Mãi Mãi Sao Chiến Thắng

Ngày 5 tháng 8 năm nay, kỷ niệm ngày chiến thắng trận đầu của quân và dân ta đánh trả cuộc tập kích của không quân Mỹ vào bầu trời miền Bắc khiến mỗi chúng ta như sống lại khí thế hào hùng của cả dân tộc được bộc lộ nhất tề trong một tình cảm thống nhất: quyết tâm bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc trước sự gây hấn xâm lăng của kẻ thù.

Đến hôm nay, lịch sử đã sáng tỏ: Kể cả từ nguồn thông tin tình báo lẫn những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ đều chứng minh rằng không có vụ tấn công nào của quân đội Việt Nam vào chiến hạm Mỹ trong đêm mồng 4 tháng 8 năm 1964 như lời vu cáo của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lúc ấy là Robert McNamara từng nói trước Quốc hội để tạo cớ đưa quân đội Mỹ vào miền Nam nước ta và tiến hành cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc, quyết đưa Việt Nam “trở về thời kỳ đồ đá”.

Trong những tháng ngày trọng đại đó, giới văn học nghệ thuật cả nước đã đồng loạt ra quân sáng tạo nên những áng thơ văn, những ca khúc, những bức ảnh, những thước phim tư liệu hừng hực khí thế quyết tâm bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng. Đến nay, người ta còn nhớ nhiều đến một bài thơ chính luận nổi tiếng của Chế Lan Viên, bài: Sao chiến thắng, được nhà thơ viết vài ngày sau sự kiện này. Mở đầu bài thơ, không nén được căm giận, nhà thơ thốt lên:“Giặc Mỹ mày đến đây/ Thì ta tiêu diệt ngay!/Trời xanh ta nổi lửa/ Bể xanh ta giết mày!” (1). Đúng là  ở vào thời điểm ấy, không thể nào diễn đạt khác hơn những từ ngữ như vậy. Đó là thái độ phản ứng tất yếu trước hành động leo thang ngang ngược bất chấp đạo lý, coi thường luật pháp quốc tế của kẻ thù.

Và, cũng chính ở thời điểm thử thách khốc liệt như vậy, chúng ta mới càng thấu hiểu những tình cảm thiêng liêng có sẵn trong dòng máu mỗi con người Việt Nam về lòng yêu nước nồng nhiệt thống thiết và căm giận không nguôi trước hành động của kẻ thù: “Ôi Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt/ Như mẹ cha ta, như vợ như chồng/ Ôi Tổ quốc, nếu cần, ta chết/ Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông… /Hãy cứ đo bể ta bằng luật điều quốc tế /Trời xanh ta xanh bao nhiêu hải lý/ Nhưng chớ đo lòng căm giận chúng ta / Máu hơn ba chục năm trời ta đã đổ ra”. Một lần nữa, cả dân tộc lại hành quân vào cuộc chiến đấu chống ngoại xâm trên cả hai miền Nam Bắc. Lịch sử thế kỷ Hai Mươi đã ghi đậm nét chiến công của người Việt Nam, một dân tộc nhỏ bé, vũ khí thô sơ nhưng với ý chí quyết tâm vô bờ bến, với sự giúp đỡ hỗ trợ của bè bạn yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới, đã đánh bại cả bộ máy chiến tranh khổng lồ tối tân hiện đại của kẻ xâm lược.

Nhắc lại một áng thơ văn rực lửa yêu thương và căm giận nhân kỷ niệm 47 năm ngày chiến thắng trận đầu của quân và dân miền Bắc đánh trả không quân Mỹ cũng là dịp để chúng ta hiểu sâu thêm sức mạnh tiềm ẩn trong lòng dân tộc, cho dù lịch sử đã đi những bước đi mới, khác, và đã viết những trang trước đây chưa hề có. Vẫn tiềm ẩn trong lòng dân tộc hình ảnh những “Thần chiến thắng là những người áo vải/ Những binh nhất binh nhì mười tám tuổi/  Giết quân thù không đợi có hạt nhân”. Vẫn còn mãi những lời thức tỉnh những ai còn hồ mơ trước những âm mưu thâm độc, phải cảnh giác trước những “chước quỷ mưu ma”: “Hỡi những tấm lòng lạnh tanh máu cá/ Những nhiệt tình xuống quá độ âm!/ Có nghe tiếng ngư lôi và cao xạ?/ Giặc đánh ta thì ta đánh trả / Giữ hòa bình phải đâu bằng mọi giá/ Giá hòa bình là quật ngã bọn xâm lăng”. Và, vẫn mãi mãi rực sáng Sao Chiến Thắng trên bầu trời đất nước, qua mọi thăng trầm của lịch sử nhân loại, những ánh sao phản chiếu tâm hồn, tình cảm, ý chí của dân tộc Việt Nam:“Trời sao cao như là chiến trận/ Sao sáng ngời vũ khí lòng ta”!

NẠI HIÊN

(1) Những chữ in nghiêng trong bài đều trích từ bài thơ “Sao chiến thắng”, in trong Chế Lan Viên toàn tập, Nxb Văn học, H., 2002.

Bài Ca Chiến Thắng Trong Thơ Xuân 68 Của Bác Hồ

Biên phòng – Xuân Mậu Tuất 2024, chúng ta long trọng kỷ niệm 50 năm “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 68”. Trong giây phút thiêng liêng của mùa Xuân, chúng ta không giấu nỗi niềm xúc động, nhớ Bác Hồ, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới với bài thơ Xuân 68 mà Người để lại cho dân tộc ta. Trải qua 50 năm, nhưng âm hưởng, sức lan tỏa của bài thơ vẫn còn vang vọng, thúc giục chúng ta tiến lên giành thắng lợi vẻ vang, to lớn hơn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua

Thắng trận tin vui khắp nước nhà

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên toàn thắng ắt về ta”.

 Lời thơ mừng Xuân của Bác như hồi kèn xung trận. Cả miền Nam vùng lên “Tổng tiến công và nổi dậy”. Vào đúng thời điểm giao thừa của Tết cổ truyền dân tộc, bài thơ chúc Tết của Bác đã trở thành hiệu lệnh tiến công, mở màn cho chiến dịch. Trên chiến trường miền Nam, từ Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đến Cà Mau, Quân giải phóng miền Nam đã bất ngờ đồng loạt tiến công vào hầu hết các thành phố, thị xã; các sào huyệt và cơ quan đầu não của địch. Thành phố Sài Gòn cùng với 34/44 tỉnh – lỵ; 5/6 thành phố lớn; 64/242 huyện, quận của chế độ ngụy quyền Sài Gòn đã bị Quân giải phóng tiến công.

Tại Sài Gòn, nhiều mục tiêu quan trọng như Dinh Tổng thống ngụy quyền, Bộ Tổng Tham mưu, Đài phát thanh, Tòa Đại sứ Mỹ… đều bị tấn công. Tại thành phố Huế, quân ta đánh chiếm 39 mục tiêu quan trọng, giải phóng thành phố và chiếm giữ suốt 25 ngày đêm. Chiến thắng vang dội của quân và dân ta trên chiến trường Xuân 68 đã tạo ra một bước chuyển biến mới, cục diện mới trên chiến trường miền Nam.

