Các Bài Thơ Lớp 11 / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Kovit.edu.vn

Bảng Các Công Thức Lượng Giác Lớp 9, 10, Lớp 11 Đầy Đủ

Công Thức Lượng Giác Sin, Cos, Tan, Cot Đầy Đủ. Bí Kíp Học Thuộc Công Thức Lượng Bằng Thơ

Công Thức Lượng Giác Và Bài Tập Có Lời Giải

Khi Dân Toán Tỏ Tình

Thơ Về Công Thức Lượng Giác Giúp Học Nhanh Các Công Thức Lượng Giác

Công Thức Hạ Bậc Sin, Cos, Tan Và Thủ Thuật Lượng Giác

I. Bảng Các Công Thức Lượng Giác Lớp 9 và Bài Tập

Một trong những kiến thức toán học xuyên suốt từ những năm cuối cấp 2 đến cấp 3, thậm chí nó là một trong những kiến thức quan trọng nhất trong suốt 12 năm học, là phần kiến thức giúp các bạn “kiếm điểm” trong các “trận chiến” kì thi THPT Quốc Gia – đó chính là phần lượng giác. Bài viết sau đây sẽ tổng hợp các kiến thức về phần công thức lượng giác, Trung Tâm Gia Sư Đăng Minh hy vọng, bài viết này sẽ trở thành một trong những công cụ hỗ trợ đắc lực giúp các bạn “sĩ tử” có thể ôn luyện và tổng hợp được những kiến thức quan trọng để sẵn sàng bước vào “bước ngoặt” của cuộc đời.

Mẹo học thuộc : Sin đi học, Cos không hư, Tan đoàn kết, ,Cot kết đoàn

a, Tỉ số lượng giác của 2 góc phụ nhau. ( α + β = 90° )

sin α = cos β cos α = sin β

tan α = cot β cot α = tan β

b, Bảng tỉ số của các góc đặc biệt.

a, Cho tam giác ABC vuông tại C, trong đó AC = 0,9m, BC = 1,2m. Tính các tỉ số lượng giác của góc B, từ đó suy ra các tỉ số lượng giác của góc A.

– Áp dụng định lý Py – ta – go cho tam giác vuông ABC ta có:

– Các tỉ số lượng giác của góc B là :

II. Bảng Các Công Thức Lượng Giác Lớp 10 và Bài Tập

a, Cung đối nhau:

b, Cung bù nhau: x và π-x

e, Cung hơn kém nhau π⁄2 : χ và χ + π⁄2

III. Tổng Hợp 200 Bài Tập Lượng Giác Có Lời Giải

IV. Một Số Kĩ Năng Cơ Bản Để Giải Phương Trình Lượng Giác

Xuất hiện √3 rồi đưa về dạng trên theo cos hoặc sin đứng sau √3

V. Một Số Mẹo Ghi Nhớ Bảng Công Thức Lượng Giác.

Bình Luận Facebook

.

Cảm Nhận Về Tình Yêu Nước Và Lòng Tự Hào Dân Tộc Qua Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà

Hướng Dẫn Soạn Bài: Sông Núi Nước Nam

Tình Yêu Nước Và Lòng Tự Hào Dân Tộc Của Cha Ông Ta Trong Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà (Sông Núi Nước Nam)

Tuy Cách Nhau Đến Hai Thế Kỉ Nhưng Hai Bài Thơ Sông Núi Nước Nam (Lí Thường Kiệt) Và Phò Giá Về Kỉnh Có Nhiều Điểm Tương Đồng. Em Hãy Làm Rõ Những Nét Tương Đồng Ấy

Giới Thiệu Ngắn Gọn Về Tác Giả Và Bài Thơ Sông Núi Nước Nam

Phân Tích Bài Thơ Tôi Yêu Em Lớp 11

Tuần 2. Tự Tình (Bài Ii)

Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 79+ 80: Vội Vàng (Xuân Diệu)

Bài Tập Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 11 Kiểm Tra Học Kì 2 (Tiếp)

Bố Cục, Tóm Tắt Bài Thơ Hầu Trời Lớp 11

Phân Tích Bài Hầu Trời Lớp 11 Của Tản Đà

-Các sáng tác phong phú của Pu-skin đã thể hiện tâm hồn tuyệt đẹp nhân dân Nga khao khát tự do và tình yêu. Và ở thể loại nào, văn chương Pu-skin cũng luôn là một tiếng nói nga trong sáng, thuần khiết, thề hiện cuộc sống một cách giản dị, chân thực.

