Bài Thơ Quê Hương Sách Lớp 3 / 2023 / Top 14 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Kovit.edu.vn

Bài Văn Kể Về Quê Hương Em Lớp 3 / 2023

Quê hương là gì hả mẹ?

Mà thầy cô dạy phải yêu nhiều

Quê hương là gì hả mẹ?

Mà ai đi xa cũng nhớ nhiều

Những câu thơ trên chứa đựng một tình cảm lớn lao đối với quê hương của mỗi người. Đó chính là nơi ta được sinh ra và lớn lên. Nó chở che ta những ngày ta còn thơ bé và luôn là chỗ dừng chân cho những người con xa quê đi làm ăn trở về sau những năm tháng bôn ba khắp mọi nơi.

Như một lẽ tất nhiên, các bạn ai cũng có quê hương và em cũng vậy. Trong trái tim em, quê em thật đẹp và em luôn tự hào về hai tiếng thiêng liêng ấy.

Quê em cũng như bao làng quê khác, có gốc đa, giếng nước, sân đình, có con sông quê hương chảy dài mang nước đến cho xóm làng, có cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay, có những đàn trâu tung tăng gặm cỏ và đặc biệt nơi đây có những con người chất phác, sống với nhau bằng tình cảm rất chân thành. Em yêu quê hương không phải vì nó giàu sang, trù phú mà chính vì nó gắn bó với cuộc sống của dân làng và với tuổi thơ của những đứa trẻ như em. Nhớ đến mùa thu hoạch lúa, trời nắng gay gắt, các bác nông dân trên người lấm tấm mồ hôi vì mệt nhọc nhưng trên mặt vẫn hiện lên nụ cười rạng rỡ mừng vì một vụ lúa bội thu, em lại nhớ đến câu ca dao:

Ai ơi bưng bát cơm đầy

Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”

Nhớ cả những quán nước chè dưới những gốc cây cổ thụ phục vụ những cô bác nông dân đi làm đồng về, nhớ hình ảnh quen thuộc của những đứa trẻ đi mò cua, bắt ốc. Quê hương còn gắn với tuổi thơ của chúng em bằng những buổi chiều chạy theo những anh chị lớn hơn đi thả diều trên cánh đồng lúa đã được thu hoạch xong chỉ còn trơ gốc rạ, rồi đến món khoai nướng, ngô nướng quen thuộc của bọn trẻ chăn trâu. Yêu quê hương là yêu luôn cả những điều bình dị, mộc mạc, đơn sơ đó bởi vì chính những hình ảnh này làm nên quê hương của mỗi người.

Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người

Quê hương luôn là niềm tự hào trong tâm trí em, sau này dù có đi đến nơi đâu đi chăng nữa, thì hình ảnh quê hương luôn khắc sâu trong trái tim em vì ở nơi đó có những người thân và kỉ niệm gắn với một thời thơ ấu không thể nào quên.

Yêu Quê Hương Qua Từng Trang Sách Nhỏ: Giang Nam Với Bài Thơ Quê Hương / 2023

    Bài thơ Quê hương nổi tiếng của Giang Nam từng được đưa vào sách giáo khoa và bao thế hệ học trò đã thuộc lòng từng câu, từng chữ…

    Ở đó, người đọc bị cuốn hút, ám ảnh bởi những tiếng cười khúc khích thật hồn nhiên để rồi bỗng thấy hụt hẫng khi nghe tin dữ…

    Ở phần mở đầu bài thơ: Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường/Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ/“Ai bảo chăn trâu là khổ?”/Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao…, có lẽ lúc hoài niệm về thời thơ ấu, trong ký ức của tác giả đã hiện lên thấp thoáng những câu hát của… Phạm Duy: Ai bảo chăn trâu là khổ?Chăn trâu sướng lắm chứ!Ngồi mình trâu phất ngọn cờ lau và miệng hát nghêu ngao… (Em bé quê). Bởi nếu không thì tác giả đã không để câu Ai bảo chăn trâu là khổ trong ngoặc kép. Tuy nhiên, dẫu có như vậy thì câu này cũng liền mạch với một tứ thơ hết sức trong trẻo, hồn nhiên: … Những ngày trốn học/Đuổi bướm cầu ao/Mẹ bắt được/Chưa đánh roi nào đã khóc!/Có cô bé nhà bên/Nhìn tôi cười khúc khích… Một điều chắc chắn rằng, sở dĩ bài thơ có sức hấp dẫn người đọc là bởi tuy tác giả sử dụng những câu chữ mộc mạc nhưng lại khéo dụng công ở những lần “cô bé nhà bên cười khúc khích”, tạo nên một ấn tượng khó quên…

“Cô bé” ấy là ai?

        “Cô bé” ấy tên thật là Phạm Thị Triều, sinh ra trong một gia đình có nghề làm mắm gia truyền ở Vĩnh Trường (Nha Trang). Nghề làm mắm cũng là để đóng góp kinh tài cho cách mạng. Cô bé Triều mới “trổ mã” đã theo chị gái lên căn cứ Đồng Bò. Gia đình thấy Triều còn nhỏ quá, cho người nhắn về nhưng cô nhất quyết không về. Khi mặt trận Nha Trang vỡ, Triều được điều về làm ở khối Dân chính của Tỉnh ủy Phú Khánh, đóng ở Đá Bàn. Chính nơi đây, cô đã gặp chàng trai sau này trở thành nhà thơ Giang Nam…

    Còn anh chàng Nguyễn Sung (tên thật của Giang Nam), mới 16 tuổi đã bỏ học giữa chừng vì nhà trường đóng cửa do thời cuộc (Nhật đảo chính Pháp tháng 8.1945). Cậu theo anh trai là nhà cách mạng Nguyễn Lưu tham gia Việt Minh ở mặt trận Phú Khánh. Khoảng đầu năm 1954, Nguyễn Sung được điều về căn cứ Đá Bàn và anh bộ đội trẻ đã “ngẩn ngơ” trong lần đầu gặp Phạm Thị Triều.

    Ít lâu sau anh biết thêm rằng không phải chỉ mình anh mà cả đám lính trẻ cũng thường tìm cớ này, cớ nọ để tạt vào cơ quan chỉ để… nhìn cô Triều một cái. “Bạo phổi” lắm thì cũng chỉ nói vu vơ một câu rồi… biến! Chuyện yêu đương, trai gái trong cùng tổ chức hồi ấy hầu như bị cấm nghiêm ngặt. Tuy nhiên, là một anh lính có “chút thơ văn” nên Nguyễn Sung vẫn nghĩ được cách tiếp cận người đẹp. Trước tiên, anh vận dụng khả năng thơ văn của mình để được giao nhiệm vụ chạy công văn. Và thế là mỗi lần đưa công văn đến cơ quan, anh lại kèm theo một lá thư (viết sẵn) cho nàng mà không nói năng, hỏi han gì thêm vì sợ lộ. Phải hơn một tuần sau lá thư thứ hai, anh mới “sướng rêm người” khi được nàng “ừ” (trong bức thư hồi âm)…

    Yêu nhau “kín đáo” như thế mà vẫn không giấu được ai, may mà cả anh lẫn chị đều được anh em thương mến nên trước ngày anh ra Bình Định tham gia Đoàn Sĩ quan liên bộ đình chiến, chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định Genève, cơ quan đã tổ chức đám cưới cho họ. Sống với nhau được hai đêm thì anh lên đường, còn chị trở lại Nha Trang… Từ buổi đó, đôi vợ chồng trẻ phải luôn chịu cảnh xa cách, gian truân…

    Sau Hiệp định Genève (tháng 7.1954), Nguyễn Sung vào hoạt động trong lòng địch, trong vai trò công nhân ở một xưởng cưa và âm thầm viết cho tờ Gió mới – là tờ báo hợp pháp ở Nha Trang. Tuy hoạt động cùng địa bàn nhưng đôi vợ chồng son vẫn không thể gặp nhau vì khác tuyến, phải tuân giữ kỷ luật khắt khe để không bị lộ… Mãi đến năm 1958, tổ chức chuyển vùng công tác cho họ vào Biên Hòa thì họ mới thật sự có những ngày hạnh phúc bên nhau, dù khoảng thời gian này cũng rất ngắn ngủi. Họ thuê một căn nhà nhỏ trong xóm lao động nghèo. Ông làm mướn cho một nhà thầu khoán, còn bà buôn bán lặt vặt…

    Một thời gian sau, tổ chức lại rút ông về lại Khánh Hòa, bà Triều ở lại một mình nuôi con. Mỗi đêm, nghe con gái khóc ngằn ngặt vì nhớ cha, bà Triều phải lấy chiếc áo cũ của chồng đắp lên người con để “có hơi của ông ấy cho nó nín khóc”. Sau này, ông đã mượn lời vợ, và mượn luôn sự cố khóc đêm của con để bày tỏ nỗi nhớ thương: Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ/Nó khóc làm em cũng khóc theo/Anh gởi về em manh áo cũ/Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều… (Lá thư thành phố).

Quê hương ra đời trong hoàn cảnh nào?

