Cảm Thụ Văn Học Bài Rước Đèn Ông Sao

Cảm thụ văn học bài Rước đèn ông sao – Tiếng Việt 3 Rước đèn ông sao

Tết Trung thu đã đến. Mẹ Tâm rất bận nhưng vẫn sắm cho Tâm một mâm cỗ nhỏ: một quả bưởi có khía thành tám cánh hoa, mỗi cánh hoa cài một quả ổi chín, để bên cạnh một nải chuối ngự và bó mía tím. Tâm rất thích mâm cỗ. Em đem mấy thứ đồ chơi bày xung quanh, nom rất vui mắt.

Chiều rồi đêm xuống. Trẻ con bên hàng xóm bập bùng trống ếch rước đèn. Lúc đó, Tâm lại thấy không thích mâm cỗ của mình bằng đám rước đèn. Tâm bỏ mâm cỗ chạy đi xem. Tâm thích nhất cái đèn ông sao của bạn Hà bên hàng xóm. Cái đèn làm bằng giấy bóng kính đỏ, trong suốt, ngôi sao được gắn vào giữa vòng tròn có những tua giấy đủ màu sắc. Trên đỉnh ngôi sao cắm ba lá cờ con. Tâm thích cái đèn quá, cứ đi bên cạnh Hà, mắt không rời cái đèn. Hà cũng biết là bạn thích nên thỉnh thoảng lại đưa cho Tâm cầm một lúc. Có lúc cả hai cùng cầm chung cái đèn, reo: “Tùng tùng tùng, dinh dinh!…”

Theo Nguyễn Thị Ngọc Tú

Cách đọc

Đọc hơi nhanh nhưng ngắt lâu, rõ ràng ở những câu ngắn đầu đoạn (Tết Trung thu đã đến. ; Chiều rồi đêm xuống) để thể hiện niềm vui háo hức của Tâm và các bạn trong đêm Trung thu. Đọc ngắt từng tiếng ở câu cuối: “Tùng tùng/ tùng//, dinh/ dinh!…”

Gợi ý cảm thụ

Tết Trung thu là dịp vui của thiếu nhi. Biết điều đó nên mẹ Tâm dù rất bận vẫn sắm cho Tâm một mâm cỗ. Mâm cỗ toàn hoa quả chứ không phải thịt cá như các mâm cỗ thường thấy trong những dịp tết khác. Không cần là hoa quả đắt tiền, mà bưởi, ổi, chuối, mía, toàn là thứ bình dị, quen thuộc ở làng quê. Tâm rất thích. Thích vì sự đẹp mắt, thích vì sự long trọng của nó. Tâm bày thêm đồ chơi xung quanh.

Tuy nhiên, đêm Trung thu với trẻ con, chơi vẫn thích hơn ăn. Cho nên khi thấy các bạn bập bùng trống ếch là Tâm bỏ ngay mâm cỗ để nhập vào đám rước đèn. Đám rước đèn đông vui các bạn cùng trang lứa, lại có đèn ông sao, đồ chơi mà Tâm rất thích.

XEM THÊM BÀI ĐI HỘI CHÙA HƯƠNG TẠI ĐÂY

Tags:Văn 3

Theo chúng tôi

Tại Sao Nói: Văn Học Dân Gian Là Cội Nguồn, Là Bầu Sữa Mẹ Nuôi Dưỡng Nên Văn Học Viết Việt Nam

DÀN Ý

– Văn học dân gian có nhiều thể loại

– Nhiều thể loại văn học viết được xây dựng và phát triển dựa trên sự kế thừa các thể loại văn học dân gian.

– Nhiều tác phẩm, nhiều hình tượng do văn học dân gian tạo nên là nguồn cảm hứng, là thi liệu, văn liệu của văn học viết. Nhiều nhà thơ , nhà văn lớn của dân tộc (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh, ….) đã tiếp thu có kết quả văn học dân gian để sáng tạo nên những tác phẩm văn chương ưu tú”.