Bài thơ dựa trên câu chuyện có thật của chính tác giá khi sống ở Xanh Phê-téc-bua. Khi đó, Pu-skin thường hay lui tới nhà vị Chủ tịch Viện Hàn lâm Nga A.N. Ô-lê-nhin để gặp những người làm nghệ thuật, ở đó, ông gặp và yêu ô-lê-nhi-a, con gái viên Chủ tịch. Một thời gian sau, Pu-skin đã cầu hôn nhưng không được chấp nhận. Vì lẽ đó, Pu-skin đã gửi nỗi lòng mình vào bài thơ Tôi yêu em.

1.Vẻ đẹp cao thượng trong tình yêu của Pu-skin trước hết thế hiện ở sự chân thành tha thiết, nồng nan mà không tham lam,

Bài thơ gồm hai khổ, diễn tả chân thực tình cảm, tâm trạng của Pu-skin trong tình yêu. Ngay khổ thơ thứ nhất, lời thơ bộc bạch thật chân thành:

“Tôi yêu em: đến nay chừng có thể

Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai”.

-Cụm từ “Tôi yêu em” vừa ngắn gọn vừa giản dị vừa dễ hiểu. Cụm từ mang nghĩa khẳng định về tình yêu chân thành của tác giả dành cho người mình yêu. Câu “Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai” một lần nữa khẳng định rằng tình yêu nung nấu lâu rồi, đến bây giờ “chưa hẳn đã tàn phai”, dù cho tình yêu không được đáp lại.

-Hai câu thơ sau của khổ thứ nhất thế hiện một sự tự nguyện rút lui khi tình yêu không được đền đáp:

Nhưng không để em bận lòng thèm nữa

Hay hồn em phải gợn bóng u hoài.

Tình yêu đơn phương mãnh liệt nhưng không yếu đuối, không ích kỉ, van xin. Đó là tình yêu cao thượng, một tình yêu mang ý nghĩa đích thực. “Lời thơ như là một lời tự nhắc nhủ, một sự tự ý thức về tình yêu của mình và cũng như một lời nói bên trong đầy dịu dàng, trân trọng với hồn em. Nhưng đằng sau những lời lẽ điềm tĩnh, đúng mực ấy là bao nỗi niềm, bao sắc thái của tỉnh yêu: có cái chua xót của thân phận, vì nếu tình yêu không đem lại hạnh phúc, niềm vui mà chỉ là nỗi băn khoăn, buồn bã cho người mình yêu thì nên chấm dứt tình yêu đó… Tình yếu có thể chấm dứt vì nhiều lí do, nhưng cái lí do đầy dịu dàng và cao thượng ấy đối với người phụ nữ mấy ai có được”. (Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh).

Khi không được đáp lại tình yêu, Pu-skin tự nguyện không làm phiền lòng người mình yêu, không để “hồn em phải gọn bóng u hoài”. Đó đích thực là tình yêu cao thượng, đáng trân trọng.

2.Vẻ dẹp cao thượng trong tình yêu của Pu-skin thế hiện ở sự cầu mong cho người mình yêu có được một tình yêu cao đẹp.

Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng

Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen,

Tôi yêu em, yếu chân thành, đằm thắm

Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.

-Hai câu đầu của khổ hai đã diễn tả được những trạng thái, cung bậc khác nhau của tình yêu. Cụm từ “Tôi yêu em” được lặp đi lặp lại đã diễn tả được mạch cảm xúc dào dạt, dâng trào trong lòng tác giả. Nhịp thơ nhanh diễn tả sự biến đổi dồn dập của trạng thái tâm lí: khổ đau âm thầm, niềm tuyệt vọng, lòng ghen tuông giày vò. Đó là tình yêu cuồng nhiệt trong vô vọng, đắm đuối đến bối rối lo âu. Nhưng thật bất ngờ, từ tâm trạng vô vọng, hai câu thơ cuối lại làm hiện lên nhịp đập sôi nổi mạnh mẽ, tràn đầy sinh lực của trái tim nồng cháy tình yêu. Không những thế, hai câu thơ còn thế hiện bản lĩnh và tấm lòng tha thiết với người yêu của nhân vật trữ tình. Nếu ở hai câu đầu của khố hai, nhân vật trữ tình bị giày vò bởi nỗi ghen tuông thì hai câu cuối, nhân vật trữ tình lại vượt lên sự ích kỉ thường tình. Yêu “chân thành, đằm thắm” nên nhân vật trữ tình đã cầu mong cho người mình yêu được hạnh phúc: “Cầu em được người tình như tôi đã yêu em”.