Bài thơ chúc Tết Mậu Thân 1968 của Bác đã qua 50 năm, song mỗi người chúng ta, ai cũng rưng rưng xúc động, bởi lời thơ của Bác đã gieo vào lòng người một niềm vui phấn khởi vô bờ. Mở đầu bài thơ, Bác viết “Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua”, thoảng nghe như một lời tiên đoán, nhưng thực ra đó lại là một lời khẳng định, một niềm tin vững chắc vào thắng lợi của mùa Xuân Tổng tiến công và nổi dậy. Câu thơ tiếp theo gieo vào lòng người như một niềm tin, một thông báo tin chiến thắng to lớn của đồng bào và chiến sĩ miền Nam “Thắng trận tin vui khắp nước nhà”.

Câu thơ thứ ba như một lời giao ước thi đua đánh giặc giữ nước giữa hai miền Nam – Bắc. Và câu kết của bài thơ, vang vọng như một lời hịch non sông, thúc giục mọi người thừa thắng xông  lên giành thắng lợi hoàn toàn “Tiến lên, toàn thắng ắt về ta”. Chỉ 4 câu thơ gồm 28 từ, nhưng Người đã vẽ nên một bức tranh toàn cảnh diễn biến chiến trường miền Nam, thông báo với toàn dân và bè bạn quốc tế một tin vui chiến thắng, tạo một lòng tin, quyết tâm tiến lên phía trước nhanh chóng hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Thơ của Bác không dài, giản dị như chính cuộc sống của Người, song mỗi câu thơ và cả bài thơ mang âm hưởng nhạc họa, tươi vui nhưng cũng đầy chất thép. Với lối dùng âm độc đáo và tinh tế, trong 4 câu của bài thơ thì có đến 3 lần Người dùng âm “a” ở cuối câu: “…Xuân qua/ nước nhà/ về ta”, cách dùng âm độc đáo này đã làm cho bài thơ như một bài ca chiến thắng, vừa nhẹ nhàng, vừa hùng tráng, thấm đậm vào lòng người và sống mãi với thời gian. Có lẽ cái đẹp, cái hay và sâu sắc của thơ văn Hồ Chí Minh là ở đó.

PGS, TS Vũ Đăng Hiến

Thơ : “Nửa Hồn Xuân Lộc” & Trận Xuân Lộc Chiến Thắng Cuối Cùng Của Qlvnch –

Tháng 4 lại sắp về, dư âm Trận đánh để đời của SĐ18/QLVNCH qua Trận Xuân lộc của 42 năm về trước trong tháng 4 – cái tháng nghiệt oan với vành khăn tang và nước mắt cho cả Dân tộc VN, như mới vừa xảy ra hôm qua. Mặc dầu bị đồng minh đành đoạn bỏ rơi và bức tử, trong Trận đánh cuối cùng của Cuộc chến VN, QLVNCH đã ghi một chiến công kiêu hùng vàng son để lại trong Quân sử và Lịch sử mai sau cho những thế hệ hậu duệ. Với một lực lượng chủ lực hùng hậu của các Sư đoàn xâm lược với mọi quân binh chủng, đoàn quân xâm lăng đã bị ngăn chận bởi những chiến sỉ kiêu dũng SĐ 18 cùng các lực lượng trừ bị thiện chiến của QLVNCH và nhất là sau khi bị tan tác bởi hai quả bom CBU, Cộng quân đành bỏ “cục xương khó nuốt” Xuân lộc tiến về tấn chiếm Biên Hòa. SĐ 18 không thua nhưng đã lui binh chiến thuật về giử phần đất còn lại Bà Rịa, Vủng Tàu trong thân phận của đất nước đang cơn hấp hối. Chiếm Miền Nam, Bắc Cộng đã hoàn thành công cuộc xâm lược một đất nước luôn bảo vệ giá trị của Tự do và Nhân bản với thời cơ “mèo mù vớ được cá ráng”. Chiêu bài “giải phóng Miền Nam” chỉ là khẩu hiệu giả trá, ma mị bịt che cặp mắt mù lòa của TG, trả giá bằng mấy triệu sinh mạng của người dân hai miền. Những tư liệu hình ảnh Lịch sử của hai cuộc di cư và di tản vỉ đại có một không hai trong Lịch sử nhân loại làm kinh hoàng cả TG loài người vào 1954 – 1975 là cuộc bỏ phiếu bằng chân thiết thực nhất của Dân tộc VN : “Cộng quân đến đâu, dân chạy trốn đến đấy “ Cái gọi là “giải phóng” của họ thế đó !

Anh để lại nửa hồn cho Xuân Lộc Nửa hồn đau theo vận nước nổi trôi Trận chiến để đời mang vào tù ngục Dầu ngả đau vẩn đứng thẳng làm người …. mặc nhân thế –

NỬA HỒN XUÂN LỘC

Xin được chép lại bài thơ “Nửa Hồn Xuân Lộc” một bài thơ quá bi hùng của người lính Sư Đoàn 18BB khi phải nhận lệnh rút quân khỏi Xuân Lộc vào trung tuần tháng 4/1975. Tác giả bài thơ là Nguyễn Phúc Sông Hương, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ3, Sư Đoàn 18BB

Nếu được như bố già thượng sĩ Nghe tin lui quân chỉ nhìn trời, Vỗ về nón sắt, cười khinh bạc, Chắc hẳn lòng ta cũng thảnh thơi.

Còn ta nhận lệnh rời Xuân Lộc Lại muốn tìm em nói ít lời, Nhưng sợ áo mình đầy khói súng Cay nồng mắt người gục trên vai.

Vì chắc ôm nhau em sẽ khóc, Khóc theo, vợ lính cả trăm người! Em biết dù tim ta sắt đá Cũng vỡ theo ngàn giọt lệ rơi.

Mây xa dù quen đời chia biệt Ngoảnh mặt ra đi cũng ngậm ngùi. Rút quân, bỏ lại hồn ta đó Bảo Chánh, Gia Rai lửa ngút trời!

Bí mật lui quân mà đành phụ Mối tình Long Khánh tội người ơi. Mất thêm Xuân Lộc tay càng ngắn Núm ruột miền Trung càng xa vời.

Sáng mai thức dậy, em buồn lắm Sẽ khóc trách ta nỡ phụ người. Lòng ta như trái sầu riêng rụng Trong vườn em đó vỡ làm đôi!

Đêm nay Xuân Lộc vầng trăng khuyết Như một vành tang bịt đất trời! Chân theo quân rút, hồn ta ở Sông nước La Ngà pha máu sôi

Thương chiếc cầu tre chờ thác lũ

Cuốn qua Xuân Lộc khóc cùng người Ta đi, áo nhuộm màu đất đỏ Cao su vướng tóc mãi thơm mùi,

Tiếc quá nắng vàng phơi áo trận,

Vườn nhà em chuối chín vàng tươi. Ta nhớ người bên đàn thỏ trắng, Cho bầy gà nắm lúa đang phơi,

Chôm chôm hai gốc đong đưa võng,

Ru nắng mùa xuân đẹp nụ cười… Nếu được đưa quân lên Định Quán Cuối cùng một trận cũng là vui

Núi Chứa Chan kia sừng sững đứng

Sư đoàn 18 sao quân lui? Thân ta là ngựa sao không hí Cho nỗi đau lan rộng đất trời.

