Bà Ra Bế Cháu Của Bà

Mẹ ra Hà Nội

Mẹ ra Hà Nội thăm con

Vừa trên tàu xuống chân còn run run

Áo nâu còn thẫm mưa phùn

Còn hoai vị cỏ sục bùn lúa non

Sang đường tay níu áo con

Ngã tư hối hả xe bon ngược chiều

Khoác vai mẹ, chiếc đãy nghèo

Năm xưa thắt lại bao điều đắng cay

Đưa em trốn ngục những ngày

Vài lưng gạo hẩm thăm thầy trong lao…

Đã từng mở giữa trời sao

Nắm cơm tiếp vận tay trao giữa đèo

Củ khoai bẻ nửa nắng chiều

Bờ mương thoai thoải dài theo công trường

Đưa con đánh Mỹ lên đường

Nắm cơm mẹ gói tình thương quê nhà

Bà ra bế cháu của bà

Những mong cùng ước lòng già hôm mai

Lên thang chẳng dám bước dài

Vào khu tập thể gặp ai cũng chào

Lời bà ru thuộc thuở nào

Qua bom đạn vẫn ngọt ngào nắng trưa

Để hồn cháu có núi Nưa

Tiếng cồng bà Triệu ngày xưa vọng về

Lam Sơn rừng núi ba bề

Lũng Nhai vang mãi lời thề núi sông…

Mới xa đã nhớ ruộng đồng

Thương con mà chẳng đành lòng ở lâu

Run run mẹ bước lên tàu

Vị bùn vẫn thoảng áo nâu quê nhà.

                               Tháng 1-1975

LÊ ĐÌNH CÁNH (Tuyển tập thơ Việt Nam giai đoạn chống Mỹ cứu nước, Nxb Hội Nhà văn, 1999

QĐND – Một trong những truyền thống gia đình tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam là trách nhiệm, tình cảm của người mẹ, người bà đối với con, với cháu. Ðây là đề tài phong phú của thi ca chúng ta từ xưa đến nay. Lê Ðình Cánh là một trong những nhà thơ có nhiều bài viết thành công về mảng đề tài này, “Mẹ ra Hà Nội” là một ví dụ điển hình.

Nhà thơ Lê Ðình Cánh sinh năm 1941 tại Thọ Xuân, Thanh Hóa. Năm 1965, ông tốt nghiệp khoa Lý, Trường Đại học Sư phạm, tham gia mở đường Trường Sơn và dạy bổ túc văn hóa cho các chiến sĩ mở đường, vận tải. Từ năm 1969, ông về công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam và Nhà xuất bản Thanh Niên. Ông có sở trường sáng tác theo các thể thơ truyền thống, nhất là thể thơ lục bát, ông coi đó là “thể thơ xương sống” của thơ Việt Nam.

Minh họa: Lê Hải.

Mặc dù trong dân gian có quan niệm “xuất giá tòng phu” (lấy chồng thì theo chồng), nhưng con gái cũng như con trai, khi sinh con thì chỗ dựa đầu tiên các bậc bố mẹ trẻ nghĩ tới là bà nội và bà ngoại. Ở nước ta, trong một giai đoạn khá dài chưa có khái niệm người giúp việc mà thường gọi là Ô-sin như ngày nay. Vậy nên những đôi vợ chồng trẻ khi sinh con là nghĩ ngay đến bà nội, bà ngoại. Có những bà mẹ nhiều con, nên quanh năm suốt tháng cứ di chuyển hết nơi này đến nơi nọ để trông cháu, đâu cần phân biệt nội ngoại, có khi lên tận miền núi hoặc hải đảo xa xôi. Bà mẹ trong bài thơ này từ vùng quê nông thôn Thanh Hóa ra trông cháu, không rõ là nội hay ngoại, ở thủ đô Hà Nội từ đầu năm 1975, trước ngày cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước toàn thắng. Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh người mẹ run run từ tàu bước xuống được tác giả nhìn qua con mắt đầy thương cảm của người con (trai hoặc gái) ra đón mẹ tại sân ga. Đến sân ga, tức là đã vào thành phố, nhưng hình ảnh lam lũ của người mẹ nông thôn không hề thay đổi:

Áo nâu còn thẫm mưa phùn

Còn hoai vị cỏ sục bùn lúa non

Thì ra mẹ ra thăm con ở Hà Nội nhưng trang phục chẳng khác gì mấy so với khi đi làm đồng, vẫn là cánh áo nâu quen thuộc, lại thấm mưa phùn đầu năm nên trông sẫm màu hơn bình thường, hơn nữa chính tà áo nâu đó vẫn mang hơi bùn đất quê nhà. Từ quê ra phố, tất nhiên mẹ bỡ ngỡ vì người xe qua lại tấp nập, phải níu vào tay con mới qua đường được, không như ở quê nhà…