-Bài thơ đậm đà chất trữ tình, lời thơ thân mật, giản dị, từ ngữ gợi cảm… đã bộc lộ quan điểm đúng đắn về tình yêu.

-Từ những rung động sâu xa mà bản thân đã từng trải nghiệm, Pu-skin đã thể hiện một cách tuyệt vời vẻ đẹp phong phú, tinh tế tiềm ẩn trong đời sống trái tim con người.

-Bài thơ thể hiện quan điểm về tình yêu của chúng tôi Tình yêu là phải nồng nàn, chân thành và cao thượng. Chính thái độ trân trọng, cầu mong, độ lượng đối với người mình yêu mà bài thơ Tôi yêu em của Pu-skin vươn tới giá trị nhân văn cao cả, có sức sống lâu bền trong lòng độc giả.

Nguồn: chúng tôi

Giải Hoàn Chỉnh Đề Phân Tích Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Lớp 11

Bài Soạn Văn Lớp 11 Đầy Đủ

Phân Tích Bài Thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương Lớp 11 Của Phan Bội Châu

Phân Tích Bài Thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương Lớp 11

Soạn Bài Bài Ca Ngất Ngưởng Ngữ Văn Lớp 11

Phân Tích Khổ Cuối Bài Thơ Tràng Giang Lớp 11

Cảm Nhận 2 Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận

Cảm Nhận Về Bài Thơ “Tràng Giang” (4) – Dàn Ý

12 Kết Bài Tràng Giang Của Huy Cận

Màu Sắc Cổ Điển Và Hiện Đại Trong Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận

Phân Tích Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Tràng Giang

Phân tích khổ cuối bài thơ Tràng Giang

Bài 1

Huy Cận nhà thơ xuất chúng của phong trào thơ mới, thơ của ông mang nhiều tâm trạng, nỗi buồn của chính thi nhân và nỗi sầu nhân thế. Đoạn cuối của bài thơ Tràng giang là một trong số đó.

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

Tác giả sử dụng từ lớp lớp để nói về hình ảnh những đám mây trên bầu trời nhiều đến nỗi tạo thành núi, được ánh nắng chiếu vào như dát màu bạc. Những cánh chim nhỏ, lẻ loi đang chao liệng trên bầu trời rộng lớn, nhìn vào hình ảnh đó tác giả cảm thấy lòng cô đơn trống trải vô cùng. Đó phải chăng là hình ảnh của chính tác giả cô đơn,quanh liêu giữa dòng đời. Huy Cận đã sử dụng biện pháp đối lập thiên nhiên với thiên nhiên đó là hình ảnh cánh chim lẻ loi giữa nền bầu trời bao la, rộng lớn. Hình ảnh “cánh chim” và “bóng chiều” cũng xuất hiện rất nhiều trong thi ca cổ điển.

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Hai câu thơ cuối thể hiện nỗi nhớ quê hương da diết, “dợn dợn” là từ láy chưa từng xuất hiện trước đó, từ láy này kết hợp với “con nước” gợi cho ta sự lên xuống của sóng biển đó cũng là nỗi nhớ đang dâng trào mãng liệt trong chính nhà thơ.

“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” khói là chất xúc tác quan trọng gợi nhớ đến quê hương, tác giả khẳng định rằng đâu cần những thứ xúc tác, không cần những khung cảnh bóng chiều tà mới nhớ nhà, tình yêu và nỗi nhớ thương quê hương luôn trong sâu thẳm tâm hồn của thi nhân.

Bài thơ Tràng Giang không chỉ thể hiện cảm giác buồn hay nhớ thương quê hương thông thường, mà còn thể hiện được tâm trạng lúc bây giờ đó là nỗi đau xót trước cảnh nước mất nhà tan, đó cũng là tình cảnh chung của những thi nhân đương thời.

Bài 2

Huy Cận thơ của ông mang nhiều nỗi buồn cảnh vật và thế sự. Nỗi buồn đó về những con người, kiếp người và về quê hương đất nước. Bài thơ Tràng Giang chính là nơi tác giả bài thơ nhiều tình cảm của bản thân với quê hương, đất nước. Đặc biệt trong khổ cuối thể hiện nỗi sầu của thi nhân và nhân thế.

