Bài Thơ Về Áo Dài Tết / Top 5 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Kovit.edu.vn

Thơ Hay Về Áo Dài

Tóc xõa bờ vai, đôi mắt huyền Áo dài tha thướt dáng nàng tiên Hương hoa ngan ngát hòa theo gió Em đến trần gian xóa muộn phiền . Hồng Phúc

Một biểu trưng của Việt Nam Khác với kimono của Nhật Bản hay hanbok của Hàn Quốc, chiếc áo dài Việt Nam vừa truyền thống lại cũng vừa hiện đại. Trang phục dành cho nữ này không bị giới hạn chỉ mặc tại một số nơi hay dịp mà có thể mặc mọi nơi, dùng làm trang phục công sở, đồng phục đi học, mặc đi chơi hay mặc để tiếp khách một cách trang trọng ở nhà. Việc mặc loại trang phục này không hề rườm rà hay cầu kỳ, những thứ mặc kèm đơn giản: mặc với một quần lụa hay vải mềm, dưới chân đi hài, guốc, hay giày gì đều được; nếu cần trang trọng (như trang phục cô dâu) thì thêm áo choàng và chiếc khăn đóng truyền thống đội đầu, hoặc một chiếc miện Tây phương tùy thích. Đây chính là điểm đặc biệt của thứ trang phục truyền thống này.

Hò hẹn lâu rồi em nói đi ! ( thơ Đinh Hùng )

Chiếc áo dài hình như có cách riêng để tôn đẹp mọi thân hình. Phần trên ôm sát thân nhưng hai vạt buông thật mềm mại trên đôi ống quần rộng. Hai tà xẻ chí trên vòng eo khiến cho cử chỉ người mặc thật thoải mái, lại tạo dáng thướt tha, tôn vẻ nữ tính, vừa kín kẽ vì toàn thân được bao bọc bởi lụa mềm, lại cũng vừa khiêu gợi vì chiếc áo làm lộ ra sống eo.

Chiếc áo dài vì vậy mang tính cá nhân hóa rất cao: mỗi chiếc chỉ may riêng cho một người, dành cho riêng người đó; không thể có một công nghệ “sản xuất đại trà” cho chiếc áo dài. Người đi may được lấy số đo thật kỹ. Khi may xong phải qua một lần mặc thử để sửa nhỏ nữa mới hoàn thiện.

“Tháng giêng em áo dài trang nhã Tỉnh lỵ còn nguyên nét Việt Nam Đài các chân ngà ai bước khẽ Quyện theo tà lụa cả phương đông” (Nguyễn Tất Nhiên)

…Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong, Hôm xưa em đến, mắt như lòng, Nở bừng ánh sáng, em đi đến, Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng … (Áo Trắng, thơ Huy Cận)

Ngày nay, áo Dài xuất hiện khắp nơi trên thế giới. Những phụ nữ Việt Kiều biểu lộ tình cảm với quê hương qua chiếc áo dài. Nhiều du khách nước ngoài đã có những ấn tượng rất tốt về tà áo Dài VN. Họ cảm thấy được tiếp rất nồng hậu khi những tà áo Dài bay bay trước gió ở phi trường. Thật tiếc cho những ai đến VN mà không mang về một chiếc áo Dài làm kỷ niệm và để khoe với những ai chưa từng đến VN. sưu tầm trên net

ÁO DÀI THƯỚT THATóc xõa bờ vai, đôi mắt huyềnÁo dài tha thướt dáng nàng tiênHương hoa ngan ngát hòa theo gióEm đến trần gian xóa muộn phiền .Hồng PhúcMột biểu trưng của Việt NamKhác với kimono của Nhật Bản hay hanbok của Hàn Quốc, chiếc áo dài Việt Nam vừa truyền thống lại cũng vừa hiện đại. Trang phục dành cho nữ này không bị giới hạn chỉ mặc tại một số nơi hay dịp mà có thể mặc mọi nơi, dùng làm trang phục công sở, đồng phục đi học, mặc đi chơi hay mặc để tiếp khách một cách trang trọng ở nhà. Việc mặc loại trang phục này không hề rườm rà hay cầu kỳ, những thứ mặc kèm đơn giản: mặc với một quần lụa hay vải mềm, dưới chân đi hài, guốc, hay giày gì đều được; nếu cần trang trọng (như trang phục cô dâu) thì thêm áo choàng và chiếc khăn đóng truyền thống đội đầu, hoặc một chiếc miện Tây phương tùy thích. Đây chính là điểm đặc biệt của thứ trang phục truyền thống này.Gió bay khép nép đôi tà áo.Hò hẹn lâu rồi em nói đi !( thơ Đinh Hùng )Chiếc áo dài hình như có cách riêng để tôn đẹp mọi thân hình. Phần trên ôm sát thân nhưng hai vạt buông thật mềm mại trên đôi ống quần rộng. Hai tà xẻ chí trên vòng eo khiến cho cử chỉ người mặc thật thoải mái, lại tạo dáng thướt tha, tôn vẻ nữ tính, vừa kín kẽ vì toàn thân được bao bọc bởi lụa mềm, lại cũng vừa khiêu gợi vì chiếc áo làm lộ ra sống eo.Chiếc áo dài vì vậy mang tính cá nhân hóa rất cao: mỗi chiếc chỉ may riêng cho một người, dành cho riêng người đó; không thể có một công nghệ “sản xuất đại trà” cho chiếc áo dài. Người đi may được lấy số đo thật kỹ. Khi may xong phải qua một lần mặc thử để sửa nhỏ nữa mới hoàn thiện.”Tháng giêng em áo dài trang nhãTỉnh lỵ còn nguyên nét Việt NamĐài các chân ngà ai bước khẽQuyện theo tà lụa cả phương đông”(Nguyễn Tất Nhiên)…Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,Hôm xưa em đến, mắt như lòng,Nở bừng ánh sáng, em đi đến,Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng …(Áo Trắng, thơ Huy Cận)Có phải em mang trên áo bay Hai phần gió thổi, một phần mây Hay là em gói mây trong áo Rồi thở cho làn áo trắng bay (Nguyên Sa)Ngày nay, áo Dài xuất hiện khắp nơi trên thế giới. Những phụ nữ Việt Kiều biểu lộ tình cảm với quê hương qua chiếc áo dài. Nhiều du khách nước ngoài đã có những ấn tượng rất tốt về tà áo Dài VN. Họ cảm thấy được tiếp rất nồng hậu khi những tà áo Dài bay bay trước gió ở phi trường. Thật tiếc cho những ai đến VN mà không mang về một chiếc áo Dài làm kỷ niệm và để khoe với những ai chưa từng đến VN. sưu tầm trên net