Hành trang của mẹ chỉ có cái đãy khoác vai. Với nhiều bạn trẻ, từ “đãy” có phần xa lạ. Ngày xưa, trước khi sinh ra ba lô và các loại túi du lịch… rất lâu, ở nước ta, nhất là ở các vùng nông thôn, “đãy” là thứ dùng để đựng hành lý, đồ đạc đi đường. Đó là một loại túi vải, thường là vải thô, nhuộm nâu chắc bền, chỉ có một quai để chủ nhân đeo vào một bên vai, không chỉ nông dân, mà ngay cả sĩ tử đi thi hay các ông đồ Nho đi xa dạy học cũng dùng… Trong bài thơ này, nhà thơ đã khéo léo nêu công dụng của chiếc đãy từ thời Pháp thuộc, qua thời kháng chiến đánh Pháp, những năm miền Bắc xây dựng hòa bình và thời kháng chiến chống Mỹ. Người đọc ai cũng hiểu được thế, nhưng tác giả chỉ dùng một hình ảnh tiêu biểu cho từng giai đoạn ấy: “đưa em trốn ngục”, “thăm thầy trong lao” – trước cách mạng; “nắm cơm tiếp vận”-thời kháng chiến chống Pháp, “Bờ mương thoai thoải dài theo công trường”-những năm hòa bình xây dựng miền Bắc và “đưa con đánh Mỹ lên đường”. Những chiếc đãy như chiếc đãy hôm nay mẹ mang ra Hà Nội thăm con đã góp công trong từng giai đoạn lịch sử ấy. Dùng vật để nói người vậy thôi, qua hình tượng những chiếc đãy này, bạn đọc hiểu được gia đình mẹ, một gia đình có công với cách mạng trước năm 1945, ông cụ thân sinh và người em từng bị tù đày vì hoạt động cách mạng. Và chính người mẹ đã theo suốt hai cuộc kháng chiến của dân tộc cũng như lao động xây dựng miền Bắc những năm hòa bình. Đó là chuyện của quá khứ, còn hôm nay:

Bà ra bế cháu của bà

Những mong cùng ước lòng già hôm mai

Chuyện bà đi trông cháu không có gì là lạ, nhưng cách sinh hoạt, thói quen khác nhau giữa nông thôn và thành phố có khi làm người ta ngỡ ngàng. Hai câu thơ trong bài thơ này được bạn đọc tâm đắc nhất, nhớ nhất… và có nhiều người thuộc lòng, dù không biết xuất xứ của nó:

Lên thang chẳng dám bước dài

Vào khu tập thể gặp ai cũng chào!

Thang ở đây là cầu thang của khu tập thể, chứ không phải thang máy. Nhân tiện xin cung cấp cho bạn đọc một số liệu: Trước năm 1975, toàn miền Bắc chưa có thang máy và ngôi nhà cao tầng nhất cũng chỉ đến năm tầng mà thôi! Ngay cái cầu thang ấy cũng đã làm bà mẹ ngỡ ngàng, chân bước rụt rè rồi, nhưng ý của câu thơ tập trung vào câu bát: “Vào khu tập thể gặp ai cũng chào”! Với thói quen nông dân, gặp nhau trên đường làng hay trên cánh đồng, dù quen hay lạ, bao giờ cũng chào hỏi, chỉ trừ khi đang giận dỗi nhau. Bà mẹ đã đem thói quen tốt đẹp đó ra thành phố, làm nhiều người ngạc nhiên! Trong bài thơ “Nhà quê”, Vương Trọng có hai câu nói về sự trớ trêu của người nông thôn ra phố: “Cả tin và biết nhịn nhường/ Thường sinh những chuyện ẩm ương theo về”, như tính đon đả chào hỏi của bà mẹ trong bài thơ này, có khi làm nhiều người thành phố khó chịu!