Hồn ta là kiếm sao không chém

Rạp ngã rừng xanh, bạt núi đồi. Hỡi ơi! chân bước qua Bình Giã Cẩm Mỹ nhà ai khói, ngậm ngùi!

Lửa cháy, cả lòng ta lửa cháy Xóm làng Gia Kiệm nhớ khôn nguôi. Đêm nay Xuân Lộc, đoàn quân rút Đành biệt nhau, xin tạ lỗi người.

Chao ơi tiếng tắc kè thê thiết Kêu giữa đêm dài sợ lẻ loi, Chân bước, nửa hồn chinh chiến giục Nửa hồn Xuân Lộc gọi quay lui.

Ta biết dưới hầm em đang khóc Thét gầm pháo địch dập không thôi Em ơi Xuân Lộc, em Xuân Lộc Xích sắt nghiến qua những xác người.

TRẬN XUÂN LỘC CHIẾN THẮNG CUỐI CÙNG CỦA QLVNCH

Ngày 23/05/2007 – Đầu tháng 4 năm 1975, QK 1 và QK2 đã lọt vào tay CSBV, hai phòng tuyến chính của VNCH phía đông bắc Sài Gòn bấy giờ là Phan Rang và Xuân Lộc thuộc Long Khánh. Từ 25-3-1975 Bộ chính trị CSBV quyết định đốt giai đoạn cuộc tổng tấn công, tập trung các lực lượng binh khí kỹ thuật đánh chiếm Sài Gòn trước mùa mưa. Xuân Lộc cách Sài Gòn khoảng 80 cây số, cửa ngõ của Thủ đô, phòng tuyến Xuân Lộc rất quan trọng vì nó nó là vị trí yết hầu, CSBV từ miền Trung nếu chiếm được Xuân Lộc sẽ đổ xuống Sài Gòn. Từ đầu tháng 4-1975 sư đoàn 18 BB, các đơn vị thiết giáp, Biệt động quân, pháo binh tăng cường đã được đưa lên trấn đóng trên một tuyến dài 20 km. CSBV mở đầu chiến dịch Hồ chí Minh bằng cuộc tấn công Xuân Lộc từ ngày 9-4, trận chiến đẫm máu kéo dài 11 ngày, đây là một chiến thắng cuối cùng của QĐVNCH trước ngày đất nước lọt vào tay CS. Chiến tuyến Xuân Lộc được thiết lập dọc theo Quốc lộ 1 dài dộ hơn 10 Km về phía tây và 8 km về phía đông. Chiến đoàn 52 (gồm trung đoàn 52 thuộc sư đoàn 18 + tăng phái)) và Thiết đoàn xe tăng giữ mặt tây tại ngã ba Dầu Giây trên đường đi Đà Lạt, Trung đoàn 48 (sư đoàn 18 BB) và Liên đoàn 7 Biệt động quân phòng thủ mặt đông từ núi Chứa Chan, Giá Rai đến Xuân lộc. Thị xã Xuân Lộc do Trung đoàn 43 (sư đoàn 18 BB) và các tiểu đoàn địa phương quân Long Khánh bảo vệ. Tướng Lê Minh Đảo Tư lệnh sư đoàn đóng tại Tân Phong phía nam Xuân Lộc 3 cây số . CSBV đưa vào mặt trận sư đoàn 6 (2300 người), sư đoàn 7(4100 người), sư đoàn 341, sư đoàn 1 (3400 người), sư đoàn 325 (5000 người), Trung đoàn 95B (1200 người), tổng cộng khoảng 1700 người. Biết trước địch sẽ tấn công Xuân Lộc Long Khánh, Tướng Đảo đã chuẩn bị trận địa chờ địch, ông khuyến khích dân chúng di tản, cho di chuyển các trại gia binh, bệnh viện, thương binh cùng các cơ sở chuyên môn về hậu cứ, ông cũng cho sửa sang các phòng tuyến, đào giao thông hào chuẩn bị chiến đấu . Theo Hồ Đinh (Sư Đoàn 18 Bộ Binh Và Những Ngày Tử Chiến Tại Xuân Lộc) truyền tin của ta tại chiến trường rất giỏi, đã bắt và giải mã được tần số VC, biết trước lệnh tấn công của địch nên đã tránh được nhiều tổn thất cho phía VNCH. Năm giờ sáng 9-4 VC pháo kích thị xã Xuân Lộc trong 2 tiếng đồng hồ khoảng 3000 quả đại bác giết hại vô số thường dân, tại nhà thờ thị xã dân chúng đang hành lễ bị trúng đạn pháo kích chết nhiều. Pháo vừa ngưng tức thì bộ binh, xe tăng VC ào ạt tiến vào, quân trú phòng chống trả ác liệt, hơn 10 xe tăng VC bị bắn hạ sau 6 tiếng đồng hồ giao tranh. Hai tiểu đoàn đặc công VC bị thiệt hại nặng , hơn 100 tên bỏ xác tại trận, VC rút lui giữa ban ngày bị máy bay, pháo binh ta truy kích dữ dội. Địa phương quân Long Khánh phòng thủ mặt bắc chiến đấu rất dũng cảm. Trưa hôm ấy VC chém vè, sáng hôm sau 10-4 sư đoàn 6, sư đoàn 7 VC tấn công tuyến phòng thủ Long Khánh , hai trung đoàn VC giao tranh ác liệt với chiến đoàn 52, một số tiền đồn các cao điển trên Quốc lộ 20 bị mất, tuyến phòng thủ của chiến đoàn nay thu ngắn lại còn chừng 10 km. Đêm 11-4 tiểu đoàn 2 của chiến đoàn đã phục kích đánh tan một tiểu đoàn VC đang di chuyển trên đường từ đồn điền Bình Lộc về Xuân Lộc. Một đoàn xe 30 chiếc chở đầy bộ đội, đạn dược, lương thực, quân dụng.. bị lọt ổ phúc kích của tiểu đoàn 2/52 , hàng ngũ địch bị rối loạn vì chúng bị hoàn toàn bất ngờ. VC bị bắn chết như rạ ngay khi còn trên xe cũng như nhẩy xuống đất, cả tiểu đoàn bị chận đánh tơi bời, hằng trăm tên bỏ xác tại trận. Trên phòng tuyến chính từ 10-4 những trận đánh cấp trung đoàn đã diễn ra tại phía bắc, phía đông và đông nam Long Khánh. Sau trận đánh mở đầu thất bại, hôm sau 10-4 CSBV đem 2 sư đoàn 6, 7 cùng với xe tăng đại bác tiến đánh toà hành chánh và tiểu khu, sân bay thị xã và tây bắc Long Khánh. Trưa 10-4 VC di chuyển trên tỉnh lộ từ Định Quán xuống bị máy bay trinh sát của ta phát hiện, không quân VNCH liền được gọi tới oanh kích gây nhiều thiệt hại nặng cho địch, hàng chục xe tăng, hằng trăm VC bị tiêu diệt. Hai trung đoàn VC từ hướng bắc Long Khánh ồ ạt tấn công vị trí phòng thủ của BĐQ và trung đoàn 48 BB nhưng bị thảm bại, hàng trăm tên bỏ xác tại trận. Sang ngày thứ tư 12-4 mặt trận Long Khánh được ï tăng cường lữ đoàn dù và một tiểu đoàn pháo, cuộc đổ quân bằng trực thăng vận vĩ đại đã được sư đoàn 3 và 4 không quân thực hiện đúng thời gian qui định. Lữ đoàn Dù đã giao tranh dữ dội với Cộng quân để yểm trợ cho các lực lượng trú phòng. Hai tiểu đoàn VC đã đột nhập thị xã chiếm được một số cơ sở hành chánh quân sự, ĐPQ và trung đoàn 43 đã dũng cảm đẩy lui địch, nhờ sự chiến đấu anh dũng của các đơn vị trú phòng Xuân Lộc vẫn còn đứng vững. Tỉnh trưởng Long Khánh Đại tá Phạm Văn Phúc, sĩ quan BĐQ mới nhậm chức từ cuối tháng 3-1975, kiên quyết giữ vững vị trí chiến đấu bảo vệ Long Khánh, ông đã cho lệnh bắn bỏ những kẻ đào ngũ khiến cho tinh thần binh sĩ được nâng cao, ai nấy chiến đấu anh dũng cho tới khi Bộ chỉ huy tiểu khu phải rời về phía Nam Xuân Lộc. Tướng Smith đã tường trình về Mỹ, ông đã ghi nhận không quân VNCH đã chứng tỏ ý chí kiên cường gây thiệt hại nhiều cho đối phương . Trận giao tranh nhằm kiểm soát Xuân Lộc, VC quyết tâm tiêu diệt các đơn vị phòng thủ VNCH để lấy cửa ngõ vào Biên Hoà và Sài Gòn bằng bất cứ giá nào. Sáng ngày 13-4 QĐVNCH vẫn giữ vững vị trí, nhờ sự yểm trợ chính xác của không quân, lực lượng phòng thủ đã gây thiệt hại nặng nề cho VC.

