hũi để an ủi Hàn Mặc Tử (@) viết nên những vần thơ vừa tỏ ra hờn ghen bực bội vừa thể hiện nỗi căm giận trời già gieo bệnh nan y cho nhà thơ: “Ai cấm người thơ yêu quá độ/… Và ai đặt chữ tình dang dở/ Mà để so le nghĩa thiếp chàng/ Em muốn phá tan cả đất trời/Cho lòng nhẹ bớt nỗi bi ai/ Thương anh càng thấy căm trời đất/ Gieo bệnh nan y để hại người”(Căm giận). Theo nhà thơ Chế Lan Viên, Mai Đình có tập thơ “Đôi hồn” (chưa in) gồm những bài thơ tình trao đổi giữa chị và Hàn Mặc Tử, sau này đi kháng chiến, Mai Đình là chiến sĩ thi đua, nhận được huy hiệu 10 năm giải phóng của thành phố Hồ Chí Minh. Mai Đình cũng tận tay cầm tặng tác giả “Điêu tàn” một tập Nắng Xuân trong đó có đăng bài thơ “Sao anh không về chơi thôn Vỹ” của Hàn Mặc Tử tặng cho Hoàng Cúc. Còn “chị Hoàng Cúc, không như trong các sách nói là đã đi lấy chồng. Chị Hoàng Cúc vẫn sống độc thân, về sau đi tu. Tập thơ 50 năm xưa chị vẫn giữ, bút tích chị còn giữ, chị còn nhắn tôi “Tôi già rồi, chỉ còn có tập Nắng Xuân đó, anh giữ cho tôi” (Chế Lan Viên). Khi bệnh trở nặng, da mình khô cứng, bàn tay nhăn, Hàn Mặc Tử được đưa vào nhà thương phong Quy Hòa (20/09/1940) và mất vào ngày 11/11/1940) vì mang thêm bệnh kiết lỵ do uống quá nhiều thuốc tạp nhạp của thầy lang, bị hư hỏng tạng phủ.

Cuộc đời nhà thơ chỉ kéo dài hơn thập niên ngắn ngủi, Hàn Mặc Tử vẫn lưu lại trên văn đàn hậu thế một sự nghiệp văn chương quý giá. Từ những bài thơ Đường luật đầu tiên đến thơ mới làm theo nhiều thể loại về sau, Hàn Mặc Tử đã thể hiện một phong cách mượt mà tài hoa với thi tứ sâu sắc, ngôn ngữ trau chuốt và bút pháp không kém phần điêu luyện.

Tĩnh lặng dạo bước vào vườn thơ Hàn Mặc Tử, ta có thể nhận ra đầu tiên là tâm sự cô đơn, nỗi buồn thân thế cùng tấm lòng lo nước thương đời của một hàn sĩ trong cảnh quốc phá gia vong,trước thiên nhiên tạo vật vô tình: “Non sông bốn mặt ngủ mơ màng/ Riêng một mình ta dạ chẳng an/ Bóng nguyệt leo song, sờ sẫm gối/ Gió thu lọt cửa, cọ mài chăn/ Khóc giùm thân thế, hoa rơi lệ/ Buồn giúp công danh, dế dạo đàn/ Trổi dậy nôm na vài điệu cũ/ Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn”. (Thức khuya) (2). Bài thơ Đường này nổi trội ưu điểm ở nội dung thâm thúy và niêm luật vững vàng, kết hợp với ngôn ngữ tượng hình (sờ sẫm, cọ mài), hình ảnh chọn lọc (bóng nguyệt, gió thu, hoa, dế), tu từ nhân hóa (leo song, sờ sẫm…; hoa rơi lệ, dế dạo đàn vừa ví von mà pha hơi sex đọc rất thú vị, không gợn chất tục thường tình. Dù vậy, người đọc vẫn bắt gặp cường độ sex mạnh hơn cả Hồ Xuân Hương ở vài bài thơ khác của thi sĩ: “Trăng nằm sóng soải trên cành liễu/ Đợi gió đông về để lả lơi/… Ô kìa bóng nguyệt trần truồng lắm/ Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe” (Bẽn lẽn).