Kể ra, đến đây, bài thơ cũng đã nói được nhiều điều rồi, nhưng nhà thơ Lê Ðình Cánh còn triển khai thêm ý mới, đó là từ lời bà ru cháu, để giới thiệu thêm lịch sử mấy ngàn năm của Thanh Hóa, quê hương của nhà thơ và cũng là của bà mẹ trong bài thơ này:

Để hồn cháu có núi Nưa

Tiếng cồng bà Triệu ngày xưa vọng về

Lam Sơn rừng núi ba bề

Lũng Nhai vang mãi lời thề núi sông…

Vì thương cháu, muốn giúp con mà bà ra Hà Nội, nhưng ở quê nhà bà còn bao việc ruộng đồng chờ đợi, là chưa nói lòng bà nhớ làng xóm, nhiều lúc chỉ muốn về quê. Đó cũng là tâm trạng chung của nhiều bà mẹ đi theo con để trông cháu. Nhà thơ đã thông cảm với nỗi lòng của người bà, đã để cho bà trở về quê sau khi “hoàn thành nhiệm vụ” trông cháu ở thành phố và bà lại ra ga:

Run run mẹ lại lên tàu

Vị bùn vẫn thoảng áo nâu quê nhà

Thế là một hành trình khép kín, không biết bà đã ở thành phố bao lâu, nhưng trang phục vẫn nâu sồng dân dã như ngày ra đi. Tôi tin rằng, khi viết hai câu thơ kết này, thế nào nhà thơ Lê Ðình Cánh cũng nhớ tới hai câu kết trong bài thơ “Chân quê” của Nguyễn Bính:

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều

Đó là đối với cô thôn nữ trước năm 1945, còn với bà già năm 1975 ra thành phố trông cháu thì thời gian không hề thay đổi được đức tính giản dị và trang phục chân quê.

Đọc “Mẹ ra Hà Nội”, những người con, người cháu xuất thân từ nông thôn hiện đang sinh sống ở thành phố thấy được hình ảnh của mẹ mình, bà mình… và lòng lắng lại vì thương cảm, nghĩ tới câu thành ngữ “nước mắt chảy xuôi” có tự bao đời. Thơ hay là vậy, có khi độc giả không còn nghĩ về thơ, mà nghĩ về tâm trạng và số phận của con người mà bài thơ đã đề cập. Với bài thơ này, nhà thơ Lê Ðình Cánh đã làm được điều đó! VƯƠNG TRỌNG

Sao Không Về, Vàng Ơi!

Bài thơ Sao không về, Vàng ơi!

Sao không về, Vàng ơi! là bài thơ Trần Đăng Khoa viết về tình cảm yêu mến, tiếc thương dành cho chú chó của mình bị mất khi bom đạn giặc Mỹ trút xuống.

Tao đi học về nhà, Là mày chạy xồ ra. Đầu tiên mày rối rít Cái đuôi mừng ngoáy tít, Rồi mày lắc cái đầu, Khịt khịt mũi, rung râu, Rồi mày rún chân sau, Chân trước chồm, mày bắt Bắt tay tao rất chặt. Thế là mày tất bật Đưa vội tao vào nhà; Dù tao đi đâu xa Cũng nhớ mày lắm đấy.

Hôm nay tao bỗng thấy Cái cổng rộng thế này! Vì không thấy bóng mày Nằm chờ tao trước cửa Không nghe tiếng mày sủa Như những buổi trưa nào, Không thấy mày đón tao Cái đuôi vàng ngoáy tít, Cái mũi đen khịt khịt Mày không bắt tay tao, Tay tao buồn làm sao!

Sao không về hả chó? Nghe bom thằng Mỹ nổ Mày bỏ chạy đi đâu? Tao chờ mày đã lâu Cơm phần mày để cửa. Sao không về hả chó? Tao nhớ mày lắm đó Vàng ơi là Vàng ơi!…

Kỷ niệm ngày mất chó 03-04-1967 Bài thơ Sao không về, Vàng ơi! Tác giả: Trần Đăng Khoa

Giới thiệu nhà thơ Trần Đăng Khoa

Trần Đăng Khoa sinh ngày 26 tháng 4 năm 1958, quê làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Từ nhỏ, ông đã được nhiều người cho là thần đồng thơ văn. Lên 8 tuổi, ông đã có thơ được đăng báo. Năm 1968, khi mới 10 tuổi, tập thơ đầu tiên của ông: Từ góc sân nhà em (tập thơ tiếp theo là Góc sân và khoảng trời) được nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản.

Có lẽ tác phẩm nhiều người biết đến nhất của ông là bài thơ Hạt gạo làng ta, sáng tác năm 1968. Bài thơ này được thi sĩ Xuân Diệu hiệu đính, sau được nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ nhạc (1971).

