Với Tác Giả Bài Thơ “Gửi Em Ở Cuối Sông Hồng”

Nhà thơ Dương Soái lúc đó là Phó Giám đốc Đài PTTH Yên Bái. Anh thuộc diện cao tuổi nhất lớp và đang giữ chức vụ lãnh đạo báo chí nên được giao kiêm nhiệm giữ chức Lớp trưởng lớp Đại học Báo chí tại chức. Biết anh là tác giả lời thơ của bài hát nổi tiếng “Gửi em ở cuối Sông Hồng” đi cùng năm tháng, tôi đã trò chuyện với anh về câu chuyện “nhân duyên” giữa thơ và nhạc cũng như những kỷ niệm không thể lãng quên những ngày tháng lịch sử của cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc.

Những ngày đầu chiến tranh biên giới phía Bắc, Dương Soái là phóng viên của Đài phát thanh Hoàng Liên Sơn. Anh được cử lên mặt trận ngay trong những ngày tháng 02/1979 nóng bỏng. Trong dòng người sơ tán về tuyến sau, nhà báo Dương Soái hòa vào dòng bộ đội ngược về phía biên giới… Đến mặt trận, biết Dương Soái là nhà báo, các chiến sĩ bộ đội đã nhờ anh chuyển giúp những lá thư về gia đình. Dương Soái nhận tất cả những lá thư ấy. Anh trở về tuyến sau để phát tin chiến trường…

Trong lúc chờ tàu ở ga Phố Lu, Dương Soái kiểm nhanh những lá thư. Anh ngạc nhiên khi thấy các dòng địa chỉ đều ở các tỉnh nằm dọc theo triền sông Hồng như: Vĩnh Phú, Hà Nội, Hà Nam Ninh, Thái Bình, Hải Hưng… Từ sự tình cờ này, đã giúp anh cảm hứng thi ca, viết rất nhanh bài thơ “Gửi em ở cuối sông Hồng”. Trích lời thơ như sau:

Anh ở Lào Cai

Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt

Tháng Hai, mùa này con nước

Lắng phù sa in bóng đôi bờ

Biết em năm ngóng, tháng chờ

Cứ chiều chiều ra sông gánh nước

Nên ngày ngày cùng bạn bè lên chốt

Anh lại xuống sông Hồng cho thoả nỗi em mong

Đài báo gió mùa, em thương ở đầu sông

Đỉnh đồi cao chiến hào anh gặp rét

Biết mùa màng đồng quê chưa cấy hết

Tay em ngập dưới bùn, lúa có thẳng hàng không?

Giá chúng mình còn cái thuở dung dăng…

Anh thả lá thuyền xuôi về dưới ấy

Em ra sông chắc em sẽ thấy

Chỉ nỗi nhớ chúng mình đủ ấm mọi mùa đông.

Thì hỡi em yêu ở cuối sông Hồng

Nếu gặp dòng sông ngàu lên sắc đỏ

Là niềm thương anh gửi về em đó

Qua màu nước sông Hồng, em hiểu chiến công anh.

Bài thơ sau đó được anh gửi đăng trên báo Văn nghệ Hoàng Liên Sơn. Sau đó báo Văn nghệ của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam in lại. Năm 1980, bài thơ “Gửi em ở cuối sông Hồng” được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc, phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam và trở nên nổi tiếng. Biết bài thơ của mình được phổ nhạc, nhưng lúc đó, chưa một lần nhà báo Dương Soái được gặp nhạc sĩ. Mãi sau này khi nhạc sĩ Thuận Yến về công tác tại đoàn Văn công Quân khu Hai anh mới gặp, khi đó duyên tri kỷ giữa nhà thơ và nhạc sĩ mới thành hiện thực.

20 năm sau khi thơ – nhạc “Gửi em ở cuối sông Hồng” ra đời, ca khúc đã được Bộ Tư lệnh Biên phòng trao giải thưởng Bài hát được các chiến sĩ bộ đội biên phòng bình chọn là hay nhất. Ca khúc này sẽ sống mãi với những chiến sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam và là dấu ấn kỷ niệm những tháng ngày không quên trong lịch sử giữ nước của dân tộc. Bây giờ nhà báo, nhà thơ Dương Soái đã nghỉ hưu. Với anh em trong làng báo, anh là người đã tạo ra một dấu ấn bằng thơ về một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc. Tháng hai về lại nhớ bài hát da diết ấy.