Khi bệnh phong cùi trở nặng, Hàn Mặc Tử bắt đầu sáng tác những bài thơ tràn ngập màu trăng. Thực thể trăng hiện diện qua vần điệu của Hàn Mặc Tử không giống với ý nghĩa trăng trong thơ kim cổ đông tây. Nó không là màu trăng ủ dột mơ màng của rừng thu vàng úa trong thơ Lưu Trọng Lư: “Em không nghe mùa thu/ Dưới trăng mờ thổn thức” (Tiếng thu) hoặc vầng trăng mơ cô lẻ u hoài của những nghệ sĩ lãng tử, sông hồ rày đó mai đây như Nguyễn Bính: “Đêm nay trăng rụng về bên ấy/ Gác trọ còn nguyên gió thất tình” (Một mình) hoặc vầng trăng phân ly xa cách của Nguyễn Du “Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường” (Truyện Kiều). Cũng hoàn toàn không có điều tương hợp gì với vầng trăng thu thanh bình tươi đẹp của núi rừng Việt Bắc qua hoài niệm thương nhớ ân tình trong thơ Tố Hữu: “Rừng thu trăng rọi hòa bình/ Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” (Việt Bắc). Cũng không là vầng trăng hồn nhiên diễm lệ được nhà văn Pháp Chateaubriand (1768-1848) ca ngợi trong những trang văn đẹp đã coi trăng là bà hoàng của đêm đen (la reine de nuit), chú quạ vàng (le corbeau d’or) hay hành tinh cô độc (l’astre solitaire).

Trăng của Hàn Mặc Tử cũng chẳng phải là màu trăng buồn cổ tích, huyền thoại một thời chinh chiến xa xưa trong thơ Vương Hàn (687-735): Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên/ Giang phong ngư hỏa đối sầu miên/ Cô Tô thành ngoại hàn san tự/ Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền” (Phong Kiều dạ bạc)- Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi/ Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co/ Thuyền ai đậu bến Cô Tô/ Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn san (Tản Đà dịch thơ). Lẽ đương nhiên, ta chẳng bao giờ tìm thấy trong thơ Hàn Mặc Tử một bóng trăng nguyên thủy đẹp tươi, rạng rỡ cói ngời ánh sáng lạc quan giống như những vần thơ kháng chiến của Hồ Chủ tịch: “Kháng chiến thành công ta trở lại/ Trăng xưa hạc cũ với xuân này” (Cảnh rừng Việt Bắc) hay “Giữa dòng bàn bạc việc quân/ Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền” (Đi thuyền trên sông Đáy – Xuân Thủy dịch thơ).

Ở ngòi bút thơ tài hoa của Hàn Mặc Tử, đọc giả yêu thơ chỉ nhận được nỗi đau thương ghê gớm của nhà thơ thể hiện một cách gián tiếp sâu xa qua sự diễn tả chi tiết môi trường biểu trưng cho ác bệnh cùng tất cả nỗi dằn vặt đau thương dữ dội ở nhà thơ: “Gió rít tầng cao, trăng ngã ngửa/ Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô/ Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy/ Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra” (Say trăng). Dường như trăng là cơ duyên, là vàng, là ngọc khiến Hàn Mặc Tử say thơ và làm thơ: “Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt/ Như đón từ xa một ý thơ/… Cả trời say nhuộm một màu trăng” (Đà Lạt trăng mờ). Dù thể xác đau thương, nhà thơ vẫn xem trăng là “trăng vàng, trăng ngọc”, khát thơ tác giả muốn uống cả trăng: “Có ai nuốt ảnh trăng vàng” (Uống trăng), trong yêu đương cũng chờ ánh trăng lên cho tình ái thêm nồng nàn “Yêu đương rót nước để chờ trăng lên” (Uống trăng) … Cả vũ trụ bao la quanh nhà thơ nhất thể đều là trăng “Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!…/ Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!…” / “Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!…” (Trăng vàng Trăng Ngọc).