Áo Dài Trong Thơ Và Nhạc

Chiều nào áo tím nhiều quá, lòng thấy rộn ràng nhớ người…

Giọng hát dìu dặt và trầm ấm của Duy Trác cất lên đâu đó trong một chiều cuối thu gợi nhớ hình ảnh và nơi chốn thân quen trước “cổng trường áo tím” những chiều tan học. Áo tím túa ra như đàn bướm, áo tím thướt tha dọc theo những lối đi dưới lá trên lề đường Phan Thanh Giản, trên những đường phố Sài Gòn ngập nắng. Những tà áo nhẹ bay trong gió từ lâu lắm đã đi vào thi ca, đã làm rung động lòng người và là nguồn cảm hứng vô tận của những người làm thơ, viết nhạc. Tà áo nên thơ ấy, dưới đôi mắt ngắm nhìn của người nghệ sĩ, là bức tranh sinh động với nhiều đường nét, nhiều dáng vẻ, thể hiện qua từng lời thơ ý nhạc:

Dưới mắt Phạm Đình Chương là “áo bay mở, khép nghìn tâm sự…” (Mộng Dưới Hoa) Dưới mắt Vũ Thành là “áo dài bay ngờm ngợp cả khung trời…” (Mùa Kỷ Niệm) Dưới mắt Hoàng Dương là “áo mầu tung gió chơi vơi…” (Hướng Về Hà Nội) Dưới mắt Trịnh Công Sơn là “áo xưa lồng lộng đã xô dạt trời chiều…” (Tình Nhớ) Những vạt áo dài, từ lâu lắm, đã lất phất trong những trang thơ tiền chiến. Từ “đôi tà áo lụa bay trong nắng…” (Áo Lụa, Bàng Bá Lân) đến:

“Nắng thơ dệt sáng trên tà áo, lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài….” (Áo Trắng, Huy Cận).

Áo dài cũng len cả vào những câu lục bát trữ tình của Nguyễn Bính:

“Hồn anh như bông cỏ may một chiều cả gió bám đầy áo em” (Bông Cỏ May) Và len cả vào giòng thơ hào hùng mà lãng mạn của Quang Dũng:

“Em đi áo mỏng buông hờn tủi giòng lệ thơ ngây có dạt dào” (Đôi Bờ)

Áo dài còn là giấc mơ thanh bình của những làng quê hiền hòa trong tình ca quê hương của Phạm Duy:

“Nằm mơ, mơ thấy trăm họ tốt tươi, mơ thấy bên lề cuộc đời, áo dài đùa trong tiếng cười…” (Quê Nghèo)

Kỷ niệm êm đềm về một tà áo, một đôi mắt huyền được Tô Vũ ghi lại bằng nét nhạc lâng lâng:

“Em đến thăm anh, người em gái, tà áo hương nồng, mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh…” (Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa) “Ta ước mơ một chiều thêu nắng…” Nỗi “ước mơ” của chàng nhạc sĩ họ Tô ấy được vẽ lại trong thơ Trần Dạ Từ. Trong phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà, chàng tưởng chừng nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo dài và tiếng lá nhẹ rơi bên thềm:

“Môi cười vết máu chưa se cành hoa gạo cũ nằm nghe nắng hiền Anh nằm nghe bước em lên ngoài song lá động, trên thềm áo bay” (Khi Nàng Đến)

Áo bay làm nhớ nhung, như nỗi nhớ da diết một mầu áo, một đôi môi thắm trong nhạc Từ Công Phụng:

“Chiều nay nhớ em rồi, và nhớ áo em đẹp trời thơ, môi tràn đầy ước mơ…” (Bây Giờ Tháng Mấy)

Áo bay làm ngơ ngẩn, như chàng Huy Cận thuở mới lớn, trước cổng trường nữ sinh:

“Một hôm trận gió tình yêu lại, đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư” (Học Sinh)

Áo bay làm thẫn thờ, như chàng thi sĩ đa tình Nguyễn Tất Nhiên, dõi mắt nhìn theo mãi một tà áo vu quy:

“Đò qua sông chuyến đầu ngày, người qua sông mặc áo dài buông eo” (Chuyến Đò Cửu Long)

“Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong” (1)

Áo trắng trinh nguyên tuổi học trò, áo trắng của “một thời áo trắng”, từng làm ngất ngây trái tim bao chàng trai, để đêm đêm trong giấc ngủ chập chờn còn trông thấy “áo ai bay trắng cả giấc mơ”. Áo trắng như giòng suối mát trong thơ Huy Cận:

“Dịu dàng áo trắng trong như suối, tỏa phát đôi hồn cánh mộng bay” (Áo Trắng)

Áo trắng như lụa trắng trong thơ Hoàng Anh Tuấn:

“Áo em lụa trắng sông Hương qua đò Thừa Phủ nhớ thương rạt rào” (Về Chân Trời Tím)

Hay trong thơ Kim Tuấn:

“Em về tà áo lụa bay ngập ngừng trong anh” (Thu ở Xa Người)

Hay trong thơ Nguyên Sa:

“Mây cao, gót nhỏ, mây vào gót, áo lụa trăng mềm bay xuống thơ” (Tám Phố Saigon)

“Anh vẫn yêu mầu áo ấy vô cùng thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng” (Áo Lụa Hà Đông)

Áo trắng như gió, như mây, để “nhà thơ của tình yêu” phải bâng khuâng:

“Có phải em mang trên áo bay hai phần gió thổi, một phần mây? Hay là em gói mây trong áo rồi thở cho làn áo trắng bay?” (Tương Tư)

Áo trắng của nhà thơ còn là dải sương mù lướt thướt trên bến sông Seine giữa kinh thành hoa lệ Paris, gợi nhớ một vạt áo dài ở chốn xa quê nhà:

“Anh về giữa một giòng sông trắng là áo sương mù hay áo em” (Paris Có Gì Lạ Không Em?)