    Trong hồi ký Sống và viết ở chiến trường, Giang Nam đã kể lại như sau: “Bài thơ Quê hương ra đời năm 1960, dưới chân núi Hòn Dù, cách chúng tôi Trang hơn 40 cây số về phía tây. Lúc ấy, tôi đang là Phó ban Tuyên huấn của Tỉnh ủy Khánh Hòa. Chiều hôm ấy, anh Phó bí thư Tỉnh ủy đã gọi tôi lên chỗ anh ở (một căn chòi nhỏ giữa rừng). Anh ân cần hỏi thăm tôi về tình hình công tác, sức khỏe… Tôi linh cảm thấy có điều gì không bình thường. Quả nhiên sau đó, anh nói thật: Tin của cơ sở trong thành vừa báo cho biết vợ và con gái tôi bị địch bắt trước đó hơn một năm đã bị chúng thủ tiêu… Tôi bàng hoàng, trời đất như sập xuống đầu mình… Trong nỗi đau đớn tột cùng, tôi ngồi trong căn chòi nhỏ, trước mắt là ngọn đèn dầu lù mù được che kín ba mặt, tôi đã viết một mạch xong bài thơ, không xóa sửa chút nào… Không phải tôi làm thơ mà là ghi lại những ký ức, những hình ảnh đã trở thành máu thịt trong tôi. Từng đoạn nước mắt tôi trào ra, nhất là ở hai câu cuối của bài: Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/Có một phần xương thịt của em tôi”.

    Bài thơ được ký tên Giang Nam, bởi dạo còn đi học ông rất thích những câu thơ của Hồ Dzếnh: Tô Châu lớp lớp phủ kiều/Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam… Sau đó, ông gửi bài thơ theo đường giao liên cho Báo Thống Nhất (Hà Nội), vì chỉ có tờ báo này được chuyển vào chiến trường phía Nam. Khoảng tháng 8.1961, trên đường công tác qua huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), qua chiếc radio, ông nghe Đài phát thanh Việt Nam đọc bài thơ Quê hương và thông báo bài thơ này đoạt giải nhì của Báo Văn nghệ. Trong giây phút vui mừng đó, hình ảnh thân yêu của vợ con ông lại ùa về, ông bật khóc…

    Đinh ninh là vợ con mình đã chết, Giang Nam lao vào công tác, nhất là trên mặt trận văn hóa. Bỗng giữa năm 1962, vợ con ông được thả về vì địch không tìm được chứng cứ. Sum họp chưa được bao lâu, vợ ông lại bị bắt lần thứ hai (1968), đứa con gái cứ bám riết lấy mẹ nên cũng… bị tù. Mãi đến năm 1973 họ mới được trả tự do…

    Hiện nay, đôi “bách niên – đồng chí” đều đã qua ngưỡng tuổi 80, họ vẫn hạnh phúc bên nhau trong căn nhà số 46 đường Yersin (TP.Nha Trang).

Top 9 Bài Văn Mẫu Tả Quyển Sách Tiếng Việt Lớp 3 Chọn Lọc / 2023

Tả quyển sách Tiếng Việt lớp 3 – Bài làm 1

Trong năm học lớp 3 này em được mẹ mua cho rất nhiều quyển sách hay và bổ ích, trong số đó em thích nhất là sách Tiếng Việt lớp 3.

Quyển sách Tiếng Việt lớp 3 của em có hình chữ nhật với chiều ngang khoảng hơn 1 gang tay của em và chiều cao là 2 gang tay. Em thích quyển sách Tiếng Việt lớp 3 tập một trước hết là bởi nó rất đẹp. Bìa sách khá mềm mại với màu sắc chủ đạo là màu xanh lá cây, một màu mà em vô cùng yêu thích. Ở trên cùng của bìa sách có dòng chữ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO. Dòng chữ được in hoa căn chính giữa. Bên dưới là tên sách Tiếng Việt 3 được đóng khung một cách trang trọng. Chữ Tiếng Việt được in màu xanh còn số 3 được in màu đỏ. Bên dưới số 3 là chữ TẬP MỘT in hoa. Dưới cùng của bìa sách chính là dòng chữ ghi tên NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM. Ảnh bìa của quyển sách là hình một dàn đồng ca của các bạn nhỏ bằng tuổi em. Trong dàn đồng ca có tất cả 9 bạn, đứng làm 3 hàng. Một bạn đứng quay mặt lại phía dàn đồng ca, tay cầm một cái que để điều khiển. Đó chính là bạn nhạc trưởng. Trong dàn đồng ca có cả bạn nam lẫn bạn nữ, các bạn đều đeo khăn quàng đỏ và nụ cười rạng ngời. Lật bìa sách qua một bên, bên trong là những bài học vô cùng ý nghĩa mà em vẫn mong chờ được học chúng mỗi ngày.

Em yêu biết bao nhiêu quyển sách Tiếng Việt lớp 3 của chúng em.

Trong góc học tập của em có rất nhiều loại sách, từ sách giáo khoa đến sách tham khảo, các loại truyện tranh,… Có một quyển sách mà em cực kỳ yêu thích, có lẽ vì em vốn thích học môn Tiếng Việt. Đó chính là quyển Tiếng Việt tập 2.

Quyển sách được bao bọc bằng lớp bìa bóng cẩn thận, bên góc phải ở trên cùng còn dán một nhãn tên xinh xắn ghi thông tin trường, lớp, họ tên, năm học của em. Nổi bật trên bìa là màu cam ấm áp và những hình vẽ sống động. Phía trước bìa sách có in hình một nhóm bạn học sinh đang đứng chọn sách ở kệ sách, các bạn còn đang nói cười như trao đổi gì đó. Phía dưới là một cái bàn gỗ có 3 bạn học sinh đang ngồi đọc họa báo chăm chú. Em nghĩ đây là hình vẽ trong một thư viện.

Nhờ giữ gìn cẩn thận mà quyển sách đã dùng mấy tháng nhưng vẫn còn như mới. Qua mỗi trang sách, em lại học được nhiều kiến thức mới bổ ích. Em rất yêu thích môn Tiếng Việt và quyển sách này.

Tả quyển sách Tiếng Việt lớp 3 – Bài làm 3

Đầu năm học lớp 3, mẹ mua cho em một bộ sách nguyên khổ còn thơm mùi giấy mới. Trong bộ sách, quyển nào cũng được trang trí đẹp mắt với nhiều màu sắc rực rỡ, nhưng trong số đó em vẫn ấn tượng nhất với quyển sách Tiếng Việt tập 1.

Quyển sách Tiếng Việt tập 1 có màu nền là xanh lá nhạt rất mát mẻ. Chiều dài sách khoảng hơn 20 cm, rộng 15 cm. Bìa sách còn mới tinh vẽ hình 9 bạn nhỏ đang đứng nghiêm chỉnh cất cao giọng hát, phía trước là một bạn khác hình như là lớp trưởng đang cầm một cây thước nhỏ đánh nhịp cho dàn đồng ca. Các bạn ai cũng xinh xắn, mặc những bộ đồ đầy màu sắc rực rỡ nhún nhảy theo điệu nhạc. Trên môi ai cũng nở nụ cười tươi chúm chím.

Tả quyển sách Tiếng Việt lớp 3 – Bài làm 4

Trước ngày bước vào năm học mới, Ba mẹ đã mua tặng em một bộ sách giáo khoa lớp ba, trong đó có quyển Tiếng Việt lớp ba tập một là em thích nhất.

Em yêu quyển sách Tiếng Việt ba tập một biết bao vì nó đã giúp em hiểu biết thêm quê hương đất nước. Em khoác cho nó thêm một tấm áo ni lông bên ngoài và giữ gìn nó cẩn thận.

Tả quyển sách Tiếng Việt lớp 3 – Bài làm 5

Những bài văn mẫu tả quyển sách Tiếng Việt lớp 3

Trong bộ sách giáo khoa lớp ba của em có rất nhiều cuốn sách hay, hấp dẫn như sách toán, sách tiếng việt, sách tự nhiên và xã hội, sách đạo đức,… Nhưng em thích nhất là quyển sách tiếng việt lớp ba tập một.

Quyển sách tiếng việt lớp ba có dạng hình chữ nhật với bề dài tầm 24,5 cm và bề rộng tầm 17 cm. Quyển sách dày một trăm hai mươi tám trang và hai tấm bìa cứng. Bìa ngoài của quyển sách có màu xanh lá hơi nhạt. Trên cùng tấm bìa là dòng chữ in hoa ” Bộ giáo dục và đào tạo “. Tiếp theo là chữ “TIẾNG VIỆT” rất to và màu xanh đậm. Phía dưới là hình ảnh mười bạn học sinh đang hát. Và dưới cùng là dòng chữ ” Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam”.

Em rất thích quyển sách tiếng việt lớp ba. Nó đã đem lại cho em nhiều bài học hay và bổ ích.

Tả quyển sách Tiếng Việt lớp 3 – Bài làm 7

Năm nay em đã là học sinh lớp Ba, mẹ mua cho em một bộ sách giáo khoa mới. Vừa nhận được sách, em đã rất háo hức mà mở ra xem thật kĩ từng quyển một. Trong bộ sách, quyển nào cũng đẹp nhưng em thích nhất là quyển tiếng việt.