Sang ngày 14-4, 15-4 chiến đoàn 52 và ĐPQ đã bị thiệt hại và mệt mỏi vì giao tranh liên tục với quân số đông đảo của CSBV . Tại Ngã ba Dầu Giây trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt, BV tung thêm nhiều sư đoàn có xe tăng yểm trợ cùng với pháo binh để chọc thủng phòng tuyến của ta tại ngã ba Dầu Giây do chiến đoàn 52 bảo vệ. Trong trận đánh cuối cùng này các chiến sĩ ta phải đương đầu với một lực lượng địch đông gấp mười lần cùng với sự yểm trợ dữ dội của pháo binh và xe tăng T-54. Tướng Toàn xin lệnh Bộ TTM cho ném bom Daisy Cutter, hồi đó còn gọi là bom CBU để ngăn sức tiến của Cộng quân. Hôm sau 16-4 vào lúc 11 giờ sáng hai trái bom khổng đã được thả xuống vị trí đóng quân của BV cùng với một đoàn xe dài đầy những xe tăng đại bác trên quốc lộ 20 từ Định Quán trở xuống. Có vào khoảng 2 sư đoàn, 10 ngàn cán binh VC bị tiêu diệt, hằng trăm thiết giáp, đại bác bị phá huỷ, CSBV bị chận đứng tại Dầu Giây. Ngày 20-4 Tướng Toàn bay vào Long Khánh gặp Tướng Đảo bàn kế hoạch rút quân bỏ Xuân Lộc. Sau này tại hải ngoại Tướng Toàn đã trả lới Phạm Huấn trong một cuộc phỏng vấn về chiến trường Long Khánh. Nguyễn Văn Toàn cho biết sau khi phòng tuyến của chiến đoàn 52 bị CS tràn ngập đêm 15-4, ông đã xin lệnh Bô TTM cho ném bom Daisy Cutter vì VC tập trung rất đông đảo trong vùng này, BTTM đã chấp thuận đề nghị và cho thi hành ngay hôm sau. “Hỏi: Trung Tướng có được báo cáo về kết quả sau khi những trái bom này được thả? Đáp: Vâng, khoảng hai sư đoàn Cộng sản bị loại khỏi vòng chiến (hơn 10 ngàn quân) và rất nhiều chiến xa T-54, đại pháo của Bắc Việt bị hủy diệt khi đang di chuyển trên Quốc lộ 20, từ Định Quán xuống ngã ba Dầu Giây. Tôi đã đề nghị thả 5 bom ’Daisy Cutter’ nữa xuống nhiều vùng tập trung quân khác của Cộng Sản Bắc Việt trên chiến trường Quân Đoàn III sau khi biết chắc rằng những pháo đài bay B- 52 của Mỹ không còn trở lại ViệtNam, và để quân ta có thể bung ra phản công, tiêu diệt địch, nhưng chỉ có 2 quả được thả xuống phía Bắc Dầy Giây mà thôi. Hỏi: Lý do? Đáp: Tôi được thông báo cho biết loại bom ’Daisy Cutter’ tùy thuộc vào đầu nổ, và các chuyên viên của Mỹ. Mình có bom, nhưng không có đầu nổ và chuyên viên xử dụng cũng như không! Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước trang 164. Mặc dù sáng 20-4 lữ đoàn Dù và thiết giáp đụng dộ VC giữa ban ngày, ta tiêu diệt gần 2 trung đoàn VC nhưng theo Tướng Toàn phòng tuyến này không thể giữ được nữa, VC bị thiệt hại nặng nhưng chúng vẫn còn 4 sư đoàn chính qui, nếu còn cố giữ Dầu giây thì sư đoàn 18 BB và lữ đoàn Dù sẽ bị tiêu diệt hết. CS đang chuẩn bị kế hoạch 2 tiến về Sài Gòn với 5 sư đoàn ở mặt trận phía đông sẽ tấn công thẳng vào Bộ Tư Lệnh Quân đoàn 3 ở Biên Hoà, trường thiết giáp, trường bộ binh Long Thành, 3 sư đoàn BV nữa ở tây bắc Sài gòn sẽ chiếm Tây Ninh nên ông đã cho lệnh bỏ Long Khánh về lập phòng tuyến mới phòng thủ Biên Hoà. Rút bỏ Long Khánh là một quyết định đúng vì BTTM và BTL Quân đoàn 3 tránh thiệt hại vô ích cho sư đoàn 18 BB. Vị trí Xuân Lộc lúc bắt đầu trận chiến là cửa ngõ phía đông bắc để vào Sài Gòn. Quân đoàn 2 CSBV sau khi phá vỡ tuyến phòng thủ Phan Rang đang theo Quốc lộ 1 tiến về Sài Gòn nên vị trí của Xuân Lộc bây giờ không còn quan trọng nữa. Theo Hồ Đinh kế hoạch lui binh có tổ chức và các cấp đều sát cánh với nhau. “ Tóm lại cuộc lui quân coi như thành công , nhờ có tổ chức, kế hoạch và trên hết, chính Tướng Đảo cũng như tất cả các đơn vị trưởng từ Tỉnh Trưởng Phạm Văn Phúc, Đại Tá Đỉnh , Lữ đoàn trưởng Dù..đều đi bộ và tác chiến như lính. Thử hỏi sao không đạt được chiến thắng? ( Sư Đoàn 18 Bộ Binh Và Những Ngày Tử Chiến Tại Xuân Lộc.) Sư đoàn 18 BB bị thiệt hại khoảng 30% quân số, chiến đoàn 52 bị thiệt hại tới 60%, ĐPQ, nghĩa quân bị thiệt hại nhiều nhất, hơn 5000 quân CSBV bị tử thương cùng 37 chiến xa bị bắn cháy, chưa kể hai sư đoàn đã bị bom Daisy Cutter tiêu diệt. Nói về tinh thần chiến đấu của sư đoàn 18 BB tại Long Khánh tháng 4-1975 Ông Dawson, trưởng nhóm phóng viên hãng thông tấn UPI viết: “…Trận đánh kéo dài một ngày nữa, rồi lại một ngày nữa, và cứ thế. Tướng Đảo và binh sĩ của ông đã đánh một trận đánh mà ít người dám nghĩ rằng họ có thể làm được. CS tung vào Xuân Lộc một sư đoàn nữa. Sư đoàn 18 vẫn tiếp tục chống cự. Ngày 10 tháng 4. Cộng quân lại đánh vào giữa thị xã và lại bị đẩy lui. Ngày 12, quân CSBV vẫn không tiến thêm được chút nào. Hai trung đoàn của quân đội nam Việt Nam không những đã giữ vững được vị trí mà còn phản công dữ dội hơn… Thêm 2000 đạn nữa rót vào Xuân Lộc, xé nát mọi vật. Sư đoàn 18 vẫn đứng vững. Tướng Đảo ở lại bên các binh sĩ của ông và tiếp tục chiến đấu”. Nguyễn Đức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, trang 790. Thượng tuần tháng 4-1975, đài phát thanh và truyền hình tại Sài Gòn ca ngợi chiến thắng Long An (Thủ Thừa) “Chiến thắng Long An và Long Khánh là những nhát búa đập lên đầu bọn chủ bại”, mục đích nâng cao tinh thần quân dân. Lê Đức Thọ cũng phải công nhận thất bại tại trận Thủ Thừa, Long An và Xuân Lộc, Long Khánh. “Sau hai lần B2 xin quân thì tôi vào chiến trường gặp lúc hội nghị miền vừa kết thúc. Tôi được nghe anh em báo cáo lại là đã bàn về việc đánh Xuân Lộc. Lúc ấy tôi cũng được biết trước đó, theo chủ trương của Miền, anh em đã đánh Thủ Thừa, đường số 4, nhưng bị thiệt hại nặng nề, không giải quyết được chiến trường ? Ngoài ra, còn có bọn địch ngoan cố chống cự như trận đánh vào Đồng Dù (Củ Chi), Nước Trong (Trường Thủ Đức, Trường Thiết Giáp) là các trận đánh ác liệt tại miền Đông, thương vong của ta không phải ít. Do đó tôi mới có ý toan bàn với các đồng chí ngưng đánh Xuân Lộc lại. Nhưng nghe anh Dũng nói, tôi cũng nghĩ có thể mình mới vào chưa rõ hết tình hình; cứ để các đồng chí đánh vậy. Kết cục là anh em ta không đánh được Xưân Lộc, bị thương vong nặng phải rút ra”. CTVNTT, trang 791, 792 Darcourt, sử gia người Pháp nhận xét: “Trong hai ngày pháo binh CSBV tác xạ hơn 8000 trái đạn vào các vị trí của sư đoàn 18. Liên lạc vô tuyến với Bộ Chỉ Huy của Tướng Đảo bị gián đoạn rồi lại được tái lập. Quân của ông bám sát trận địa, chiến đấu cực kỳ dũng mãnh và nhất định không lùi, mặc cho những trận mưa lửa cứ trút lên đầu họ” CTVNTT, trang 791. “Với ba sư đoàn 7, 341 và 16, Văn