Áo trắng của Hoàng Thi Thơ là bướm trắng, là hoa trắng, là mây trắng…

“Ngày nào em đến áo em mầu trinh, áo xinh là xinh, áo em trong trời buồn, là gió, là bướm, là hoa, là mây chiều tà…” (Hình Ảnh Người Em Không Đợi)

Áo trắng một màu trắng thanh khiết trong nhạc Nguyễn Vũ:

“Áo trắng em bay như cánh thiên thần…” (Bài Thánh Ca Buồn)

Áo trắng nhẹ bay trong chiều giáo đường trong nhạc Lê Trọng Nguyễn:

“Tà áo trinh nguyên tung bay, nụ cười thân ái…” (Chiều Bên Giáo Đường)

Áo trắng một màu trắng xóa làm hoa cả mắt nhà thơ Hàn Mặc Tử:

“Áo em trắng quá nhìn không ra” (Đây Thôn Vĩ Dạ)

Áo trắng như đôi cánh trắng trên sân trường kỷ niệm trong thơ Luân Hoán:

“Tà áo trắng xoè như đôi cánh lượn trải dịu dàng trên cỏ mượt mà xanh” (Trong Sân Trường Bữa Ấy)

Mỗi người đều cần có một mái trường để luyến tiếc, để nhớ về…. Nhớ về ngôi trường cũ là nhớ về những người thầy người bạn, là nhớ về những lớp học những sân chơi và những năm tháng tươi đẹp nhất của một thời tuổi trẻ.

“Áo màu tung gió chơi vơi”

Áo bay như bướm lượn, áo bay như đàn bướm trong khu vườn mùa xuân. Áo bay nhiều quá, để chàng nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm… thơ:

“Hôm nay sao áo bay nhiều thế! Tôi tưởng ngàn cánh bướm khoe màu…” (Tà Áo Cưới)

Áo màu của Phạm Duy lất phất trong gió chiều như lòng người… phất phơ:

“Xin cho em một chiếc áo màu, cho em đi nhẹ trong nắng chiều. Một chiều nhiều người theo, ở ngoài đường trên phố, và lòng người như áo phất phơ…” (Tuổi Ngọc)

Nhớ về một mầu áo là nhớ về những đường phố quen tên, nhớ áo ai bay trong chiều trên những con đường ngập xác lá vàng, như nỗi nhớ ngút ngàn của Trịnh Công Sơn:

“Nhớ Sài Gòn những chiều lộng gió, lá hát như mưa suốt con đường đi, có mặt đường vàng hoa như gấm, có không gian màu áo bay lên…” (Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên)

Những tà áo muôn màu muôn vẻ vẫn khoe sắc thắm trong những trang thơ và nhạc. Áo vàng trong thơ Nguyên Sa có khi là bông cúc vàng:

“Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc” (Tuổi Mười Ba)

Có khi là nắng thu vàng:

“Có phải mùa xuân sắp sửa về hay là gió lạnh lúc đêm khuya? hay là em chọn sai màu áo để nắng thu vàng giữa lối đi?” (Tương Tư)

Áo vàng như cánh mai vàng trong nhạc Trần Thiện Thanh. Người lính trẻ thấy sắc hoa rừng, mơ về một sắc áo:

“Những hôm vừa xong phiên gác chiều ven rừng kín hoa mai vàng, chợt nhớ tới sắc áo năm nào em đến thăm gác nhỏ…” (Đồn Vắng Chiều Xuân)

Người lính chiến trong nhạc Phạm Đình Chương cũng bâng khuâng vì một sắc hoa, một mầu áo, một đôi mắt người xưa:

“Ngày hành quân, anh đi về cánh rừng thưa thấy sắc hoa tươi nên mơ màu áo năm xưa Kỷ niệm đầu len len trở về tâm tư có mắt ai xanh thắm trong mộng mơ…” (Màu Kỷ Niệm)

Tà áo màu xác pháo để lại nỗi buồn lắng đọng trong thơ Nguyễn Tất Nhiên:

“Người qua sông mặc áo hường Nắng dương gian, nắng buồn hơn trước nhiều” (Chuyến Đò Cửu Long)

Áo màu tím, màu của “định mệnh”, của mộng mơ, nhớ nhung và chia cách. Chuyện tình “Ngàn Thu Áo Tím” của cô bé trót yêu màu tím, được Hoàng Trọng, “nhạc sĩ của màu tím”, kể lại:

“Ngày xưa xa xôi em rất yêu màu tím… Chiều xuống áo tím thường thướt tha, bước trên đường thắm hoa, ngắm mây trời lướt xa…”

Rồi khi vừa biết yêu là khi chia tay với màu tím, chia tay với tình đầu:

“Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím, ngàn thu đau thương vương áo em màu tím…” (Ngàn Thu Áo Tím)

Cũng một màu áo tím, một chân trời tím trong thơ Kim Tuấn:

“Áo nàng bay lên tím ngát trời chiều” (Phố Xưa)

Trong mắt Vũ Thành, “nhà thơ của màu tím”, khi mùa thu buông áo xuống một phương trời, màu mây tím trông như màu áo người mình yêu để lòng chàng gợn lên nỗi buồn trăn trở:

“Áo em tím cả phương này anh nghe thành phố đêm nay trở buồn” (Áo Tím)

Vạt áo dài màu tím hoa sim, trong thơ Phạm Thiên Thư, chỉ là thoáng lay động, vừa ngập ngừng e ấp vừa nao nức gọi mời:

“Áo em vạt tím ngàn sim nửa nao nức gọi, nửa im lặng chờ Yêu nhau từ độ bao giờ gặp đây giả bộ hững hờ khói bay” (Động Hoa Vàng)

Rồi áo tím qua cầu, mang theo cả mùa thu, để lại nỗi trống vắng mênh mang trong lòng nhà thơ Trang Châu:

“Thế giới của anh không có chân trời không có mùa xuân lấy đâu hoa bướm không có bàn tay cho bàn tay hò hẹn áo tím qua cầu nên cũng hết mùa thu” (Thế Giới Của Anh)

Có những gặp gỡ rất tình cờ, bất chợt, như gặp gỡ một tà áo tím, cũng đủ để lòng chàng nhạc sĩ Hoàng Nguyên mãi vấn vương theo màu áo:

“Một chiều lang thang bên giòng sông Hương, tôi gặp một tà áo tím, nhẹ thấp thoáng trong nắng vương… Rồi lòng bâng khuâng theo màu áo ấy, màu áo tím hôm nào…” (Tà Áo Tím)

“Nhạc sĩ của màu xanh và mùa thu”, danh hiệu ấy có lẽ thuộc về hai chàng Đoàn Chuẩn–Từ Linh chứ không ai khác hơn:

“Với bao tà áo xanh đây mùa thu…” (Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay)

Câu hát nghe như bàn tay kéo nhẹ tấm màn cửa mở ra khung trời bát ngát mùa thu, bát ngát màu xanh. Trong những giòng kẽ nhạc của hai chàng nghệ sĩ đa tình ấy vẫn luôn luôn thấp thoáng một “tà áo xanh” và một “màu xanh ái ân”:  

“Tà áo xanh nào về với giấc mơ. Màu áo xanh là màu anh trót yêu…” (Thu Quyến Rũ)

“Trót”, như một định mệnh, buộc chặt người viết câu hát với màu xanh kia.

“Hẹn một ngày nao khi màu xanh lên tà áo…” (Cánh Hoa Duyên Kiếp)

Nghe như câu hẹn ước, như lời thề nguyền sắt son…

“Khi nào em đến với anh, xin đừng quên chiếc áo xanh…” (Tà Áo Xanh)

Còn lời dặn dò nào ân cần, thiết tha hơn thế nữa… Nhớ về một màu áo là “nhớ những giây phút êm đềm, nắng loang trên sân trường một chiều nào…” (2).

Màu áo xanh trong thơ Nguyên Sa là màu cây cỏ xanh tươi trên sân trường phượng vĩ:

“Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường” (Tuổi Mười Ba)

Màu áo xanh trong nhạc Y Vũ gợi nhớ một mái tóc, một tà áo thấm đẫm nước mưa:

“Chiều xưa mưa rơi âm thầm, để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em…” (Tôi Đưa Em Sang Sông)

Tà áo màu xanh thắm của một “tiếng hát học trò” gieo vào lòng nhạc sĩ Nguyễn Hiền bao “niềm thương nhớ đầy vơi”:

“Thuở ấy không gian chìm lắng trong mơ. Tà áo em xanh, màu mắt ngây thơ…” (Tiếng Hát Học Trò)

Thiếu nữ vừa biết yêu trong nhạc Trần Thiện Thanh cũng bồi hồi khoác vào người chiếc áo màu xanh da trời trong lần hò hẹn đầu tiên:

“Biết anh thích màu trời, em đã bồi hồi chọn màu áo xanh…” (Bảy Ngày Đợi Mong)

Tà áo dài trong nhạc Nguyễn Văn Đông có màu xanh của rừng thông Đà Lạt một mùa nào Giáng Sinh: “Tà áo năm xưa xanh màu thông Dalat…” (Màu Xanh Noel)

Áo xanh mộng mị còn bay cả vào trong thơ “trung niên thi sĩ” Bùi Giáng:

“Biển dâu sực tỉnh giang hà còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh” (Áo Xanh)

Áo xanh mộng mị của một thời quên lãng trong thơ Đinh Hùng:

“Trong vườn quên lãng áo ai xanh…” (Dạ Hội)

Làm sao kể hết được hình ảnh tà áo dài mềm mại và dịu dàng, thướt tha và duyên dáng trong những giòng thơ giòng nhạc, như màu “áo mơ phai” trong thơ Nguyễn Đình Toàn, như “áo màu rêu đá” trong thơ Nhất Tuấn, như “áo đỏ như son môi, áo vàng như gấm dệt” trong thơ Trần Mộng Tú, như “áo tím ngày xưa đi lấy chồng” trong thơ Kiên Giang, như “áo tím trên cầu Trường Tiền” trong nhạc Văn Phụng, như “áo màu xanh tha thướt đi lễ đêm” trong nhạc Tuấn Lê, như “thuyền ai thấp thoáng muôn tà áo tung bay” trong nhạc Y Vân…. Và còn rất nhiều, rất nhiều… những vạt áo dài lộng gió trong thơ và nhạc. Tà áo dài mềm mại đã nhẹ nhàng êm ái đến với cuộc đời, nhẹ nhàng êm ái đi vào lòng người…

Bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, dù ở chốn quê nhà gần gũi, hay ở một góc trời xa thẳm, chiếc áo dài cũng mang theo bầu trời quê hương, cũng mang về mùa xuân ấm áp trong lòng người Việt tha hương. Chiếc áo dài còn là biểu tượng thân quen để người Việt nhận ra nhau trên bước đường lưu lạc trong cuộc sống nổi trôi nơi xứ lạ quê người. Thấy một vạt áo dài, thấy quê hương xa xăm mà gần gũi.

Qua bao mùa tang thương dâu bể, qua bao nhiêu vật đổi sao dời, chiếc áo dài truyền thống, chiếc áo dài duyên dáng và trữ tình của người phụ nữ Việt Nam vẫn luôn luôn là hình ảnh khó phai mờ và còn ở lại mãi trong lòng người. Lê Hữu (1) Áo Trắng, thơ Huy Cận (2) Từ Giã Thơ Ngây, nhạc Nguyễn Hiền

Kim Phượng st

Nêu Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Chiếc Áo Dài Việt Nam

(Văn mẫu) – Nêu cảm nghĩ của em về bài thơ Chiếc áo dài Việt Nam. ( Bài làm của học sinh giỏi tỉnh Hải Dương đạt 8,75 điểm).