Em thích nó không chỉ vì tiếng việt là môn mà em thích nhất mà còn vì cuốn sách để lại cho em nhiều ấn tượng ngay từ lần nhìn thấy đầu tiên. Bìa sách mềm, có nền hơi phớt màu lục tươi tắn, bên trên cùng của mặt trước là dòng chữ màu đen ngay ngắn: “BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO”. Ngay bên dưới là dòng chữ to màu đỏ: “TIẾNG VIỆT”. Ở giữa trang bìa là một bức tranh vẽ một tốp có chín bạn học sinh đang hát. Ai nấy đều có khăn quàng đỏ thắm trên vai cùng khuôn mặt rạng rỡ say sưa làm bừng sáng cả khung bìa. Ở đằng trước là một bạn nam áo đỏ với chiếc mũ lưỡi trai xanh trắng rất đáng yêu, một tay bạn cầm một chiếc thước giơ lên quá đầu như đang bắt nhịp, tay kia để ngang ngực y như một nhạc trưởng thực thụ. Nhìn bức tranh em liên tưởng đến một lớp học đoàn kết, hòa thuận mà ai cũng ngoan ngoãn, xinh xắn, và tất cả đang đồng thanh hát rất vui vẻ. Còn mặt sau của bìa sách màu trắng in tên của những cuốn sách quan trọng trong bộ sách giáo khoa lớp Ba.

Cầm quyển sách trên tay, em liền bị hấp dẫn ngay. Sách khá dày, hơn hai trăm trang, lật từng trang còn thơm mùi giấy mới. Em mở ngay bài đầu tiên để đọc, đó là bài học về câu chuyện “Cậu bé thông minh”. Chữ viết to rõ ràng, hình vẽ minh họa cũng đẹp và gây nhiều cảm hứng làm cho em càng mong chờ đến buổi học đầu tiên để sử dụng quyển sách.

Quyển sách là niềm tin tưởng mẹ đã trao cho em vào đầu năm học mới. Ngắm nhìn quyển sách càng làm em thấy mình cần phải cố gắng sao cho xứng đáng với một quyển sách như vậy cũng là xứng đáng với công ơn và sự tin tưởng, chu đáo của bố mẹ, thầy cô dành cho em. Em tự hứa với mình năm nay sẽ học chăm hơn năm ngoái để đạt được thành tích ngày càng cao và làm vui lòng những người chăm lo cho em.

Tả quyển sách Tiếng Việt lớp 3 – Bài làm 8

“Thành ơi! Ra cầm hộ mẹ cái này.

Bài văn mẫu tả quyển sách Tiếng Việt lớp 3

– Cái gì thế hở mẹ?

– Sách học của con đấy. Mẹ vừa đến thăm ngoại, ngoại gởi cho con chồng sách này!

Thế là em có đầy đủ bộ sách giáo khoa lớp 3, chuẩn bị cho năm học mới. Em thích nhất là cuốn Tiếng Việt lớp 3 tập I.

Cầm quyển sách trên tay, em cứ ngắm đi ngắm lại mãi mà không thây chán. Thấy em cứ mân mê cuốn sách không muốn rời mẹ nói đùa: “Tối nay chắc Thành không ăn cơm cũng no phải không con?”. Cuốn sách gọn nhẹ lại vừa đẹp mắt. Chiều rộng khoảng hai mươi lăm xen ti mét, chiều dài độ hơn hai mươi xen ti mét, vừa với cặp sách mà bố vừa mới mua cho tuần trước. Bìa sách làm bằng một loại giấy cứng, trơn bóng như tráng một lớp đầu mỏng dính. Phía dưới hàng chữ “Bộ giáo dục và đào tạo” là dòng chữ “Tiếng Việt 3 tập I” bằng mực đen, nổi bật trên trang bìa trắng. Phần còn lại là bức họa một đóa hoa hướng dương tượng trưng cho ông mặt trời đang chiếu những tia sáng rực rỡ của trí tuệ và khoa học xuống mặt đất thân yêu của chúng em.

Những sắc đỏ, vàng đan xen nhau như những sắc cầu vồng kì diệu, vắt qua bầu trời cả mặt trước lẫn mặt sau của bìa sách. Dưới cùng là hình ảnh một chú nghé trông ngộ nghĩnh, ngước đôi mắt trẻ thơ, tủm tỉm cười với ông mặt trời như muôn tỏ lòng biết ơn ông đã rọi những tia hào quang của trí thức, khoa học xuống cho nó.

Để giữ cho sách luôn được sạch sẽ và thẳng nếp, em dùng tờ bao bằng giấy kiểng trong bọc cẩn thận bên ngoài và tự nhủ không bao giờ vẽ, viết bậy vào sách. Quyển sách Tiếng Việt là người bạn đồng hành cùng em trên bước đường học tập. Sách không những đem lại cho em những tri thức về tiếng mẹ đẻ mà còn bồi đắp cho tâm hồn em rộng mở, đón nhận bao niềm vui của cuộc sông hôm nay và mai sau.

Thu Thủy

Top 10 , Nckhspud, Skkn, Diem Chuan Vao 10, Mmo, Crypto, Coin, Token, Stock, : Yêu Quê Hương Qua Từng Trang Sách Nhỏ: Giang Nam Với Bài Thơ Quê Hương / 2023

– Bài thơ Quê hương nổi tiếng của Giang Nam từng được đưa vào sách giáo khoa và bao thế hệ học trò đã thuộc lòng từng câu, từng chữ…

Ở đó, người đọc bị cuốn hút, ám ảnh bởi những tiếng cười khúc khích thật hồn nhiên để rồi bỗng thấy hụt hẫng khi nghe tin dữ…

Có một thời, bạn đọc đón chờ những bài thơ từ chiến trường gửi ra của nhà thơ Giang Nam với một tâm lý đặc biệt. Họ muốn được neo lòng mình vào cuộc chiến đấu chung của đồng bào, chiến sĩ miền Nam, muốn được vui buồn, thổn thức với những mảng hiện thực mà tác giả nhanh nhạy ghi lại từ cuộc chiến khốc liệt, một cuộc chiến có thể làm những trái tim chai sạn cũng phải trào dâng niềm thương xót bởi có quá nhiều gương mặt phụ nữ và trẻ em…

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ

“Ai bảo chăn trâu là khổ?”

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

Chưa đánh roi nào đã khóc!

Nhìn tôi cười khúc khích…

Rồi kháng chiến trường kỳ

Cô bé nhà bên (có ai ngờ)

Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

Mắt đen tròn (thương quá đi thôi)

Giữa cuộc hành quân không nói được một lời

Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại

Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi…

Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày

Thẹn thùng nép sau cánh cửa

Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ

Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)

Tôi nắm bày tay nhỏ nhắn ngậm ngùi

Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng

Không tin được dù đó là sự thật

Giặc bắn em rồi, quăng mất xác

Chỉ vì em là du kích em ơi!

Đau xé lòng tôi, chết nửa con người…

Xưa quê hương vì có chim, có bướm

Có những ngày trốn học bị đòn, roi

Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi.

Quê hương – Bài thơ làm trong một giờ.

“Hồi đó, tôi giác ngộ cách mạng rất sớm, từ năm 20 tuổi, lại được người anh trai – nhà cách mạng Nguyễn Lưu- truyền cho bầu nhiệt huyết, nên luôn sôi sục ý chí chiến đấu và sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Có năng khiếu chữ nghĩa nên khi vào hoạt động cách mạng, tôi được giao nhiệm vụ tuyên huấn”- nhà thơ Giang Nam bồi hồi nhớ lại. Chính những ngày làm cán bộ dân chính, Giang Nam đã nảy nở tình yêu với bà Phạm Thị Chiều – người đã đi suốt cuộc hành trình của đời ông và cũng chính là nhân vật làm bật lên cảm xúc để ông viết bài thơ Quê hương . Thời khắc nghiệt của chiến tranh, tình yêu bung nở một cách giản dị nhưng có sức gắn kết bền chặt đến phi thường. “Cùng làm ở cơ quan dân chính Phú Khánh, hồi đó tôi rất thích vợ tôi nhưng xung quanh cô ấy lại có rất nhiều người theo đuổi, nên tôi chỉ còn cách mỗi lần đến đưa công văn, gửi kèm cho cô ấy một lá thư chứ không dám đến hỏi thêm gì. Viết thư cũng chỉ dám hỏi mấy câu đơn giản như; anh có ý thích em, em nghĩ thế nào?”. Sau lá thứ hai, Giang Nam bồn chồn chờ đợi suốt cả tuần lễ, cuối cùng cũng nhận được hồi âm… Từ đó, họ bắt đầu một tình yêu và không lâu sau thì làm đám cưới (vào đầu năm 1955).