Minh Thư

Chưa dừng, trong đau thương, Hàn Mặc Tử coi trăng là nguồn cảm hứng duy nhất để nhà thơ gieo vần; ca ngợi cảnh đẹp Đà Lạt (Đà Lạt trăng mờ, Trăng vàng trăng ngọc.), say trăng, coi trăng như người yêu: “Tôi ưng quá, tôi ưng nàng/ Nàng xa xa lắm, ơi nàng Trăng ơi !” (Ưng trăng). Rồi cả miệng đầy Trăng (Một miệng Trăng), trong đê mê cảm xúc hay đau khổ tột cùng, nhà thơ muốn Rượt Trăng đòi Ngủ với Trăng), đòi sở hữu trăng riêng là của mình: ” Ô hô! Ta đuổi theo trăng! Ta đuổi theo trăng!/Trăng! Trăng! Trăng! Trăng! Trăng! …/ Hãy buông nàng xuống cho ta ẵm bồng” (Rượt Trăng)… Cả tập tùy bút đầy chất thơ “Chơi giữa mùa trăng” kể chuyện hai chị em Hàn Mặc Tử đi chơi thuyền giữa mùa trăng, thế giới du trăng cũng tràn ngập ánh trăng vàng huyền diệu… Là con chiên ngoan đạo, Hàn Mặc Tử có những vần thơ tôn giáo ca ngợi trăng cao: “Lạy Chúa tôi, vầng trăng cao giá lắm/ Xin ban ơn bằng cách sáng thêm lên” (Vầng trăng), / ” Cho lòng tôi nguyên vẹn tợ trăng rằm” (Ave Maria).

Điệp khúc Trăng thật triền miên vô tận, hiển thị từng nhịp theo giai điệu biến hoá đặc thù trong tư duy, cảm nhận của nhà thơ như chẳng bao giờ dứt, Hàn Mặc Tử rõ là đã qua mặt ông Hoàng thơ tình Xuân Diệu về phép chơi tu từ điệp ngữ về trăng: “Trăng rất trăng là trăng của tình duyên” (Ca tụng- Xuân Diệu).

Đốt lò hương cũ để tưởng nhớ đến người xưa, các nhà văn học có lý khi xếp Nguyễn Trọng Trí vào làng “thơ loạn” hoặc “thơ điên” bằng cách dựa vào thân thế và sự nghiệp của người thơ tài hoa bạc phận này. Chính Hàn Mặc Tử cũng tự nhận như vậy qua bức thư gửi cho một bạn văn: “Trí đã phát hiện tinh lực của hồn, của máu bằng những câu thơ ngất đi vì khoái lạc, đồng một quan điểm với Baudelaire (4). Trí đã tận hưởng những phong vị của nhạc, của hoa, của trăng, của gái một cách vô tội”. Do vậy, cuộc đời và thi ca Hàn Mặc Tử quả là đã không thiếu những yếu tố tiêu biểu trên, trong đó trăng là hình tượng nghệ thuật trung tâm, hiện hữu với nhiều tính cách đặc thù. Trong những bài thơ xuất sắc của Hàn Mặc Tử mô tả nỗi đau cùng cực của nhà thơ, hình ảnh Trăng đã xuất hiện theo giai điệu đa âm đa dạng do hoàn cảnh bệnh tật nghiệt ngã của nhà thơ. Dường như, sự đau đớn vì bệnh ác càng dâng lên đỉnh điểm thì nguồn thơ càng sung mãn, chín muồi thêm để thi sĩ nhả ra những sợi tơ vàng, như một nhà thơ Pháp từng nói: “Những tiếng ca tuyệt vọng là tiếng ca hay nhất” (Les plus désespérés sont les chants les plus beaux – Alfred De Musset).Hiểu rõ hoàn cảnh và nhận xét xác đáng về Hàn Mặc Tử, người bạn thơ cùng nhóm của mình,Chế Lan Viên đã viết: “Cái lạ nhất là một con người phải trải qua những nỗi đau thể xác và tinh thần ghê gớm như vậy nhưng giọng thơ không bi qua mà luôn mơ ước, hướng tới thế giới vĩnh hằng”.