Ông ba lần được tặng giải thưởng thơ của báo Thiếu niên Tiền phong (các năm 1968, 1969, 1971), Giải nhất báo Văn nghệ (1982) và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (năm 2001).

Đôi nét về bài thơ Sao không về, Vàng ơi!

Bài thơ Sao không về, Vàng ơi! được Trần Đăng Khoa viết năm 1967, khi nhà thơ mới là một cậu bé 9 tuổi, học trường làng ở Nam Sách, Hải Dương.

Bài thơ lần đầu được in trên báo Văn nghệ, ở góc thơ Nhi đồng và được nhà thơ Phạm Hổ sửa một vài câu. Đó là câu “Chó ơi là chó ơi!” được sửa thành “Vàng ơi là Vàng ơi!”, tên bài thơ “Mất chó” cũng được đổi thành “Sao không về, Vàng ơi!”.

Ngay chính Trần Đăng Khoa cũng cho rằng: “Chỉ thay đổi vài chữ thôi, mà bài thơ hay hơn hẳn.” Nhà thơ nói, câu kết ban đầu của mình Chó ơi là chó ơi! quá là thật thà, nếu không muốn nói là ngây ngô, bởi dù bạn có đúng là con chó thật thì kêu như thế thật không ổn. Khi được chữa thành Vàng ơi là Vàng ơi, từ một tiếng gọi bình thường đã chuyển thành tiếng khóc và tình cảm của bài thơ cũng được nâng lên rất nhiều. Chữ “Vàng” được nhà thơ Phạm Hổ đổi thành chữ hoa, như một tên riêng, như một người bạn quý giá, chẳng khác gì vàng đã góp phần khiến bài thơ độc đáo, có hồn hơn bao giờ hết.

Một điều thú vị là gia đình cậu bé Khoa nuôi một con chó mực đen tuyền, chứ không hề có chút màu vàng nào. Và sau khi bài thơ được in trên báo mấy hôm thì con mực đột ngột trở về. Trần Đăng Khoa cho biết, lúc đó đã giữa đêm, ông đang ngủ thì nghe tiếng cào cào cửa, rồi tiếng sủa. Ông chạy ra mở cửa thì đúng là nó thật! Mừng quá, đêm ấy nhà thơ 9 tuổi ngồi viết tiếp bài “Chó về”. Nhưng mà đó là một bài thơ mà theo tác giả tự nhận là… quá dở, và ông không dám cho ai đọc.

Tv Lớp 2 Bài Bà Cháu

*** năm học 2009 – 2010 ***Trường tiểu học minh tânNhiệt liệt chào mừng các thầy cô giáo về dự giờ thăm lớp !Giáo viên thực hiệnDương Thị Bích Ngọc Kiểm tra bài cũĐọc đoạn 4 bài “Bà cháu”.

Đọc nối tiếp đoạn 1,2,3 bài “Bà cháu”.

Thứ ba ngày 3 tháng 11năm 2009Tập đọcThứ ba ngày 3 tháng 11năm 2009Tập đọc Cây xoài của ông em. Thứ ba ngày 3 tháng 11năm 2009 Cây xoài của ông em. Tập đọc– Đoàn Giỏi –

Ông em trồng cây xoài cát này trước sân khi em còn đi lẫm chẫm. Cuối đông, hoa nở trắng cành . Dầu hè, quả sai lúc lỉu. Trông từng chùm quả to, đu đưa theo gió, em càng nhớ ông. Mùa xoài nào, mẹ em cũng chọn nh?ng quả chín vàng và to nhất bày lên bàn thờ ông. Xoài thanh ca, xoài tượng. đều ngon. Nhưng em thích xoài cát nhất. Mùi xoài thơm dịu dàng, vị ngọt đậm đà, màu sắc đẹp, quả lại to. Ăn quả xoài cát chín trảy từ cây của ông em trồng, kèm với xôi nếp hương, thỡ đối với em không thứ quà gỡ ngon bằng.Thứ ba ngày 3 tháng 11năm 2009 Cây xoài của ông em. Tập đọc1 /LUY?N D?C :CÂU : – Mùa xoài nào, mẹ em cũng chọn những quả chín vàng và to nhất, bày lên bàn thờ ông .

– Ăn quả xoài cát chín trảy từ cây của ông em trồng, kèm với xôi nếp hương, thì đối với em không có thứ quà gì ngon bằng .Thứ ba ngày 3 tháng 11 năm 2009Tập đọc Cây xoài của ông em. (Trang 89)Từ:lẫm chẫm,lúc lỉu,xôi nếp hương,trảy,nở trắng cành.