Gửi Em Ở Cuối Sông Hồng

Chùm ca khúc này là những ca khúc lãng mạn cách mạng viết về tình yêu của những người lính với đất nước, quê hương, với Bác Hồ kính yêu. Bài hát Gửi em ở cuối sông Hồng được nhạc sĩ viết trên nền bài thơ cùng tên của nhà thơ Dương Soái. Sinh thời, nhạc sĩ Thuận Yến có lần kể rằng, trong một chuyến công tác lên biên giới sau cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, năm 1980, ông đã gặp vợ chồng một chiến sĩ. Vợ quê Thái Bình, chồng đang chốt ở biên giới Bát Xát, thượng nguồn sông Hồng. Người con gái trẻ kể với nhạc sĩ rằng, anh chị vừa cưới nhau được ít ngày thì chiến tranh nổ ra, chồng chị lên đường chiến đấu… Và chị đã lặn lội lên biên giới gặp chồng. Nghe chuyện, nhạc sĩ Thuận Yến rất xúc động, ông bảo ông muốn viết một bài hát về chuyện tình của người lính trẻ này lắm nhưng chưa viết được. Phải đến khi gặp bài thơ Gửi em ở cuối sông Hồng của Dương Soái thì câu chuyện tình yêu trong chiến tranh kia mới ra đời.

Nhạc sĩ Thuận Yến và vợ, nghệ sĩ Thanh Hương.

Bài thơ Gửi em ở cuối sông Hồng được Dương Soái viết trong những ngày đầu chiến tranh biên giới phía Bắc. Khi ấy, ông là phóng viên của Đài Phát thanh Hoàng Liên Sơn (nay tách thành hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái), được cử lên mặt trận ngay trong tháng 2-1979. Vào một ngày, lúc tạm yên tiếng súng, dưới mái một ngôi nhà lá ở Phố Lu, trong tâm trạng của một người lính nơi chiến trận, Dương Soái đã viết bài thơ tràn đầy cảm xúc nhớ thương gửi người yêu ở hậu phương. Bài thơ được in trên tờ tạp chí của Hội Văn học-Nghệ thuật Hoàng Liên Sơn, sau đó Tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam in lại. Dương Soái sinh năm 1950 ở Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, nhưng sống nhiều năm ở vùng biên cương và “gắn bó máu thịt” với miền đất Lào Cai.

Bài thơ Gửi em ở cuối sông Hồng của Dương Soái không chỉ được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc thành ca khúc, thành “Giai điệu tự hào” mà còn được các “giọng ca vàng” nổi tiếng như: Thu Hiền – Trung Đức, Trọng Tấn  – Thanh Hoa, Trọng Tấn – Anh Thơ, Việt Hoàn – Anh Thơ… chắp cánh cho bay cao, bay xa. Bài hát gồm hai lời, với giọng ca nam nữ mang một âm hưởng vừa sâu lắng vừa trữ tình, nhưng cũng rất giàu chất chiến đấu:

Anh ở biên cương nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt.  Ở nơi anh mùa này con nước, lắng phù sa in bóng đôi bờ.  Anh ở biên cương, biết rằng em năm ngóng tháng chờ, Cứ chiều chiều ra sông mà gánh nước,  Nên ngày ngày cùng bạn bè trên chốt  Anh lại xuống sông Hồng cho thỏa lòng em mong.  Em ở phương xa, nghe đài báo gió mùa Đông Bắc,  Em thương anh nơi chiến hào gặp rét.  Mà em thương anh… chiều nay đang đứng gác,  Lo canh giữ đất trời, áo ấm có lạnh không,  Hỡi anh yêu, người chiến sĩ biên thùy?  Có gì đâu tấm lòng người chiến sĩ,  Có tình yêu (bốn mùa sưởi ấm) (Dù gió mưa), (dù mùa đông),  (Vì rằng em) luôn ở bên anh (2)  2.  Em ở phương xa, nơi con sông Hồng chảy về với biển,  Ở trên anh đầu nguồn biên giới, cuối dòng sông nơi ấy quê nhà.  Em ở phương xa, cách mười sông ba núi bốn đèo,  Cứ chiều chiều ra sông mà gánh nước  Đem lòng mình gửi về miền biên giới.  Sao chẳng nói nên lời nhưng nặng tình yêu thương.  Anh ở biên cương sương lạnh giá biết mùa đông tới.  Nơi quê hương em bước vào vụ mới.  Rằng anh thương em, đồng quê chưa cấy hết,  Tay em ngập dưới bùn, lúa cấy thẳng hàng không,  Hỡi em yêu ở cuối sông Hồng?  Thấy dòng sông sóng ngầu lên sắc đỏ  Biết là anh nhớ về em đó  (Là chiến công), (là niềm tin),  Là tình yêu em gửi cho anh.  Anh gửi cho em  Em gửi cho anh  Anh gửi cho em  Là tình yêu… ta gửi… cho nhau…

