Bài Thơ Về Mẹ Quan Âm / Top 4 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Kovit.edu.vn

Sự Tích Phật Bà Quan Âm

Trái hẳn với hai chị là Diệu Thanh và Diệu Âm, công chúa Ba không đắm mình trong cung vàng điện ngọc mà say mê theo tiếng kệ câu kinh, rồi hiến thân cho đạo Phật. Nàng nhất quyết không chịu lấy chồng khiến vua và hoàng hậu nổi giận, bắt giam nàng ở riêng tại vườn sau hoàng cung.

Một hôm vua cùng hoàng hậu ngự ra ngoài, công chúa Ba chạy đến đón xa giá thăm hỏi. Vua lại phán bảo nàng bỏ ý định tu hành để tính việc trăm năm song nàng vẫn một mực từ chối, và xin phép vua cha xuất gia đầu Phật. Vua giả vờ chiều theo ý con, cho nàng đến tu ở chùa Bạch Tước, đồng thời ra lệnh cho các nhà sư bị mua chuộc phải khuyên nhủ công chúa Ba trở về cung để lấy chồng. Nếu việc không thành thì chùa sẽ bị thiêu cháy và tất cả nhà sư cùng Ni Cô đều bị chém đầu.

Các nhà sư sợ hãi tìm đủ mọi cách để làm cho công chúa xiêu lòng mà hồi tục, nhưng đều vô hiệu. Vua hay tin liền nổi cơn thịnh nộ ra lệnh đốt chùa để giết luôn công chúa không tuân lệnh vua cha, nhưng ngọn lửa vừa ùn ùn nổi lên bao vây cả bốn phía chùa thì trời đang tạnh ráo bỗng tuôn mưa xối xả dập tắt ngay. Vua bèn cho bắt công chúa Ba để xử tử, nhưng trời lại nổi bão táp dữ dội, sét đánh văng xa lưỡi đao của đao phủ nhắm bổ vào cổ công chúa. Vua vẫn không nguôi giận, lại ra lệnh xử giảo nàng. Quân lính đang sửa soạn dây để treo cổ nàng lên thì bỗng đâu một con cọp lớn phóng qua hàng rào binh sĩ bao vây cướp mất công chúa Ba, cõng nàng đưa đến chùa Hương Tích.

Chùa Hương Tích ở về xã Phù Lưu, thuộc tỉnh Hà Đông, dựng lên vào thời Chính Hòa nhà Lê (1687) do hai bà vợ chúa Trịnh, hai chị em Đào Thị Cư và Đào Thị Niên cùng nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm rồi xây cất lên. Đời Hồng Đức, vua Lê Thánh Tôn cho khắc ngay trên cửa vào Hương Tích là Nam Thiên Đệ Nhất Động. Giữa chốn lâm tuyền này, qua Bến Đục Đò Suối, rải rác các ngôi chùa Ngoài Thiên Chủ, chùa Giải Oan, chùa Cửa Võng, chùa Tiên, chùa Trong, cùng nhiều hang động thạch nhũ, hang Phật Tích, động Tuyết Quỳnh, đồi Không Lộ của Thần Trụ Trời, núi Gà, núi Tượng, núi Trống, núi Chiêng, núi Các Cô, núi Các Cậu cho các bà không con đến cầu tự, các cửa Võng, cửa Vương, cửa Chấn Song, lối xuống âm phủ, đường đi lên trời… Tương truyền trong động có một Lẫm Thóc vô tận trời sinh để nuôi các nhà sư tu hành ở Hương Tích, cùng Kho Tiền, Nhà Tầm Tiên, Chuồng Lợn Tiên, Phòng Sách Tiên, Quần Áo Tiên, ngày nay đã hóa thành đá.

Chùa Hương Tích thờ Phật Bà Quan Âm một ngàn tay một ngàn mắt (thiên thủ thiên nhãn), cọp cõng công chúa Ba đến đây ở tu hành. Các thú dữ trong rừng núi được cảm hóa đến nghe kinh, rồi chia nhau chim hái trái, nai lấy nước, cọp bổ củi, khỉ vo gạo, rồng thổi lửa nấu cơm… giúp đỡ trong công việc hàng ngày.