Thứ ba ngày 3 tháng 11năm 2009 Cây xoài của ông em. Tập đọc Ông em trồng cây xoài cát này trước sân khi em còn đi Cuối đông, hoa nở trắng cành. Đầu hè, quả sai Trông từng chùm quả to, đu đưa theo gió, em càng Mùa xoài nào, mẹ cũng chọn những quả chín vànglúc lỉu.nhớ ông.và to nhất bày lên bàn thờ ông. Xoài thanh ca, xoài tượng. đều ngon. Nhưng em thíchxoài cát nhất. Mùi xoài thơm dịu dàng, vị ngọt đậm đà, màu sắc đẹp, quả lại to. ăn quả xoài cát chín trảy từ cây của ông em trồng, kèm với xôi nếp hương, thì đối với em không thứ quà gì ngon bằng.lẫm chẫm.Thứ ba ngày 7 tháng 11 năm 2006Tập đọcCây xoài của ông emLuyện đọclẫm chẫm: dỏng tr? di chua v?ng đu đưa: dua qua dua l?i nh? nhng trảy (trẩy): hỏiđậm đà: cú v? ng?t d?m 2 / TÌM HIỂU BÀI :Tìm những hình ảnh đẹp của cây xoài cát .– Hoa nở trắng cành .– Từng chùm quả to đu đưa theo gió mùa hè 2 / TÌM HIỂU BÀI :Tại sao mẹ lại chọn những quả xoài ngon nhất bày lên bàn thờ ông?

– Để tưởng nhớ , biết ơn ông đã trồng cây .2 / TÌM HIỂU BÀI :Qủa xoài cát chín có mùi vị, màu sắc như thế nào?

– Có mùi thơm dịu dàng , vị ngọt đậm đà , màu sắc vàng đẹp .2 / TÌM HIỂU BÀI :Tại sao bạn nhỏ cho rằng quả xoài cát nhà mình là thứ quà ngon nhất ?

-Vì cây xoài và những quả xoài đó gắn liền với những kỉ niệm về người ông của bạn nhỏ.Thứ ngày tháng 11 năm 2007TẬP ĐỌC1 / LUYỆN ĐỌC :2 / TÌM HIỂU BÀI Nội dung bài : Tả cây xoài cát do ông trồng và tình cảm thương yêu , lòng biết ơn của hai mẹ con bạn nhỏ đối với người ông đã mất .3 / LUYỆN ĐỌC LẠI:Thi đọc hay, diễn cảm

Dặn dò: Về nhà luyện đọc kỹ bài và chuẩn bị cho tiết học sau: “Sự tích cây vú sữa”Qua bài văn em học được điều gì ở bạn nhỏ?Phải luôn nhớ và biết ơn những người đã mang lại cho mình những điều tốt lành.: `

KÍNH CHÚC CÁC THẦY CÔ SỨC KHỎE HẠNH PHÚC VÀ THÀNH ĐẠT.

Chúc các em chăm ngoan học giỏi..

Tình Bà Cháu Trong Bài Thơ Tiếng Gà Trưa Của Xuân Quỳnh​

Tình bà cháu là một thứ tình cảm gần gũi, tự nhiên và vô cùng thiêng liêng sâu sắc

Nhân vật trữ tình của bài thơ là người chiến sĩ trẻ tuổi. Theo tiếng gọi của Tổ quốc anh đã tạm cất đi sách vở để lên đường chống Mỹ. Bao trùm bài thơ là nỗi nhớ bà, nhớ quê cồn cào, da diết của anh. Và những kỉ niệm êm đẹp tuổi thơ, tình bà cháu sâu nặng đã làm sâu sắc hơn tình cảm đối với gia đình, quê hương, non sông đất nước.Tình bà cháu Tình bà cháu là một thứ tình cảm gần gũi, tự nhiên và vô cùng thiêng liêng sâu sắc Nhà thơ Xuân Quỳnh đã có một bài thơ thật hay khi viết về đề tài giản dị mà gợi bao niềm xúc động này. Đó là bài thơ “Tiếng gà trưa”.