Tiến Dũng tin tưởng sẽ chiếm được Xuân Lộc một cách dễ dàng. Ông đã lầm, sư đoàn 18 chưa bao giờ được xem là một sư đoàn thiện chiến của miền Nam VN. Trái lại, có lần sư đoàn này còn được xem là sư đoàn tệ nhất. Thế mà trong những ngày cuối cùng của chiến tranh VN, sư đoàn này đã chiến đấu một cách dũng cảm. Không những họ đã giữ vững được trận địa mà lại còn phản công mỗi ngày” (D,Warner, người Úc) CTVNTT, trang 790, 791. Tướng Smith, trưởng phòng DAO Mỹ tại Sài Gòn đã phúc trình cho TMT lục quân: “Chúng tôi đã tạo được một chiến thắng. Tại chiến trường Long Khánh, rõ ràng QĐVNCH đã chứng tỏ sự quyết tâm và anh dũng chống lại địch quân đông hơn gấp nhiều lần. Mặc dù chiến trường chỉ mới qua giai đoạn một, chúng tôi có thể nói không ngần ngại rằng QĐVNCH đã thắng vòng đầu” CTVNTT, trang 791 Văn Tiến Dũng, người chỉ huy chiến dịch Hồ chí Minh đã phải công nhận tinh thần chiến đấu dũng mãnh của QĐVNCH tại mặt trận Long Khánh như sau: “Các sư đoàn 7, sư đoàn 6 và sư đoàn 341 của ta đã phải tổ chức tiến công nhiều lần vào thị xã, đánh đi đánh lại diệt từng mục tiêu và phải nhiều lần đẩy lùi các cuộc tập kích của địch. Trung đoàn 43 địch bị tổn thất nặng. Pháo binh chiến dịch và pháo binh đi cùng các sư đoàn của ta đã phải dùng thêm cơ số đạn. Xe tăng, xe bọc thép của ta một số bị hỏng, một số phải trở về vị trí xuất phát tiến công để bổ sung xăng dầu, đạn dược. Kế hoạch tiến công Xuân Lộc của Quân đoàn 4 lúc đầu chưa tính hết được sự phát triển phức tạp của tình hình, chưa đánh giá hết tính chất ngoan cố của địch. Tính chất giằng co ác liệt qua trận đánh này không phải trong phạm vi của Xuân Lộc-Long Khánh nữa rồi… Đại Thắng Mùa Xuân trang 174. Sau khi QK1 và QK 2 bị thảm bại trên đường triệt thoái, Quân đội VNCH tại QK 3 ai nấy đều rất xúc động tủi nhục cho danh dự quân đội và quyết tâm phản công lại các lực luợng CSBV tới cùng. Tại Long Khánh từ ông Tướng Tư lệnh cho tới người lính trơn, từ bộ binh chính qui cho tới Địa phương quân, nghĩa quân, ai nấy đều chiến đấu rất kỷ luật can trường. Theo Phạm Huấn Đại Tá Phạm Văn Phúc Tỉnh trưởng Long Khánh đã tử trận cùng hằng nghìn chiến sĩ khác, nhưng theo Hồ Đinh ông Phúc đã bị VC bắt sống tại trận. Mặc dù tinh thần chiến đấu của quân ta còn rất cao, các đơn vị vẫn còn giữ vũng Xuân Lộc nhưng Tướng Toàn cũng phải cho lệnh di tản về phía Nam vì biết không thể nào chống lại lực lượng đông đảo của địch. CSBV hối hả đưa đại binh vào chiến dịch đánh chiếm Sài Gòn trước khi mùa mưa tới, chúng dốc hết cả túi tiền đánh xả láng canh bạc cuối cùng , sẵn sàng đẩy hằng hà sa số thanh niên vào chỗ chết để nuốt trọn miền Nam. Toàn bộ 5 quân đoàn 1, 2, 3, 4, 232 của CSBV cùng với trên 10 trung đoàn độc lập, tổng cộng gần 20 sư đoàn BB, 280 ngàn người, với sự yểm trợ của hơn 20 trung đoàn xe tăng, pháo binh, phòng không. Đạn dược, tiếp liệu của địch dồi dào, trong khi ấy chủ lực quân toàn quốc và vũ khí tối tân của VNCH như xe tăng, đại bác đã bị thiệt hại tới 40% do hậu quả của hai cuộc triệt thoái thất bại miền Trung, đạn dược tiếp liệu của ta thiếu thốn. Chiến thắng Long Khánh được coi như chiến thắng cuối cùng của miền Nam trước ngày mất nước, mặc dù có gây được tiếng vang và lấy lại được uy thế cho QĐVNCH nhưng cũng không cứu vãn nổi tình thế đã quá bi đát. Quyết định của Tướng Toàn hợp lý vì ông không muốn để cho sư đoàn 18 và các đơn vị tăng phái thiệt hại vô ích. Bom Daisy Cutter vào khoảng tháng 4-1975 thường được dân Sài Gòn gọi là bom CBU, ngày 21-4-1975 chúng tôi được nghe một ông dân biểu, có chức vụ lớn tại hạ viện cho biết: “Mặt trận cuối cùng sẽ là mặt trận Biên Hoà, CSBV sẽ mất 10 sư đoàn, mình đã chuẩn bị bom CBU đầy đủ cả rồi chỉ chờ nó đến”. Ông ấy cũng cho biết tin này do một ông Tướng nói lại. Có thể do bọn “xịa” tung ra để ru ngủ đồng bào ngõ hầu chúng dễ bề cuốn gói ra đi êm thắm. Theo lời Tướng Toàn như đã nêu trên, người Mỹ chỉ cho ngòi nổ để ném hai qua? CBU, họ nắm đằng chuôi từ đầu chí cuối tất cả mọi chuyện, bom thì để sẵn đó nhưng chưa cho ngòi nổ. Có giả thuyết cho rằng người Mỹ cho ném 2 quả CBU để ngăn chận bớt đà tiến quân của BV để họ kịp thời di tản, họ cảnh cáo BV. Cũng có người cho rằng họ chỉ cho ném 2 quả để thí nghiệm vũ khí, cả hai giả thuyết đều có thể đúng. Tất cả những gì người Mỹ làm đều nhằm vào những mục đích riêng tư của họ và không bao giờ đếm xỉa tới xương máu của cả hai miền Nam Bắc. Sinh mạng của nhân dân ta chẳng qua cũng chỉ là vật thí nghiệm cho một cuộc chiến tranh phản bội. Hồi ấy có người nói “Nó cố tình bỏ mình chứ nếu không nó lấy CBU nó ném thì VC chết hết chứ sống sao nổi?” Trước khi cuộc lui binh khỏi Xuân Lộc bắt đầu, ngày 18-4 Uỷ ban Quốc phòng Thượng viện biểu quyết bác bỏ bác bỏ đề nghị viện trợ khẩn cấp cho VNCH của Tổng thống Mỹ, họ chỉ cho tiền cứu trợ di tản. Hai hôm sau cuộc lui binh, ngày 23-4-1975 tại đại học Tulane, New Orléans, Tổng thống Ford tuyên bố “Đối với Hoa Kỳ chiến tranh VN đã kết thúc” …. Sư đoàn 18 BB, ĐPQ Long Khánh cùng các đơn vị tăng phái đã liều thân sống chết chống trả cuộc tấn công vũ bão của quân thù, đã chận đứng cuộc tiến quân của địch tại Dầu Giây, Xuân Lộc. Nhưng mọi nỗ lực và hy sinh gian khổ của binh lính để giữ vững phòng tuyến, xương máu của biết bao nhiêu chiến sĩ cuối cùng cũng chỉ là “dạ tràng xe cát”, nước lã ra sông… “ Khi Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, buông súng, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo dừng quân trên xa lộ Biên Hoà, nhìn vào hướng Trường Bộ Binh Thủ Đức, Long Thành Bà Rịa, và xa kia Xuân Lộc, Long Khánh, gần hơn Trung Liệt Đài của Nghĩa Trang Quân Đội, Long Bình. Ông thấy thấp thoáng bức tượng Tiếc Thương tạc hình Người Lính Chờ Đợi in hình trong không gian mờ khói đạn. Người lính cuối cuộc chợt thoáng nhớ những lời thơ ngắn: “ vì anh là lính áo rằn Ra đi nào biết mấy trăng mới về…’ Những câu thơ của em ông, Trung tá Lê Hằng Minh, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến ’Trâu Điên’, người lính đã ra đi từ một ngày Hè năm 1966 nơi chiến trường Thị-Thiên…… ..rất nhiều người lính đã ra đi, không trở về từ những vùng đất không hề biết. Hôm nay sáng 30 tháng Tư năm 1975, rất nhiều người lính không còn chốn trở về… Phan Nhật Nam, Những Người Lính Chiến Trường Xưa.