Đề bài: Nêu cảm nghĩ của em về bài thơ Chiếc áo dài Việt Nam

Chiếc áo quê hương dáng thướt tha

Non sông gấm vóc mở đôi tà Tà bên Đông Hải lung linh sóng Tà phía Trường Sơn rực rỡ hoa Vạt rộng Nam phần chao cánh gió Vòng eo Trung bộ thắt lưng ngà Nhịp tim Hà Nội nhô gò ngực Hương lúa ba miền thơm thịt da. Đinh Vũ Ngọc

Các đồng chí đã quen thuộc với hình ảnh của những nữ quân nhân với các bộ quân phục trông mạnh mẽ, gọn gàng thể hiện nét đẹp chính quy. Nhưng chúng tôi cũng muốn thể hiện mình thướt tha trong bộ áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Đến với hội thi hôm nay, các nữ quân nhân đơn vị rất phấn khởi và tự tin trong tà áo làm nên nét đẹp quê hương mình…

Hình ảnh người con gái Việt Nam dịu dàng tha thướt trong chiếc áo dài, với chiếc nón bài thơ e ấp trong tay, nghiêng nghiêng vành nón lá như cố giấu nụ cười ánh mắt là một hình ảnh duyên dáng, dễ thương và gợi cảm nhất của người con gái Việt Nam .

“Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay Nón bài thơ e lệ nép trong tay”

Chiếc áo dài và chiếc nón là trang phục làm nổi bật và tăng thêm nét duyên dáng, e ấp, dịu dàng, trang nhã, đài các, kiêu sa … của người phụ nữ Việt. Áo dài như dòng nước uốn lượn theo từng đường nét cơ thể mềm mại thướt tha của người phụ nữ . Hai vạt áo dài như đôi cánh và những bước chân chim của nàng làm dao động cả cảnh vật và không khí chung quanh. Thân hình thấp thoáng sau tà áo, khuôn mặt mờ tỏ sau vành nón, ẩn hiện như hư như thực.

Tấm áo lụa mỏng thướt tha với nhiều màu sắc kín đáo trang nhã trở thành tâm điểm chú ý và là bông hoa sáng tôn lên vẻ yêu kiều thanh lịch cho người phụ nữ.

Đã hàng thế kỉ trôi qua, trang phục áo dài trắng trinh nguyên như là biểu tượng cho vẻ đẹp thanh khiết cao quý của tâm hồn người thiếu nữ đất Việt.

Văn hóa áo dài Việt Nam đã trải qua nhiều tiếp biến, giao lưu và có đời sống lịch sử qua nhiều triều đại. Mỗi triều đại, chiếc áo dài phản ánh một sự phát triển mới về cảm quan thẩm mỹ của một đất nước đa dân tộc. Mỗi dân tộc người trên đất Việt có thể sáng tạo mãi trên chiếc áo dài của mình mà không hề lẫn lộn với các tộc người khác. Sự sáng tạo thể hiện không chỉ ở các kiểu cách, các màu sắc mà còn ở các tiết họa, kết cấu trang trí trên áo dài. Mỗi bước tiến của văn hóa, văn minh, chiếc áo dài của mỗi tộc người càng gắn liền với bản sắc dân tộc – hiện đại hơn.

Chiếc áo dài là thể hiện sự thống nhất giữa cái đúng, cái tốt và cái đẹp trong văn hóa Việt Nam. Chiếc áo dài Việt đã từng được trần bông để mặc trong lúc hàn giá, đã từng được may bằng lụa mỏng để mặc trong những ngày nóng nực. Mùa Xuân, mùa Thu, chiếc áo dài Việt có thể được may bằng những chất liệu phù hợp với thời tiết.

Đời sống thẩm mỹ phong phú của chiếc áo dài Việt biểu hiện tập trung ở sự thể hiện khác nhau của cái đẹp. Áo dài có thể biểu hiện trong cái đẹp kiêu sa, lộng lẫy, choáng ngợp, lại cũng có thể biểu hiện trong cái đẹp dịu dàng đoan trang thùy mị, trong cái đẹp giản dị, thường nhật. Áo dài Việt có thể đẹp khi mang lại sự ấm áp trong mùa Đông, mát mẻ trong mùa hè, dịu dàng trong mùa Xuân, kiều diễm trong mùa Thu. Những gam màu, những kiểu dáng vô tận được thể hiện thông qua chiếc áo dài Việt không chỉ tạo nguồn cảm xúc thẩm mỹ bất tận cho các nhà sáng tạo mà còn làm rung động hàng triệu trái tim về sự xuất hiện của nó trong những tình huống nhất định của cuộc sống.

Cảm xúc về chiếc áo dài Việt Nam cũng đã làm nên những ca khúc bất từ, đi vào thơ ca, phảng phất được cái riêng, cái giản dị của cuộc sống:

Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong Hôm xưa em đến mắt như lòng Nở bừng ánh sáng em đi đến Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng

Do tính đa dạng kỳ diệu trong đời sống thẩm mỹ của xã hội, chiếc áo dài có thể là hình ảnh tạo dựng về cái đẹp của người phụ nữ khi sử dụng nó. Khoác chiếc áo dài lên mình, bước ra đường phố, đến nơi công sở người phụ nữ đã tự cảm thấy mình đẹp hơn và đối diện cũng như hòa chung vào với cái đẹp khác của xã hội. Người phụ nữ mặc chiếc áo dài để nâng cao giá trị của mình và hy vọng được