Nhân vật trữ tình của bài thơ là người chiến sĩ trẻ tuổi. Theo tiếng gọi của Tổ quốc anh đã tạm cất đi sách vở để lên đường chống Mỹ. Bao trùm bài thơ là nỗi nhớ bà, nhớ quê cồn cào, da diết của anh. Và những kỉ niệm êm đẹp tuổi thơ, tình bà cháu sâu nặng đã làm sâu sắc hơn tình cảm đối với gia đình, quê hương, non sông đất nước.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh của người chiến sĩ dừng chân nghỉ lại ở một xóm nhỏ bên đường khi đang hành quân và bất giác tiếng gà trưa vang lên làm sống dậy những kỉ niệm thuở ấu thơ:

Trên đường hành quân xa

Dừng chân bên xóm nhỏ

Tiếng gà ai nhảy ổ:

Cục, cục tác, cục ta

Nghe xao động nắng trưa

Nghe bàn chân đỡ mỏi

Nghe gọi về tuổi thơ.

Chỉ từ một tiếng gà lanh lảnh bất chợt nghe được lúc đang dừng chân bên xóm nhỏ, giữa buổi trưa nóng nực của mùa hè đã gợi dậy cả một trời thương nhớ, đã làm thay đổi mọi vật xung quanh. Chỉ một tiếng gà trưa quen thuộc ấy thôi không những làm cho cái nắng hè xao động, bàn chân đỡ mỏi sau chuyến băng rừng, vượt biển hiểm trở, gian nguy, gợi dậy bao khát vọng tuổi thơ mà bên cạnh đó còn làm xao động lòng người. Bằng điệp từ “nghe” được nhắc lại nhiều lần đoạn thơ đã làm tăng lên gấp bội tình cảm nồng nàn đối với quê hương, điều đó thể hiện sự rung cảm vô bờ trong tâm hồn người chiến sĩ.

Tuổi thơ của người lính xa cũng xao động những tiếng gà đáng yêu đáng mến:

Tiếng gà trưa

Ổ rơm hồng những trứng

Này con gà mái mơ

Khắp mình hoa đốm trắng

Này con gà mái vàng

Lông óng như màu nắng…

“Ổ rơm hồng những trứng”,

Làm sao có thể quên được hình ảnh quen thuộc của “Ổ rơm hồng những trứng”, của mấy chị mái mơ, mái vàng khoác trên mình chiếc áo xinh xắn, rực rỡ, tươi đẹp. Làm sao có thế quên được hình ảnh người bà kính yêu đã một đời tần tảo, chắt chiu vì con vì cháu. Thương biết mây, hồn nhiên biết mấy cái cảnh đứa cháu nhìn trộm gà đẻ bị bà mắng: “Gà đẻ mà mày nhìn, rồi sau này lang mặt”. Bị bà mắng, cháu không khóc mà lại có những hành động thật đáng yêu: “Cháu về lấy gương soi, lòng dại thơ lo lắng”. Giờ đây, người cháu ước ao trở về thời thơ ấu đểl ại được nghe tiếng mắng yêu của bà, được thấy hình bóng bà khum tay soi trứng, chắt chiu, gìn giữ từng quả trứng hồng, những mầm hi vọng nhỏ để sẽ có được một đàn gà con đông đúc:

Cứ hàng năm hàng năm

Khi gió mùa đông đến

Bà lo đàn gà toi …

Để cuối năm bán gà

Cháu được quần áo mới.

Suốt một cuộc đời làm lụng vất vả, biết bao lo toan, khó nhọc, bà chẳng bao giờ nghĩ cho riêng bà, bởi đứa cháu đối với bà là tất cả. Bà lo cho đàn gà, mong nó không bị dịch bệnh đểmỗi mùa đông tới: Cháu được quần áo mới. Mong ước của đứa cháu được cái quần chéo go, cái áo cánh trúc bâu, còn mới hồ sột soạt và thơm mùi vải mới được nhân lên gấp bội trong lòng bà yêu thương cháu. Hạnh phúc gia đình giản dị, đầm ấm rất đỗi thiêng liêng với bao khát vọng tuổi thơ, dường như gói gọn cả trong tiếng gà trưa:

Tiếng gà trưa

Mang bao nhiêu hạnh phúc

Đêm cháu về nằm mơ

Giấc ngủ hồng sắc trứng.

Giờ đây, khi đã cầm chắc cây súng nơi biên cương nhưng hình ảnh ấn tượng ấy vẫn luôn luôn trĩu nặng trong tâm hồn, trong cả những ước mơ và hoài bão. Đối với người chiến sĩ, đó là quê hương, “tiếng gà trưa” là tất cả, là hạnh phúc, là muôn vàn yêu thương. Chính chúng đã thắp sáng tâm hồn anh bộ đội Cụ Hồ, đã nâng anh đến khung trời đẹp đẽ với ổ trứng hồng xinh xinh.