Cưới xong ở với nhau được đúng hai đêm, ông lại phải nhận nhiệm vụ mới ở Bình Định. Đây cũng là cái mốc đánh dấu cho những chuỗi ngày xa nhau đằng đẵng của ông bà. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi Gió mới, hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang. Khi Mỹ nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng”, cán bộ đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà. “Lần đoàn tụ này, chúng tôi vô cùng xúc động nhưng vẫn phải giữ bí mật tuyệt đối cho cách mạng. Cũng tại Biên Hòa, vợ tôi sinh hạ đứa con gái đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến giờ, ngay sau khi vợ sinh, tôi được tổ chức rút về lại KhánhHoà. Sau đó không lâu, vào một buổi tối giữa năm 1960, giữa lúc trời mưa tầm tã, tôi được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng, thăm hỏi động viên rồi thông báo tin chẳng lành, có thể vợ và con gái tôi đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi (Bình Dương). Đau đớn đến bàng hoàng, sự thương cảm xót xa cứ thế trào lên. Tất cả những kỷ niệm cũ, tình yêu nghẹn ngào, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt như sống dậy xót xa, nhức nhối, tôi đã phải bật khóc nức nở và chỉ trong một giờ đồng hồ, tôi đã viết xong bài thơ Quê hương . Viết liền mạch, không tẩy xóa, không thay đổi” – Giang Nam bộc bạch sự ra đời của bài thơ Quê hương .

Dù những ngày tháng đau khổ đã đi qua, rất lâu, nhưng mỗi lần nhắc đến những mất mát hy sinh, từ phía sau cặp kính cận, khuôn mặt Giang Nam vẫn như nặng trĩu nỗi ưu tư. Những kỷ niệm chiến trường găm sâu trong ký ức lại trỗi dậy. Ông thổ lộ rằng: “Với tôi, đau thương cũng là một sức mạnh. Sau khi làm xong bài Quê hương , tôi đưa cho cấp trên đọc, ngay lập tức nhận được sự đồng cảm. Rồi sau đó ít ngày, tôi gửi bài thơ ấy cho báo Thống Nhất ở Hà Nội. Tháng 9.1961, đang trên đường công tác ở huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), tôi bất chợt nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bài thơ Quê hương của mình và thông báo được giải Nhì báo Văn Nghệ.

Trong giây phút vui mừng đó, tất cả hình ảnh người vợ thân yêu cùng đứa con nhỏ của mình lại ùa về. Một lần nữa tôi bật khóc. Có lẽ mỗi câu thơ trong bài Quê hương đều hàm chứa hình ảnh người vợ của tôi. Cũng từ đó, tôi lao vào làm thơ phục vụ cách mạng, làm báo tuyên truyền, cổ vũ đồng chí của mình như một nhiệm vụ cao cả” – Nhà thơ Giang Nam bồi hồi kể lại. Ngày nhận thư của nhà thơ Hoàng Trung Thông mời ra Ha Nội nhận giải, Giang Nam đau đáu trong lòng một suy nghĩ: Phải chăng những tình cảm tha thiết, chân thành, xót xa đã giúp người ta có những câu thơ hay. Cũng từ đó, ông luôn nuôi cho mình một ý thức viết một cách chân thành và tha thiết nhất. Đúng vào ngày nhận giải, nhà thơ Chế Lan Viên đã gọi Giang Nam lại và nhận xét rằng: “Cả bài thơ Quê hương của Giang Nam và Núi đôi của Vũ Cao đều nói về sự hy sinh của người con gái, của tình yêu và nỗi cách xa. Nhưng, bài Quê hương của Giang Nam đau quá! Tuy bài thơ được giải Nhì nhưng sẽ có sức sống vượt thời gian”. Sau khi bài thơ Quê hương được công bố, rất nhiều cuộc mít tinh chớp nhoáng đã lấy bài thơ này ra đọc lên như một sự cổ vũ. “Lúc đó, tôi vô cùng sung sướng, thấy mình như được tiếp thêm niềm đam mê, viết không ngưng nghỉ” – Giang Nam cho biết.

Cuộc sống luôn hàm chứa những bất ngờ, cứ đinh ninh vợ con đã bị địch giết chết nhưng giữa năm 1962, bà Chiều và con gái bất ngờ được thả về, do địch không tìm ra căn cứ kết tội. Nỗi vui mừng chưa được bao lâu, năm 1968, vợ Giang Nam lại bị địch bắt lần thứ hai cho đến mãi năm 1973 mới được thả, nhờ một luật sư giỏi bào chữa. Nhớ lại thời kỳ này, giọng ông lại nấc lên: “Suốt hai lần vào tù, ra tội, những ngày dài sống đằng đẵng trong xà lim, đứa con gái duy nhất của tôi vẫn phải bám sát lấy mẹ. Ai có tách ra nó cũng không chịu. Có những ngày bị lạnh tím tái, tưởng chừng như đã ra đi. Có lúc sợ nó nhớ tôi, vợ tôi đã trùm chiếc áo cũ tôi lên người nó. ‘Tận khổ cam lai’, giờ vợ và con tôi vẫn khỏe mạnh. Sau ngày giải phóng, tôi có đi tìm lại người luật sư bào chữa cho vợ tôi để cảm ơn nhưng không gặp”.

Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976, theo điều động của tổ chức, Giang Nam vào làm việc tại TP Hồ Chí Minh. Năm 1978, chấp hành ý kiến của cấp trên, ông ra Hà Nội làm Thường trực Hội Nhà văn VN. Năm1989 (tách tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa), Tỉnh ủy Khánh Hòa xin ông về làm phó chủ tịch UBND tỉnh – Phụ trách văn xã. Cứ tưởng rằng bước vào đường quan, cảm xúc thơ của ông sẽ giảm đi nhưng đúng như ông nói: “Có về nơi cuối trời vẫn đau đáu với quê hương, với thơ ca. Được làm việc trên quê hương của mình, được phục vụ nhân dân, lại được nhiều người quý trọng và nhớ đến bài thơ Quê hương nổi tiếng nên tôi vẫn miệt mài viết, viết cho đến hơi thở cuối cùng mới thôi”.

Chính trong thời gian làm phó chủ tịch tỉnh, có dịp tiếp cận nhiều hơn với người dân cũng như muôn mặt của cuộc sống nên ông đã cho ra đời trường ca Sông Dinh mùa trăng khuyết . Vì cái đam mê viết nên hiện nay, dù tuổi đã cao, ông vẫn làm đại diện báo Văn Nghệ tại Khánh Hòa.

Nhà thơ Giang Nam: Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ

Có một thời, bạn đọc đón chờ những bài thơ từ chiến trường gửi ra của nhà thơ Giang Nam với một tâm lý đặc biệt. Họ muốn được neo lòng mình vào cuộc chiến đấu chung của đồng bào, chiến sĩ miền Nam, muốn được vui buồn, thổn thức với những mảng hiện thực mà tác giả nhanh nhạy ghi lại từ cuộc chiến khốc liệt, một cuộc chiến có thể làm những trái tim chai sạn cũng phải trào dâng niềm thương xót bởi có quá nhiều gương mặt phụ nữ và trẻ em…

Nhà thơ Thế Lữ, một người vốn đã ngừng làm thơ từ lâu, trong một lần nghe thơ Giang Nam qua làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam cũng đã phải nghẹn ngào nhắn gửi: ” Cất cao lời nữa/ Giang Nam ơi/ Tiếng thơ anh trào nước mắt tôi”. Quả thực, có một thời, thơ Giang Nam đã thành “một kênh cảm xúc chủ yếu nối tình cảm đồng bào Nam Bắc” – như nhà thơ Vũ Quần Phương từng nhận xét.

Đọc thơ Giang Nam những năm chiến tranh, ta thấy các nhân vật chính thường là trẻ em và phụ nữ. Có lẽ, với tác giả, đây là điểm “nhấn” để phơi lộ sự vô nhân đạo của kẻ thù cũng như cho thấy nét đẹp của cuộc kháng chiến toàn dân. Bài thơ “Lá thư thành phố” làm lời người vợ gửi cho chồng ở miền Đông đất đỏ có những câu nghe thật “thương thân tủi phận”: ” Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ/ Nó khóc làm em cũng khóc theo/ Anh gửi về em manh áo cũ/ Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều“. Tủi phận nhưng vẫn cho thấy cái tế nhị của người phụ nữ Việt Nam, dẫu nhớ chồng đến đâu vẫn phải mượn con để gửi gắm tình ý của mình. Cũng vậy, nhớ chồng, muốn lên với chồng mà phải nói vòng vo qua chuyện cái kim sợi chỉ: ” Em biết anh không ngừng chiến đấu/ Muôn ngàn anh, chị ở bên anh/ Bao giờ em được lên trên ấy/ Vá áo cho anh, rách lại lành!”.

Chị ngồi trước tờ giấy trắng Hàng giờ không viết một câuBóng cây ngắn dần theo nắngĐàn trâu chậm chạp qua cầu.

Mái tôn nóng bừng ngột ngạt Trán con lấm tấm mồ hôiCổng đồn mấy tên lính gácĐứng im như chết lâu rồi.

Dường như với Giang Nam, ở đâu có mẹ là ở đấy có con. Hai mẹ con luôn quấn quýt, no đói có nhau. Và có con là thêm lần thử thách sự vững vàng của người mẹ. Trong trường hợp này cũng vậy, hành động vô tình của đứa bé đã đánh thức một hướng suy nghĩ trong người mẹ: ” Con bé nhay nhay vú mẹ/ Bàn tay nhỏ xíu mân mê/ Chúm chím môi hồng nở hé/ Chói chang nắng lửa trưa hè“.