Về Bài Thơ Áo Đỏ Của Vũ Quần Phương

Nhà thơ Vũ Quần Phương kể lại với nhiều người, đầu năm 1973, tiếng bom của cuộc chiến tranh phá hoại vừa tắt nhưng Hà Nội còn ngổn ngang đổ nát. Những dòng người trên các con phố lầm lụi một màu xanh và xám, màu của phòng không. Đang chờ cắt tóc ở phố Khâm Thiên, chợt một cô áo đỏ đạp xe qua, làm bao nhiêu ánh mắt ngoái lại, sững sờ. Và chắc sững sờ nhất là nhà thơ Vũ Quần Phương…

Tôi không biết chắc bài thơ viết vào năm nào, nhưng biết chắc nó được in trong tập thơ Vầng trăng trong xe bò (NXB Văn học, 1988). Và đã in báo trước đó vài năm. Nguyên văn bài thơ như sau:

Áo đỏ em đi giữa phố đông Cây xanh như cũng ánh theo hồng Em đi lửa cháy trong bao mắt Anh đứng thành tro em biết không? Về màu đỏ và áo đỏ

Bằng trực quan sinh động, từ xa xưa con người đã đồng hóa màu đỏ với màu lửa, màu máu, màu của mặt trời. Và nó thành tượng trưng cho tính cách mạnh mẽ, nhiệt huyết rực cháy, tinh thần cách mạng, sự hy sinh, tình yêu và sự hết mình. Nhiều nước chọn màu đỏ làm màu cờ để khẳng định sức mạnh dân tộc, khẳng định lấy máu để bảo vệ tự do. Khi chưa biết quang phổ ánh sáng mặt trời, người ta đã cho là màu đỏ gắn với sức mạnh. Đó là một nhận thức chính xác về mặt khoa học: Ánh sáng đỏ là ánh sáng có bước sóng dài nhất, mang năng lượng lớn nhất, dễ dàng xuyên qua khí quyển trái đất. Ngược lại, ánh sáng tím yếu nhất, thường giữ bị giữ lại ngoài tầng khí quyển. Còn lam, chàm thường bị dùng dằng, đùn đẩy ở tầng khí quyển, khúc xạ, tán xạ bởi bụi và nước làm nên màu xanh thơ mộng của bầu trời. Cho nên “Trời” không phải “Ông Xanh” – Không phải trời xanh đâu mà xanh vì ánh sáng/ Sự tán xạ lam chàm lên khí quyển/ Ra khỏi khí quyển này, trời lại trắng như không.

Trong văn chương cổ điển Việt Nam, có lẽ Chinh phụ ngâm có câu thơ hay nhất về áo đỏ Quân xuyên trang phục hồng như hà/ Quân kỵ kiêu mã bạch như tuyết (Áo chàng đỏ tựa ráng pha/ Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in). Đó là hình ảnh kiêu hùng, lãng mạn của người chinh phu trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, một hình ảnh ước lệ được đồng hóa với những vẻ đẹp kỳ tuyệt của thiên nhiên. Áo bào đỏ xông pha giữa trận tiền kéo theo sức mạnh của cả đoàn quân…

Theo phong tục của Việt Nam và một số nước đồng văn thì áo đỏ là áo của cô dâu. Nó lên sự nồng nàn của tình yêu và sự khêu gợi, hấp dẫn đầy bí ẩn của người phụ nữ. Đó là màu của hạnh phúc, của những hy vọng không bao giờ tắt. Thơ Lưu Trọng Lư trước Cách mạng, bài “Nắng mới” có câu: Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội/ Áo đỏ người đưa trước dậu phơi. Có người đã nhầm rằng, áo đỏ là áo trẻ em. Mẹ Lưu Trọng Lư là vợ lẽ, dưới chế độ phong kiến vui ít, buồn nhiều, lại bị nhiều tầng đè nén, thậm chí bỏ rơi (Chập chờn sống lại những ngày không), nên mỗi hè về, có nắng mới, phơi cái áo đỏ ngày cưới như phơi lên kỷ niệm và thắp sáng hy vọng tươi mới của mình. Câu thơ lặng lẽ, người phụ nữ phơi áo bờ rào mà xốn xang, xúc động, bao ngụ ý bên trong!

Và có lẽ vì cái áo đỏ khêu gợi chăng, nên những kỹ nữ Trung Quốc cũng thường mặc áo đỏ. Thơ Bạch Cư Dị “Thay lời gái bán củi tặng kỹ nữ” có câu: Áo hồng cưỡi ngựa người chi đó/ Tiền Đường sớm sớm cứ phất phơ ( Nhất chủng Tiền Đường giang bạn nữ/Trước hồng kỵ mã thị hà nhân?)

Nguyễn Bính cũng từng viết về áo đỏ: Có nàng áo đỏ đi qua đấy / Hương đượm ba ngày hương chửa tan (Mùa đông đan áo). Cô áo đỏ này hẳn là người thị thành, không phải gái quê mặc áo tứ thân và khăn mỏ quạ. Tôi không suy diễn vì cô gái đan len này đã thị thành, lại được lặp lại trong bài thơ Người con gái ở lầu hoa:

Nhà nàng ở gốc cây mai trắng Trên xóm mai vàng dưới đế kinh Có một buổi chiều qua lối ấy Tôi về dệt mãi mộng ba sinh

Nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn kể lại trong sách “Nguyễn Bính và tôi” thì người con gái này ở phố Bạch Mai, Hà Nội, tên là Nguyễn Thị Tuyên, mà các nhà thơ gọi cho đẹp là Tú Uyên, em gái của nhà văn Nguyễn Đình Lạp (1913-1952). Nguyễn Đình Lạp là một cây phóng sự xuất sắc, là tác giả của tiểu thuyết Ngoại ô và Ngõ hẻm. Chú ruột Nguyễn Đình Lạp là nhà cách mạng Nguyễn Phong Sắc (1902-1931), người đảng viên cộng sản đầu tiên của chi bộ cộng sản đầu tiên trong nước (7-3-1929, thành lập tại 5 D Hàm Long, Hà Nội); người Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ đầu tiên, người chỉ đạo Phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh.

