Bài Thơ Về Đỉnh Fansipan / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Kovit.edu.vn

Hãy Một Lần Chạm Tay Lên Đỉnh Fansipan, Để Cảm Nhận Sự Hùng Vĩ Của Đất Trời Mênh Mang

Ai Yêu Các Nhi Đồng Bằng Bác Hồ Chí Minh

Bài Thơ Ai Tư Vãn Của Tác Giả Ngọc Hân Công Chúa

Lê Ngọc Hân, “ai Tư Vãn”

Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Đầy Đủ

Phân Tích Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm 9 Điểm

Nếu có thể, hãy đi khi bạn còn khỏe và đôi chân còn vững. Và trong bài viết này điều mà chúng tôi muốn nói đến chính là Fansipan. Được biết đến là ngọn núi cao nhất ba nước Đông Dương (độ cao 3.143m) và được mệnh danh là “Nóc nhà Đông Dương”, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn, nằm cách trung tâm thị trấn Sapa chừng 5km.

Fasipan theo tiếng địa phương có nghĩa là “phiến đá khổng lồ chênh vênh”. Nếu như trước đây, để chạm tay vào nóc nhà Fansipan, đòi hỏi bạn phải có sự cảm đảm, ý chí và quan trọng nhất là một thể trạng sức khỏe tốt. Bởi điều đó đồng nghĩa với việc bạn sẽ phải băng qua những cánh rừng, vượt qua những con suối với thời gian tối thiểu để chinh phục là chừng 5-6 ngày. Bạn sẽ vượt qua đủ mọi cung bậc cảm xúc khác nhau để được chạm tay lên nóc nhà Fan, có khi là hoan hỉ, hồi hộp, lo lắng và cũng có khi là bật khóc như đứa trẻ vì quá vui sướng và hạnh phúc.

Thế nhưng, giờ đây việc chinh phục đã trở nên đơn giản hơn rất nhiều. Thậm chí bạn còn có thể đưa bố mẹ, ông bà…những người thân yêu của bạn để cùng nhau ghi lại khoảnh khắc tuyệt vời đó.

Khu vực cổng vào của khu du lịch Fansipan Legend. Ảnh: Anh Vân

HƯỚNG DẪN ĐƯỜNG ĐI

Từ trung tâm Sapa, bạn có thể lựa chọn phương tiện xe máy hoặc nếu đi theo nhóm thì taxi là lựa chọn lý tưởng nhất. Ga cáp treo Fansipan nằm trong Khu du lịch Fansipan Legend, giá đi taxi khoảng 80.000 đồng/ người, thời gian di chuyển mất chừng 10 phút.

Tại đây có rất nhiều bối cảnh đẹp để bạn ghi lại khoảnh khắc đáng nhớ cho chuyến đi.

MUA VÉ CÁP TREO

Ngay khu vực sảnh tầng 1, có quầy thông tin và bán vé lên Fansipan, giá vé dành cho người lớn là 600.000 đồng/ người, giá vé trẻ em cao từ 1m – 1,3m là 400.000 đồng. Trẻ em cao dưới 1m sẽ được miễn phí giá vé.

Vé đi cáp treo là vé khứ hồi cho cả hai chiều đi và về, là thẻ từ nên sau khi bạn mua vé xong và sử dụng ở lượt đi thì phải giữ gìn cẩn thận vì chiều về mới bị thu lại vé.

Một điều cần đặc biệt lưu ý:

Cáp treo sẽ không đưa bạn lên thẳng đến đỉnh Fansipan, bạn sẽ phải leo tiếp 600 bậc đá. Vì vậy, đối với những gia đình có trẻ nhỏ và đi cùng người cao tuổi, người khuyết tật nên mua vé tàu hỏa leo núi với giá vé 100.000 đồng/ người/ khứ hồi.

Khu vực quầy bán vé lên cáp treo Fansipan.

Đường vào ga Sapa, sau khi sử dụng vé ở lượt đi bạn phải giữ gìn cẩn thận vì chiều về mới bị thu lại vé.

Cổng vào cáp treo, ngay từ khu vực này bạn sẽ cảm nhận được sự thay đổi thời tiết. Vì vậy, bạn nên mang theo một chiếc áo gió.

