Soạn Bài: Tự Tình (Hồ Xuân Hương) – Ngữ Văn 11 Tập 1

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả: Hồ Xuân Hương (các em tham khảo phần giới thiệu nhà thơ Hồ Xuân Hương trong SGK Ngữ Văn 11 Tập 1).

2. Tác phẩm:

* Xuất xứ: Bài thơ Tự tình (Bài II) nằm trong chùm thơ Tự tình ba bài của Hồ Xuân Hương.

* Thể thơ: Thất ngôn bát cú đường luật.

* Bài thơ Tự Tình tiêu biểu cho phong cách thơ Hồ Xuân Hương ở nỗi cô đơn, ở niềm khao khát được hạnh phúc, ở tâm trạng uất ức luôn muốn phá vỡ những khuôn khổ chật hẹp của cuộc sống. Trong bài thơ cũng có sự xuất hiện rất rõ ràng và cụ thể hình tượng nhân vật trữ tình. Cái “tôi” cá nhân xuất hiện rất rõ với tâm trạng buồn và cô đơn trĩu nặng.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Bốn câu thơ đầu:

Thời gian: đêm khuya, âm thanh “văng vẳng”, trống “canh dồn”

Không gian: trống trải, mênh mông, rợn ngợp, tĩnh mịch (nghệ thuật lấy động tả tĩnh).

Lòng người: trơ trọi, từ “trơ” đi liền với “cái hồng nhan” cùng với biện pháp đảo ngữ gợi lên cảm giác xót xa, bẽ bàng.

Cụm từ “say lại tỉnh” gợi lên cái vòng luẩn quẩn, càng tô đậm thêm tâm trạng buồn, càng cảm nhận được nỗi đau xót xa của thân phận.

Hình ảnh “Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” là hình tượng chứa hai lần bi kịch: trăng sắp tàn (bóng xế) mà vẫn khuyết chưa tròn. Đó chính là sự tương đồng với người phụ nữ.

Câu 2:

Hình tượng thiên nhiên trong hai câu thơ 5 và 6 góp phần diễn tả tâm trạng, thái độ của nhà thơ trước số phận của người con gái:

Biện pháp đảo ngữ kết hợp với các động từ mạnh (xiên, đâm,…) thể hiện sự bướng bỉnh, ngang ngạnh của nhà thơ.

Rêu là một sinh vật yếu mềm và nhỏ bé, đá không cam chịu số phận, bằng mọi cách cố vươn lên những cản trở (mặt đất, chân mây) để chứng tỏ mình. Qua đó, cho ta thấy, đá và rêu như đang oán hờn, như đang phản kháng quyết liệt với tạo hóa.

Câu 3:

* Hai câu thơ kết nói lên tâm trạng buồn tủi, chán chường của tác giả:

Cụm từ: “xuân đi xuân lại lại” có nghĩa là xuân của tự nhiên đã qua đi rồi sẽ trở lại nhưng tuổi xuân của con người đã qua đi thì sẽ không bao giờ trở lại. Từ “lại” thứ nhất là thêm một lần nữa, còn từ “lại” thứ hai lại mang nghĩa trở lại. Mùa xuân thì sẽ trở lại nhưng tuổi xuân thì sẽ trôi đi mãi mãi.

Câu 4:

Bài thơ vừa nói lên bi kịch duyên phận vừa cho thấy khát vọng sống, khát vọng được hạnh phúc của Hồ Xuân Hương.

Bi kịch trong bài thơ Tự tình là bi kịch của tuổi xuân, của duyên phận. Mùa xuân đi rồi mùa xuân lại đến, nhưng tuổi xuân của con người đã trôi qua thì sẽ không bao giờ trở lại được nữa. Hơn nữa, trong cái hoàn cảnh này cùng với sự dở dang của tình duyên lại càng làm tăng thêm nỗi xót xa, đau đớn. Mặc dù rơi vào hoàn cảnh éo le đó, nhưng Hồ Xuân Hương vẫn luôn khao khát được hạnh phúc, luôn mạnh mẽ chống lại sự trớ trêu của số phận.