Người phụ nữ thấy day dứt. Ai nỡ để đứa con bé bỏng, đáng yêu nhường ấy phải chịu hệ lụy bởi sự cương cường của người lớn. Nhưng trong tình thế oái oăm, là phụ nữ, chị biết làm gì để bảo vệ con ngoài những giọt nước mắt: ” Có gì cay cay trong mắt/ Có gì mằn mặn trên môi/ Không, không thể là nước mắt/ Cắn răng quyết giữ cuộc đời “.

Đang khi người phụ nữ chuẩn bị có một hành động dứt khoát thì những kỷ niệm xưa cũ hiện về trong tâm trí chị: ” Vụt hiện những ngày kháng chiến/ Giành từng góc ruộng bờ ao/ Vụt hiện những ngày trên bến/ Vẫy khăn anh bước xuống tàu“. Đến đây, mạch thơ có sự chuyển đổi. Câu thơ 6 chữ với nhịp thơ mạnh mẽ, dứt khoát đã được tác giả cho chuyển sang 7 chữ, rồi thu về 6 chữ, rồi bung ra tới 8 chữ để phản ảnh tâm trạng rối bời, đan xen giữa tình chung ý riêng, nỗi thương gần và nỗi lo xa, vừa không muốn làm tổn thương tình cảm với chồng, với kháng chiến, vừa muốn đứa con bé bỏng không rơi vào vòng khổ ải. Nhưng rồi, chị giật mình như “nghe thấy” sự không đồng tình từ cô con gái: ” Đôi mắt con như hờn dỗi nghẹn ngào/ Con không nói nhưng chị nghe tiếng nói/ Có thể nào như thế được mẹ ơi” và cả từ người chồng trước hành động “phản tỉnh” của mình: “Thoáng bóng ai về bên cạnh chị/ Màu áo quen quen, mắt sáng ngời/ Da sém nắng, mặt buồn nghiêm nghị/ Có thể nào như thế được em ơi“.

Lũ quỉ ập vào dí súng bên hôngChị vẫn ngồi nghiêm trước trang giấy trắng.

Đọc bài thơ, không ai là không nhớ tới tiếng cười khúc khích của cô gái, cũng như khó có thể quên được cái việc… khóc của cậu bé ở phần mở đầu bài thơ ( Những ngày trốn học/ Đuổi bướm cầu ao/ Mẹ bắt được…/ Chưa đánh roi nào đã khóc!/ Có cô bé nhà bên/ Nhìn tôi cười khúc khích…). Đó chính là mấu chốt tạo nên sức ám ảnh của hình tượng, và là cái cớ để triển khai tứ thơ. Về đoạn thơ này, Hoài Thanh đã có lời bình rất tinh tế: “Khóc vì sợ đánh nhưng lại cũng vì muốn đánh vào tấm lòng của mẹ thương con mà người con rất biết”.

Sinh thời, nhà phê bình Hoài Thanh mặc dù thừa nhận Giang Nam có những bài thơ hay, song cũng phải nghiêm khắc nhắc nhở, là “ngòi bút của Giang Nam có khi quá dễ dãi”. Ở đoạn kết bài “Quê hương”, Giang Nam từng viết: ” Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/ Có một phần xương thịt của em tôi“, hai chữ “xương thịt” đặt ở đây có thể không khiến bạn đọc “gai gợn” bởi dẫu sao trước đó, nhà thơ đã làm ta xúc động trước cái chết của người nữ du kích không biết địch vất xác nơi đâu, nên cái cảm giác ” trong từng nắm đất/ có một phần xương thịt của em tôi” là xuất phát từ đời thực, tuy nhiên, cũng hai chữ ấy mà nhà thơ đưa vào đoạn thơ sau (bài “Gửi miền Bắc”) thì quả thực là không ổn, rất không ổn:

Hà Nội ơi, máu về tụ giữa tim Tóc Bác có bạc nhiều những đêm không ngủ?Giặc Mỹ liệu hồn: thịt xương ta đó.

Ưu điểm của thơ Giang Nam là có tình. Song ngoài tình thì thơ còn là nghệ thuật ngôn từ. Việc tác giả dùng từ ngữ thiếu chọn lọc trong một số trường hợp đã gây bất lợi cho việc thể hiện tình cảm của ông…

Quê hương và nhà thơ Giang Nam

Bài thơ Quê hương nổi tiếng của Giang Nam từng được đưa vào sách giáo khoa và bao thế hệ học trò đã thuộc lòng từng câu, từng chữ…

Ở đó, người đọc bị cuốn hút, ám ảnh bởi những tiếng cười khúc khích thật hồn nhiên để rồi bỗng thấy hụt hẫng khi nghe tin dữ…

Ở phần mở đầu bài thơ: Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường/Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ/”Ai bảo chăn trâu là khổ?”/Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao…, có lẽ lúc hoài niệm về thời thơ ấu, trong ký ức của tác giả đã hiện lên thấp thoáng những câu hát của… Phạm Duy: Ai bảo chăn trâu là khổ?Chăn trâu sướng lắm chứ!Ngồi mình trâu phất ngọn cờ lau và miệng hát nghêu ngao… (Em bé quê). Bởi nếu không thì tác giả đã không để câu Ai bảo chăn trâu là khổ trong ngoặc kép. Tuy nhiên, dẫu có như vậy thì câu này cũng liền mạch với một tứ thơ hết sức trong trẻo, hồn nhiên: … Những ngày trốn học/Đuổi bướm cầu ao/Mẹ bắt được/Chưa đánh roi nào đã khóc!/Có cô bé nhà bên/Nhìn tôi cười khúc khích… Một điều chắc chắn rằng, sở dĩ bài thơ có sức hấp dẫn người đọc là bởi tuy tác giả sử dụng những câu chữ mộc mạc nhưng lại khéo dụng công ở những lần “cô bé nhà bên cười khúc khích”, tạo nên một ấn tượng khó quên…

“Cô bé” ấy là ai?

“Cô bé” ấy tên thật là Phạm Thị Triều, sinh ra trong một gia đình có nghề làm mắm gia truyền ở Vĩnh Trường (Nha Trang). Nghề làm mắm cũng là để đóng góp kinh tài cho cách mạng. Cô bé Triều mới “trổ mã” đã theo chị gái lên căn cứ Đồng Bò. Gia đình thấy Triều còn nhỏ quá, cho người nhắn về nhưng cô nhất quyết không về. Khi mặt trận Nha Trang vỡ, Triều được điều về làm ở khối Dân chính của Tỉnh ủy Phú Khánh, đóng ở Đá Bàn. Chính nơi đây, cô đã gặp chàng trai sau này trở thành nhà thơ Giang Nam…

Còn anh chàng Nguyễn Sung (tên thật của Giang Nam), mới 16 tuổi đã bỏ học giữa chừng vì nhà trường đóng cửa do thời cuộc (Nhật đảo chính Pháp tháng 8.1945). Cậu theo anh trai là nhà cách mạng Nguyễn Lưu tham gia Việt Minh ở mặt trận Phú Khánh. Khoảng đầu năm 1954, Nguyễn Sung được điều về căn cứ Đá Bàn và anh bộ đội trẻ đã “ngẩn ngơ” trong lần đầu gặp Phạm Thị Triều.

Ít lâu sau anh biết thêm rằng không phải chỉ mình anh mà cả đám lính trẻ cũng thường tìm cớ này, cớ nọ để tạt vào cơ quan chỉ để… nhìn cô Triều một cái. “Bạo phổi” lắm thì cũng chỉ nói vu vơ một câu rồi… biến! Chuyện yêu đương, trai gái trong cùng tổ chức hồi ấy hầu như bị cấm nghiêm ngặt. Tuy nhiên, là một anh lính có “chút thơ văn” nên Nguyễn Sung vẫn nghĩ được cách tiếp cận người đẹp. Trước tiên, anh vận dụng khả năng thơ văn của mình để được giao nhiệm vụ chạy công văn. Và thế là mỗi lần đưa công văn đến cơ quan, anh lại kèm theo một lá thư (viết sẵn) cho nàng mà không nói năng, hỏi han gì thêm vì sợ lộ. Phải hơn một tuần sau lá thư thứ hai, anh mới “sướng rêm người” khi được nàng “ừ” (trong bức thư hồi âm)…

Yêu nhau “kín đáo” như thế mà vẫn không giấu được ai, may mà cả anh lẫn chị đều được anh em thương mến nên trước ngày anh ra Bình Định tham gia Đoàn Sĩ quan liên bộ đình chiến, chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định Genève, cơ quan đã tổ chức đám cưới cho họ. Sống với nhau được hai đêm thì anh lên đường, còn chị trở lại Nha Trang… Từ buổi đó, đôi vợ chồng trẻ phải luôn chịu cảnh xa cách, gian truân…

Sau Hiệp định Genève (tháng 7.1954), Nguyễn Sung vào hoạt động trong lòng địch, trong vai trò công nhân ở một xưởng cưa và âm thầm viết cho tờ Gió mới – là tờ báo hợp pháp ở Nha Trang. Tuy hoạt động cùng địa bàn nhưng đôi vợ chồng son vẫn không thể gặp nhau vì khác tuyến, phải tuân giữ kỷ luật khắt khe để không bị lộ… Mãi đến năm 1958, tổ chức chuyển vùng công tác cho họ vào Biên Hòa thì họ mới thật sự có những ngày hạnh phúc bên nhau, dù khoảng thời gian này cũng rất ngắn ngủi. Họ thuê một căn nhà nhỏ trong xóm lao động nghèo. Ông làm mướn cho một nhà thầu khoán, còn bà buôn bán lặt vặt…

Một thời gian sau, tổ chức lại rút ông về lại Khánh Hòa, bà Triều ở lại một mình nuôi con. Mỗi đêm, nghe con gái khóc ngằn ngặt vì nhớ cha, bà Triều phải lấy chiếc áo cũ của chồng đắp lên người con để “có hơi của ông ấy cho nó nín khóc”. Sau này, ông đã mượn lời vợ, và mượn luôn sự cố khóc đêm của con để bày tỏ nỗi nhớ thương: Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ/Nó khóc làm em cũng khóc theo/Anh gởi về em manh áo cũ/Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều… (Lá thư thành phố).