HÀNH TRÌNH ĐI CABIN

Mỗi cabin cáp treo có sức chứa từ 30 – 35 người, bạn sẽ đi bộ để đến ga bằng thang máy. Ga xuất phát tại thung lũng Mường Hoa, ga đến là điểm cao 3000 mét rất gần với đỉnh núi Fansipan. Độ chênh của hai ga là hơn 1400 mét.

Chặng đường đi cáp treo chỉ mất chừng 15 phút thay vì phải leo núi từ hai đến bốn ngày như trước đây. Cabin cáp treo đi rất êm nên tạo cảm giác dễ chịu và thoải mái cho hành khách.

Nếu may mắn đi vào những ngày nắng, trời quang bạn sẽ được chiêm ngưỡng cảnh sắc tuyệt đẹp. Khung cảnh tuyệt đẹp của ruộng bậc thang, rừng cây, thung lũng, triền núi cheo leo…trở nên mờ ảo và đẹp một cách khó tả, lúc ẩn, lúc hiện trong từng lớp mây trắng, khiến bạn đi từ cảm xúc này đến cảm xúc khác.

Bắt đầu hành trình xuất phát đi cáp treo.

Một trong những cảm giác tuyệt vời nhất là khi cabin vượt qua những tầng mây, để lộ dần rừng núi xanh ngát xanh, bạn sẽ nhận ra sự hùng vĩ kỳ diệu của thiên nhiên.

Nhìn từ trên cao, ruộng bậc thang uốn lượn như vân tay đất trời tạo nên cảnh quan thiên nhiên đẹp một cách kỳ lạ.

Càng lên cao, cảnh vật và con người càng trở nên nhỏ bé.

Khung cảnh lúc ẩn lúc hiện…

Mang đến những cảm xúc khác nhau.

Chỉ một phút nữa, cabin sẽ có mặt tại điểm đến.

Thanh Vân Đắc Lộ hay còn được nhiều người ưu ái gọi với cái tên “Cổng trời”.

NÀO CÙNG CHẠM TAY VÀO ĐỈNH FANSIPAN

Sau khi dừng tại ga đến, nếu leo bộ bạn sẽ mất chừng 30 phút để vượt qua gần 600 bậc đá. Thay vì leo liền mạch hãy giữ sức bằng cách chia số lượng bậc, vì càng lên cao không khí càng loãng sẽ khiến bạn nhanh mất sức. Cần mang theo một chai nước suối bên người và càng hạn chế mang ít đồ càng tốt.

Nếu lựa chọn đi tàu hỏa, bạn đến ga Đỗ Quyên ngay gần chùa Hạ, tàu sẽ đón bạn tại điểm dừng đó. Khi chờ tàu, hãy lưu ý không đứng sát mép đường ray, rất nguy hiểm.

Hiện tại trên đỉnh Fansipan chỉ có một cabin chạy cả đi và vễ, sức chứa tầm 60 người/ lần. Tàu hỏa chỉ mất chừng hơn 2 phút để đến nhà ga Trúc Mây, ngay dưới chân cột cờ, bạn chỉ cần leo tiếp vài bậc thang ngắn để lên đến gần đỉnh Fansipan.

Ga Đỗ Quyên, nơi bạn đi tiếp tàu hỏa leo núi để đến chân đỉnh Fansipan.

Chạm tay vào đỉnh Fansipan.

“Giấc mơ có thật mà ai cũng có thể thực hiện trong đời”.

Ngoài đỉnh Fansipan, trên đường đi bạn cũng có thể dành thời gian tầm 1 tiếng để tham quan cảnh đẹp khác nằm trong khu Fansipan Legend như Vườn tre, Bảo An Thiền Tự, Bích Vân Thiền Tự, nhà hàng, khu mua sắm,…

Sau khi xuống, bạn có thể thưởng thức ngay một cốc trà mật ong, quế với chi phí 40.000 đồng/ cốc. Vị ngọt ấm, cay cay của hương quế sẽ giúp bạn lấy lại sức rất nhanh.

Khu vực quầy lưu niệm.

Hẹn gặp lại Fansipan vào một ngày gần nhất!