*(1) Quách Tấn, nhà thơ Đường nổi tiếng

(2) Bài thơ họa lại của Phan Bội Châu, theo thiển ý không nên xếp ngang hàng được với bài xướng.

Trong bài thơ “La mort du Pélican” (Cái chết của con chim bồ nông) – A. de Musset

(4) Baudelaire (1821-1867): nhà thơ tượng trưng Pháp (Poète symboliste), tác giả “Fleur du Mal” (Ác hoa )

(@) Chế Lan Viên: “Bài thơ thôn Vỹ – Thơ viết về Huế trước 1945” – Sông Hương,)

Bài Thơ Duyên Kỳ Ngộ Của Tác Giả Hàn Mặc Tử / 2023

Tác giả: Hàn Mặc Tử

Tiếng suối reo Đâu gió lên tầng mây che mắt lạ Ta muôn năm len lỏi ở Đào Nguyên Nước trong sáng lòng ta thơm vô giá Sao không ai đi lạc tới non tiên? Để ta dâng, ta mời ai giải khát Nếm cho bưa mùi vị nước trường sinh Ồ tiếng tiêu đâu bay ra man mác Khiến nao nao nguồn thanh tịnh quanh mình.

Lời chim phụ họa Tiếng tiêu nao từ phương xa bay vẳng Tiếng thanh thanh mà rất mực tương tư Xuân đây rồi lan tràn như bóng nắng Ta nên bay cho khỏi vướng sầu u.

Tiếng tiêu Vàng bay theo vàng đuổi theo vàng bay Tiếng vàng này vừa mê vừa say Dồn qua phương đông mặt trời chưa nóng Dồn qua phương tây màu sắc hây hây Ta là khúc Phượng Cầu Hoàng năm trước Đem ân tình rải khắp cả trời duyên Cho Quân Thụy lấy nàng Thôi thuyền quyên Xuân vô cùng đến ngàn năm ơn phước. Song le Nàng vẫn luôn luôn cách biệt Bến Ô Giang lành lạnh khúc thầm thương Ta vẫn còn ngân bao lời tha thiết Trong nắng mai dìu dịu mối sầu vương.

Chàng Mải vui tìm cành hoa trên cánh bướm Ai đưa ta lạc đến nước non này Mùi cỏ lạ thơm như mùi nhụy chớm Cùng tiếng tiêu đồng hợp chất nồng say Đến đây rồi ta mơ niềm hận cũ Đã bao năm nào thấy bóng giai nhân Hoa lá bỗng xôn xao tìm lấy thú Trong khi này lừng lẫy nhạc tường vân.

Lời Suối Reo Ồ sự lạ muôn đời thế kỷ Đất Linh Sơn in dấu vết phàm nhân Ta reo lên với đàn thông thủ thỉ Cho lay bay tình ý ở xa xăm Xin mời chàng tài hoa thi sĩ đó Ngồi xuống đây bên thảm ngọc vườn châu Hai tay chàng thử vốc vào nước nọ Mát tê đi như da thịt nàng dâu.

Lời Chim Hót Ôi chàng kia, thực ra chiều phong vận Hãy nghe ta cao hót khúc bình an Này mặt nhựt tròn vo đương sáng láng Gió đương lên vươn quyện tấm lòng ngây Ta đã nghe danh chàng cao vời vợi Như thơ ra đồng vọng cả thinh gian

Chàng Nắng càng cao, lòng ta càng hừng hực Thơ lên rồi bay quá dải nhàn vân Mùi hương đâu trong lời ca sực nức E hư vô rung động cả phong trần Ôi chao, mê toàn thân như khoái cảm Như đêm xuân uống phải rượu quỳnh tương Không đâu mà, có điều chi vừa chạm Đến tâm linh – để báo hiệu phi thường. Ta hãy giấu tiếng tiêu trong cụm lá Đừng cho ra nghe lờ lặng trời mây Ta hãy ẩn mình ta trong kẹt lá Để chờ xem sự lạ đến gần đây