– Về phương diện nội dung:

+ Văn học dân gian cung cấp cho các nhà văn của mọi thời đại những quan niệm xã hội, đạo đức của nhân dân lao động, của các dân tộc. Ngoài ra, nó còn cung cấp những tri thức hữu ích về tự nhiên xã hội, góp phần quan trọng về sự hình thành nhân cách con người, bảo tồn, phát huy những truyền thồng tốt đẹp của dân tộc như: truyền thống yêu nước, tinh thần hướng thiện, trọng nhân nghĩa, giàu tình thương,…Biểu hiện rõ nhất là ở đề tài, nguồn cảm hứng, tư tưởng nhân ái, tình cảm lạc quan, yêu đời, tình yêu thiên nhiên, đất nước, tình yêu con người,…

– Đề tài tiêu biểu trong văn học dân gian: Số phận người phụ nữ, thân phận người lao động nói chung, tình yêu đôi lứa, những kinh nghiệm sống quý báu, đặc biệt ngợi ca tình cảm gắn bó với quê hương, đất nước,…

– Nguồn cảm hứng: Văn học dân gian thường lấy nguồn cảm hứng từ thiên nhiên, cuộc sống xã hội, lao động sản xuất,… .Đặc biệt, ca dao Việt Nam đã đưa ra những tiêu chí về vẻ đẹp người con gái truyền thống.

– Tư tưởng nhân ái: Văn học dân gian đề cao tình cảm yêu thương con người nhất là thân phận người phụ nữ, người lao động cùng khổ,…

– Về phương diện nghệ thuật:

+ Văn học dân gian cung cấp cho các nhà văn một kho tàng các truyền thống nghệ thuật dân tộc, từ ngôn ngữ đến các hình thức thơ ca, các phương pháp xây dựng nhân vật, hình ảnh, cách nói, các biện pháp tu từ, thể loại, chất liệu dân gian,…

+ Ngôn ngữ: ngôn ngữ văn học dân gian mang đậm tính triết lí, giàu chất thơ song hình thức biểu đạt lại gần gũi, dễ hiểu. Người dân lao động thường dùng những cách nói trong giao tiếp hàng ngày để diễn đạt tư tưởng, tình cảm cũng như đúc kết kinh nghiệm sống.

+ Các biện pháp tu từ: Văn học dân gian thường sử dụng các biện pháp tu từ như: so sánh, ẩn dụ, nhân hoá,… để giúp hình dung một cách cụ thể thông qua những hình ảnh quen thuộc như: hạt mưa, tấm lụa đào, cái giếng, cây đa, bến nước, con thuyền, con đò,…

+ Thể loại: Hơn 90% số bài ca dao sử dụng thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể. Trong ca dao còn có thể thơ khác, như: song thất lục bát, vãn bốn, vãn năm. Nguyễn Du đã rất thành công trong việc sử dụng thể thơ lục bát của dân tộc với tác phẩm “Truyện Kiều”. Ngoài, còn có một số tác phẩm văn học viết cũng được sử dụng thể thơ dân tộc này: “Lục Vân Tiên” (Nguyễn Đình Chiểu), “Lỡ bước sang ngang” (Nguyễn Bính),….

+ Chất liệu dân gian : Các nhà thơ đã sử dụng rất linh hoạt chất liệu dân gian vào tác phẩm của mình

Câu 4 ( Điểm) Mo Rung Vì Sao Nói Bà…

1. Tấm lòng yêu nước của nhà thơ Thế Lữ. Thế Lữ là một trong những gương mặt xuất hiện sớm và nổi bật trong phong trào Thơ mới. Là người mang nặng tâm sự thời thế đất nước. Thế Lữ không tránh khỏi tâm trạng u uất. Bất hoà sâu sắc với thực tại xã hội tù túng, giả dối, ngột ngạt đương thời. Thế Lữ khao khát một cái tôi được khẳng định và phát triển trong một cuộc sống tự do. Tâm sự ấy, niềm khát khao ấy được ông kí thác vào lời con hổ ở vườn bách thú qua bài thơ Nhớ rừng. Trong bài thơ, Thế Lữ xây dựng một nhân vật trữ tình lãng mạn: con hổ. Toàn bộ cảm hứng lãng mạn của Thế Lữ dồn vào việc miêu tả tâm trạng của con hổ. Ban đầu là tâm trạng căm uất, ngao ngán: Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua Đó là nỗi uất hận của kẻ chiến bại nay sa cơ, bị rơi và cảnh sống giam cầm tù túng, phải chịu nỗi nhục nhằn vì bị tù hãm. Càng nghĩ chứa sơn lâm càng ngao ngán, nó đành buông xuôi bất lực nằm dài trông ngày tháng dần qua. Trong tâm trạng uất hận và chán ngán đó, cảnh vườn bách thú hiện ra mới tù túng, tầm thường và giả dối làm sao! Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng, Len dưới nách những mô gò thấp kém; Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm, Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu Của chốn ngàn năm cao cả, âm u. Cảnh sống ấy, đối với con hổ, sao mà đáng chán, đáng khinh và đáng ghét đến vậy! Cảnh vườn bách thú tầm thường, giả dối và tù túng dưới mắt con hổ, phải chăng là cái thực tại xã hội đương thời được cảm nhận bằng những tâm hồn lãng mạn. Và thái độ của con hổ, phải chăng chính là thối độ của họ đối với xã hội đương thời. Tư trong cảnh giam cầm tù hãm, con hổ nhớ tiếc da diết đến đau đớn cả một thời oanh liệt đã qua. Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa

Một cảnh tượng huy hoàng sống lại trong tâm trí con hổ. Nó sống tự do giữa giang sơn của mình chốn đại ngàn với những gì lớn lao, phi thường, mãnh liệt và dữ dội, hoang vu và bí mật: gió gào ngàn, nguồn hét núi, “bóng âm thầm lá gai cỏ sắc”. Trên cái nền thiên nhiên hùng vĩ đó, hình ảnh con hổ hiện ra oai phong, lẫm liệt: Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng. Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng, Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc, Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc, Là khiến cho mọi vật đều im hơi Than ôi, cái mà nó tự do vùng vẫy, được tận hưởng cảnh sống khi thì thơ mộng đến diệu kì những đêm vàng bèn bờ suối… đứng uống ánh trăng tan, khi thì rộn rã tưng bừng bình minh cây xanh nắng gội, tiếng chim ca … tưng bừng khi thì mãnh liệt và dữ dội mưa chuyển bốn phương ngàn, lênh láng máu sau rừng, tất cả đã qua rồi, nay còn đâu? Giấc mơ huy hoàng của con hổ đã khép lại trong một tiếng than đầy u uất: Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu! Nỗi đau và tâm trạng hoài vọng trong lòng con hổ, phải chống cũng chính là nỗi đau và tâm trạng hoài vọng của những người dân Việt Nam khi đó? Nhớ rừng đã chạm tới dây thần kinh nhạy cảm nhất của người dân Việt Nam mất nước, đang sống nô lệ! Càng nhớ tiếc da diết khôn nguôi quá khứ đẹp đầy kiêu hùng, con hổ càng khát khao trở lại rừng thiêng. Khát vọng đó mãnh liệt và cháy bỏng trong lòng nó: Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ! Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa, Nơi ta không còn được thấy bao giờ! Có biết chăng trong những ngày ngao ngán, Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn, Để hồn ta phảng phất được gần ngươi, Hỡi cánh rừng ghế gớm của ta ơi! Bài thơ khép lại bằng một lời nhắn gửi tha thiết. Lời nhắn gửi đó cứ xoáy sâu vào tâm hồn người đọc, ám ảnh họ mãi. Khát vọng trở lại rừng xưa của con hể cũng chính là khát vọng về cuộc sống tự do của cả một lớp người, của cả một dân tộc. Lời con hổ trong vườn bách thú thể hiện tâm trạng bi kịch của con hổ hay cũng chính là nỗi niềm của người dân Việt Nam mất nước khi đó. Họ thấy con hổ nhớ rừng chính là tiếng lòng của mình. Bài thơ đã nói hộ họ nỗi đau khổ vì thân phận nô lệ, thái độ chán ghét cái xã hội đương thời, nỗi nhớ tiếc quá khứ oai hùng, oanh liệt đầy tự hào của dân tộc, và cuối cùng là niềm khát khao tự do đến cháy bỏng. Vì thế, có thể coi Nhớ rừng là một áng thơ yêu nước. Khát vọng tự do và tâm sự yêu nước hoà quyện với vẻ đẹp của tâm hồn lãng mạn, được hiểu hiện bằng một bút pháp nghệ thuật đặc sắc, đã tạo nên vẻ đẹp độc đáo cho áng thơ bất tử này.