Trong khi ấy, ở triều, vua cha bị phát bệnh hủi (phong) ghê gớm. Các vị danh y được mời đến đều bó tay trước chứng bệnh nan y. Da thịt vua sần sùi lở lói, các ngón tay chân dần dần rơi rụng, mất cả hai bàn tay rồi mù cả hai mắt. Công chúa Ba tu đến thời kỳ gần đắc đạo, khoác lốt Ni Cô về thăm nhà, thấy vua cha bị bệnh thê thảm, liền tự moi lấy hai mắt trong sáng của mình, và chặt cả hai tay để tháp chữa cứu cho cha được lành mạnh trở lại. Sau đó, công chúa hóa về Niết Bàn, rồi sau lại độ cho vua, hoàng hậu cùng hai chị được thành Phật.

Nhận Xét Về Âm Hưởng, Giọng Điệu Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá

Đề bài: Nhan xet ve am huong, giong dieu trong bai tho Doan thuyen danh ca. Bài thơ có nhiều từ hát, cả bài cũng như một khúc ca. Đây là khúc ca gì và tác giả thay lời ai. Em có nhận xét gì về âm hưởng, giọng điệu của bài thơ Đoàn thuyền đánh cá.

Mở bài: Nhận xét về âm hưởng, giọng điệu bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

Trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của nhà thơ Huy Cận, từ “hát” đươc điệp đi điệp lại bốn lần trong bảy khổ thơ khiến cho bài thơ không chỉ là bức tranh lao động đầy khỏe khoắn của những người ngư dân mà còn như một khúc ca lao động đầy hào sảng. Đây là khúc ca mà tác giả Huy Cận hát thay chơ những người lao động nghèo ven biển, họ sống bằng nghề đánh bắt cá trên biển, công việc tuy vất vả, nặng nhọc nhưng lại có niềm vui, sự hăng say bởi con người say mê công việc, biết làm chủ công việc của mình. Bút pháp khoa trương cường điệu kết hợp với nghệ thuật ẩn dụ làm cho tiếng hát mạnh mẽ khác thường- sức mạnh căng buồm đẩy thuyền lướt tới, ra khơi. Tiếng hát xao động bầu trời.Tiếng hát âm vang mặt sóng. Tiếng hát khỏe khoắn phát ra từ những lồng ngực khỏe khoắn. Tiếng hát trở thành biểu tượng của sức mạnh.

Thân bài: Nhận xét về âm hưởng, giọng điệu bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

Về âm điệu: Bài thơ đoàn thuyền đánh cá có âm hưởng vừa khỏe khoắn, sôi nổi, vừa bay bổng, lãng mạn với lời thơ hào sảng, dõng dạc; âm điệu thơ như khúc hát say mê cùng với điệp ngữ từ “hát” khiến cho bài thơ như một khúc ca- bài ca của tình yêu lao động.

Bài thơ đoàn thuyền đánh cá đã khắc họa nhiều hình ảnh đẹp đẽ tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước cuộc sống và đất nước.

Kết bài: Nhận xét về âm hưởng, giọng điệu bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng phong phú, độc đáo, có âm hưởng khỏe khoắn, hào hùng, lạc quan.

TỪ KHÓA TÌM KIẾM ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ HUY CẬN DOAN THUYEN DANH CA BÀI THƠ ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ Theo chúng tôi

Từ khóa tìm kiếm:

nhận xét chung về giọng điệu âm hương bài thơ đoàn thuyền đanh cá

Quan Niệm Của Em Về Thơ Hay

Quan niệm của em về thơ hay – văn lớp 10

Quan niệm của em về thơ hay – văn lớp 10

Bài làm

Thơ là một khái niệm vô cùng quen thuộc với mọi người, ở đó có vần có nhịp, có ý nghĩa mà khi đọc lên mỗi con người sẽ có cảm nhận khác nhau. Mỗi người có quan niệm khác nhau về thơ hay, có người thì cho rằng chỉ cần ý thơ hay, nội dung thơ diễn tả được nội tâm, tâm hồn của người đọc thì đó là một tác phẩm hay. Thơ hay theo em là một sản phẩm thơ có vần có dịp, có ý nghĩa để bộc lộ tâm trạng, cảm xúc của mỗi nhà thơ với tác phẩm thơ đó của mình.