Cảm Nhận Bài Thơ Sang Thu

Cảm Nhận Bài Thơ Sang Thu Hay Nhất

Tuyển Tập Những Bài Thơ Chế Facebook Hay Nhất

Thơ Trên Mạng Facebook Chế Hài Hước Vui Nhộn Hay Nhất

Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn

Về Bài Thơ Quê Nghèo

Thơ Ca Trung Đại Việt Nam: Văn Hóa “quy Ẩn” Của Các Nhà Nho

Suy Tư Chuyện Bỏ Phố Về Quê

Bỏ Phố Về Quê Lập Nghiệp

Mô Hình Trồng Rau Sạch: Hay Mình Cứ Về Quê Nuôi Cá Và Trồng Thêm Rau

Ngẩn Ngơ Trước Vẻ Đẹp Của Sông Nho Quế

Nghèo Đến Xót Xa Cõi Lòng

Vẫn tiếng thở dài những chiều giáp hạt

Vẫn bát cơm chan mồ hôi mặn chát

Khoai sắn vẫn len vào giấc ngủ

Thương cánh cò bấu bíu lời ru.

Phiên chợ còn èo ợt nghèo hơn

Í ới mời chào cao hơn mời cỗ

Phiên chợ quê xác xơ già cỗi.

Gặm nhấm nỗi đau nghèo khó

Nơm nớp âu lo đời như chiếu bạc

Mỏi cổ chồn chân trên đồng đất của mình.

Nước mắt rơi từ thời chị Dậu

Tiếng oan khiên từ thời Giáo Thứ

Chiếc cổng làng dựng lên thật đẹp

Sừng sững bê tông cốt thép

Chiếc cổng làng thành tai hại

Hưng Yên, chiều 29 tháng 12 năm 2014

Hơn 60 năm trước, khi trọ học ở Hà Nội, tôi thường được ông chủ nhà cho cùng ông nghe buổi phát thanh ca nhạc của Đài phát thanh Pháp Á. Vì vậy, dần dà, tôi đã thuộc được lời và âm điệu của những bài ca mà tôi yêu thích, trong đó có bài ” Quê nghèo” của Phạm Duy mà tôi có cảm giác như cái quê nghèo trong bản nhạc ấy cũng chính là quê mình, cũng ” không xa kinh kỳ sáng chói“, cũng ” có lũy tre còm tả tơi”… Sau ngày giải phóng Thủ đô năm 1954, tôi vĩnh viễn không còn được nghe đài Pháp Á nữa, không phải vì không còn trọ học mà vì dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi. Những bản nhạc bấy lâu đã thuộc trôi dần vào lãng quên trước nỗi vất vả kiếm sống của một thời trai trẻ cùng sự cấm đoán hát những bản nhạc ấy. Lại thêm khắp các làng quê được khơi dậy phong trào hợp tác xã, lòng người phơi phới hát vang lời ca ” Dân có ruộng dập dìu hợp tác/ Lúa mượt đồng ấm áp làng quê/ Chiêm mùa cờ đỏ ven đê...”. Vì thế hai tiếng ” Quê nghèo ” cũng lặn mất tăm trong tâm trí của tôi.

Ai hay, hôm nay hai tiếng “” lại hiện lên rõ nét trước mắt tôi. Không phải là nhạc phẩm “Quê nghèo” một thời vang bóng của nhạc sĩ Phạm Duy mà là bài thơ “” còn như mới tinh nét chữ của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến!

Bài thơ Quê nghèo gồm 4 khổ chính, khổ nào cũng cất lên câu mở đầu: Quê tôi nghèo lắm nghe như một tiếng thở dài buồn thảm và dai dẳng không hòng tìm thấy điểm ngừng. 4 khổ thơ chính và 2 câu thơ kết đã phô ra 5 cái nghèo lắm:

Trước hết là cái nghèo lắm về cảnh vật đến cuộc sống của người dân quê tôi:

Vẫn tiếng thở dài những chiều giáp hạt

Vẫn bát cơm chan mồ hôi mặn chát

Khoai sắn vẫn len vào giấc ngủ

Ba tiếng vẫn ở ba đầu ba câu thơ liên tiếp biểu thị sự tiếp tục, tiếp diễn của trạng thái nghèo nàn mà không gì có thể thay đổi được qua năm tháng. Tuy nhiên, vẫn lác đác nhà tranh thì phần nào còn hy vọng nhà tranh sẽ hết. Nhưng ” Vẫn tiếng thở dài những chiều giáp hạt/ Vẫn bát cơm chan mồ hôi mặn chát ” thì không dễ gì thoát được khi mà người dân quê đã lam lũ dốc kiệt sức vào việc kiếm ăn và đã phải một đời chắt chiu từ củ khoai nắm thóc, vậy mà hạt gạo không đủ nấu cơm. Bởi thế, từ Vẫn thứ tư phải tiếp nối:

Khoai sắn vẫn len vào giấc ngủ

Và biết bao tuổi thơ lâm vào cảnh:

Thương cánh cò bấu bíu lời ru.