Nàng (ra) Mây bay theo với mây bay Mình sao ra nước non này mà chơi Sáo ơi, dìu dặt khơi vơi Buông mau âm điệu để mời nhân gian Nắng cao ý muốn lan tràn Ở đây vắng vẻ cây ngàn suối reo Chim ơi hót khúc tương giao Có người thục nữ lần vào Thiên Thai Không gặp ai, chửa gặp ai Duyên còn ngậm kín, tình hoài miên man Tiêu tao đến nỗi bẽ bàng Đi trong hiu quạnh gặp toàn bơ vơ

Lời Suối Reo Ở đây có suối đoàn viên Có cây Phối hợp, có duyên Ngọc vàng Nước ta trong trắng ơ Nàng Đọ xem trinh tuyết có phần thanh cao Cởi xiêm cởi áo ra nào Xuống đây nàng tắm cho rạt rào thơ …

Nàng Ôi chao thơ ngầm bay theo dải nắng Lộng vào trong xiêm áo mỏng mành sao! Tiếng ai cười vang trong im lặng Khiến lòng ta hồi hộp biết dường bao!

Chàng (ở lùm cây ra) Tiếng tiêu vương vấn vào nhau mãi Ta cho Nàng đây, gẫm lạ kỳ Không duyên hồ dễ mong theo nắng Xin dâng nàng nụ cười với đôi mi.

Nàng (kinh ngạc) Ở đâu chàng ở đâu ra Xem trong cốt cách mới ra tính tình E khi mình chửa iết mình Nói câu kỳ ngộ in hình hổ ngươi Chàng ôi, thốt chẳng nên lời Không quen sao lại lả lơi chuyện trò?

Chàng Phải quên Nàng ở Đào Nguyên Bởi chưng sắc đẹp lại thêm đa tình Xuống đây tìm nợ ba sinh Không hay trời khiến ta mình gặp nhau.

Nàng Em là Trần Thương Thương Ngụ ở bến Tầm Dương Đi tìm chàng thi sĩ Trong pho sách Kim Cương Đi tới Tương tư xứ Tìm không ra người thương

Chàng Em là Trần Thương Thương Anh là Hàn Mặc Tử Không phải cách âm dương Còn có khi hội ngộ Em là hoa mười phương Anh là mây tứ xứ Gặp nhau ở cạnh đường Nói sao cho bằng khóc.

Lời Chim Hót Hỡi ôi người tục khách tình Đến đây nhìn sững cho mình thêm ghen Má ơi, má núm đồng tiền Môi sao ướt đỏ ta thèm biết bao! Nắng ơi, nắng có lên cao Làm sao da thịt hồng hào thế kia?

Nàng Người mộng hỡi từ nay ta mới biết Sao thơ anh nhuộm toàn màu ly biệt? Kêu không thôi, và nức nở cả ban đêm Nhạc thanh bai hòa trong cung cầm nguyệt Với bao màu sang sáng ửng duyên thơm Em mê quá thi nhân Hàn Mặc Tử. Người trai tơ thùy mị như tình duyên.

Chàng Thương Thương em, trời cho ta kỳ ngộ Nói cho ta thần điệu của vàng bay Đôi nhụy thắm in trên màu rực rỡ Đây đôi chim gù gật với niềm say Anh van em cho anh quỳ san sát Cho mùa xuân ngầm ngấm tận hồn anh Thơ anh sẽ như trầm hương ngào ngạt Tỏa lên cao lồng lộng giữa trời xanh.

Nàng Tất cả em là trân châu vô giá Dành cho anh rîêng hưởng hạnh phúc này Em kết tinh ở bao thanh sắc lạ Tòa thiên nhiên đúc sẵn để mê say Sao trời hỡi không cho em nguyền ước Em theo anh mà hứng lấy sao rơi Vẻ đài các còn nguyên trong khăn, lược Để làm chi, tình hỡi, khi xa xôi.