Theo nhà thơ Dương Soái, mới đầu nhạc sĩ Thuận Yến viết Gửi em ở cuối sông Hồng đơn ca theo bài thơ gốc của Dương Soái. Nhưng NSƯT Thanh Hương, vợ nhạc sĩ Thuận Yến đã khuyên ông nên viết song ca cho ca sĩ có “đất” để giao lưu và Thuận Yến đã biến Gửi em ở cuối sông Hồng thành bài song ca nam nữ 2/3 gồm  lời 1, lời 2 như hiện nay.

Năm 1999, nhân kỷ niệm 55 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam, ca khúc Gửi em ở cuối sông Hồng đã được Bộ tư lệnh Biên phòng trao giải thưởng Bài hát được các chiến sĩ bộ đội biên phòng bình chọn là hay nhất. Trước đó, năm 1994, bài hát đã được tặng Giải thưởng Bộ Quốc phòng.

Nhạc sĩ – Đại tá Thuận Yến tên thật là Đoàn Hữu Công, sinh ngày 15-8-1932, tại Quảng Nam, mất ngày 24-5-2014 tại Hà Nội. Ông nhập ngũ năm 1953, tham gia chiến đấu tại mặt trận Bắc Tây Nguyên. Tại đây, ông đã viết những ca khúc đầu tay như “Hò dân công” hay “Thi đua sản xuất”. Năm 1961, ông được cử ra Bắc học tại Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam). Năm 1965, ông xung phong đi chiến trường B cùng với Đoàn Văn công Quân Giải phóng Trị Thiên. Ông quyết định chọn bút danh Thuận Yên, ghép từ các chữ Duy Thuận (quê cha) và Duy Yên (quê mẹ). Khi gửi tác phẩm về Hà Nội, phát thanh viên của Đài Tiếng nói Việt Nam đọc là Thuận Yến. Thế là thành bút danh Thuận Yến! Ông từng giữ cương vị Trưởng đoàn Văn công Quân khu 2, Trưởng đoàn Văn công Tổng cục Kinh tế (Bộ Quốc phòng), Trưởng ban Âm nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam…

Nhạc sĩ Thuận Yến đã sáng tác chừng 500 bài hát, trong đó có nhiều ca khúc nổi tiếng thể hiện tình yêu quê hương, đất nước; đặc biệt là những ca khúc viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về những người mẹ, về những người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam như: Vầng trăng Ba Đình (Giải nhất ca khúc của Bộ Văn hóa năm 1987), Gửi em ở cuối sông Hồng, Màu hoa đỏ (Giải thưởng Bộ Quốc phòng năm 1994), Chia tay hoàng hôn (Giải bài hát được nhiều người ưa thích năm 1992-1993 của Đài Tiếng nói Việt Nam); Bác Hồ một tình yêu bao la, Người về thăm quê, Miền Trung nhớ Bác, Con gái mẹ đã thành chiến sĩ… (Giải thưởng Nhà nước về Văn học-Nghệ thuật năm 2001).

Với những ca khúc vượt thời gian và “đi cùng năm tháng” cùng những cống hiến lớn trong hoạt động âm nhạc suốt cả cuộc đời, nhạc sĩ-Đại tá Thuận Yến đã vinh dự được Chủ tịch nước truy tặng phần thưởng cao quý: Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học-Nghệ thuật đợt 5 (2024).