Rất dễ hiểu ra, không phải là cánh cò bay lả bay la/ bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng hay những cánh cò trắng phau phau/ ăn no tắm mát rủ nhau đi nằm; mà phải là những cánh cò đi ăn đêm, những cánh cò lặn lội bờ sông…

Bài thơ Quê nghèo của Đặng Xuân Xuyến hôm nay nhắc tôi nhớ lại bản nhạc Quê nghèo từ năm 1948 của Phạm Duy với những cảnh mà từng ấy năm đã qua không một ai có thể vẽ lên hình ảnh môt quê nghèo tuyệt vời đến vậy: lũy tre còm tả tơi, những ông già rách vai cuốc đất bên đàn trẻ gầy... Rồi là một tiếng kêu thống thiết:

Chiều rơi thoi thóp trên vài luống khoai

Nhưng trong tiếng kêu thống thiết ấy vẫn còn có niềm vui là nồi cơm độn đầy ngô. Người mẹ trẻ nghèo khó dẫu cũng thở dài nhưng trẻ thơ vẫn được đi vào giấc ngủ bằng sự vỗ về yêu thương của mẹ:

Sau hơn 60 năm đi theo con đường của chủ nghĩa xã hội rồi lại thực hiện đường lối đổi mới, những tưởng quê tôi sẽ đổi thay và phát triển đầy ấm no, hạnh phúc. Ai ngờ Quê tôi của nhà thơ, một làng quê của một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội chỉ hơn sáu chục cây số, một vùng đất đã nổi danh từ 200 năm trước với Phố Hiến, một thương cảng đô hội quan trọng bậc nhất ở Đàng Ngoài trong câu: ” Thứ nhất Kinh Kỳ thứ nhì Phố Hiến ” vẫn không thoát cảnh Quê nghèo, vẫn chỉ là nhà tranh, là tiếng thở dài, là bát cơm mặn chát mồ hôi, là khoai sắn len vào giấc ngủ của người lớn, là cánh cò bấu bíu lời ru trong giấc đói ngủ của con trẻ.

Quê tôi nghèo lắm còn được phơi bầy không giấu giếm trong cảnh chợ làng:

Hàng hóa chỉ có thế, không thấy con tôm, con cá, con gà, miếng thịt lợn…

Chợ quê không nhiều người và phong phú hàng hóa như chợ huyện, chợ tỉnh nhưng từ nghìn đời nay chợ quê không chỉ là nơi đổi chác mua bán mà đối với dân làng còn là một nơi gần gụi thân thương chung của mọi người đồng thời cũng là một sắc thái riêng của văn hóa làng trong văn hóa chung của dân tộc. Bởi thế từ nghìn đời nay, bao người ao ước:

Gần sông tắm mát, gần nơi đi về

Nhưng bây giờ cái chợ quê của nhà thơ chỉ còn là một cái chợ “èo ọt’ với vài dăm món hàng rẻ tiền như nải chuối, mớ rau, mẹt sắn mẹt ngô thì hiển nhiên cảnh họp chợ phải gần như vắng hoe:

Kẻ bán người mua, tất cả đều chung một tâm trạng buồn chán trước một phiên chợ đang tàn tạ không còn sự sống:

Phiên chợ quê xác xơ già cỗi.