Chàng Chỉ có em làm thơ anh mãnh liệt Tình anh vang như luồng gió van lơn Chỉ có em, lòng anh yêu tha thiết Yêu điên cuồng không một phút nào hơn Bây giờ đây khóc than niềm ly hận Hỡi Thương Thương người ngọc của lòng anh Ta nhìn em với bao lời ta thán Khiến hoa chim nghe được cũng không đành.

Nàng Tình quân hỡi, muôn năm em chỉ muốn Sống bên anh cho thắm được tình yêu Mùa xuân em sẽ rất nhiều hoa bướm Bởi thơ anh tô điểm đẹp trăm chiều.

Chàng Than ơi đời biệt ly chan chứa Anh sắp đi với hai dòng lệ ứa Cả đau thương dồn dập xót tâm bào Khi xa em đã bao lần vọng tưởng Mơ trong mơ làm hoảng hốt đêm trăng Khi gần em tâm thần anh sửng sốt Mùi yêu đương vương vít cả tâm hồn Em ở đó sao anh không thề thốt Bao dòng châu đem hiến tối tân hôn.

Nàng Nói làm chi những câu mê sướng quá Nói những câu khờ dại cả người em Phải chăng anh tài hoa cao trọng lắm Đã bao lần khét tiếng ở đền vua Bao người ngọc đắm say lời ngọc thắm Bao giai nhân hâm mộ tấm tình thơ!

Chàng Anh chỉ ngó say em trong chốc lát Để hồn thơ rời rạc với mây bay Gần em luôn để hưởng bao khoái lạc Thưa em không, anh đâu dám mê say! Một mai kia ở bên khe nước ngọc Với sao sương, anh nằm chết như trăng Không tìm thấy Nàng Tiên mô đến khóc Đến hôn anh và rửa vết thương tâm.

Nàng Em quyết níu với bao tơ nắng dịu Níu thơ anh và níu cả hồn anh Hoa cỏ sẽ làm ơn theo chứng kiến Biệt ly nào dứt được mối thâm tình?

Chàng Thôi chào em giờ không trở lại Anh đi rồi mà hương phấn vẫn theo luôn (chàng biến mất)

Tiếng Suối Reo Xin đừng vầy bàn chân trong suối ngọc Hỡi giai nhân người lụa bến Tầm Dương Xin Nàng đợi để đêm khuya sẽ vọc Bao nhiêu trăng sáng dịu giữa hơi sương.

Xem tiếp:

Có thể bạn sẽ thích

Lời Bài Thơ Duyên Kỳ Ngộ (Hàn Mặc Tử) / 2023

duyên kỳ ngộ

Tiếng Suối Reo

Đâu gió lên tầng mây che mắt lạTa muôn năm len lỏi ở Đào NguyênNước trong sáng lòng ta thơm vô giáSao không ai đi lạc tới non tiên?

Để ta dâng, ta mời ai giải khátNếm cho bưa mùi vị nước trường sinhỒ tiếng tiêu đâu bay ra man mácKhiến nao nao nguồn thanh tịnh quanh mình.

Lời Chim Phụ Họa

Tiếng tiêu nao từ phương xa bay vẳngTiếng thanh thanh mà rất mực tương tưXuân đây rồi lan tràn như bóng nắngTa nên bay cho khỏi vướng sầu u.

Vàng bay theovàng đuổi theo vàng bayTIếng vàng này vừa mê vừa sayDồn qua phương đông mặt trời chưa nóngDồn qua phương tây màu sắc hây hây

Ta là khúc Phượng Cầu Hoàng năm trướcĐem ân tình rải khắp cả trời duyênCho Quân Thụy lấy nàng Thôi thuyền quyênXuân vô cùng đến ngàn năm ơn phước.

Song le Nàng vẫn luôn luôn cách biệtBến Ô Giang lành lạnh khúc thầm thươngTa vẫn còn ngân bao lời tha thiếtTrong nắng mai dìu dịu mối sầu vương.