Cháu chiến đấu hôm nay

Vì lòng yêu Tổ quốc

Vì xóm làng thân thuộc

Bà ơi cũng vì bà

Vì tiếng gà: “Cục tác”

Ổ trứng hồng tuổi thơ.

Khổ thơ cuối cùng là lời tâm sự chân thành của đứa cháu gửi về người bà kính yêu ở hậu phương. Trải qua sau bao nhiêu thử thách, giờ đây anh mong ước, những ước muốn thật bình dị. Chinh chiến nơi xa xôi, trái tim anh luôn hướng về với tiếng gọi quê hương, hằng mong có sức khỏe và nghị lực chiến đấu vì hạnh phúc em thơ, vì người bà yêu dấu, vì xóm giềng, hơn cả là vì tiếng gà gần gũi yêu thương. Điệp từ “vì” đã được sử dụng tài tình khiến mục đích chiến đấu đó lại càng trở nên cao cả, thiêng liêng hạ thường.

Bài thơ sử dụng thể thơ năm chữ nên rất linh hoạt trong việc giúp nhân vật trữ tình chia sẻ những tâm sự, suy nghĩ về tuổi thơ, về người bà yêu dấu. Đặc biệt, câu thơ ba tiếng “Tiếng gà trưa” được lặp đi lặp lại nhiều lần như mô phóng tiếng gà “Ò Ó O” như điệp khúc bất tử, cảm động về tuổi thơ say mê đầy thương mến.

Nhà văn I-li-a-Ê-ren-bua thật sáng suốt khi đúc kết nên thành ngữ: “Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Vôn-ga. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Với người chiến sĩ trong “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh, tình yêu bà, nỗi nhớ tuổi thơ đã khơi nguồn cho tình yêu đất nước thiêng liêng, sâu lắng.

Tiếng gà trưa không chỉ là âm thanh quen thuộc từ đời sống của mỗi làng quê mà còn là âm vang của kỉ niệm, những hồi ức đẹp. Hình ảnh người bà trong bài thơ khiến cảm xúc trong người tôi dâng trào, nhớ tới người bà đã khuất của mình. “Tiếng gà trưa thực là một bài thơ hay!” về tình bà cháu

Sưu tầm

Đóng Vai Người Cháu Kể Lại Kỉ Niệm Tình Bà Cháu Trong Bài Thơ Bếp Lửa

(Văn mẫu lớp 9) – Anh (Chị) hãy Đóng vai người cháu kể lại kỉ niệm tình bà cháu trong bài thơ Bếp Lửa của nhà thơ Bằng Việt.

Đề bài: Trong vai người cháu kể lại kỉ niệm tình bà cháu trong bài thơ Bếp Lửa

BÀI LÀM

” Đôi mắt càng già càng thấm thía yêu thương Da dẻ dù khô đi tấm lòng không hẹp lại. Giàu kiên nhẫn bà còn hi vọng mãi Chỉ mỗi ngày rắn lại ít lời thêm”

Đó là những vần thơ của tôi – Người cháu dành cho bà nội nội kính yêu của mình giờ đây đang du học ở ucraina xa xôi tôi vẫn không thể nguôi quên bếp lửa ấm áp tình bà.

Là người Việt Nam không ai không biết đến bếp lửa được nhen lên bằng những nhiên liệu bình thường củi, rơm, rạ,… Bếp lửa tỏa sáng chờn vờn bốc cao bập bùng mỗi sớm mai gắn liền với hình ảnh người phụ nữ Việt Nam tảo tần giàu tình yêu thương giàu đức hi sinh.

Bà tôi cũng vậy bà khéo léo chi chút kiên nhẫn nhóm lửa gửi vào đó bao tình yêu thương cháu con. Nhớ về bếp lửa tôi lại bồi hồi nhớ bà thương bà trải bao mưa nắng của bà.

Bếp lửa không chỉ gợi nhắc tình bà mà còn gợi bao kỉ niệm tuổi thơ đó là kỉ niệm nạn đói 1945 ám ảnh day dứt cái đói hoành hành khủng khiếp gia đình tôi cũng như bao gia đình Việt Nam khác long đong mỏi mệt vì miếng ăn. Bố đi đánh xe ngựa gầy gò khô rạc mà cái đói vẫn bám riếc không tha nếu không có bếp lửa ấm áp của bà có lẽ tôi không qua được nạn đói thật khủng khiếp biết bao giờ đây nghĩ lại sống mũi vẫn cay khé quá khứ như đồng hiện ở hiện tại xóa nhòa hoàn cảnh mấy chục năm.