Quê tôi nghèo lắm, nghèo đến xót xa cõi lòng khi thấy hình hài lũ trẻ:

Nhìn lũ trẻ Quê nghèo trong thơ Đặng Xuân Xuyến, bỗng dưng tôi nghe vẳng tiếng hát trẻ trung trong câu ca dao:

Gió đưa gió đẩy… về rẫy ăn còng

Về sông ăn cá, về đồng ăn cua…

Rồi lại ùa về thêm trong tôi những lời kể của nhà văn Tô Hoài:

” cái thuở bé sao mà lâu thế, dài thế. Bắt châu chấu bán cho người chơi chim họa mi. Bán không hết thì vặt cánh, bóp bụng cứt, rang khan với muối, ăn vã. Rồi thì kéo bọn đi hun chuột đồng, chuột luộc, chuột rán đều ngon. Quả sấu, quả nhót dầm nước mắm ớt, bây giờ đến mùa vẫn nhớ thèm và nói đến vẫn còn tứa nước rãi. Hôm nắng hanh thì lùng các bụi tre bắt rắn ráo ra phơi mình, chúng nó là rắn, nhưng rắn ráo, rắn nước, rắn mỏng không có nọc độc, thịt mềm như thịt gà con luộc...” (trích Chiều chiều).

Bây giờ đâu còn dễ kiếm được con còng, con cá, con cua đồng, đâu còn bắt được châu chấu, chuột đồng, rắn ráo, rắn nước rắn mòng, đâu còn hái được quả sấu quả nhót nơi quê nhà…nên lũ trẻ mới ra cái hình hài, cá mắm mốc meo đáng thương kia.

Những thân hình đói khổ ấy làm sao chứa đựng được những tâm hồn lành mạnh mà trong họ chỉ có:

Nơm nớp âu lo đời như chiếu bạc

Với sự sống quẩn quanh chật hẹp tù hãm như những:

Mỏi cổ chồn chân trên đồng đất của mình

Quê tôi nghèo lắm. Vậy nguồn gốc của nông nỗi nghèo lắm ấy là từ đâu? Hãy nghe nhà thơ cắt nghĩa:

Trước hết là nỗi khổ đau truyền đời chưa dứt:

Nước mắt rơi từ thời chị Dậu

Tiếng oan khiên từ thời Giáo Thứ

Chiếc cổng làng dựng lên thật đẹp

Ô hay, sao lại là tội của chiếc cổng làng dựng lên thật đẹp ấy?

Cổng làng có từ xa xưa ở làng quê Việt Nam. Ngoài ranh giới phân chia, cổng làng thể hiện rõ hồn cốt của làng. Nó được dựng lên để bảo vệ làng khi có giặc giã, trộm cướp và thường được dựng bằng tre, nối liền với những lũy tre bao bọc quanh làng. Bên cạnh cổng làng có điếm canh, ngày cổng mở để dân làng đi lại, đêm làng cử người canh ở điếm, kiểm tra người lạ vào làng. Những chiếc cổng làng xưa cũ ấy đã đi vào thơ ca với những nét đẹp giản đơn mà thơ mộng:

Nhưng khi về đến cây đa đầu làng

Thì bao nhiêu cảnh mơ màng

Hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre

Giờ cổng làng xưa không còn nữa. Quê thì nghèo rớt mồng tơi mà người ta lại xây cổng làng hoành tráng quá. Cổng làng không còn là nơi thông báo cho người khác biết về địa giới hành chính của làng nữa mà dường như chỉ để khoe mẽ:

Sừng sững bê tông cốt thép

Và chính vì thế, người ta đâu biết:

Chiếc cổng làng thành tai hại

Bài thơ kết thúc với hai câu nhưng câu thứ nhất cũng đai lại ba tiếng: Quê tôi nghèo. Và trong mọi cái nghèo đã nói, xót xa hơn cả là cái nghèo trong câu kết thứ hai:

Đến giấc mơ cũng nghèo thì nói gì đến hoài bão ước mơ lớn mà biết bao sự đổi thay tốt đẹp ở đời thì chỉ thuộc về những người có hoài bão, biết ước mơ!

Trong muôn vạn bài thơ của các kiểu người người làm thơ, nhà nhà làm thơ ngày nay với tràn ngập những bài thơ sáo mòn, nhạt thếch và cũ rích, thậm chí có nhiều bài như cỏ dại và nấm độc, thì bài thơ Quê nghèo của Đặng Xuân Xuyến là một bài thơ xứng đáng được những người yêu thơ đích thực đón nhận. Trước sự nghèo khổ của Quê hương, nhà thơ đã không câm lặng mà đã cất lên những tiếng thơ chân thật và đầy xúc động thể hiện những nỗi xót lòng đối với làng quê, với người dân quê của mình. Những tiếng thơ chân thật đến xót lòng ấy cũng là tiếng nói chung cho nhiều người đang còn có những ” Quê tôi ” chưa thoát cảnh đói nghèo.