Quê hương ra đời trong hoàn cảnh nào?

Trong hồi ký Sống và viết ở chiến trường, Giang Nam đã kể lại như sau: “Bài thơ Quê hương ra đời năm 1960, dưới chân núi Hòn Dù, cách chúng tôi Trang hơn 40 cây số về phía tây. Lúc ấy, tôi đang là Phó ban Tuyên huấn của Tỉnh ủy Khánh Hòa. Chiều hôm ấy, anh Phó bí thư Tỉnh ủy đã gọi tôi lên chỗ anh ở (một căn chòi nhỏ giữa rừng). Anh ân cần hỏi thăm tôi về tình hình công tác, sức khỏe… Tôi linh cảm thấy có điều gì không bình thường. Quả nhiên sau đó, anh nói thật: Tin của cơ sở trong thành vừa báo cho biết vợ và con gái tôi bị địch bắt trước đó hơn một năm đã bị chúng thủ tiêu… Tôi bàng hoàng, trời đất như sập xuống đầu mình… Trong nỗi đau đớn tột cùng, tôi ngồi trong căn chòi nhỏ, trước mắt là ngọn đèn dầu lù mù được che kín ba mặt, tôi đã viết một mạch xong bài thơ, không xóa sửa chút nào… Không phải tôi làm thơ mà là ghi lại những ký ức, những hình ảnh đã trở thành máu thịt trong tôi. Từng đoạn nước mắt tôi trào ra, nhất là ở hai câu cuối của bài: Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/Có một phần xương thịt của em tôi”.

Bài thơ được ký tên Giang Nam, bởi dạo còn đi học ông rất thích những câu thơ của Hồ Dzếnh: Tô Châu lớp lớp phủ kiều/Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam… Sau đó, ông gửi bài thơ theo đường giao liên cho Báo Thống Nhất (Hà Nội), vì chỉ có tờ báo này được chuyển vào chiến trường phía Nam. Khoảng tháng 8.1961, trên đường công tác qua huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), qua chiếc radio, ông nghe Đài phát thanh Việt Nam đọc bài thơ Quê hương và thông báo bài thơ này đoạt giải nhì của Báo Văn nghệ. Trong giây phút vui mừng đó, hình ảnh thân yêu của vợ con ông lại ùa về, ông bật khóc…

Đinh ninh là vợ con mình đã chết, Giang Nam lao vào công tác, nhất là trên mặt trận văn hóa. Bỗng giữa năm 1962, vợ con ông được thả về vì địch không tìm được chứng cứ. Sum họp chưa được bao lâu, vợ ông lại bị bắt lần thứ hai (1968), đứa con gái cứ bám riết lấy mẹ nên cũng… bị tù. Mãi đến năm 1973 họ mới được trả tự do…

Hiện nay, đôi “bách niên – đồng chí” đều đã qua ngưỡng tuổi 80, họ vẫn hạnh phúc bên nhau trong căn nhà số 46 đường Yersin (TP.Nha Trang).

Sự nghiệp văn học, chính trị của ông người ta đã viết nhiều, viết chán. Nhưng, còn một điều, bao lần gặp gỡ ông vẫn khiến tôi khâm phục, ngưỡng mộ đó là mối tình chung thủy vượt muôn ngàn gian khổ của ông.

Mối tình ấy đã giúp ông có sức mạnh chống chọi những làn bom, mối tình ấy cũng giúp ông bung bật cảm xúc làm nên bài thơ “Quê hương” trong hơn một tiếng đồng hồ, mối tình ấy cũng tiếp cho ông sức mạnh giữ được thanh liêm trong nhiều năm làm Phó chủ tịch tỉnh Khánh Hòa.

Suốt cuộc đời ông chỉ yêu duy nhất một người, ở tuổi 83 nhưng lúc nào ông luôn gọi vợ bằng những từ ngọt ngào: em yêu, em thương… giống ngày son trẻ.

“Tình yêu gắn lý tưởng có sức manh ghê gớm lắm”

Ân cần, mến khách, ông bao năm vẫn thế. Vừa thấy tôi quàng áo mưa đến cổng, ông đã gọi vợ: “Em yêu ơi, pha cho anh ấm trà gừng, khổ quá, trời mưa suốt à”. Nhìn đống bản thảo của ông, tôi biết, ông vẫn luyện trí minh mẫn cho mình bằng cách đánh vật với chữ nghĩa, những hội thảo, những trang hồi ký viết dở và… tập dưỡng sinh, làm thơ tình tặng riêng cho vợ.

Với ông, cách rèn luyện này đã mang lại cuộc sống thường ngày thư thái hơn. Biết sức khỏe ông đã yếu, tôi chỉ xin tiếp xúc một cuộc thoại ngắn xung quanh mối tình đầy cảm động của ông với bà Phạm Thị Triều.

Vầng trán đã xô dày nếp nhăn, nhíu mày mãi, ông kể: “Hồi đó, tôi giác ngộ cách mạng rất sớm, từ năm 20 tuổi, lại được người anh trai – Nhà cách mạng Nguyễn Lưu truyền cho bầu nhiệt huyết nên luôn sôi sục ý chí chiến đấu và sẵn sàng nhận nhiệm vụ.

Có năng khiếu chữ nghĩa nên khi vào hoạt động cách mạng, tôi được giao nhiệm vụ tuyên huấn. Cũng từ những ngày làm tuyên huấn đó, tôi đã quen và thầm thương, trộm nhớ bà Phạm Thị Triều”. Chiến tranh khắc nghiệt nhưng tình yêu bung nở một cách giản dị và có sức gắn kết bền chặt đến phi thường.

“Cùng làm ở cơ quan dân chính Phú Khánh, hồi đó, tôi rất thích vợ tôi, nhưng xung quanh cô ấy lại có rất nhiều người theo đuổi nên chỉ còn cách mỗi lần đến đưa công văn, gửi cho cô ấy một lá thư chứ không dám đến hỏi thêm gì.

Viết thư cũng chỉ dám hỏi mấy câu đơn giản như: anh có ý thích em, nhiều đêm anh hay nhớ em, em nghĩ thế nào?. Nhớ nhất là trong một lần, mới quen nhau thôi nhưng nhớ đến day dứt, tôi thức trắng đêm và viết cho Triều một lá thư, để dưới đáy sắp công văn. Chẳng biết Triều có nhận được không nhưng về nhà, lòng lúc nào cũng bồn chồn không yên”.

Con tim dường như có lý lẽ riêng, cũng từ đó Giang Nam quyết chí phải làm việc thật tốt để không phụ lòng cấp trên cũng vừa để lấy lòng bà Triều.

“Mình nhà nghèo mà, lại là anh lính quèn nữa, chỉ biết chút ít thơ ca thôi nên đôi lúc cũng tự ti lắm nhưng không thôi ý nghĩ nhớ đến Triều được. Tuy nhiên lý tưởng cách mạng luôn nung nấu trong tâm can tôi”- Giang Nam tâm sự.

Sau những lá thư đầy thẹn thùng, e ấp, ngóng trông, sau bao bồn chồn chờ đợi suốt 2 tuần lễ, cuối cùng, Giang Nam cũng nhận được hồi âm: “Em cũng thích anh”. Từ đó họ bắt đầu một tình yêu chung thủy và tin tưởng đến kỳ lạ.

Kỳ lạ đến nỗi, chính họ cũng không lý giải nổi. Vén những lọn tóc bạc, bà Triều ngồi trầm ngâm. Hình ảnh của bà gợi tôi nhớ những bà mẹ quê xưa, tần tảo, cam chịu, thủy chung, hy sinh, tháo vát. Nhấp một ngụm trà nóng, bà kể:

“Tôi nhà cũng nghèo nhưng có truyền thống cách mạng lắm. Từ nhỏ đã khát khao được đi làm cách mạng rồi. Tôi mến và nhận lời yêu anh Nam cũng vì cái lý tưởng của anh ấy. Tình yêu gắn với lý tưởng thì có sức mạnh ghê gớm lắm.