Tôi Viết Bài Thơ Sao Đỏ

Ngày ấy tôi vừa ở bộ đội về quê, tham gia công tác thông tin văn hoá xã. Những lần từ nhà lên huyện họp, ngắm nhìn phong cảnh mảnh đất Sao Đỏ đang chuyển mình, bỗng dâng lên một niềm tin. Những năm ấy tôi cũng mới tập làm thơ, viết báo. Nung nấu nhiều ngày và tôi viết bài thơ về quê hương.

Cần nói thêm rằng: Sao Đỏ có một vị trí mang yếu tố phong thủy rõ rệt. Cơ quan đầu não của huyện tựa vào dãy núi vững chắc, thế núi cao dần.  Huyện lỵ vươn dài về phía tây, nơi có lưu vực sông Lục Đầu lịch sử. Đặc biệt, toàn bộ những cánh cửa các phòng làm việc của cơ quan huyện, đều nhìn về phương nam. Ở nơi ấy có bao nhiêu người thân yêu đang sống và chiến đấu… Một ý thơ bỗng trỗi dậy, thật tự nhiên: Dựa lưng vào dãy Côn Sơn Đầu vươn Kiếp Bạc, sóng nguồn Lục Giang Mắt tìm con gió phương nam Sao Đỏ ơi, mảnh đất ngàn yêu thân…

Thế nhưng đất Sao Đỏ trước đó hơn chục năm, rất hoang sơ, nếu không nói là hoang dã. Sỏi đá bơ vơ, đường còm cõi, gồ ghề, đêm là thế giới côn trùng rên rỉ. Thảng hoặc con cầy hương, con chồn chạy vụt qua đường từ khe núi xuống.

Nhưng bấy giờ, tức là năm 1973, Sao Đỏ đã có những đổi thay. Tuy chiến tranh nhưng khắp nẻo đường đều có mạng lưới dây truyền thanh, có treo loa công cộng, suốt ngày đêm vang lên những bản tin về sản xuất, chiến đấu và ca nhạc làm rung động lòng người. Đây đó là những nhà bưu điện, hiệu sách, cửa hàng bách hoá, hiệu thuốc nằm san sát theo hai bên đường phố, mà thực ra là đường 18 đi qua…

Trên lưng chừng Ba Đèo đã thấp thoáng  có mấy ngôi nhà lợp ngói đỏ, vẳng ra tiếng hát ru con… Trong tiếng hát ru của người mẹ trẻ có chồng đi đánh Mỹ, thả lòng mình trong đó, làm cho mảnh đất có thêm sức sống,  có hồn.

Từ cái thực ấy đã tạo cho tôi cảm hứng. Tôi miên man nghĩ tới ngày mai, trên mảnh đất này sẽ có nhiều biến đổi, khi đất nước hoà bình: Ngày mai em đến Côn Sơn Điện lừng khe suối, vui đường thông reo Ngày mai Sao Đỏ đẹp nhiều Núi nhường ống khói sớm chiều vờn mây

Tôi cũng linh cảm rằng, một vùng đất có nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng như Côn Sơn, Kiếp Bạc sẽ là mảnh đất có tiềm năng, thu hút sự chú ý của cả nước vào đây. Trong dòng liên tưởng lãng mạn ấy, tôi hạ bút: Một thành phố của tương lai Đã nghe náo nức bao thai nhân hình.

Bài thơ viết tháng 7 – 1973, nghĩa là khi ấy đất nước đang còn trong chiến tranh, cuộc sống vô cùng gian khổ. Nhưng tôi cứ tin, rằng cái mảnh đất quê hương này sẽ trở thành một thành phố.

Bài thơ đã in ra và phổ biến rộng rãi, được tuyển trong tập thơ “Hải Hưng 1965-1975”, có nhiều nhà thơ Trung ương và địa phương đóng góp tác phẩm.

Sau bốn chục năm bài thơ ra đời, đất Sao Đỏ miền núi ấy đã trở thành phường trung tâm của thị xã Chí Linh.

Bây giờ đọc lại bài thơ, thấy ngôn từ còn thô mộc, xù xì, không có gì là chau chuốt, nhưng tôi vẫn thấy bồi hồi.