Trong ba khổ đầu, tác giả dùng biện pháp tả cảnh ngụ tình để mô tả những con người nhỏ nhoi, thấp cổ bé họng thì trong khổ cuối, ông đã hòa chung sự cô độc bản thân vào nỗi nhớ quê nhà nhớ quê lên tầng thiên nhiên cao, rộng lớn hơn nhiều: Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Một câu thơ tưởng như đơn giản nhưng khiến người đọc choáng ngợp bởi hình ảnh núi mây. Từ láy lớp lớp khiến cho chúng ta có cảm giấc mây như dày, tầng lớp và núi mây có màu bàng bạc, huyền ảo. Huy Cận còn lấy cảm hứng từ trong thơ Đỗ Phủ vào bài thơ.

Các cụm từ đùn và lớp lớp khiến không gian như rộng và cao hơn rất nhiều. Điều này khiến nhân vật trữ tình đã cô độc nay lại còn nhỏ nhoi trước thiên nhiên. Hình ảnh núi mây Huy Cận còn khiến độc giả có sự liên tưởng về nỗi buồn trong lòng Huy Cận xếp chồng lớp lên nhau đó là tâm trạng sầu thảm của chính tác giả.

Giữa không gian thiên nhiên bao la, rộng lớn còn có cánh chim nhỏ bé: Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa. Thơ Huy Cận cánh chim không thật sự tĩnh lặng mà nó đang đập cánh chao nghiêng trong một không gian thiên nhiên vô tận.

Hai câu thơ cuối Huy Cận cảm thấy cô độc, lẻ loi và nhớ nhà da diết:

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Dợn dợn từ ngữ chỉ có trong thơ của Huy Cận, ông lại sáng tạo ra một từ láy riêng cho mình. Hai thanh nặng như là nỗi buồn của tác giả vào hố sâu tuyệt vọng. Từ dợn dợn tựa như những con sóng dợn buồn trong lòng nhà thơ Huy Cận.

Câu thơ cuối của Tràng giang dựa trên nền thơ của Thôi Hiệu trong Hoàng Hạc lâu: Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai. Thôi Hiệu nhìn khói sóng mà nhớ quê còn Huy Cận lại phát triển thêm ý thơ đó là “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”, đối với ông tình yêu quê hương, đất nước trong lòng ông lúc nào cũng có sẵn mà không cần một thứ xúc tác nào khác.

Trong Tràng Giang khổ thơ cuối đặc biệt với sự u ám và thể hiện nỗi buồn, nỗi nhớ quê hương của chính tác giả. Qua bài thơ tác giả mong muốn cuộc sống này trở nên ý nghĩa và tốt đẹp.

Xem nhanh bài viết Phân tích bài thơ Tràng giang lớp 11 hay được tuyển chọn.

Lớp 11 –

Lập Dàn Ý Vẻ Đẹp Cổ Điển Và Hiện Đại Trong Bài Thơ Tràng Giang

Phân Tích 2 Khổ Thơ Đầu Bài Tràng Giang Của Huy Cận

Phân Tích Hai Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ Tràng Giang

Phân Tích 2 Khổ Thơ Đầu Bài Tràng Giang

Một Góc Nhìn Về Bài Thơ Tràng Giang

Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang Lớp 11 Hay Đầy Đủ

Anh (Chị) Có Cảm Nhận Gì Về Linh Hồn Sông Nước Quê Hương Trong Bài Tràng Giang Của Nhà Thơ Huy Cận

Kết Thúc Bài Thơ Tràng Giang, Huy Cận Viết: “lòng Quê Dợn Dợn Vời Con Nước, Không Khói Hoàng Hôn Cũng Nhớ Nhà”. Ý Thơ Này Huy Cận Đã Kế Thừa Của Ai, Trong Câu Thơ Nào? Và Đâu Là Sáng Tạo Của Nhà Thơ? Phân Tích Làm Rõ Cái Hay Của Hai Câu Thơ Cuối

Văn Mẫu Và Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang Huy Cận

Lời Đề Từ Trong Bài Thơ “tràng Giang”

Cảm Nhận Về Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Tràng Giang

Bài tham khảo phân tích bài thơ Tràng Giang trong Ngữ Văn 11, bài phân tích mẫu giúp các anh/chị làm văn tốt hơn.

Nếu như nhắc đến các nhà thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ mới phải nói đến Huy Cận, thơ của ông mang nỗi u sầu, nỗi niềm của tác giả trước thời đại đặc biệt là bài thơ Tràng Giang, bài thơ vừa mang vẻ đẹp cổ điển và hiện đại.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

“Tràng giang” được tác giả sử dụng trong khổ thơ đó là từ Hán Việt có nghĩa là con sông dài, trên dòng sông đó sóng không dữ dội mà lại nhẹ nhàng chỉ là sóng gợn nhẹ nhàng, con sông như mang theo nỗi buồn, những con sóng nhỏ cứ xô vào nhau nối tiếp nhau đến tận chân trời, mỗi con sóng như chất chứa tâm sự buồn của tác giả.