Với lại anh ấy cũng hiền lành, chăm chỉ. 16 tuổi, tôi đã hoạt động du kích ở căn cứ Đồng Bò, gia đình ngăn cấm, tôi cũng vẫn xin đi bằng được. Khi mặt trận Nha Trang bị quân địch càn quét mạnh quá, tôi lên Đá Bàn làm ở Văn phòng Tỉnh ủy.

Lúc đó, anh Nam làm ở ty thông tin, sau này là báo Thắng nhưng mỗi lần gặp nhau, anh Nam vẫn kể về lý tưởng cách mạng của mình, tôi thích. Cả nhà anh ấy cũng đều theo cách mạng như nhà tôi nên thấy có nhiều điểm đồng cảm và cảm giác gần gũi lúc nào không hay”.

Cùng ở khối cơ quan Quân Dân Chính Đảng, thường xuyên được giáp mặt nhau nhưng cũng chỉ dám liếc nhìn chứ không nói chuyện riêng được lâu. Vì cái thời đó, cách mạng là trên hết. Cho đến ngày, Giang Nam có tên trong danh sách đi chiến trường.

Thấy tình cảm cao đẹp của hai người đã chín muồi nên tổ chức đã gọi Giang Nam đến và nói: “Nếu yêu rồi thì phải xác định gắn với cách mạng, tình yêu của người lính phải luôn cao cả”. Niềm vui như vỡ òa, Giang Nam về tất bật chuẩn bị và nhờ tổ chức đứng ra chủ trì cho hôn nhân của ông.

Sau đêm tân hôn đúng 2 ngày (vào đầu năm 1955), Giang Nam phải nhận nhiệm vụ mới ở Bình Định. Đây cũng là cái mốc đánh dấu cho những chuỗi ngày xa nhau đằng đẵng của ông bà. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao nhận các thư mật, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi “Gió mới” hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang.

Cảm xúc chủ đạo làm nên bài thơ “Quê Hương”

Ngày chia tay, bà Triều tặng cho Giang Nam chiếc khăn tay và lá thư với lời nhắn nhủ ngắn gọn: “Hãy giữ gìn sức khỏe, tình yêu của em luôn trọn vẹn cho anh, mãi mãi là vậy và lớn thêm. Anh hãy sống cho lý tưởng cách mạng trước chứ đừng lo nghĩ cho em nhiều. Dù có bất cứ điều gì xảy ra, em cũng một lòng đợi anh, chung thủy với anh”.

Lao vào hoạt động báo chí cách mạng, không quản ngày đêm, chính những lúc mệt mỏi ông lại đem lá thư của bà Triều ra đọc. Ông bảo: “Có lúc nhớ đến quay quắt, càng nhớ bao nhiều càng muốn đánh cho quân địch cút đi bấy nhiều. Chỉ có sạch bóng quân xâm lược thì tình yêu riêng tư mới trọn vẹn được.

Có những đêm thức trắng làm báo cho kịp chuyển vào các mặt trận, tôi lại mang lá thư vừa là tình cảm vừa là sự động viên của Triều để đọc cho có thêm sức mạnh tinh thần. Có một người vợ như thế chẳng còn gì ngăn bước được tôi làm cách mạng cả.

Có tuần tôi viết hàng chục bài thơ tuyên truyền kháng chiến, quân giặc điên tiết lùng sục nhưng vẫn không tài nào phát hiện được”. Mỗi lần có điều kiện, Giang Nam cũng chỉ ghi được mảnh giấy nhỏ gửi cho bà Triều để vơi bớt nỗi nhớ mong. Nhưng, thời “bom rơi đạn lạc” có lúc lời nhắn đến, có lúc mãi bặt tăm.

Khi Mỹ – nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng” cán bộ Đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà cùng chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà.

Cơn mưa Nha Trang đổ nặng hạt hơn, bà Triều đưa tay quẹt hai dòng nước mắt vừa trộm bò xuống. Kỷ niệm hóa thành nỗi niềm, bà rưng rưng: “Anh ạ, có người phụ nữ nào lại không thích gần chồng nhưng nếu vì tình yêu riêng này thì ích kỷ quá, phải không?.

Bao đêm con khóc, nhớ chồng cũng chỉ biết đắp cái áo của anh Nam lên người con thôi. Nhà tôi đã có nhiều người theo cách mạng, thuộc diện phải ở nhà nhưng không được góp sức đánh giặc lòng tôi bứt rứt lắm”.

Bao lần bị giặc bắt và tra khảo nhưng bà Triều vẫn cắn răng chịu đựng tuyệt đối không khai việc mình làm giao liên cho cách mạng. Đứa con là kết tinh tình yêu của ông bà cũng chịu không ít khổ ải.

“Tôi luôn nghĩ chồng và con là tình yêu trọn vẹn nên dù địch bắt, tôi cũng bồng con theo”. Cuối năm 1959, không làm gì được bà Triều, địch bắt giam cả hai mẹ con vào phòng giam lạnh lẽo, đầy ẩm ướt.

Bị địch biệt giam, vợ chồng mất liên lạc nhau, tổ chức cũng không liên lạc được, ông kể: “Một buổi tối giữa năm 1960, giữa lúc trời mưa tầm tã, tôi được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng, thăm hỏi động viên rồi thông báo tin chẳng lành có thể vợ và con gái tôi đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi (Sài Gòn) vì chúng đang rất điên tiết vì những hoạt động bí mật của em Triều mà không bắt em khai ra được điều gì.

Đau đớn đến bàng hoàng, sự thương cảm xót xa cứ thế trào lên. Tất cả những kỷ niệm cũ, tình yêu nghẹn ngào, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt như sống dậy xót xa, nhức nhối, cồn cào, buốt nhói, tôi đã phải bật khóc nức nở và gọi tên Triều cho đến lúc mệt lả.

Cảm giác như mình vừa mất đi điều thiêng liêng, to lớn nhất. Và chỉ trong một giờ đồng hồ tôi đã viết xong bài thơ “Quê hương”. Viết liền mạch, không tẩy xóa, không thay đổi”- Giang Nam bồi hồi nhớ lại.

Sinh ly tử biệt vẫn nguyên vẹn niềm tin

Dù những ngày tháng đau khổ đã đi qua, rất lâu, nhưng, mỗi lần nhắc đến những mất mát hy sinh, khuôn mặt Giang Nam vẫn như nặng trĩu nỗi ưu tư. Những kỷ niệm chiến trường găm sâu trong ký ức lại đua nhau trỗi dậy.

Ông thổ lộ rằng: “Với tôi, đau thương cũng là một sức mạnh. Sau khi làm xong bài “Quê hương”, tôi đưa cho cấp trên đọc, ngay lập tức, nhận được sự đồng cảm. Rồi, sau đó ít ngày, tôi gửi bài thơ ấy cho báo Thống Nhất (tiền thân của báo Văn Nghệ) ở Hà Nội.

Tháng 9/1961, đang trên đường công tác ở huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), tôi bất chợt nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bài thơ “Quê hương” của mình và thông báo được giải nhì báo Văn Nghệ. Trong giây phút vui mừng đó, tất cả hình ảnh người vợ thân yêu cùng đứa con nhỏ của mình lại ùa về.

Một lần nữa, tôi bật khóc suốt cả buổi chiều. Mọi nỗi nhớ trỗi dậy quặn thắt. Có lẽ mỗi câu thơ trong bài “Quê hương” đều hàm chứa hình ảnh người vợ của tôi. Cũng từ đó, tôi lao vào làm thơ phục vụ cách mạng, làm báo tuyên truyền cổ vũ đồng chí của mình như một nhiệm vụ cao cả, chẳng có gì ngăn cản được tôi.

Luôn nhủ với lòng mình nếu không chiến đấu đến cùng thì hổ thẹn với em Triều và con gái của mình quá. Những câu thơ như: “Giặc bắn em rồi quăng mất xác/ Chỉ vì em là du kích em ơi/ Đau xé lòng anh chết nửa con người…” viết về em Triều luôn canh cánh trong mỗi bước đường tôi đi”.

Ngày nhận thư của nhà thơ Hoàng Trung Thông mời ra Hà Nội nhận giải, Giang Nam đau đáu trong mình một suy nghĩ: Phải chăng những tình cảm tha thiết, chân thành, xót xa đã giúp người ta có những câu thơ hay.

Cũng từ đó, ông luôn nuôi cho mình một ý thức viết một cách chân thành và tha thiết nhất. Đúng vào ngày nhận giải, nhà thơ Chế Lan Viên đã gọi Giang Nam lại và nhận xét rằng: “Cả bài thơ “Quê hương” của Giang Nam và “Núi đôi” của Vũ Cao đều nói về sự hy sinh của người con gái, của tình yêu và nỗi cách xa. Nhưng, bài “Quê hương” của Giang Nam đau quá, quằn quại quá.

Không có một tình yêu lớn thì không thể có được cảm xúc đó. Tuy bài thơ được giải nhì nhưng sẽ có sức sống vượt thời gian”. Sau khi bài thơ “Quê hương” được công bố, rất nhiều cuộc mít tinh chớp nhoáng đã lấy bài thơ này ra đọc lên như một sự cổ vũ. “Lúc đó, tôi vô cùng sung sướng, thấy mình như được tiếp thêm niềm đam mê, viết không ngưng nghỉ” – Giang Nam kể.