Tôi mong rằng, trên mọi miền đất nước, bà con dân quê chúng ta sẽ tự cứu mình để sớm hết cảnh “Quê nghèo“, nghèo đến xót xa cõi lòng như trong thơ Đặng Xuân Xuyến.

Góp ý riêng với tác giả về một câu thơ:

Tiếng oan khiên từ thời Giáo Thứ

Tiểu thuyết “Sống mòn” đề cập đến một vấn đề nhức nhối của người trí thức trong thời đại cũ, những văn nghệ sĩ nhiều khao khát, giàu lý tưởng nhưng cuộc sống cứ mòn dần, lụi dần bởi mối lo cơm áo. Giáo Thứ trong tác phẩm “cũng mang tiếng ông giáo với bà giáo, quần áo là, sơ mi trắng, thắt ca vát, giầy tân thời, thứ Năm, Chủ Nhật diện ngất, tưởng mà mỡ lắm, thế mà kì thực bụng chứa đầy rau muống luộc”.

Chứ Giáo Thứ có oan khiên gì đâu?

Tôi nghĩ có lẽ nên là: ” Tiếng oan khiên từ thời anh Pha ”

Anh Pha trong “Bước đường cùng ” của Nguyễn Công Hoan, một nông dân nghèo khổ, sống thật thà, chân chất nhưng lại không tránh khỏi “tai bay vạ gió” từ những con người tưởng như cũng bần cùng như anh nhưng vẫn thiếu mất sự cảm thông và cái tình, cái nghĩa như Trương Thi rồi đến bọn thống trị hách dịch bạo tàn, ra sức cướp bóc tô thuế, không ngần ngại tra tấn những người nông dân cùng khổ như tên địa chủ Nghị Lại và bọn Quan huyện, lính lệ không ngừng tìm mọi cách vơ vét người nông dân đến khánh kiệt và đưa anh Pha đến bước đường cùng.

Hãy Kể Một Chuyến Về Thăm Quê Của Em Và Gia Đình

Thơ Hay Ảnh Đẹp Về Con Gái Miền Quê Dịu Dàng, Dễ Thương

Những Bài Thơ Hay Về Những Cô Gái Quê

Chùm Thơ Lục Bát Gái Quê, Con Gái Nhà Nông Hay Nhất

Nêu Cảm Nghĩ Của Em Về Dòng Sông Quê Hương.

Bài Thơ Về Bí Đao

Giáo Án Tập Đọc

Quả Thị Thơm, Cô Tấm Rất Hiền

Cảm Nhận Đoạn Thơ “quê Hương” Của Đỗ Trung Quân

Bài Văn: Cảm Nhận Về Bài Thơ “Rằm Tháng Giêng” (5)

Dàn Ý Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Lớp 7

BÀI THƠ VỀ BÍ ĐAO

Bí đao là loại quả mát lành, thường dùng như rau ăn. Bí đao còn có tác dụng tốt với sức khỏe, các món ăn, đồ uống từ bí đao đều giúp hỗ trợ điều trị các bệnh mãn tính.

1.    Bài thơ về bí đao

Bí đao vị thuốc quý

Giúp tuổi thọ kéo dài

Chữa béo mập rất tốt

Chữa phù thận rất tài

Những người tiểu tiện khó

Ăn bí đao đỡ ngay

Bệnh tiểu đường cũng vậy

Ăn nó cũng rất hay

Chữa phù thũng cũng lành

Nấm cùng hành cá chép

Trị xơ động mạch vành

Hay bệnh cao huyết áp

Bí đao rất dễ nấu

Canh tôm hay canh xương

Hoặc luộc lên rồi chấm

Rẻ tiền mà lại ngon!

(Sưu tầm)

2.    Cách dùng bí đao làm thuốc

Bí đao (đông qua), thường được kết hợp với các dược liệu khác thành thức uống mát bổ, thanh nhiệt, giải độc, lợi thủy.

•    Nấu trà bí đao

-    Nguyên liệu: Bí đao 1 quả khoảng 2kg, 20g thục địa, 1 quả la hán, 60g đường phèn, 5 lá dứa.