3

/

5

(

2

bình chọn

)

Soạn Bài Lớp 11: Bài Thơ Số 28

Soạn bài lớp 11: Bài thơ số 28 Soạn bài: Bài thơ số 28

Soạn bài lớp 11: Bài thơ số 28 là tài liệu tham khảo hay, nhằm giúp các bạn học sinh lớp 11 nắm được nội dung và nghệ thuật của bài thơ số 28 của R.Tago. Mời các bạn tham khảo. Soạn bài lớp 11: Chiều xuân Soạn bài lớp 11: Tương tư

Bài thơ số 28 – R.Tago

I. Giới thiệu chung 1. Tác giả

R.Tago (1861 – 1941): Là một nhà thơ, nhà văn, đồng thời là một nhà văn hóa lớn, có nhiều đóng góp cho dân tộc Ấn Độ và nhân loại.

Ông để lại một gia tài khổng lồ các tác phẩm thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau mà ở lĩnh vực nào cũng xuất sắc.

Năm 1913, Tagore trở thành người châu Á đầu tiên được trao giải Nobel về văn học với tập Thơ Dâng.

2. Tập thơ Người làm vườn

Là một trong những tập thơ nổi tiếng của Tago, gồm 85 bài thơ được viết bằng tiếng Bengal, sau tự dịch sang tiếng Anh, xuất bản năm 1941.

Tập thơ tiêu biểu cho phong cách giàu chất trữ tình, chất triết lý của Tago, được dịch ra nhiều thứ tiếng.

3. Bài thơ số 28

Các bài thơ trong tập Người làm vườn không có tên mà chỉ được đánh số.

Bài thơ số 28 là bài thơ nổi tiếng trong tập thơ Người làm vườn, có mặt trong nhiều tuyển tập thơ tình thế giới.

II. Đọc hiểu văn bản 1. Bố cục

Chia bố cục

Cuối mỗi phần đều có câu chuyển ý (Em chẳng thể biết tất cả về anh).

2. Tìm hiểu chi tiết văn bản a. Khát vọng hòa hợp trong tình yêu

Đôi mắt: Cửa sổ tâm hồn, chứa đựng suy tư của con người. Với Tago, đôi mắt còn là ngọn nguồn của tình yêu.

Diễn giải thêm: (Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, là điều khiến người ta nhớ nhung khi xa cách: “Những đêm dài hành quân nung nấu/ Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”. Với Shakespear: “Ánh mắt là ngôn ngữ chân thành nhất của tình yêu”. Với tư cách là một triết gia, Tagore luôn tìm hiểu, khám phá bản chất của tình yêu. Ông luôn băn khoăn, tự hỏi: “Tình yêu bắt đầu từ đâu”. Và trong Bài thơ số 16, nhà thơ đã khẳng định: Tình yêu bắt đầu từ đôi mắt. “Tay nắm chặt tay, mắt dừng lâu trong mắt/Câu chuyện của lòng ta bắt đầu như vậy đó/ Ấy là đêm tháng ba trăng tỏ/ Hương Kena dịu dàng tỏa khắp không trung”. Cũng chính vì có quan niệm tình yêu bắt đầu từ “đôi mắt”, nên nhà thơ đã dùng “đôi mắt” để phân tích tâm linh, để miêu tả thế giới nội tâm của con người.)

Hình ảnh so sánh tượng trưng:

Hành động của chàng trai:

b. Khát vọng dâng hiến trong tình yêu

Cấu trúc giả định: Nếu A chỉ là B.

Hai câu thơ đầu khổ 2:

Sự hi sinh của chàng trai:

Sự phủ định: Nhưng A (không là B) lại là C (đời anh không là ngọc, là hoa mà là trái tim không biên giới)

c. Sự vô cùng của cuộc đời – trái tim – tình yêu

Lặp lại cấu trúc giả định sóng đôi nhau:

Nhà thơ đúc kết triết lý về tình yêu ở hai câu thơ cuối:

Logic lý trí trong thơ: Cuộc đời khai sinh ra tình yêu nhưng chính tình yêu mới làm cuộc đời thăng hoa, mới biến điều hữu hạn thành vô hạn, biến điều bình dị hóa phi thường.