Trên dòng sông dài vô tận đó, tác giả bắt gặp hình ảnh con thuyền “xuôi mái nước song song”, con thuyền cũng không buồn là mà để mặc trôi theo dòng nước. “Thuyền về nước lại” hình ảnh có phần đối lập, thuyền và nước vốn gắn bó với nhau nhưng thực tế thì mỗi con sóng chỉ xuôi theo thuyền chốc lát rồi vội vã chia xa. Trong dòng thơ thứ 3 của khổ đầu tiên đó là sự chia ly của cảnh vật đó cũng là ẩn dụ cho hình ảnh của con người.

Trong dòng thơ cuối “Củi một cành khô lạc mấy dòng” tác giả sử dụng biện pháp đảo ngữ từ “củi” được đưa lên đầu câu nhằm nhấn mạnh cành củi khô nhỏ bé trôi nổi, bấp bênh giữa dòng đời vô định đó cũng chính là số phận của thi nhân đương thời.

Khép lại khổ đầu tiên là sự cô đơn, nỗi sầu nhân thế nhưng khổ 2 tâm trạng của thia nhân cũng không khá hơn:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu

Trong không gian rộng lớn của dòng sông thấp thoáng xuất hiện những cồn nhỏ rải rác, thưa thớt, gió thổi đìu hiu càng làm cho khung cảnh trở nên trống vắng, buồn tẻ. Tác giả như muốn tìm kiếm hình ảnh của con người cố gắng lắng nghe âm thanh của phiên chợ chiều ở một nơi nào đó nhưng lại không có, nỗi buồn vì thế màn càng nhân lên gấp bội.

Trong hai câu thơ cuối tác giả đã dùng biện pháp tương phản đối lập, đó là hình ảnh giữa nắng xuống và trời lên, giữa sông dài và trời rộng để cho thấy sự nhỏ bé của con người trước vụ trụ bao la.

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Hình ảnh bèo trôi đã được nhiều tác giả sử dụng, bèo trôi thường để nói về thân phận trôi nổi, bấp bênh của con người và trong Tràng Giang chúng lại xuất hiện để nói về những kiếp người trôi nổi trong xã hội. Từ không được sử dụng liên tiếp đó là không đò, không cầu như muốn nói rằng sự sống quanh đây thật ảm đạm, chỉ có những bãi cát vàng trải dài tận chân trời.

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều xa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Tác giả yêu thích thơ Đường và trong khổ thơ cuối người đọc có thể cảm nhận được hình ảnh “mây” “núi bạc” vừa cổ điển lại quen thuộc. Một cánh chim nhỏ lẻ loi cô đơn giữa nền bầu trời rộng lớn, nhìn vào bầu trời tác giả nhớ đến quê hương, nỗi nhớ quê hương da diết những này quê hương không còn nữa. Xưa kia Thôi Hiệu nhìn khói sóng trên sông mà nhớ nhà, nhưng nhà thơ Huy Cận “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”, nỗi nhớ trong lòng nhà thơ như trực sẵn, không cần bất kì chất xúc tác nào cũng khiến ông nhớ quê da diết.

Mặc dù bài thơ Tràng Giang mang nỗi buồn, cô đơn, lẻ loi nhưng vẫn thể hiện được tình yêu quê hương, đất nước tha thiết của nhà thơ. Những hình ảnh thân thuộc như dòng sông, con thuyền, bến đò…đó là những cảnh vật giản dị, quen thuộc được sử dụng để để giải bày cảm xúc, tình cảm qua đó bộc lộ tình yêu quê hương thầm kín của chính tác giả.

Vừa rồi là hướng dẫn phân tích bài thơ Tràng Giang Huy Cận trong chương trình lớp 11 trở thành tư liệu tham khảo hữu ích.

Nghị Luận Văn Học: Phân Tích Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu

Nghị Luận Văn Học: Phân Tích Bài Từ Ấy Của Tố Hữu

Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu (Dàn Ý Mẫu 2)

Bài Văn Mẫu Lớp 11: So Sánh Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu Và Vội Vàng Của Xuân Diệu

So Sánh Vội Vàng Và Từ Ấy Dàn Ý Chi Tiết

🌟 Home
🌟 Top