NGÔ VĨNH BÌNH

Bài Thơ “Sông Hồng” Của Nhà Thơ Lưu Quang Vũ

một con sông chảy qua thời gianchảy qua lịch sửchảy qua triệu triệu cuộc đờichảy qua mỗi trái tim ngườikhi êm đềm khi hung dữmột con sông rì rầm sóng vỗtrong muôn vàn trang thơlàm nên xóm thôn, hoa trái, những ngôi nhàtạo sắc áo, màu cây và tiếng Việtmột giống nòi sinh tự một dòng sôngtrăm đứa con xuống biển lên rừngở lại Phong Châu, người con thứ nhấtvua Hùng Vương thứ nhất nước Văn Langsóng và phù sa – khái niệm đầu tiênnước và đất để nay thành Đất Nướcmột con sông dịu dàng như lục bátmột con sông phập phồng muôn bắp thịtmột con sông đỏ rựcnhuộm hồng nâu da người.ôi Sông Hồng, mẹ của ta ơingười chứa chất trong lòngbao điều bí mậtbao kho vàng cổ tíchbao tiếng rên nhọc nhằnbao xoáy nước réo sôi trong ngực rộng của ngườibao doi cát ngầm trong lòng người phiêu bạtngười quằn quại dưới mưa dầm nắng gắtcho ban mai chim nhạn báo tin xuâncho đơn sơ hạt gạo trắng ngầncả nhành dâu bé xanhngười cũng cho nhựa ấm

một dòng sông với những thuyền những bếnnhững thân đê uốn lượn lưng rồnghoa gạo đỏ bờ sông những đền miếu phố phườngmái rạ bờ tre hoàng hôn khói bếpmột dòng sông như dòng đời mãnh liệtnhấn chìm bao thuyền giặcvà xoá nhoà dấu vết các triều vua…sóng rập rờn quanh bè gỗ tuổi thơnước sông chảy trên vai em lấp loángta đi qua những bến phà tan nátmột ngàn ngày xa cáchmột ngàn đêm sông Hồngtrên chùm sao bánh láitrong câu hò đồng độitrong ráng mây cuồn cuộn căng buồm…máu ta mang sắc đỏ sông Hồngnỗi khổ và niềm vui bất tậnluôn luôn mới đến, luôn luôn ra điluôn già nhất và luôn trẻ nhấtsông để lại trước khi về với biểnkhông phải máu đen độc ác của quân thùkhông phải gươm đao ngàn năm chiến trậnkhông phải nghẹn ngào tiếng nấcsau sụp lở hưng vong sau thù hận sóng tràolà bãi mới của sông xanh ngátlà đất đai lấn dần ra biểnlà tâm hồn đằm thắm phù sadâng yêu thương đỏ rực đôi bờ.

Tả Sông Hồng Lớp 5 Hay Nhất

BÀI VĂN MẪU SỐ 1 TẢ SÔNG HỒNG LỚP 5 NGẮN GỌN

Những con sông cũng tựa như một biểu tượng cho từng vùng miền, đất nước. Nếu người miền Nam tự hào với con sông “chín rồng” mang tên Cửu Long thì người miền Bắc cũng có niềm kiêu hãnh là con sông Hồng.

Cái tên đẹp đẽ ấy dường như đã phán ánh nét đặc trưng nhất của con sông này. Đó chính là màu nước sông hồng đào, mang màu của phù sa. Sông Hồng tựa như một dải lụa mềm mại, khổng lồ vắt ngang qua vùng đồng bằng châu thổ. Quê hương em cũng được tô điểm bằng nét vẽ con sông. Lòng sông rộng và sâu, nước lúc nào cũng dâng đầy. Mặt sông cũng có nhiều trạng thái. Những ngày yên bình, thời tiết đẹp, mặt sông phẳng lặng im lìm như đang trầm tư suy nghĩ. Những ngày giông gió nổi lên, mặt sông cũng như tức giận, gồng mình lên chống chọi, nước xô đẩy liên tục. Dòng chảy của nước trôi rất nhanh, có những đoạn chảy xiết thành vòng xoáy trông rất nguy hiểm. Những đám bèo cũng cứ thế trôi bồng bềnh trên mặt nước không biết là đi về đâu. Bông hoa tím biếc như cài lên mái tóc khiến cho sông Hồng càng thêm dịu dàng. Thuyền bè thường qua lại đây rất tấp nập, đôi khi còn nghe rõ tiếng động cơ chạy. Họ đánh bắt cá, khai thác cát hoặc đơn giản là chở người qua lại. Đôi lúc, đi học ngang qua em nghe thấy ai vang lên vài câu hò nghe man mác nao lòng. Sông Hồng, bên lở bên bồi. Bãi được bồi thường được trồng cấy tươi tốt và thành những cánh đồng rộng bạt ngàn. Bên lở thường được kè đê để bảo vệ cuộc sống của người dân khi mùa bão về. Những khóm tre cong cong nghiêng nghiêng tựa như đang đợi người nào từ bãi bồi bên kia trở về. Có những buổi chiều em cùng lũ bạn chạy nhảy trên con đê dài, tận hưởng những làn gió từ mặt sông dội lên phả vào mặt đem đến cảm giác khoan khoái. Con sông Hồng với nhiều người tựa như một người mẹ nuôi dưỡng mảnh đất và tâm hồn họ bằng dòng nước ngọt ngào.