Mải vui tìm cành hoa trên cánh bướmAi đưa ta lạc đến nước non nàyMùi cỏ lạ thơm như mùi nhụy chớmCùng tiếng tiêu đồng hợp chất nồng say

Đến đây rồi ta mơ niềm hận cũĐã bao năm nào thấy bóng giai nhânHoa lá bỗng xôn xao tìm lấy thúTrong khi này lừng lẫy nhạc tường vân.

Lời Suối Reo

Ồ sự lạ muôn đời thế kỷĐất Linh Sơn in dấu vết phàm nhânTa reo lên với đàn thông thủ thỉCho lay bay tình ý ở xa xămXin mời chàng tài hoa thi sĩ đóNgồi xuống đây bên thảm ngọc vườn châuHai tay chàng thử vốc vào nước nọMát tê đi như da thịt nàng dâu.

Lời Chim Hót

Ôi chàng kia, thực ra chiều phong vậnHãy nghe ta cao hót khúc bình anNày mặt nhựt tròn vo đương sáng lángGió đương lên vươn quyện tấm lòng ngâyTa đã nghe danh chàng cao vời vợiNhư thơ ra đồng vọng cả thinh gian

Nắng càng cao, lòng ta càng hừng hựcThơ lên rồi bay quá dải nhàn vânMùi hương đâu trong lời ca sực nứcE hư vô rung động cả phong trầnÔi chao, mê toàn thân như khoái cảmNhư đêm xuân uống phải rượu quỳnh tươngKhông đâu mà, có điều chi vừa chạmĐến tâm linh – để báo hiệu phi thường.Ta hãy giấu tiếng tiêu trong cụm láĐừng cho ra nghe lờ lặng trời mâyTa hãy ẩn mình ta trong kẹt láĐể chờ xem sự lạ đến gần đây

Mây bay theo với mây bayMình sao ra nước non này mà chơiSáo ơi, dìu dặt khơi vơiBuông mau âm điệu để mời nhân gianNắng cao ý muốn lan trànỞ đây vắng vẻ cây ngàn suối reoChim ơi hót khúc tương giaoCó người thục nữ lần vào Thiên ThaiKhông gặp ai, chửa gặp aiDuyên còn ngậm kín, tình hoài miên manTiêu tao đến nỗi bẽ bàngĐi trong hiu quạnh gặp toàn bơ vơ

Lời Suối Reo

Ở đây có suối đoàn viênCó cây Phối hợp, có duyên Ngọc vàngNước ta trong trắng ơ NàngĐọ xem trinh tuyết có phần thanh caoCởi xiêm cởi áo ra nàoXuống đây nàng tắm cho rạt rào thơ …

Ôi chao thơ ngầm bay theo dải nắngLộng vào trong xiêm áo mỏng mành sao!Tiếng ai cười vang trong im lặngKhiến lòng ta hồi hộp biết dường bao!

Chàng (ở lùm cây ra)

Tiếng tiêu vương vấn vào nhau mãiTa cho Nàng đây, gẫm lạ kỳKhông duyên hồ dễ mong theo nắngXin dâng nàng nụ cười với đôi mi.

Nàng (kinh ngạc)

Ở đâu chàng ở đâu raXem trong cốt cách mới ra tính tìnhE khi mình chửa iết mìnhNói câu kỳ ngộ in hình hổ ngươiChàng ôi, thốt chẳng nên lờiKhông quen sao lại lả lơi chuyện trò?

Phải quên Nàng ở Đào NguyênBởi chưng sắc đẹp lại thêm đa tìnhXuống đây tìm nợ ba sinhKhông hay trời khiến ta mình gặp nhau.

Em là Trần Thương ThươngNgụ ở bến Tầm DươngĐi tìm chàng thi sĩTrong pho sách Kim CươngĐi tới Tương tư xứTìm không ra người thương

Em là Trần Thương ThươngAnh là Hàn Mặc TửKhông phải cách âm dươngCòn có khi hội ngộEm là hoa mười phươngAnh là mây tứ xứGặp nhau ở cạnh đườngNói sao cho bằng khóc.