Mỗi người có một quan niệm khác nhau về thơ hay tùy thuộc vào cách mà họ cảm nhận về bài thơ đó như thế này. Có người rất thích thơ Tố Hữu vì nó gần gũi với con người, có mang dịp điệu của dân gian có những người lại thích thơ Xuân Diệu vì thơ Xuân Diệu đầy lưu luyến và chan chứa cảm xúc yêu say đắm trong tâm hồn. Có những người lại thích dòng thơ cách mạng, có người lại thích dòng thơ hiện đại… sở thích của mỗi người khác nhau nên quan niệm và cách nhìn về thơ khác nhau.

Thơ hay là một tác phẩm thơ có vần có nhịp. Ví như:

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim”

-Tố Hữu-

Đoạn thơ trên có vần, có nhịp. Vần chân câu một xứng với vần chân câu ba, vần chân câu hai xứng với vần chân câu bốn làm cho bài thơ như có vần, có nhịp, có phách khiến cho người đọc như bị thu hút và gợi trí tò mò vần nhịp trong những khổ thơ tiếp theo.

Thơ hay là phải có màu sắc, có ngôn từ tượng hình, liên tưởng giúp người đọc hình dung, mường tượng ra nhân vật.

“Đầu lòng hai ả tố nga

Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân

Mai cốt cách tuyết tinh thần

Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”

Hình ảnh của chị em Thúy Kiều hiện lên một cách trang trọng dưới ngòi bút của Nguyễn Du. Câu thơ lục bát như một lời kể chuyện rủ rỉ, ngọt ngào, khơi gợi trí tò mò của người đọc với hai nhân vật trong tác phẩm của mình.

Hình ảnh phải nổi bật, phải đặc sắc nhưng cũng phải đảm bảo sự gần gũi với người đọc, người nghe bằng các biện pháp ẩn dụ trong chính câu thơ

“Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Câu hát căng buồm cùng gió khơi”

-Huy Cận-

Hình ảnh đẹp mà gần gũi với người dân làng chài, chính câu thơ của tác giả cho người đọc cảm nhận được cảnh hoàng hôn trên biển, cảnh mặt trời lặn không còn là khuất sau ngọn tre hay khuất sau ngọn núi nữa mà từ từ đi xuống phía chân trời và giống như chìm dần xuống biển. Hình ảnh ở đoạn thơ này rất đẹp, rất trong sáng, rất gần gũi khiến cho người ta cảm nhận tình yêu thương thiên nhiên với phong vị thường ngày mà họ vẫn nếm trải.

Thơ hay là phải có ý nghĩa, có dụng ý nghệ thuật. Người ta thường nói, thơ mà không có ý nghĩa thì không phải là thơ, cũng giống như văn xuôi hay truyện ngắn dù viết rất hay nhưng không có nội dung ý nghĩa thì đoạn văn xuôi đó cũng không có giá trị.

Thơ thì phải có ý nghĩa, dù không vần, không dịp nhưng không thể xa rời ý nghĩa và thông điệp được nhắn gửi phía sau nó. Có những bài thơ ở thể loại tự do, không một chút vần chút nhịp nào cả nhưng khi đọc lên lại có những xao xuyến nhất định ở trong lòng. Đó chính là việc đánh vào cảm xúc của người đọc.

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết tròng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó… “

-Nguyễn Khoa Điềm”

Một bài thơ về đất nước rất hay và ý nghĩa mặc dù bài thơ không có vần, có nhịp nhưng phần nào đã khơi lên khát vọng của tình yêu đất nước, yêu quê hương, yêu Tổ quốc.

“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

-Xuân Diệu-

Thơ hay là đẹp về tư tưởng, đẹp về tình cảm, là thơ chiếm được cảm xúc của độc giả qua mỗi tác phẩm thơ của tác giả. Thơ hàm súc, mang ý nghĩa và có giá trị cao.

Đối với tôi, thơ hay là thơ dễ nhớ, dễ thuộc, dễ đi sâu vào cảm xúc của con người, có vần có nhịp, có thanh, có hình ảnh và đặc biệt là có ý nghĩa. Còn rất nhiều những quan niệm khác nhau nữa về thơ hay vì đó là tùy thuộc vào cảm nhận của mỗi người.