III. Tổng kết 1. Nội dung

Bài thơ số 28 đòi hỏi con người hướng về một tình yêu hòa hợp về mặt tâm hồn. Tình yêu không bao giờ có giới hạn. Muốn có hạnh phúc trong tình yêu, muốn có tình yêu trọn vẹn chỉ có một cách là luôn khám phá cái bí ẩn, cái sâu xa của tình yêu.

2. Nghệ thuật

Tago đã vận dụng bút pháp hướng nội, thực hiện lối cấu trúc theo tầng bậc: từ thấp lên cao hoặc ngược lại từ ngoài vào trong.

Nghệ thuật miêu tả thế giới nội tâm: Dùng hình ảnh “đôi mắt”

Thủ pháp so sánh, tượng trưng, ẩn dụ.

Chất suy tư triết lý: Các từ được lặp đi lặp lại: “if” (nếu), “only”(chỉ), “but”(nhưng) giả định rồi khẳng định, nhiều câu tưởng như nghịch lý mà lại rất có lý (câu 3, 4, 5 hoặc 2 câu cuối).

Giọng điệu vừa bóng bẩy, trữ tình nhưng đồng thời cũng đầy chất triế

Theo chúng tôi

Soạn Bài Nhớ Đồng Lớp 11

SOẠN NHỚ ĐỒNG LỚP 11 I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Tố Hữu (1920 – 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành. Quê ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Thuở nhỏ học ở trường Quốc học Huế. Năm 1938, ông được kết nạp vào đảng cộng sản. Từ đó sự nghiệp thơ ca gắn liền với sự nghiệp cách mạng, thơ ông luôn gắn bí và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng đầy gian khổ, hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vẻ vang của dân tộc Việt Nam.

2. tác phẩm

Đầu năm 1939, tình hình thế giới trở nên căng thẳng, cuộc đại chiến lần thứ hai có nguy cơ bùng nổ, thực dân Pháp quay lại đàn áp phong trào cách mạng ở Đông Dương. Cuối tháng 4 năm ấy, Tố Hữu bị chính quyền thực dân bắt ở Huế trong một đợt khủng bố Đảng Cộng sản. “Nhớ đồng” được viết trong những ngày bị giam nhà lao Thừa Phủ Thiên (Huế). Bài thơ này thuộc phần “xiềng xích” của tập chí “từ ấy”

II. Hướng dẫn soạn bài Nhớ đồng đọc hiểu chi tiết

Câu 1 trang 48 SGk ngữ văn 11 tập 2:

Tiếng hò vang lên lẻ loi, đơn độc trưa yên tĩnh, sâu lắng, gợi cảm giác buồn, hiu quạnh, đồng điệu với cảnh ngộ và tâm trạng người tù

Tiếng hò gợi dậy tất cả những gì của thế giới bên ngoài. Đó là âm thanh của cuộc sống bên ngoài đến được với nhà tù, âm thanh tiêu biểu của xứ Huế, gợi nỗi nhớ đồng quê, nhớ người dân quê da diết.

Câu 2 trang 48 SGk ngữ văn 11 tập 2:

Trong bài thơ Tố Hữu dùng khá nhiều phép điệp, nhất là điệp khúc: gì sâu bằng những trưa thương nhớ, gì sâu bằng những trưa hiu quạng và điệp từ “đâu”. Việc lặp lại như vậy tạo được hiệu quả nghệ thuật cao, tác dụng như một điệp khúc, nhân mạnh tô đậm cảm xúc của bài thơ:

Nỗi hiu quạnh: hiu quạnh trong âm thanh tiếng hò não nùng, hiu quạng của trưa vắng, hòa điệu cùng nỗi hiu quạng của người tù một mình đối diện với bốn bức tường giam hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài.

Nỗi thương nhớ: được khơi gợi từ tiếng hò, từ sự quạnh hiu. Thương nhớ đến đồng quê (từ cảnh sắc đến người dân quê)

Bao trùm là âm điệu tiếng than về nỗi quạnh hiu cùng cực một người tha thiết yêu đời, say mê hoạt động bị cách li khỏi cuộc đời.