Kỉ niệm thứ hai là những năm kháng chiến chống thực dân Pháp mẹ và cha tôi tham gia công tác ở chiến khu bà đã thay cả cha cả mẹ nuôi dạy tôi nên người tôi ở cùng bà, bà bảo tôi nghe bà dạy tôi làm, bà chăm tôi học bà chi chút cho tôi tất cả bên ccanh bếp lửa ấm áp tình bà trong tâm thức tôi còn có tiếng chim tu hú đồng việt. Mỗi lần tu hú kêu bà hay kể lại kỉ niệm những ngày ở Huế. Tiếng chim tu hú gọi mùa càng khiến lòng tôi và bà dậy lên nỗi nhớ mong da diết cha mẹ tôi ở chiến khu. Được sống trong tình yêu thương của bà tôi càng chạnh thương con tu hú cô đơn bé nhỏ kêu da diết khắc khoải trên những cánh đồng xa.

Kỉ niệm thứ ba cũng có sức ám ảnh lớn trong tâm hồn tôi là nạn giặc càn tàn phá xóm làng ngọn lửa hung tàn bốc lên ngùn ngụt thiêu rụi nhà cửa tài sản trong mất mát đau thương bà cùng tôi và xóm làng lầm lụi trở về. Tôi cũng sớm trưởng thành lớn khôn biết đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh cảm động nhất là lời dặn của bà: ” Mày có viết thư cho bố kể này kể nọ cứ bảo nhà vẫn được bình yên để bố yên tâm công tác”. Bà tôi là thế đấy bà không chỉ lam lũ tảo tần giàu tình yêu thương mà còn giàu đức hi sinh bà gánh vác mọi lo toan gian khó về mình để con yên tâm công tác. Phải chăng bà tôi là hậu phương vững chắc giúp cho tiền tuyến đánh giặc. Đẩy nhanh cuộc kháng chiến đến ngày thắng lợi. Bà xứng đáng với tám chữ vàng bác Hồ trao tặng ” Anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang” Bà vừa mang nét đẹp truyền thống vừa mang nét đẹp hiện đại của người phụ nữ thời kì mới.

Từ kỉ niệm năm xưa tôi băn khoăn suy ngẫm về cuộc đời bà và hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa bà nhen mỗi chiều đã thành ngọn lửa của niềm yêu thương sẵn trong lòng bà niềm tin bà khơi thắp trong tôi. Phải chăng bà là đại diện của thế hệ cha anh giữ lửa truyền lửa, truyền niềm tin đến thế hệ tương lai mấy chục năm đã trôi qua bà vẫn luôn thức khuya dậy sớm lam lũ tảo tần trải qua bao mưa nắng cuộc đời, công việc bà làm có ý nghĩa to lớn biết bao, bà đã nhóm trong lòng tôi tình yêu thương lòng biết ơn sâu nặng từ những thứ giản dị đời thường nhất như khoai sẵn ngọt bùi, khơi thắp trong lòng tôi niềm vui san sẻ tình làng nghĩa xóm và đặc biệt bà còn khơi dậy mọi tâm tình ước vọng để tôi bay cao bay xa đến tận những chân trời mới. Ôi bếp lửa giản dị đời thường sánh ngang với điều kì lạ thiêng liêng cao đẹp.

Giờ đây tôi đã lớn khôn trưởng thành đến với những chân trời rộng mở nơi đây có bếp điện, bếp gas… Có ngọn khói trăm tàu, lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả nhưng trong tiềm thức câu hỏi luôn hiện hữu trong tôi sớm mai này bà nhóm lửa lên chưa. Có lẽ bếp lửa – Tình bà sẽ luôn tỏa sáng nâng đỡ nhiều con người xa xứ như tôi suốt hành trình dài rộng của cuộc đời phả chăng yêu bếp lửa yêu bà là tình cảm cội nguồn tình gia đình và rộng ra là tình yêu quê hương đất nước?

Ôi bếp lửa tình bà sao mà ấm áp đến vậy! Bếp lửa ấy đã nuôi dưỡng tuổi thơ tôi để tôi lớn khôn trưởng thành như hôm nay. Có gốc rễ của cội nguồn con người mới trưởng thành vì vậy tôi muốn nhắn nhủ các bạn trẻ hãy trân trọng những gì đáng quí nhất, giản dị đời thường quanh ta. Yêu kính ông bà gia đình, cha mẹ, anh chị em rộng ra là tình quê hương, đất nước theo đúng truyền thống của nhân dân. Thương người như thể thương thân.