Nếu quê hương em thiếu hình ảnh con sông Hồng chắc sẽ thiếu đi một nửa linh hồn. Những đứa trẻ như em đã lớn lên cùng với con sông này.

“Quê hương tôi có con sông xanh biếc

Nước gương trong soi tóc những hàng tre

Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè

Tỏa nắng xuống lòng lấp lánh.”

Bao lâu nay, những con sông quê hương đi về trong những sáng tác thơ ca, những bài hát trữ tình. Tuổi thơ em gắn liền với con sông Hồng hiền hòa thân thương, là nơi lưu giữ đầy kỉ niệm.

Nếu như miền Nam có dòng sông Mê Công vắt ngang nhiều nước bạn, miền Trung có dòng sông Hương thơ mộng, thủy chung. Miền Bắc quê em, có lẽ sông Hồng đã gắn liền và đi vào nếp sống mỗi con người. Con sông Hồng chảy dài qua nhiều tỉnh thành, địa phương em chỉ là một nhánh sông nhỏ. Em nghe bà kể, sông Hồng chảy qua phía Đông Hà Nội rồi đổ ra Biển ở cửa Ba Lạt. Sông Hồng hiền hòa và êm đềm, nhìn từ trên cao, con sông như một dải lụa đào vắt ngang lên đôi vai của người thiếu nữ- mảnh đất màu mỡ này. Hai bên bờ sông là những ruộng lúa nương ngô đang đến mùa thu hoạch. Sáng sớm, dòng sông thức dậy đón ánh nắng bình minh, dòng nước lấp lánh in bóng mặt trời. Nước sông nhìn vậy mà rất xoáy, nhớ hồi nhỏ hay cùng ông ra tắm sông, biết bơi nhưng cũng chỉ dám tắm gần bờ. Cảm nhận dòng nước mát luộc vào da thịt, thấy thân thương như người mẹ vỗ về. Đẹp nhất là mỗi buổi chiều tà, khi mà bầu ánh sáng xung quanh phủ màu vàng mộc, dòng sông Hồng hiện lên tựa một bức tranh thủy mặc hữu tình. Xa xa, những thuyền bè đánh cá và những chú chim đâu đó chao liệng trên trời cao, nước sông rì rào vỗ vài hai mạn đê, sủi bọt trắng xóa. Dòng sông tựa một chiếc gương khổng lồ in bóng hoàng hôn, đẹp đẽ và bình dị. Đứng bên bờ sông, cảm nhận làn gió mát thổi qua mà thấy tâm hồn như lạc vào chốn diệu kỳ. Con sông Hồng thân thương và gắn bó, đây là nơi thuyền cha đánh cá, giao thương, là nơi mỗi trưa hè mẹ ngồi giặt áo, lặng nghe tiếng sáo vọng lại từ xóm chợ. Nước sông Hồng chất chứa phù sa, bồi đắp ruộng đồng, tựa như nguồn nước mẹ lúc nào cũng ăm ắp đong đầy.

Em rất yêu con sông Hồng. Con sông gắn liền với mảnh đất chôn rau cắt rốn mà ai đi xa cũng phải nhớ về.

Uốn mình chảy quay và ôm lấy những tỉnh, thành phố ở miền Bắc Việt Nam thân thương là dòng sông hồng vô cùng hiền hòa và thân thiện. Dòng sông Hồng như một người bạn tri âm tri kỷ, gắn bó lâu đời với vùng đất này không biết tự bao giờ mà gắn bó keo sơn tới thế. Dòng sông Hồng mới thực sự tuyệt vời làm sao!