Cuộc sống luôn hàm chứa nhiều điều bất ngờ. Sau khi bắt biệt giam gần 3 năm trời nhưng không tìm ra chứng cứ kết tội, lại được một luật sư bào chữa miễn phí nên quân địch bắt buộc phải thả bà Triều. Nhớ như in những ngày kham khổ đó, bà Triều vừa nấc nghẹn, vừa kể:

“Chúng đã dùng đủ các loại hình tra tấn, cả vào đứa con nhỏ của tôi nhưng tôi quyết không khai. Lúc đó, có một ý nghĩ nếu khai là hèn, là có tội với tình yêu của anh Nam, dù đau đớn đến xé lòng khi nhìn đứa con thơ bị giặc hành hạ”.

Khâm phục trước ý trí kiên cường của bà Triều, tổ chức đã sắp xếp cho ông bà gặp nhau. Đoàn tụ trong nước mắt, đêm đó họ thức trắng bên nhau. Nhưng cũng giống lần trước, bên nhau được mấy ngày, tổ chức lại điều Giang Nam lên Ban Tuyên huấn Khu đóng ở vùng giáp ranh hai tỉnh Đắk Lắk và Tuyên Đức.

“Lần chia tay này, tôi chỉ còn được 37 kg, anh Nam cứ nhìn ái ngại nhưng tôi vẫn kiên quyết nói, nếu không tròn nhiệm vụ với cách mạng thì tôi càng đau khổ hơn. Thế là lại chia ly.

Tổ chức cách mạng khuyên tôi nên ở nhà chăm con nhưng lý tưởng không cho phép nên sức khỏe bình phục, tôi lại hoạt động trở lại”. Về hoạt động căn cứ mới, nhiều người đã biết tiếng Giang Nam qua bài thơ “Quê hương” và muốn tiến đến với ông nhưng ông vẫn giữ trọn tình chung thủy với và Triều.

Vì bị giặc theo dõi quá gắt gao nên hoạt động cách mạng lại chưa được bao lâu, năm 1968, vợ và con Giang Nam lại bị địch bắt lần thứ hai cho đến mãi năm 1973 mới được thả về cũng nhờ sự bào chữa của một luật sư.

Nhắc đến thời kỳ này, giọng ông lại nấc lên: “Suốt 2 lần vào tù, ra tội, những ngày dài sống đằng đẵng trong xà lim, đứa con gái duy nhất của tôi vẫn phải bám sát lấy mẹ. Ai có tách ra nó cũng không chịu.

Có những ngày bị lạnh tím tái tưởng chừng như đã ra đi. Có lúc nhớ tôi, vợ và con chỉ biết ôm nhau khóc. “Tận khổ cam lai”, may thay, giờ vợ và con tôi vẫn khỏe mạnh.

Lần ra tù thứ hai cũng nhờ nhiều vào một người luật sự, họ bào chữa một cách vô tư. Lúc vợ đang trong tù chưa biết tin tức gì, nhiều người đã khuyên tôi nên lấy người khác nhưng tình yêu của tôi đã dành trọn cho em Triều từ lâu”.

Ấm áp, bình dị tuổi xế chiều.

Bây giờ sức khỏe của cả ông Nam, bà Triều như chuyến tàu đang trượt dần về ga cuối, nhưng họ vẫn hâm nóng hạnh phúc cho mình bằng những kỷ niệm về tình yêu duy nhất họ đã có với nhau.

Bao năm sau ngày đất nước giải phóng, cuộc sống đẩy đưa, nhiều đổi thay, đôi lúc ông Nam vẫn đau đáu thế sự, đó là tâm thế của người quá yêu, quá trăn trở cuộc sống này. Những lúc như thế, bà Triều lại xoa dịu và thỏ thẻ vào tai ông: “Hãy bình tĩnh đi anh, cuộc đời mà”.

Mỗi lần nhìn ông, từ tận sâu đáy mắt vẫn ừng ực nỗi quặn thắt. Có lần ông ôm ngực thốt ra: “Sao tình yêu bây giờ cũng giành giật, toan tính, cuộc sống cũng toan tính. Làm văn nghệ cũng toan tính, chỉ trực hưởng thụ.

Tôi quan niệm làm văn nghệ, lãnh đạo văn nghệ là phải phát hiện ra cái mới, phải đi tìm, nuôi dưỡng và bảo vệ những người sáng tạo đích thực chứ không phải đến ngồi tán gẫu nhau cho sung sướng rồi hưởng lương, rồi đấu đá, thế thì buồn lắm…”.

Dễ hiểu với nỗi thế sự của ông, tôi bảo: “Bây giờ hãy xem chuyện đó là một khía cạnh của cuộc sống, rồi sẽ có lúc điều chỉnh lại thôi”. Bà Triều tinh ý, chạy lại nắm chặt tay ông bảo: “Anh ơi, đừng giận, bệnh tim lại tái phát mất”. Những lúc thế này càng thấy cái hạnh phúc tuyệt diệu của “tình già”.

Lớn tuổi thường luyến tiếc kỷ niệm, đôi khi lại thích ồn ào. Nhưng với bà Triều thì lúc nào cũng vậy, chầm chậm, xem mọi thứ như một lẽ thường tình phải xảy ra như thế. Đó là cái cách ứng xử của người đã nếm trải quá nhiều đau đớn của cuộc sống.

Kéo tôi ra mái hiên trước nhà, bà tâm sự: “Cuộc sống luôn có biến đổi. Chỉ có tình cảm được vun đắp may ra mới bền lâu. Ông ấy mổ tim mấy lần rồi, một phần cũng vì nghĩ đến thế sự quá nhiều. Những lúc như thế tôi phải luôn bên cạnh để “dỗ ngọt” ông ấy đấy”.

Sau giải phóng, có điều kiện, nhiều lần vợ chồng Giang Nam đã tìm người luật sư đã bào chữa miễn phí cho bà Triều để cảm ơn nhưng không gặp được.

Quê hương của Giang Nam – Ngỡ mất vợ, có bài thơ hay da diết

Năm 1960, trên chiến khu ở Khánh Hoà, Giang Nam nhận được tin dữ, đau xé lòng: Vợ anh (chị Phạm Thị Chiều) và con gái đầu lòng của anh chị mới hơn một tuổi (cháu Trang) đã bị Mỹ – nguỵ sát hại trong tù. Bài thơ Quê hương của Giang Nam ra đời trong hoàn cảnh ấy. Viết liền mạch. Đúng là tâm trạng: “Đau xé lòng anh, chết nửa con người!”. Viết xong, Giang Nam trình lên đồng chí Nguyễn Xuân Hữu (Bảy Hữu), Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hoà hồi đó, “xin ý kiến”. Anh Bảy trầm ngâm: “Hay lắm! Nhưng hơi buồn… Cậu ráng giữ tinh thần và ý chí tiến công. Hy sinh, mất mát là chuyện bình thường trong chiến tranh. Mình tin vào Giang Nam lắm đó!”. Bản thảo bài thơ theo đường giao liên Trường Sơn đi dần ra Bắc. Mãi 11 tháng sau, vào năm 1961, Giang Nam mới được đọc bài thơ Quê hương in trên báo Văn nghệ gửi từ Hà Nội vào. Tác giả nhận ngay được giải nhì về thơ. Bởi nó rất hay, hay đến thật lòng, hay da diết. Nhưng, số phận không chỉ mỉm cười riêng với thơ. Năm sau (1962), có ai ngờ, vợ con anh vẫn còn sống và thoát ra khỏi ngục tù của Mỹ – ngụy. Năm 1964, tổ chức bố trí cho chị Chiều và cháu Trang từ Sài Gòn – Chợ Lớn lên thăm anh ở căn cứ Trung ương Cục. Song, một lần nữa, thật nghiệt ngã, chị cùng con gái lại bị địch bắt bên dòng sông Vàm Cỏ Đông. Lần này, chị và cháu ở tù cùng với chị Châu (vợ anh Lê Hồng Tư, tức chị X. trong tác phẩm “Sống như anh” của Trần Đình Vân), chị Quyên (vợ liệt sĩ – Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi) và một số đồng chí nữ trung kiên khác. Hơn 10 năm sau, khoảng giữa năm 1973, anh chị và cháu gái mới lại được gặp nhau. Ngỡ không thể nhận ra được nhau nữa, ngay trên Củ Chi – đất thép Thành Đồng.

Chiến tranh, cả những hy sinh, mất mát đã lùi xa. Nhưng, bài thơ Quê hương vẫn da diết đọng lại trong tâm khảm người đọc nhiều thế hệ. Mãi đến năm 1998, nhớ chuyện cũ, Giang Nam vẫn còn viết: “… Ôi con cò, con vạc. Nhớ thương bay mãi đến bây giờ…”. Tuổi mới yêu – dù ở thế hệ nào – rồi cũng bắt nhịp được trái tim mình vào tứ thơ “cười khúc khích” – “vẫn khúc khích cười, khi tôi hỏi nhỏ”. Quả thật, đời thường và sự nghiệp của anh đều hạnh phúc. Chỉ riêng một bài thơ như vậy, dường như cũng đã nói đủ về Giang Nam…