Theo chúng tôi

Những Bài Thơ Tết Đoan Ngọ Hay, Thơ Viết Về Ngày Mùng 5 Tháng 5 Âm Lịch

Tổng hợp những bài thơ viết về ngày Tết Đoan Ngọ (hay còn gọi là Tết Giết Sâu Bọ vào ngày Mùng 5 tháng 5 Âm lịch hằng năm) với những sáng tác mới nhất.

MỪNG TẾT ĐOAN NGỌ

Thơ: Phúc Cô Đơn

QUÀ TẾT ĐOAN NGỌ

Thơ: Thoa Phạm

Mận em mận thật tuyệt vời Ăn rồi sẽ nhớ cả đời không quên.

TẾT ĐOAN NGỌ GẶP DUYÊN Thơ: Lê Hoàng

Chiết sâu bọ tết đoan ngọ ! Hôm nay là ngày 05/05 âm lịch, mình còn nhớ từ xưa đến nay khi Mẹ còn sống, cứ đến ngày này là bà đi chợ, mua hoa quả về cho các con giết sâu bọ, năm nào mà được mùa thì bán thêm thùng thóc…Mua thêm con vịt về cả nhà cùng ăn, cùng giết sâu bọ…Thế mà đã 15 năm mẹ đi xa. Con vẫn duy trì mua hoa quả về thắp hương xong cũng giết sâu bọ…Còn vịt thì không đứa nào ăn… Tối hôm qua mình có liên lạc với các cháu, bảo là hôm nay là ngày giết sâu bọ…Giải thích một hồi rồi các cháu cũng hiểu, ngập ngừng giây lát chúng nó phá lên cười rồi bảo bố lạc hậu…Có những loại sâu bọ và siêu vi khuẩn, kháng sinh cực mạnh cũng chả giết được nó…Huống chi là mấy quả mận…Chỉ tổ thêm đau bụng, thế đấy.

Vừa đây thấm thoát nửa năm tàn Tỉa tót, dâm cành mấy nụ lan Sả lá, xương rồng treo trước cửa Chè xôi, bánh ú đặt trên bàn Hoa chờ khỏa cánh ngày Đoan Ngọ Rượu đợi tràn ly buổi Thực Hàn Thắc thỏm mong người về kịp Tết Trong lòng cứ nghĩ chuyện lan man !

TẾT ĐOAN NGỌ Thơ: Thám Hoa

Bày: xôi, oản, thịt hôm trùng ngũ Tửu nếp thơm ngào lưng một hũ Sửa soạn hương trầm, lễ tết xưa Dâng mừng phẩm vật, theo lề cũ Lòng mơ thuận gió cảnh an mùa Ngả khấn xuôi chèo, sông tịnh lũ Mỹ tục, thuần phong, tất phải gìn Chân thành bái vọng!.Tâm tà giũ

Chùm thơ xướng họa về Ngày Tết Đoan Ngọ của các tác giả..TẾT ĐOAN NGỌ Thơ: Phạm Huy Hùng

Tảng sáng xôn xao rượu nếp mời Xa gần quả trái sắc hương tươi Trừ sâu mận đỏ già ưa nếm Diệt bọ dưa vàng trẻ thích xơi Nụ vối nhân trần hôm bán lợi Kim ngân ích mẫu buổi mua hời Nhân gian nếp cũ hồn muôn tuổi Nét đẹp sơn hà Tổ quốc tôi

TẾT ĐOAN NGỌ Thơ: Ngân Kim Mùng năm đoan ngọ tết quê tôi Mấy dịp trong năm kể cũng hời Mận chín bà mua cho trẻ thưởng Dưa vàng bác tặng các già xơi Vối trong cả xóm chia nhau nhỉ Nếp cái nồng men ước được mời Khắp các buôn làng cùng xóm trại Huy hoàng đất nước vạn mầu tươi !

VUI ĐOAN NGỌ Thơ: Phạm Trọng Tân

Tưng bừng Đoan Ngọ, nụ cười tươi Hồ hởi xóm thôn, cứ hỏi mời Roi rói cành hoa, lòng phấn khởi Ngọt ngào mâm quả, dạ thèm xơi Xôn xao trẻ nhỏ áo quần mới Dào dạt người già vui khắp nơi Xào xạc muôn chim bay chấp chới Thiết tha tình nghĩa, rộn làng tôi

bài thơ lục bát viết về ngày Tết Đoan Ngọ..— TẾT ĐOAN NGỌ — Thơ: Thu Phương

Liệu ai còn nhớ…. Ôi tuổi thơ tôi!