Dòng sông Hồng kéo dài và đi qua rất nhiều tỉnh, thành phố trong khu vực miền Bắc của Việt Nam. Và dòng sông Đào chảy qua thành phố Nam Định thân thương của em cũng là một nhánh của sông Hồng. Nước dòng sông Hồng quanh năm đục ngầu phù sa. Nước sông không trong veo tới độ có thể nhìn xuống được cả dưới đáy, cũng không trong xanh màu xanh của ngọc bích mà nước của dòng sông Hồng có màu hồng hồng, đục đục. Do bởi người ta thường nói dòng sông Hồng mang trong nó quá nhiều chất phù sa để bồi đắp cho ruộng đồng bờ bãi cho nên nước của sông không thể có màu xanh trong được. Quả đúng là như vậy. Đôi bờ của dòng sông Hồng lúc nào cũng tràn đầy sức sống. Phù sa ngày ngày cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trái đôi bờ nên cây nào cây đất cũng tươi tốt nhờ đất lúc nào cũng màu mỡ, nhiều chất dinh dưỡng tốt lành. Dòng sông Hồng uống quanh, mềm mại như một tấm khăn voan quàng lên cổ của một cô thiếu nữ duyên dáng mà e thẹn. Trên sông Hồng lúc nào cũng nhộp nhịp thuyền bè qua lại, tập nập ngược xuôi. Thi thoảng có gió nhẹ thoảng qua làm cho mặt sông xao động, tạo ra những làn sóng nhẹ nhàng lăn tăn trên mặt sông. Dưới sông, những đàn cá bơi lội tung tăng thỏa thích, nô đùa trong nước trông thật vui nhộn và đáng yêu biết bao

Dòng sông Hồng mới đẹp làm sao! Mai này dù đi đâu xa, em cũng không bao giờ có thể quên được hình ảnh của dòng sông quê hương thân yêu và gần gũi, quen thuộc này.

Gởi Em Ở Cuối Sông Hồng (Thuận Yến

(Mặt trận Lào Cai – 20/2/1979).

Nhà thơ Dương Soái sinh năm 1950 ở vùng quê chiêm trũng Hà Nam. Bước vào tuổi 18, nhà thơ thoát ly gia đình, gia nhập đoàn công nhân địa chất Hoàng Liên Sơn (Ngày nay thuộc địa phận hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái).

Khi cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc nổ ra, nhà thơ Dương Soái đang là phóng viên của Đài Phát thanh Hoàng Liên Sơn. Ông được ban lãnh đạo Đài cử lên mặt trận ngay trong tháng 2/1979. Tại nơi tạm nghỉ trong các trận đánh, ông đã được gặp các chiến sĩ và người dân vừa từ mặt trận trở về.

“Đến mặt trận, tôi gặp các đồng chí, chiến sĩ. Có người trở về sau trận đánh máu vẫn còn chảy ròng ròng ở viết thương. Người về trước, người về sau, nhưng trông thấy nhau là… khóc vì “tưởng mày chết rồi!”.

Khi biết tôi là nhà báo, các chiến sĩ nói với tôi rằng: “Anh là nhà báo, anh phải nói với mọi người rằng: Còn chúng em, thì còn biên giới”. Đặc biệt, ngay sau đó, các chiến sĩ nhờ tôi gửi những lá thư của họ về gia đình.

Người thì gửi những lá thư đã cho vào phong bì gián tem, người thì gửi lá thư vừa viết vội chưa kịp cho vào phong bì mà chỉ mới kịp gấp làm 3. Thậm chí, có người chỉ kịp xin tôi một tờ giấy để ghi vội vài dòng ngắn ngủi nhắn nhủ cho người thân ở nhà biết họ vẫn đang bình yên hoặc đưa cho tôi địa chỉ rồi nhờ tôi đánh điện về nhà báo tin họ vẫn còn sống.

Giai đoạn đó, phóng viên đi đưa tin không có phương tiện gì để truyền về ngoài trực tiếp về tại cơ quan. Vì vậy, sau khi thu đầy các cuốn băng về các mẩu chuyện – câu chuyện chiến đấu thì tôi trở về phố Lu – Lào Cai. Thời điểm đó, người ta dồn tất cả các loại tàu lại để chở những người sơ tán từ biên giới vào sâu trong nội địa.

Trong lúc ngồi chờ đoàn tàu tiếp theo ở ga phố Lu, tôi mới có thời gian lần dở những lá thư mà người nơi chiến trận đã gửi cho mình. Hoá ra, trong những lá thư đó, đa phần là địa chỉ ở Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh, Vĩnh Phú, Hải Hưng… tức toàn những cái tên ở phía cuối sông Hồng cả.