Cũng trong Phong trào Thơ mới, một áo đỏ ám ảnh là của chúng tôi trong Bài thơ thứ nhất:

Và một ngày kia tôi phải yêu Cả chồng tôi nữa lúc đi theo Những cô áo đỏ sang nhà khác Gió hỡi làm sao lạnh rất nhiều.

Nếu áo đỏ trong thơ Nguyễn Bính là một phẩm chất mới, một thời đại mới thì áo đỏ của T.T. Kh. là áo cô dâu, là thiếu nữ trinh nguyên, sự thuần khiết của quá khứ mà lòng người muốn giữ lại. Nên “áo đỏ sang nhà khác” được nhìn nhận như một sự mất mát, gợi buồn, làm lạnh cả ngọn gió!

Trong kháng chiến chống Mỹ, có một màu áo đỏ rực rỡ thủy chung trong thơ Nguyễn Mỹ. Nếu mặt trời không nguôi tắt nắng thì không chỉ cô gái hậu phương mà cả nước đã cháy lên một ngọn lửa tình yêu bất diệt, thắp sáng một niềm tin tất thắng. Màu đỏ chói ngời trong buổi chia ly không phải từ màu áo mà từ trái tim của cô gái và của người chiến sĩ, của tác giả là người được chứng kiến. Và thật ra là cả của một thời đại. “Bắt” được cái thần ấy, bài thơ trở nên ám ảnh. Từ ngữ không có gì lạ. Trần Đăng Khoa từng nói, thơ hay có ba điều: giản dị, xúc động và ám ảnh. “Cuộc chia ly màu đỏ” của Nguyễn Mỹ được viết năm 1964, trong hoàn cảnh chiến tranh. Thời ấy nằm lòng trong tim chiến sĩ, nay còn lay động nhiều lớp tuổi teen. Nguyễn Mỹ đã nén thêm vào áo đỏ một nồng độ tình yêu làm rực rỡ cả thiên nhiên, nén vào màu đỏ niềm hy vọng mà mọi thời gian, mọi thế lực đen tối không thể xóa nhòa:

Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ Tươi như cánh nhạn lai hồng Trưa một ngày sắp ngả sang đông Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ. Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa Chồng của cô sắp sửa đi xa Cùng đi với nhiều đồng chí nữa Chiếc áo đỏ rực như than lửa Cháy không nguôi trước cảnh chia ly… Cái màu đỏ như màu đỏ ấy Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp Một làng xa giữa đêm gió rét… Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi Như không hề có cuộc chia ly…

Vào năm 1987, nhà thơ Phạm Tiến Duật có bài Áo đỏ em đi trong chiều tuyết trắng:

Tất cả đã trở về màu xám Chỉ còn em và tuyết đối nhau thôi Tuyết thì trắng chưa bao giờ trắng thế Còn áo em rực đỏ giữa trời Bởi như thế em trở thành ngọn lửa Ấm một vùng tuyết lạnh xứ xa xôi…

Bài thơ mở đầu rất thích khi cho ba màu như ba phạm trù đối lập, thật ra chỉ có hai: màu đỏ của áo và màu trắng tận cùng của tuyết. Chết và sống; hiện hữu và hư vô; điểm và diện…; bài thơ như một bức tranh tuyệt đẹp. Chỉ tiếc hai câu sau, theo tiêu chí thông thường không phải không hay, nhưng xem ra nó cũng dễ hiểu quá, tầm thường quá so với sự mở đầu. Thậm chí, hai câu sau có thể cắt.

Áo đỏ trong thơ còn nhiều lắm. Nó vui như “Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon” hay nghiêm trang như “Một cụ già râu tóc trắng như bông/ Mặc áo đỏ cầm hương đi trước đám” của Đoàn Văn Cừ. Và buồn như một nỗi thất tình, một cảm nhận mưa sa gió táp: “Áo đỏ em về trong ngõ trưa/Chiều nay lành lạnh gió sang mùa/ Hoa đăng hội ngộ tình thương nhớ/ Em hãy về đây kẻo gió mưa”…

Câu thần cú của Vũ Quần Phương và cái chết trở nên bất tử

“Nhãn tự” hay “từ khóa” chủ yếu của bài thơ “Áo đỏ” của Vũ Quần Phương chính là áo đỏ. Dứt khoát đây là bài thơ làm xong mới đặt đầu đề và đầu đề không thể không lấy cái nhãn tự ấy, cũng như câu thơ không thể không bắt đầu bằng từ “áo đỏ”. Đây là sự va đập mạnh mẽ nhất làm nẩy bật lên cảm xúc và ý tứ của bài thơ.

Tại sao “áo đỏ” lại tạo nên ấn tượng mạnh mẽ và lạ lùng như vậy đối với nhà thơ? Tôi chắc chắn rằng, vào thời điểm này (năm 2015), Vũ Quần Phương (hay bất cứ nhà thơ nào khác) khó có cảm hứng để làm được thơ về người áo đỏ chứ chưa nói để có câu thơ hay, bài thơ hay.

Suốt một thời kỳ chiến tranh kéo dài, cả nước phải tập trung cho một nhiệm vụ gần như duy nhất: “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” thì cả nước thống nhất đến gần như đồng nhất. Cái tôi lặn vào cái ta. Tự do cá nhân phải hy sinh cho tự do của Tổ quốc. Con người cũng như cuộc sống nằm trong một khuôn thước nhất định. Sau giải phóng miền Nam hai năm, năm 1977 tôi mới được trở ra Bắc. Trước đây sống quen, không có cảm nhận gì rõ rệt. Nhưng lần ấy nhìn đường phố Hà Nội tối sẩm cả mặt mày vì chỉ rặt một màu xanh và xám, người Hà Nội vẫn gò lưng trên những chiếc xe đạp cũ càng, sao mà thương đến thế! Cái cổng pa-ra-bôn của ĐH Bách khoa được coi như biểu thị của kiến trúc hiện đại. Nhìn những căn hộ tập thể chỉ như những cái chuồng, tôi không hiểu sao con người lại có thể nhốt mình cả đời vào đó…