Trong chữ Tết Đoan Ngọ thì Đoan có nghĩa là mở đầu còn Ngọ là buổi trưa, vì tết này diễn ra từ 11 giờ sáng đến 1 giờ trưa. Tuy tổ chức cùng ngày cùng giờ nhưng với mỗi nước Tết Đoan Ngọ mang một ý nghĩa khác nhau, với Việt Nam Tết Đoan Ngọ còn gọi là Tết Giết Sâu Bọ vì vào ngày này người Việt cổ đại thường ra đồng ruộng để giết sâu bọ phá hại mùa màng và diệt cả sâu bọ trong cơ thể bằng cách ăn những món ăn mà tổ tiên chúng ta cho là có thể tiêu diệt sâu bọ trong đường ruột như bánh ú tro, rượu nếp v.v…

Riêng với người Trung Hoa thì Tết Đoan Ngọ là ngày giỗ để tưởng nhớ một vị trung thần tên là Khuất Nguyên, câu chuyện như sau: Khuất Nguyên (340-278 tr CN) sống vào cuối thời Chiến Quốc, ông là hoàng tộc của nước Sở, làm quan đến chức Tả Đồ dưới thời của Sở Hoài Vương. Khuất Nguyên là người trung nghĩa, học rộng, giỏi văn chương và có tầm nhìn chính trị sâu xa, ông được vua Sở tin yêu trọng dụng nên bị nịnh thần ganh ghét gièm pha, cuối cùng vua Sở bỏ rơi ông.

Lúc này nhà Chu đã quá suy yếu, các nước đàn em (chư hầu) không coi thiên tử nhà Chu ra gì cả, họ thi nhau xưng hùng xưng bá, chém giết lẫn nhau để mưu đoạt thiên hạ. Trong số 7 nước chư hầu của nhà Chu thời đó là Tần, Tề, Sở, Triệu, Ngụy, Yên, Hàn thì Tần là nước mạnh nhất. Khi hay tin Khuất Nguyên bị thất sủng, vua Tần liền sai nhà thuyết khách lừng danh của thời ấy là Trương Nghi sang Sở dùng 3 tấc lưỡi để dụ dỗ Sở Hoài Vương cắt đứt liên minh quân sự vốn rất thân thiết với Tề, mục đích nhằm phá thế “Hợp tung” để dễ bề thôn tính cả Tề lẫn Sở.

Khuất Nguyên biết rõ kế ly gián của Tần nên dù đã bị thất sủng, ông vẫn hết lòng can ngăn vua Sở, tiếc thay Sở Hoài Vương lúc này chỉ biết nghe theo bọn nịnh thần vốn đã ăn của đút lót của Trương Nghi. Kết cuộc bi thảm là điều không thể tránh khỏi: nước Sở mất một phần lãnh thổ, Sở Hoài Vương bỏ thây trên đất Tần.

Đến cuối đời, Khuất Nguyên bị Sở Tương Vương (Người kế vị Sở Hoài Vương) đày ra Giang Nam. Ông khổ đau, trăn trở trước trước cảnh nước mất nhà tan đã cận kề mà không sao cứu được nên đâm ra thất chí, suốt ngày lang thang bên bờ sông Mịch La, ca hát như một người điên, miệng cứ lẩm bẩm thở than: “Thế nhân giai trọc ngã độc tinh, chúng nhân giai túy duy ngã độc tinh”* Và rồi trưa ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch năm 278 trước Công Nguyên, ông đã ôm một phiến đá nhảy xuống sông Mịch La tự vẫn. Người dân nước Sở thương tiếc cho một bậc trung thần nên hằng năm đã lấy ngày đó làm ngày giỗ cho ông, dần dần về sau người ta gọi ngày giỗ đó là Tết Đoan Ngọ vì được cử hành vào đúng buổi trưa.

Tạ Quang Bình – 16/6/2018. Chú thích: *Cả đời đục mình ta trong, cả đời say mình ta tỉnh.