Điều này làm cho tôi dấy lên suy nghĩ, cuộc chiến này tập hợp rất nhiều con em ở dọc sông Hồng lên bảo vệ biên giới. Cộng với nỗi niềm của bản thân, một người cũng sinh ra bên cạnh sông Hồng… đã làm tôi cảm tác để viết nên bài thơ “Gửi em ở cuối sông Hồng”. Bài thơ sau đó được Hội Văn học Nghệ thuật Hoàng Liên Sơn in, sau đó báo Văn nghệ in”, nhà thơ Dương Soái kể.

Một năm sau, 1980, nhạc sĩ Thuận Yến tình cờ đọc được bài “Gửi em ở cuối sông Hồng”. Ông đã phổ nhạc cho bài thơ, trở thành bài hát nổi tiếng.

Nhà thơ Dương Soái kể, vài năm sau đó, ông mới gặp nhạc sĩ Thuận Yến. Nhạc sĩ họ Đoàn kể với nhà thơ rằng, trong một chuyến ngược lên biên giới sau chiến tranh, ông đã gặp vợ chồng một chiến sĩ.

Vợ ở Thái Bình, còn chiến sĩ đang chốt ở biên giới Bát Xát, phía con sông Hồng. Nhạc sĩ Thuận Yến được kể rằng, đó là người vợ trẻ, vừa lấy chồng thì chồng ra ngay biên giới. Ông bố giao cho chị phải lên biên giới để gặp chồng.

Gặp hoàn cảnh như vậy, nhạc sĩ Thuận Yến rất xúc động nhưng lúc đó ông chưa viết được ra bài hát ấp ủ, mãi đến khi gặp bài thơ “Gửi em ở cuối sông Hồng” ca khúc mới ra đời.

Nhà thơ Dương Soái tâm sự: “Trong điều kiện chiến tranh ngày ấy, câu thơ: “Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt” có nghĩa đây là đất của ta, đất của chúng ta, của tôi – một lời tuyên ngôn “Nam quốc sơn hà…”.

Tuy nhiên, trong hoàn cảnh cụ thể của người chiến sĩ ở mặt trận Lào Cai, “Gửi em ở cuối sông Hồng” nhấn mạnh địa danh: Anh ở Lào Cai/ Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt. Nhưng Dương Soái vẫn biết ơn nhạc sĩ Thuận Yến đã sửa giúp 2 chữ “Lào Cai” trong bài thơ ra chữ “biên cương”. Chính hai chữ “biên cương” mang một tầm rộng lớn hơn, phổ quát hơn, bay rộng hơn trên khắp dải biên cương Tổ quốc.

Cũng theo nhà thơ Dương Soái, đầu tiên nhạc sĩ Thuận Yến viết “Gửi em ở cuối sông Hồng” đơn ca theo bài thơ gốc của Dương Soái nhưng NSƯT Thanh Hương – vợ nhạc sĩ Thuận Yến đã bảo chồng phải viết song ca cho ca sĩ có đất để giao lưu nên nhạc sĩ đã biến “Gửi em ở cuối sông Hồng” thành bài song ca với 2/3 lời 2 trong ca khúc là của nhạc sĩ Thuận Yến.

Năm 1999, 20 năm sau khi “Gửi em ở cuối sông Hồng ra đời”, ca khúc đã được Bộ Tư lệnh Biên phòng trao giải thưởng Bài hát được các chiến sĩ bộ đội biên phòng bình chọn là hay nhất.

Nhà văn Hoàng Mạnh Quân – Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật tỉnh Yên Bái cho rằng: “Bài thơ “Gửi em ở cuối sông Hồng” của Dương Soái đã nói được tâm tư, tình cảm… của những người ở biên cương nói chung. Con sông Hồng chảy vào đất Việt vốn được nói nhiều trước đây nhưng khi chiến tranh nổ ra con sống lại mang một ý nghĩa rất khác.

Người ta cảm thấy tình cảm của những người ở biên cương gửi về người phương xa trong thời điểm “nước sôi lửa bỏng” có gì đó rất đỗi thiêng liêng, mãnh liệt… Nhất là tình yêu của những người lính đang ở biên cương bảo vệ tổ quốc gửi cho người yêu, người vợ của mình.

Cái đó đã đi sâu vào lòng người và dấy lên trong tâm hồn người ta những xúc cảm mạnh mẽ”. Bên cạnh “Gửi em ở cuối sông Hồng”, nhà thơ Dương Soái còn có nhiều bài thơ viết về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc được đăng trên nhiều tờ báo, tạp chí…