Câu 3 trang 48 SGK ngữ văn 11 tập 2:

Hình ảnh đồng quê được hình dâu rõ rang, cụ thể không chỉ bằng đường nét, màu sắc mà còn có hương vị, hơi mát…Tất cả đều là những cảnh sắc đơn sơ, quen thuộc mà rất đỗi thân thương (màu sắc: ô mạ xanh; không khí yên bình; ruồng tre mát, thở yên vui; hương vị: gió cồn thơ, khoai ngọt sắn bùi; âm thanh: kuas xao xác, tiếng tre lùa nước hòa tiếng não nùng – những âm thanh buồn nhưng lại thể hiện được hồn quê)

Bao trùm là điệu tiếng than về nỗi quạng hiu cùng cực của một người tha thiết yêu đời, say mê hoạt động bị cách li khỏi cuộc đời.

Câu 4 trang 48 SGK ngữ văn 11 tập 2:

“Đâu những ngày xưa tôi nhớ tôi

Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi”

Đoạn thơ tạo hai hình ảnh đối lặp: hình ảnh của nhà thơ trước khi gặp lí tường cách mạng được tái hiện trong kí ức (những ngày xưa tôi nhớ tôi) và hình ảnh sau khi đến với lí tưởng cách mạng:

Trước khi gặp lí tưởng cách mạng: băn khoăn, vẩn vơ, quanh quẩn, tâm hồn bế tắc, chán nản

Sau khi gặp lí tưởng cách mạng: như cánh chim vui say, bay liệng trong không gian bao la, bát ngát. Tâm hồn được giải phóng, rộng mở, hòa nhập với cuộc đời

Từ hai hình ảnh đối lập, nhà thơ quay về với thực tại: cánh chim buồn nhớ gió mây. Hình ảnh con chim tự do ngày nào giờ đây trong cảnh giam cầm, nhớ gió mây gợi niềm say mê lí tưởng, khao khát được hoạt động, được cùng đồng chí, đồng bào chiến đấu.

Câu 5 trang 48 SGK ngữ văn 11 tập 2:

Nhận xét chung về tâm trạng tác giả thể hiện trong bài thơ:

Bài thơ không dùng lại nỗi thương nhớ đồng quê mà còn là thương nhớ cuộc sống, thương nhớ đồng bào, khao khát tự do, bất bình với thực tại tù đày.

Nguồn Internet

Soạn Bài Bài Ca Ngất Ngưởng Lớp 11

SOẠN BÀI BÀI CA NGẤT NGƯỞNG LỚP 11. I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858), người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong gia đình nho học

Ông cần cù, say mê học hành nhưng thi cử lận đận, đến 41 tuổi đậu giải nguyên và ra làm quan dưới triều Nguyễn

Là người tài năng, nhiệt huyết ở nhiều lĩnh vực, là người yêu nước, thương dân

Sáng tác của ông hầu hết viết bằng chữ Nôm, thể thơ đường luật và hát nói. Ông để lại trên 50 bài thơ, ca trù và một bài phú nổi tiếng Hàn nho phong vị phú.

2. Bài thơ

Hoàn cảnh sáng tác: bài thơ được viết sau năm 1848 là năm ông cáo quan về vườn, lúc đó ông ngoài 70 tuổi

Thể thơ: hát nói

Đề tài: lời tự thuật độc đáo về cái tôi ngông nghênh, khinh đời, ngạo thế, sự đối lập giữa bậc tài danh có phẩm cách nhà nho chân chính với tầng lớp phong kiến bất tài

II. Hướng dẫn soạn bài Bài ca ngất ngưởng đọc hiểu chi tiết

Câu 1 trang 89 SGK ngữ văn 11 tập 1:

Ngất ngưởng là một từ láy tượng hình vốn được dùng chỉ sự vatah ở độ cao chênh vênh, bất ổn định. Ở bài thơ này, từ ngất ngưởng được dùng với nghĩa chỉ sự khác thưởng, vượt lên coi thường dư luận. Ngoài nhan đề, từ ngất ngưởng được nhắc lại 4 lần ở cuối các khổ thơ trở thành biểu tượng cho phong cách sống, thái độ sống vượt lên thế tục, một lối chơi ngông nghênh thách thứ xung quanh trên cơ sở nhận thức rõ tài năng và nhân cách cá nhân.