Trọng Đạt

Suy Nghĩ Về Câu Thơ Của Tô” Hữu: Ai Chiến Thắng Mà Không Hề Chiến Bại/ Ai Nên Khôn Mà Chẳng Dại Đôi Lần ?. Trên Cơ Sở Cách Hiểu Câu Thơ Này, Hãy Bàn Luận, Đề Xuất Ý Kiến Về Biểu Hiện Cũng Như Quan Hệ Của Thắng Và Bại, Khôn Và Dại Trong Cuộc Sống.

1. Tìm hiểu đề

Đề bài yêu cầu trình bày cách hiểu về câu thơ của Tố Hữu: Ai chiến thắng mà không hề chiến bại / Ai nền khôn mà chẳng dại đôi lần?. Trên cơ sở cách hiểu câu thơ này, người viết cần bàn luận, đề xuất ý kiến về biểu hiện cũng như quan hệ của thắng và bại, khôn và dại trong cuộc sống.

Mở bài:

– Giới thiệu nội dung vấn đề.

– Trích dẫn câu thơ và nêu định hướng bài viết.

Thân bài:

1. Cắt nghĩa:

– Cắt nghĩa từ ngữ trong câu thơ Tố Hữu: tập trung vào các từ: “thắng”, “bại”, “khôn”, “dại”; sau đó cắt nghĩa ý nghĩa trong câu thơ.

– Khái quát chung những ý nghĩa của vấn đề được đặt ra trong hai câu thơ của Tố Hữu.