Áo đỏ của Vũ Quần Phương trở về biểu tượng nguyên thủy của nó là ngọn lửa. Ngọn lửa này ngang nhiên cháy lên giữa con phố chính Hà Nội, không sợ máy bay giặc, không sợ khuôn thước chật hẹp của cuộc đời. Nó khẳng định cái mới đã ra đời, cái mới đang lên. Nó không những không sợ cái cũ mà sự mạnh mẽ, rực rỡ của nó tỏa rạng, kéo theo sự biến hóa của chung quanh (cây xanh như cũng ánh theo hồng). Ai từng biết nhà thơ Vũ Quần Phương, đều thấy ông là người mực thước. Lúc này ông đã có vợ con và hẳn ngại nói chuyện yêu đương. Vậy mà ông dám “ngang nhiên” hạ bút viết Anh đứng thành tro em biết không tức là đã thú nhận mình đa tình, mình chevigai (chết vì gái) rồi còn gì! Tức là ông không sợ vợ nữa! Nếu coi đây là một bài thơ tình thì đúng vậy. Trước cái đẹp thì tình yêu phải đến, trước tình yêu thì phải cháy hết mình!

Thơ đa nghĩa, văn chương đa nghĩa. Tôi nghĩ cần hiểu thêm đây là bài thơ mang tâm thức thời đại. Và câu cuối chính là “thần cú” biểu thị nhận thức và thái độ của nhà thơ. Ba câu đầu chỉ là quan sát, có chút nghĩ ngợi, liên tưởng. Trong thơ, người ta thấy mình nghĩ là tầm thường; lấy lời lẽ mà giảng giải là vô duyên. Tự cháy bằng cảm xúc mới là đạt. Còn đột ngột bất hợp lý mà càng nghĩ, càng hợp lý, càng đúng với nhiều người, càng ám ảnh mãi thì đó là thần tình. Câu cuối cùng của Vũ Quần Phương trong bài thơ này đạt độ thần tình, làm cho cánh thơ bay vút lên. Nếu không có câu cuối, cả bài thơ chẳng có gì đáng nói. Hàng cây xanh chỉ ánh hồng lên giây lát; ngọn lửa cháy lên trong bao mắt… dù sao cũng còn bị động; còn nhà thơ từ một tác động khách quan, đã tự cháy lên, cháy hết. Một nồng độ cao, một số lượng chuyển thành chất lượng. Ta thấy cái mới không ở ngoài, mà ở chính trong nhà thơ. Đó chính là khát vọng tự do, khát vọng đổi mới, đổi mới triệt để; là yêu sống, ham sống; là mong mỏi được làm con người khác; là thiêu rụi mọi ràng buộc cũ xưa.

Thơ tứ tuyệt, người xưa gọi là tuyệt cú là bài thơ thường có bốn câu, có khi ba câu, có khi năm, sáu câu.

Có những bài cả bốn câu hay cả và cùng đối nhau như một bức tranh tứ bình. Thí như bài Tuyệt cú của Đỗ Phủ Lưỡng cá hoàng ly minh thúy liễu/ Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên/ Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết/ Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền. Nhưng thường thì người ta chỉ dùng những câu đầu làm dẫn. Sự bất ngờ, đỉnh cao là ở câu ba và bốn; phổ biến là ở câu kết cuối cùng. Chẳng hạn như bài Uống rượu xem hoa mẫu đơn của Lưu Vũ Tích: Hôm nay uống rượu ngắm hoa/ Cạn đôi ba chén gọi là mua vui/ Chỉ e hoa nói nên lời/ Em không phải nở cho người già nua (Tản Đà dịch). Khủng khiếp hơn là bài Lũng Tây hành của Trần Đào với hai câu cuối Khả liên Vô Định hà biên cốt/ Do thị xuân khuê mộng lý nhân. Nghĩa là: Thật đáng thương thay cho tình cảnh: Người lính đã chết chỉ còn nắm xương bên dòng sông Vô Định, vậy mà trong giấc mộng của người vợ trong phòng khuê vẫn còn là người! Xin nói thêm một chút về thi pháp thơ Đường: Khả liên (khá thương) là thương cho tình cảnh, thương cho người lính đã chết hay thương cho người vợ ở nhà vẫn mơ về chồng; hay hơn nữa là thương cho đất nước đều đúng cả vì thường không dùng từ chỉ định, xác định. Vô Định cũng hàm nhiều nghĩa. Vô Định là tên một dòng sông ở tỉnh Thiểm Tây, biên giới của Trung Hoa với Hung Nô, một con sông hay đổi dòng nên gọi là Vô Định. Đồng thời nó cũng nói lên sự vô định, vô nghĩa của chiến tranh…

Bài thơ Áo đỏ của Vũ Quần Phương đạt mẫu mực của thi pháp tứ tuyệt.

Thơ nhại Áo đỏ trong đời sống

Một trong những dấu hiệu quan trọng của câu thơ hay, bài thơ hay là tự nó hình thành một khuôn mẫu, có thể lắp ghép được bằng các cấu kiện khác. Nói nôm na là có thể nhại được. Một dạo sau khi được in, lập tức có thơ chế rằng:

Váy ngắn em đi giữa phố đông Hỏi rằng anh có thấy gì không Mỗi lần váy cuốn theo chiều gió Anh thấy hình như có cả …

Bài trước không biết của ai, nhưng nghe nói dị bản sau là của nhà thơ Quang Huy (mà không khéo của chính Vũ Quần Phương):

Váy ngắn em đi giữa phố đông Hỏi rằng anh có thấy gì không Bao nhiêu tôm cá bày ra cả Anh đứng thành tro em biết không?

“Bao nhiêu tôm cá bày ra cả” là câu thơ của nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn trong bài “Chợ cá Hội An”. Người làm bài thơ này chắc là để trêu chị Nhàn. Âu cũng là một giai thoại văn học.

Tôi không chắc mình hiểu được hết ý nhà thơ, nói hết được cái hay của bài thơ. Biết gì nói nấy, mạo muội trình bạn đọc, mong được lượng thứ vì những điều lỗ mỗ./.

Nguyễn Sĩ Đại