Từ ngất ngưởng thứ nhất chỉ sự thao lược, tài năng và phong cách ngạo nghễ khi làm quan của Nguyễn Công Trứ

Từ ngất ngưởng thứ hai chỉ sự ngang tàng của tác giả khi làm dân thường

Từ ngất ngưởng thứ ba khẳng định cái chơi ngông hơn người của Nguyễn Công Trứ, ông dẫn các cô gái trẻ lên chàu, đi hát ả đào…và tự đánh giá cao các việc làm ấy.

Từ ngất ngưởng cuối cho thấy tác giả hơn người là vì dám coi thường công danh phú quý, coi thường cả dư luận khen chê, thỏa thích vui chơi bất cứ thú gì, không vướng bận đến sự rang buộc bản thân.

Câu 2 trang 89 SGK ngữ văn 11 tập 1:

Nguyễn Công Trứ biết làm quan là mất tự do. Ông coi chốn quan trường là cái lồng giam hãm con người. Thế nhưng ông vẫn ra làm quan vì ông quan niệm đó là nơi thể hiện tài năng và nhiệt huyết cho xã hội, cho triều đình và cho đạo vua tôi nên ông có quyền ngất ngưởng nhất trong triều. Tóm lại, ngất ngưởng thực chất là một phong cách sống tôn trọng sự trung thực, tôn trọng cá tính, không chấp nhận sự khắc kỉ phục lễ, uốn mình theo lễ và danh của Nho giáo.

Câu 3 trang 89 SGK ngữ văn 11 tập 1:

Trong bài thơ tác giả tự kể về mình, tự thuật, đánh gía bản thân. Giọng điệu tự thuật khẳng khái, đầy cá tính đã cho thấy ông song phẳng, thẳng thắn và có ý thức về cách sống của mình. Nguyễn Công Trứ tự hào vì có một cuộc sống hoạt động tích cực trong xã hội. Ông cũng tự hào vì mình dám sống cho mình, bỏ qua sự ò bó của lễ và danh giáo

Câu 4 trang 89 SGK ngữ văn 11 tập 1:

Thể hát nói phát triển mạnh bắt đầu từ những năm đầu thế kỉ XIX. Nhiều nhà nho, nhà thơ gửi gắm tâm sự mình trong những sáng tác bằng thể hát nói. Nhờ đó, thể loại này phát triển nhanh chóng và chiếm vị trí độc tôn trong thời gian dài, trở thành khuynh hướng văn học thời đại.

So với thể thơ đường luật gò bó, chật chội, hát nói phóng khoáng và tự do hơn nhiều. Hát nói có quy định về số cây, về cách chia khổ nhưng nhìn chung người viết hoàn toàn có thể phá cách để tạo nên tác phẩm tự do về số câu, số chữ, cách gieo vần, nhịp điệu… Sự phóng khoảng của thể thơ đặc biệt thích hợp việc chuyển tải những quan niệm nhân sinh của những nhà nho khao khát khẳng định chính mình, sống theo mình, coi thường những rang buộc của lễ nghi, của xã hội.

III. Luyện tập bài ca ngất ngưởng.

Sự khác biệt về từ ngữ giữa bài “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ và bài “bài ca phong cảnh Hương Sơn” của Chu Mạnh Trinh

Ngôn ngữ của bài ca ngất ngưởng vừa phù hợp nội dung vừa phù hợp với phong cách của Nguyễn Công Trứ. Nó phóng khoáng, tự so, có chút ngạo nghễ

Ngôn ngữ của Bài ca phong cảnh Hương Sơn nhẹ nhàng, thấm đẫm ý vị thiền và niềm say mê phong cảnh thiên nhiên đất nước.

Nguồn Internet

(Mới & Hay Hơn) Unit 1 Lớp 11 Bài Dịch Reading Sgk Tiếng Anh

MỤC LỤC

Ý phần này muốn bạn đọc bài thơ trang kế bên & sau đó nhận xét sơ qua về người bạn trong bài thơ này.