KHÚC HÀ LINH (Báo Hải Dương điện tử)

Thế mà 12 năm sau, cảnh Sao Đỏ đã thay đổi. Đường 18 đã xanh bóng cây xà cừ, phi lao, bạch đàn, là kết quả thực hiện lời kêu gọi “Tết trồng cây của Hồ Chủ tịch”. Nông trường, lâm trường và một số cơ quan, trường học đã về đây xây dựng. Phía Lục Đầu Giang người ta đang thi công Nhà máy thuỷ tinh trong thời chống Mỹ, cứu nước.Ngày ấy tôi vừa ở bộ đội về quê, tham gia công tác thông tin văn hoá xã. Những lần từ nhà lên huyện họp, ngắm nhìn phong cảnh mảnh đất Sao Đỏ đang chuyển mình, bỗng dâng lên một niềm tin.Những năm ấy tôi cũng mới tập làm thơ, viết báo. Nung nấu nhiều ngày và tôi viết bài thơ về quê hương.Cần nói thêm rằng: Sao Đỏ có một vị trí mang yếu tố phong thủy rõ rệt. Cơ quan đầu não của huyện tựa vào dãy núi vững chắc, thế núi cao dần. Huyện lỵ vươn dài về phía tây, nơi có lưu vực sông Lục Đầu lịch sử. Đặc biệt, toàn bộ những cánh cửa các phòng làm việc của cơ quan huyện, đều nhìn về phương nam. Ở nơi ấy có bao nhiêu người thân yêu đang sống và chiến đấu…Một ý thơ bỗng trỗi dậy, thật tự nhiên:Thế nhưng đất Sao Đỏ trước đó hơn chục năm, rất hoang sơ, nếu không nói là hoang dã. Sỏi đá bơ vơ, đường còm cõi, gồ ghề, đêm là thế giới côn trùng rên rỉ. Thảng hoặc con cầy hương, con chồn chạy vụt qua đường từ khe núi xuống.Nhưng bấy giờ, tức là năm 1973, Sao Đỏ đã có những đổi thay. Tuy chiến tranh nhưng khắp nẻo đường đều có mạng lưới dây truyền thanh, có treo loa công cộng, suốt ngày đêm vang lên những bản tin về sản xuất, chiến đấu và ca nhạc làm rung động lòng người. Đây đó là những nhà bưu điện, hiệu sách, cửa hàng bách hoá, hiệu thuốc nằm san sát theo hai bên đường phố, mà thực ra là đường 18 đi qua…Trên lưng chừng Ba Đèo đã thấp thoáng có mấy ngôi nhà lợp ngói đỏ, vẳng ra tiếng hát ru con… Trong tiếng hát ru của người mẹ trẻ có chồng đi đánh Mỹ, thả lòng mình trong đó, làm cho mảnh đất có thêm sức sống, có hồn.Từ cái thực ấy đã tạo cho tôi cảm hứng. Tôi miên man nghĩ tới ngày mai, trên mảnh đất này sẽ có nhiều biến đổi, khi đất nước hoà bình:Tôi cũng linh cảm rằng, một vùng đất có nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng như Côn Sơn, Kiếp Bạc sẽ là mảnh đất có tiềm năng, thu hút sự chú ý của cả nước vào đây. Trong dòng liên tưởng lãng mạn ấy, tôi hạ bút:Bài thơ viết tháng 7 – 1973, nghĩa là khi ấy đất nước đang còn trong chiến tranh, cuộc sống vô cùng gian khổ. Nhưng tôi cứ tin, rằng cái mảnh đất quê hương này sẽ trở thành một thành phố.Bài thơ đã in ra và phổ biến rộng rãi, được tuyển trong tập thơ “Hải Hưng 1965-1975”, có nhiều nhà thơ Trung ương và địa phương đóng góp tác phẩm.Sau bốn chục năm bài thơ ra đời, đất Sao Đỏ miền núi ấy đã trở thành phường trung tâm của thị xã Chí Linh.Bây giờ đọc lại bài thơ, thấy ngôn từ còn thô mộc, xù xì, không có gì là chau chuốt, nhưng tôi vẫn thấy bồi hồi.

Du Thuyền Bài Thơ Junk Chuẩn 3 Sao

Họ

Tên

Email

Số điện thoại

Ngày Khởi Hành

Out of stock

Người Lớn

× 2,600,000 ₫

= 2,600,000 ₫

Exceed the maximum number of people for this tour. The number of seats available is 10