-    Cách làm: Bí đao rửa sạch, cắt khúc. Thục địa la hán rửa sạch. Cho tất cả vào nồi, đổ thêm 3,5 lít nước vào đun sôi, sau đó hạ lửa nhỏ, đến khi nào bí mềm thì bỏ ra, để nguội bỏ bã. Lấy nước cất tủ lạnh dùng dần.

-    Tác dụng: Thanh nhiệt giải độc, bổ dưỡng, giảm cân

•    Trà bí đao lá sen

-    Nguyên liệu: Bí đao 200g, Lá sen 20g. 

-    Cách làm: Rửa sạch bí đao và lá sen cho vào nồi, đổ khoảng 1 lít nước. Đun sôi thì hạ lửa nhỏ trong 1 giờ, có thể thêm 1 chút muối cho dễ uống.

-    Tác dụng: Thanh nhiệt trừ phiền, lợi thủy tiêu thũng.

Theo như bài thơ trên, bí đao dùng để nấu thành các món ăn (canh, xào, luộc, hấp…) đều có tác dụng tốt. Lưu ý, không nên nấu quá kỹ, bởi có thể sẽ làm mất đi những hợp chất tự nhiên có trong bí đao.

Quý vị muốn được tư vấn về sức khỏe? Hãy liên hệ ngay số điện thoại 0943 406 995 hoặc 0937 63 8282 để được các bác sĩ của Nhà thuốc giúp đỡ!

Bác sĩ: Thúy Hường (Thọ Xuân Đường)

Cộng Đồng Cây Bút Trẻ

Ngọt Lịm Tình Quê Vú Sữa

Đói Lòng Ăn Nửa Trái Sung…

Chùm Thơ Chia Tay Buồn Khóc, In Hằn Vết Cắt Rỉ Máu Trong Tim

Cô Bán Sầu Riêng – Tống Phước Hiệp Vĩnh Long

Bài Thơ Về Hạnh Phúc

Mở Bài Kết Bài Hạnh Phúc Của Một Tang Gia Hay Nhất

Tại Sao Tờ “người Công Giáo Việt Nam” Lại Xuyên Tạc Thơ Linh Mục Võ Thanh Tâm?

Chùm Thơ Đám Cưới Hay, Lời Chúc Trăm Năm Hạnh Phúc

Một Bài Thơ Mang Màu Hạnh Phúc

Đôi Điều Những Vần Thơ Nói Về Hạnh Phúc Gia Đình

(Tưởng nhớ XQ thân yêu)

I

Thôi em nằm lại

Với đất lành Duy Xuyên

Trên mồ em có mùa xuân ở mãi

Trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên.

Trời chiến trường không một phút bình yên

Súng nổ gấp. Anh lên đường đuổi giặc

Lấy nỗi đau vô cùng làm sức mạnh vô biên

Bước truy kích đạp trăm rào gai sắc

Ôi mũi lê này hôm nay sao sáng quắc

Anh mất em như mất nửa cuộc đời

Nỗi đau anh không thể nói bằng lời

Một ngọn lửa thâm trầm âm ỉ cháy

Những viên đạn quân thù bắn em, trong lòng anh sâu xoáy

Anh bàng hoàng như ngỡ trái tim rơi

Như bỗng tắt vầng mặt trời hạnh phúc.

Nhưng em ạ, giây phút này chính lúc

Anh thấy lòng anh tỉnh táo lạ thường

Nhằm thẳng quân thù, mắt không giọt lệ vương

Anh nổ súng.

II

Hạnh phúc là gì? Bao lần ta lúng túng

Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi vẫn chưa ra

Cho đến ngày cất bước đi xa

Miền Nam gọi, hai chúng mình có mặt.

Nhớ chăng em, cái mùa mưa đói quay đói quắt

Mỗi bữa chia nhau nửa bát măng rừng

Em xanh gầy, gùi sắn nặng trên lưng

Môi tái ngắt, mái tóc mềm đẫm ướt

Bao giốc cao em cần cù đã vượt

Và mỗi lần ngồi nghỉ, em nhìn anh

Em nói tới những điều em định viết

Giữa hai cơn đau em ngồi ghi chép

Con sông Giàng gầm réo miên man

Nước lũ về… Trang giấy nhỏ mưa chan

Em vẫn viết: lòng dạt dào cảm xúc.