2. Lí giải:

– Mối quan hệ giữa “thắng” và “bại”, “khôn” và “dại” trong cuộc sống.

– Con đường, cách thức để mỗi người có thể “thắng” sau “bại”, “khôn” sau “dại”.

3. Đánh giá:

– Ý nghĩa lời khuyên từ câu thơ Tố Hữu: một bài học kinh nghiệm rất bổ ích với những ai từng thất bại hoặc mắc sai lầm.

– Tác dụng bồi đắp nhận thức, tư tưởng và gợi mở cách đánh giá con người.

Kết bài:

– Trình bày cảm nhận, suy nghĩ riêng của bản thân.

Mở bài:

– Chiến thắng là mục đích hướng tới, khôn ngoan là điều cần hướng tới. Song sự thất bại, dại dột, lỡ lầm cũng là một thực tế trong cuộc sông của con người.

– Theo lẽ thường, khi thất bại ta dễ bi quan, chán nản; khi sai lầm, ta dễ tự ti, thậm chí thu mình lẩn tránh.

– Lời khuyên của Tố Hữu về vấn đề này:

Ai chiến thắng mà không hề chiến bại Ai nền khôn mà chẳng dại đôi lần?.

Thân bài:

1. Cắt nghĩa:

– “Thắng”: vượt qua sự cản trở hoặc vượt qua một đối thủ nào đó để khẳng định được bản lĩnh, sức mạnh và khả năng của bản thân.

– “Khôn”: sự hiểu biết, khéo léo trong hành động và ứng xử trước mọi tình thế, mọi hoàn cảnh.

– “Bại” và “dại”: ngược lại với “thắng” và “khôn”.

– “Ai chiến thắng mà không hề chiến bại”:

+ Thắng và bại luôn tồn tại bên cạnh nhau như một thực tế khách quan của đời sông.

+ Chiến thắng vẫn có thể có sau nhiều lần thất bại.

+ Không có ai không từng gặp thất bại trong cuộc sống.

– “Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần?”:

+ Không ai ngay lập tức đã trở thành người khôn ngoan. Sự khôn ngoan chỉ có được sau cả một quá trình học tập, tích luỹ, trải nghiệm.

+ Khôn và dại là những biểu hiện thường có trong cuộc đời mỗi con người. + Mỗi lần dại dột sẽ là một bài học cuộc sống. Những bài học ấy sẽ giúp ta trưởng thành lên (khôn lên).

– Về thực chất, hai câu thơ không hướng tới khẳng định việc chiến thắng từ chiến bại, khôn từ dại mà có ý nghĩa như một lời động viên, khích lệ con người trong cảnh ngộ thất bại, lỡ lầm. Tuy nhiên, trong mối quan hệ với thực tế, nó có ý nghĩa như một bài học về thắng và bại, khôn và dại.

2. Lí giải:

– Mối quan hệ giữa “thắng” và “bại”, “khôn” và “dại” trong cuộc sống:

+ Để chiến thắng, cần có năng lực và kinh nghiệm. Cả hai yếu tố này đều do tích luỹ mà có. Sự tích luỹ có thể từ sách vở, có thể từ cuộc sống. Như vậy, thất bại cũng chính là một thực tế để rút kinh nghiệm cho những chiến thắng về sau.

+ Để trở nên khôn ngoan, cần học hỏi: học người khác và rút kinh nghiệm từ cuộc sông của chính mình. Những lần học hỏi, rút kinh nghiệm sẽ giúp ta không mắc phải những sai lầm tương tự.

– Để “thắng” sau “bại”, để “khôn” sau “dại”:

+ Cần nghiêm túc và tỉnh táo nhìn vào thất bại, vào sự dại dột của mình để phân tích nguyên do.

+ Từ sự phân tích nguyên do, cần rút ra bài học kinh nghiệm sau thất bại, dại dột.

+ Cần tìm hiểu chiến thắng, tìm hiểu sự khôn ngoan của người khác để phân tích nguyên do của chiến thắng, tác dụng của sự khôn ngoan, lấy đó làm mục đích phấn đấu.

– Những câu nói tương tự hoặc gần gũi:

+ “Thất bại là mẹ thành công”. (Tục ngữ)

+ “Khôn ngoan chẳng lọ thật thà”. (Tục ngữ)

+ “Người xảo, ta thì vụng/ Ấy vụng thế mà hay/ Ta vụng, người thì xảo/ Ây xảo thế mà gay”. (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Từ đó có thể thấy đây là một quan điểm đúng đắn, dễ tìm được sự đồng tình của nhiều người.

– Thắng lợi luôn là điều cần thiết song không phải là chiến thắng bằng mọi giá. Sự chiến thắng phải chân chính, hợp lẽ và hợp đạo lí mới thực sự có giá trị và đem lại niềm vui chân chính. Khôn ngoan song không nên quá lọc lõi vì sự lọc lõi khiến con người trở nên lạnh lùng, vô cảm, thậm chí tàn nhẫn với những người xung quanh mình. Khôn ngoan cần đồng nghĩa với sự tỉnh táo, thận trọng để không mắc sai lầm, để luôn có những quyết định đúng đắn song cũng đồng nghĩa với việc biết mình biết người để không tán dương quá mức, cũng không định kiến nghiệt ngã, không tự kiêu cũng không mặc cảm.

– Về mặt tích cực, khôn ngoan là một trong những cơ sở cần thiết để tạo nên chiến thắng.

Kết bài:

– Trong cuộc sống, mỗi người đều có thể đạt được chiến thắng, trở nên khôn ngoan song cũng khó tránh khỏi thất bại, sai lầm, dại dột.

– Điều cần thiêt cần hướng tới: khi chiên thắng không nên kiêu căng, khi thất bại không nên nản chí vì cách ứng xử như thế có thể đưa con người từ thắng đến bại ngay sau đó, từ thất bại sẽ tiếp tục gặp phải những thất bại thảm hại hơn. Cần và nên trở thành người khôn ngoan song trong cuộc sống, đôi khi hồ đồ một chút, sai lầm một chút cũng không phải là điều cần tuyệt đôi tránh, vì như thê có thể sẽ tự tạo cho mình một áp lực không đáng có.

Tôi Viết Bài Thơ Sao Đỏ

Ngày ấy tôi vừa ở bộ đội về quê, tham gia công tác thông tin văn hoá xã. Những lần từ nhà lên huyện họp, ngắm nhìn phong cảnh mảnh đất Sao Đỏ đang chuyển mình, bỗng dâng lên một niềm tin. Những năm ấy tôi cũng mới tập làm thơ, viết báo. Nung nấu nhiều ngày và tôi viết bài thơ về quê hương.