Tổng quát bài thơ 13 câu này là một người bạn viết cho một người bạn khác. Ý của người viết là bất kể khi nào mày gặp khó khăn, trắc trở gì thì đã có tao bên cạnh.

Tao là sẽ làm ánh sáng cho đêm tăm tối của mày. Xuân, hạ, thu, đông mùa nào cũng được. Chỉ cần gọi tên tao, tao sẽ chạy đến giúp.

Từ đó, chúng ta nhận xét đây cũng là một người bạn nhiệt tình, đúng không nào? Vậy giờ trong tiếng Anh mình ghi sao đây?

Đây là danh sách những từ vựng diễn tả tính cách tốt của một con người:

Tự lựa chọn từ & em ghép vào trong câu là ok. Ví dụ: The friend in the poem is super kind and generous. He is willing to help me whenever I have troubles or feeling down. I appreciate the kind of friendship like that.

Bài dịch unit 1 lớp 11 tiếng Anh reading

Mọi người ai cũng có một số lượng người mà mình quen biết, nhưng không ai có được nhiều người bạn cả, vì tình bạn chân thật không thật sự phổ biến, và có cả những người mà dường như không có khả năng có được nó. Để cho một tình bạn được gần gũi và bền lâu, cả hai người bạn đều phải có những phẩm chất rất đặc biệt.

Phẩm chất đầu tiên là không chỉ ích kỷ cho bản thân. Một người mà chỉ biết lo cho những điều mình thích và cảm nhận của bản thân thì không thể trở thành một người bạn thật sự. Tình bạn là một mối quan hệ dựa trên cả hai bên; nó tồn tại nhờ việc cho đi và nhận lại, và không một tình bạn nào có thể bền lâu nếu chỉ có một bên cho còn bên kia thì chỉ nhận v.

Sự kiên định là phẩm chất thứ hai. Một số người có vẻ như không hề kiên định. Họ thích một cái gì đó với đầy sự háo hức, nhưng rồi nhanh chóng cảm thấy chán và lại thích một thứ mới. Những người hay thay đổi và không chắc chắn như vậy sẽ không thể có khả năng có được tình bạn lâu dài t.

Trung thành là phẩm chất thứ ba. Hai người bạn cần phải trung thành với nhau, và họ cần biết rõ về nhau để không có nghi ngờ gì lẫn nhau. Chúng ta không nghĩ nhiều về những người dễ dàng tin vào lời đồn và hay đi “tám” về bạn của họ. Những người mà hay bị tin đồn ảnh hưởng sẽ không bao giờ trở thành bạn tốt được a.

Tin tưởng là phẩm chất thứ tư. Cần có sự tin tưởng lẫn nhau giữa bạn bè, để họ có thể cảm thấy an toàn khi kể cho người kia bí mật của mình. Có những người không thể giữ bí mật, dù là của họ hay của người khác. Những người như vậy sẽ không giữ chân một người bạn được lâu.

Cuối cùng, cần có một sự đồng cảm tuyệt đối giữa bạn bè – đồng cảm với những mục tiêu, sở thích, niềm vui, nỗi buồn, những theo đuổi và trò vui giải trí của nhau. Ở đâu mà không có sự thông cảm lẫn nhau, thì ở đó không thể có tình bạn.

Học 20 từ vựng mới

Xem lại một số từ vựng trong bài mà có thể bạn hay quên hay chưa nhớ lắm. Bằng hình ảnh & âm thanh nâng cao tính hiệu quả giúp học nhanh, nhớ lâu hơn.

Video unit 01 lớp 11 kèm phụ đề giúp nhớ từ vựng lâu hơn Audio giọng Mỹ lớp 11 unit 01 luyện nghe chuẩn âm

Bấm Listen in Browser để nghe trực tiếp trên website. Còn nút Play in Soundcloud sẽ chuyển bạn qua trang web khác.

Bài đọc này sẽ khó hơn khi xem video. Dành cho những bạn muốn tự nâng cao trình độ tiếng Anh của mình. Giúp nhận ra âm của chữ khi nghe nói & nhớ từ vựng mới.