Và em gọi đó là hạnh phúc…

Nhớ chăng em, ngày mở màn chiến dịch Đông Xuân

Em lên đường phơi phới bước chân

B.52 bom nghìn tấn dội

Kìa dáng em băng rường bước vội

Vẫn nụ cười tươi tắn ấy trên môi.

Thôn 6 Bình Dương bãi cát sóng dồi

Nắng long lanh trong mắt người bám biển

Giặc mới lui càn khi em vừa đến

Bà mẹ già kể chuyện chặn xe tăng

Quanh những bờ dương bị giặc san bằng

Đã lại mở những chiến hào gai góc

Những em bé, dưới mưa bom, vẫn đi làm đi học

Những vồng khoai ruộng lúa vẫn xanh tràn

Trong một góc vườn cháy khét lửa Na-pan

Em sửng sốt gặp một nhành hoa cúc.

Và em gọi đó là hạnh phúc…

Như chồi biếc gặp mưa xuân, như chim én say trời

Em mải mê, đi giữa bao người

Xuyên Thọ, Xuyên Châu, Xuyên Hà, Xuyên Phú…

Những mảnh đất anh hùng quyến rũ

Phút giây đầu đã ràng buộc đời em

Như tự lọt lòng từng biết mấy thân quen

Em nhỏ giao liên, mẹ hiền trụ bám

Cô du kích dịu dàng dũng cảm

Sông Thu Bồn hằng xao động tâm tư

Có tiếng hò như thực như hư

Em đã đến, tắm mình trong sóng nước

Sông kể em nghe chuyện đôi bờ thủa trước

Em mở mắt nhìn kinh ngạc những làng thôn

Và kêu lên khi được thấy cội nguồn

Mỗi sự tích trên đất này thắng Mỹ.

Em đã gặp bao anh hùng dũng sĩ

Đã cùng họ sẻ chia

Cọng rau lang bên miệng hố bom đìa

Phút căng thẳng khi vòng vây giặc siết

Nỗi thống khổ ngút ngàn không kể hết

Của một thời nô lệ đau thương

Em lớn lên bên họ can trường

Giữa bom gào đạn réo

Em đã thấy những tâm hồn tuyệt vời trong trẻo

Những con người như ánh sáng lung linh

Mỗi đêm ra đi giản dị hiến mình

Để làm nên buổi mai đầy nắng

Em bối rối, em sững sờ đứng lặng

Vẻ đẹp này em chưa biết đặt tên

Thức dậy bao điều mới mẻ trong em

Nơi ngọn bút nghe cuộc đời thôi thúc.

Và em gọi đó là hạnh phúc…

III

Em ra đi chẳng để lại gì

Ngoài ánh mắt cười lấp lánh sau hàng mi

Và anh biết khi bất thần trúng đạn

Em đã ra đi với mắt cười thanh thản

Bởi được góp mình làm ánh sáng ban mai

Bởi biết mình có mặt ở tương lai.

Anh sẽ sống đẹp những ngày em chưa kịp sống

Sẽ yêu trọn những gì em chưa kịp yêu

Em trong anh là mùa xuân náo động

Từ phút này càng rực rỡ bao nhiêu.

8 tháng 3 – 1969

6 tháng 9 – 1969

Bài Thơ Về Hạnh Phúc của nhà thơ Bùi Minh Quốc nổi tiếng gắn liền với trang sử kháng chiến chống Mỹ. Những vần thơ của thi sĩ tưởng nhớ người vợ thân yêu của mình như gợi nhắc bao nhiêu điều suy nghĩ về ‘Hạnh phúc’. Bài thơ gợi sự xúc động của người đọc về sự mất mát lớn lao của dân tộc. Đến nay thi phẩm nay vẫn được vẹn nguyên giá trị và ca ngợi mạnh mẽ. Cảm ơn quý độc giả đã theo dõi bài viết này của chúng tôi!

Hạnh Phúc Và Khổ Đau

Truyện: Thiếu Nữ Ngây Thơ

Bài Thơ “bài Thơ Về Hạnh Phúc” Của Nhà Thơ Dương Hương Ly

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Về Hạnh Phúc

Chùm Thơ Lục Bát Vợ Chồng Già Thật Tình Cảm, Thủy Chung

🌟 Home
🌟 Top