Cần nói thêm rằng: Sao Đỏ có một vị trí mang yếu tố phong thủy rõ rệt. Cơ quan đầu não của huyện tựa vào dãy núi vững chắc, thế núi cao dần.  Huyện lỵ vươn dài về phía tây, nơi có lưu vực sông Lục Đầu lịch sử. Đặc biệt, toàn bộ những cánh cửa các phòng làm việc của cơ quan huyện, đều nhìn về phương nam. Ở nơi ấy có bao nhiêu người thân yêu đang sống và chiến đấu… Một ý thơ bỗng trỗi dậy, thật tự nhiên: Dựa lưng vào dãy Côn Sơn Đầu vươn Kiếp Bạc, sóng nguồn Lục Giang Mắt tìm con gió phương nam Sao Đỏ ơi, mảnh đất ngàn yêu thân…

Thế nhưng đất Sao Đỏ trước đó hơn chục năm, rất hoang sơ, nếu không nói là hoang dã. Sỏi đá bơ vơ, đường còm cõi, gồ ghề, đêm là thế giới côn trùng rên rỉ. Thảng hoặc con cầy hương, con chồn chạy vụt qua đường từ khe núi xuống.

Nhưng bấy giờ, tức là năm 1973, Sao Đỏ đã có những đổi thay. Tuy chiến tranh nhưng khắp nẻo đường đều có mạng lưới dây truyền thanh, có treo loa công cộng, suốt ngày đêm vang lên những bản tin về sản xuất, chiến đấu và ca nhạc làm rung động lòng người. Đây đó là những nhà bưu điện, hiệu sách, cửa hàng bách hoá, hiệu thuốc nằm san sát theo hai bên đường phố, mà thực ra là đường 18 đi qua…

Trên lưng chừng Ba Đèo đã thấp thoáng  có mấy ngôi nhà lợp ngói đỏ, vẳng ra tiếng hát ru con… Trong tiếng hát ru của người mẹ trẻ có chồng đi đánh Mỹ, thả lòng mình trong đó, làm cho mảnh đất có thêm sức sống,  có hồn.

Từ cái thực ấy đã tạo cho tôi cảm hứng. Tôi miên man nghĩ tới ngày mai, trên mảnh đất này sẽ có nhiều biến đổi, khi đất nước hoà bình: Ngày mai em đến Côn Sơn Điện lừng khe suối, vui đường thông reo Ngày mai Sao Đỏ đẹp nhiều Núi nhường ống khói sớm chiều vờn mây

Tôi cũng linh cảm rằng, một vùng đất có nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng như Côn Sơn, Kiếp Bạc sẽ là mảnh đất có tiềm năng, thu hút sự chú ý của cả nước vào đây. Trong dòng liên tưởng lãng mạn ấy, tôi hạ bút: Một thành phố của tương lai Đã nghe náo nức bao thai nhân hình.

Bài thơ viết tháng 7 – 1973, nghĩa là khi ấy đất nước đang còn trong chiến tranh, cuộc sống vô cùng gian khổ. Nhưng tôi cứ tin, rằng cái mảnh đất quê hương này sẽ trở thành một thành phố.

Bài thơ đã in ra và phổ biến rộng rãi, được tuyển trong tập thơ “Hải Hưng 1965-1975”, có nhiều nhà thơ Trung ương và địa phương đóng góp tác phẩm.

Sau bốn chục năm bài thơ ra đời, đất Sao Đỏ miền núi ấy đã trở thành phường trung tâm của thị xã Chí Linh.

Bây giờ đọc lại bài thơ, thấy ngôn từ còn thô mộc, xù xì, không có gì là chau chuốt, nhưng tôi vẫn thấy bồi hồi.

KHÚC HÀ LINH (Báo Hải Dương điện tử)

Thế mà 12 năm sau, cảnh Sao Đỏ đã thay đổi. Đường 18 đã xanh bóng cây xà cừ, phi lao, bạch đàn, là kết quả thực hiện lời kêu gọi “Tết trồng cây của Hồ Chủ tịch”. Nông trường, lâm trường và một số cơ quan, trường học đã về đây xây dựng. Phía Lục Đầu Giang người ta đang thi công Nhà máy thuỷ tinh trong thời chống Mỹ, cứu nước.Ngày ấy tôi vừa ở bộ đội về quê, tham gia công tác thông tin văn hoá xã. Những lần từ nhà lên huyện họp, ngắm nhìn phong cảnh mảnh đất Sao Đỏ đang chuyển mình, bỗng dâng lên một niềm tin.Những năm ấy tôi cũng mới tập làm thơ, viết báo. Nung nấu nhiều ngày và tôi viết bài thơ về quê hương.Cần nói thêm rằng: Sao Đỏ có một vị trí mang yếu tố phong thủy rõ rệt. Cơ quan đầu não của huyện tựa vào dãy núi vững chắc, thế núi cao dần. Huyện lỵ vươn dài về phía tây, nơi có lưu vực sông Lục Đầu lịch sử. Đặc biệt, toàn bộ những cánh cửa các phòng làm việc của cơ quan huyện, đều nhìn về phương nam. Ở nơi ấy có bao nhiêu người thân yêu đang sống và chiến đấu…Một ý thơ bỗng trỗi dậy, thật tự nhiên:Thế nhưng đất Sao Đỏ trước đó hơn chục năm, rất hoang sơ, nếu không nói là hoang dã. Sỏi đá bơ vơ, đường còm cõi, gồ ghề, đêm là thế giới côn trùng rên rỉ. Thảng hoặc con cầy hương, con chồn chạy vụt qua đường từ khe núi xuống.Nhưng bấy giờ, tức là năm 1973, Sao Đỏ đã có những đổi thay. Tuy chiến tranh nhưng khắp nẻo đường đều có mạng lưới dây truyền thanh, có treo loa công cộng, suốt ngày đêm vang lên những bản tin về sản xuất, chiến đấu và ca nhạc làm rung động lòng người. Đây đó là những nhà bưu điện, hiệu sách, cửa hàng bách hoá, hiệu thuốc nằm san sát theo hai bên đường phố, mà thực ra là đường 18 đi qua…Trên lưng chừng Ba Đèo đã thấp thoáng có mấy ngôi nhà lợp ngói đỏ, vẳng ra tiếng hát ru con… Trong tiếng hát ru của người mẹ trẻ có chồng đi đánh Mỹ, thả lòng mình trong đó, làm cho mảnh đất có thêm sức sống, có hồn.Từ cái thực ấy đã tạo cho tôi cảm hứng. Tôi miên man nghĩ tới ngày mai, trên mảnh đất này sẽ có nhiều biến đổi, khi đất nước hoà bình:Tôi cũng linh cảm rằng, một vùng đất có nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng như Côn Sơn, Kiếp Bạc sẽ là mảnh đất có tiềm năng, thu hút sự chú ý của cả nước vào đây. Trong dòng liên tưởng lãng mạn ấy, tôi hạ bút:Bài thơ viết tháng 7 – 1973, nghĩa là khi ấy đất nước đang còn trong chiến tranh, cuộc sống vô cùng gian khổ. Nhưng tôi cứ tin, rằng cái mảnh đất quê hương này sẽ trở thành một thành phố.Bài thơ đã in ra và phổ biến rộng rãi, được tuyển trong tập thơ “Hải Hưng 1965-1975”, có nhiều nhà thơ Trung ương và địa phương đóng góp tác phẩm.Sau bốn chục năm bài thơ ra đời, đất Sao Đỏ miền núi ấy đã trở thành phường trung tâm của thị xã Chí Linh.Bây giờ đọc lại bài thơ, thấy ngôn từ còn thô mộc, xù xì, không có gì là chau chuốt, nhưng tôi vẫn thấy bồi hồi.