Lời Chim Hót

Hỡi ôi người tục khách tìnhĐến đây nhìn sững cho mình thêm ghenMá ơi, má núm đồng tiềnMôi sao ướt đỏ ta thèm biết bao!Nắng ơi, nắng có lên caoLàm sao da thịt hồng hào thế kia?

Người mộng hỡi từ nay ta mới biếtSao thơ anh nhuộm toàn màu ly biệt?Kêu không thôi, và nức nở cả ban đêmNhạc thanh bai hòa trong cung cầm nguyệtVới bao màu sang sáng ửng duyên thơmEm mê quá thi nhân Hàn Mặc Tử.Người trai tơ thùy mị như tình duyên.

Thương Thương em, trời cho ta kỳ ngộNói cho ta thần điệu của vàng bayĐôi nhụy thắm in trên màu rực rỡĐây đôi chim gù gật với niềm say Anh van em cho anh quỳ san sátCho mùa xuân ngầm ngấm tận hồn anhThơ anh sẽ như trầm hương ngào ngạtTỏa lên cao lồng lộng giữa trời xanh.

Tất cả em là trân châu vô giáDành cho anh rîêng hưởng hạnh phúc nàyEm kết tinh ở bao thanh sắc lạTòa thiên nhiên đúc sẵn để mê saySao trời hỡi không cho em nguyền ướcEm theo anh mà hứng lấy sao rơiVẻ đài các còn nguyên trong khăn, lượcĐể làm chi, tình hỡi, khi xa xôi.

Chỉ có em làm thơ anh mãnh liệtTình anh vang như luồng gió van lơnChỉ có em, lòng anh yêu tha thiếtYêu điên cuồng không một phút nào hơnBây giờ đây khóc than niềm ly hậnHỡi Thương Thương người ngọc của lòng anhTa nhìn em với bao lời ta thánKhiến hoa chim nghe được cũng không đành.

Tình quân hỡi, muôn năm em chỉ muốnSống bên anh cho thắm được tình yêuMùa xuân em sẽ rất nhiều hoa bướmBởi thơ anh tô điểm đẹp trăm chiều.

Than ơi đời biệt ly chan chứaAnh sắp đi với hai dòng lệ ứaCả đau thương dồn dập xót tâm bàoKhi xa em đã bao lần vọng tưởngMơ trong mơ làm hoảng hốt đêm trăngKhi gần em tâm thần anh sửng sốtMùi yêu đương vương vít cả tâm hồnEm ở đó sao anh không thề thốtBao dòng châu đem hiến tối tân hôn.

Nói làm chi những câu mê sướng quáNói những câu khờ dại cả người emPhải chăng anh tài hoa cao trọng lắmĐã bao lần khét tiếng ở đền vuaBao người ngọc đắm say lời ngọc thắmBao giai nhân hâm mộ tấm tình thơ!

Anh chỉ ngó say em trong chốc látĐể hồn thơ rời rạc với mây bayGần em luôn để hưởng bao khoái lạcThưa em không, anh đâu dám mê say!Một mai kia ở bên khe nước ngọcVới sao sương, anh nằm chết như trăngKhông tìm thấy Nàng Tiên mô đến khócĐến hôn anh và rửa vết thương tâm.

Em quyết níu với bao tơ nắng dịuNíu thơ anh và níu cả hồn anhHoa cỏ sẽ làm ơn theo chứng kiếnBiệt ly nào dứt được mối thâm tình?

Thôi chào em giờ không trở lạiAnh đi rồi mà hương phấn vẫn theo luôn (chàng biến mất)

Tiếng Suối Reo

Xin đừng vầy bàn chân trong suối ngọcHỡi giai nhân người lụa bến Tầm DươngXin Nàng đợi để đêm khuya sẽ vọcBao nhiêu trăng sáng dịu giữa hơi sương.