Bài Thơ Nói Với Con Được Viết Theo Thể Thơ Nào / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Kovit.edu.vn

Tây Tiến Có Thể Liên Hệ Với Bài Nào

Chân Dung Người Lính Trong “Tây Tiến” Của Quang Dũng Và “Đồng Chí” Của Chính Hữu

Soạn Bài: Đồng Chí – Ngữ Văn 9 Tập 1

Top 6 Bài Văn Đóng Vai Người Lính Trong Bài Thơ “Đồng Chí” Kể Lại Câu Chuyện Lớp 9

Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Đồng Chí”

Phân Tích 3 Câu Thơ Cuối Bài “Đồng Chí”

CÂU HỎI: Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng có thể liên hệ với những bài nào?

TRẢ LỜI:

– Liên hệ so sánh với bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu: Khi liên hệ so sánh “Tây Tiến” với “Việt Bắc”, người ta sẽ thường liên hệ về hình ảnh người lính trong hai bài với nhau, hình ảnh đoàn quân ra trận; liên hệ đến thiên nhiên, khung cảnh núi rừng của hai bài để từ đó chỉ ra sự giống và khác nhau trong 2 bài thơ, làm nổi bật hẳn lên cái khác của Quang Dũng trong bài thơ của mình.

– Liên hệ so sánh với bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận: Với bài thơ này, người ta sẽ liên hệ so sánh đến bức tranh thiên nhiên trong hai bài, để nêu rõ được nét đặc trưng trong tác phẩm của Quang Dũng, khác biệt với Huy Cận trong việc miêu tả thiên nhiên, cảm nhận và tâm trạng người nghệ sĩ gửi gắm trong cảnh.

– Liên hệ so sánh với bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử: Khi liên hệ so sánh “Tây Tiến” với “Đây thôn Vĩ Dạ”, người ta sẽ liên hệ đến khung cảnh thiên nhiên trong hai bài thơ, đặc biệt là khung cảnh trữ tình trong những câu thơ ở đoạn thứ 2 của bài thơ “Tây Tiến” về Châu Mộc chiều sương cùng nước cùng hoa với khung cảnh trong đoạn thơ thứ nhất của “Đây thôn Vĩ Dạ” để từ đó nêu ra sự giống và khác nhau, lí giải vì sao lại có sự khác biệt ấy để người đọc càng khắc ghi thêm dấu ấn đặc biệt của nhà thơ Quang Dũng trong việc miêu tả thiên nhiên qua ngòi bút của mình.

Một số bài văn liên hệ Tây Tiên với những tác phẩm văn học khác

Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến Bài Văn Đạt Điểm 9 Trong Kì Thi Học Sinh Giỏi Tỉnh

Phân Tích Bài Thơ “tây Tiến”

Văn Mẫu Tuyển Chọn 5 Bài Văn Mẫu “Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Dàn Ý Và Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Tải Nhạc Đọc Thơ Tây Tiến Mp3 Miễn Phí

Cảm Nhận Về Bài Thơ “nói Với Con” (5)

Nghị Luận Về Bài Thơ Nói Với Con

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Nói Với Con Của Nhà Thơ Y Phương

Tìm Hiểu Bài Tho Phong Kiều Dạ Bạc

Tôi Đã Yêu Em Mất Rồi ‘sữa Rửa Mặt Neem’ Ơi !

Mai Liễu & Đêm Nay Con Rửa Mặt Cho Cha

Ca dao từng có câu: “Công cha như núi Thái Sơn”. Có phải vì vậy mà người cha luôn khao khát những đứa con có được sự vững vàng, rắn rỏi mạnh mẽ trên đường đời. Qua bài thơ Nói với con của Y Phương, người đọc nhận thấy tình cảm và mong ước của một người cha như vậy dành cho con, một thứ tình cảm nồng ấm và thiêng liêng, giản dị. Bài thơ đồng thời cũng gợi cho người đọc những suy nghĩ sâu sắc về trách nhiệm của người làm con.

Mượn lời một người cha nói với con, bài thơ gợi về cội nguồn của mỗi con người, đồng thời bộc lộ niềm tự hào trước sức sống mạnh mẽ, bền bỉ của quê hương mình. Nhà thơ đã mở rộng từ tình cảm gia đình đến tình cảm quê hượng, từ những kỷ niệm gần gũi, thiết tha mà nâng lên thành lẽ sống.

Mở đầu bài thơ bằng những hình ảnh cụ thể, Y Phương đã tạo được không khí gia đình đầm ấm, quấn quýt. Từng bước đi, từng tiếng nói tiếng cười của con được cha mẹ mừng vui đón nhận:

Những câu thơ có cách diễn đạt thật độc đáọ đã cho thấy tình yêu thương của cha mẹ đối với con. Con lớn lên hàng ngày trong tình yêu thương ấy, trong sự nâng niu, mong chờ của cha mẹ.

Không chỉ có tình yêu thương của cha mẹ, thời gian trôi qua, con trưởng thành trong cuộc sống lao động, trong thiên nhiên thơ mộng và nghĩa tình của quê hương. Đó là cuộc sống của những “người đồng mình”, rất cần cù và tươi vui:

Những từ ngữ giàu sắc thái biểu hiện: cài nan hoa, ken câu hát,… đã miêu tả cụ thể cuộc sống ấy đồng thời thể hiện tình cảm gắn bó, quấn quýt của con người quê hương. Rừng núi quê hương thơ mộng và trữ tình cũng là một trong những yếu tố nuôi con khôn lớn, nâng đỡ tâm hồn con. Thiên nhiên với những sông, suối, ghềnh, thác… đã nuôi dưỡng con người cả về tâm hồn và lối sống: “Rừng cho hoa, con đường cho những tấm lòng”. Cách gọi “người đồng mình” đặc biệt gần gũi, thân thiết và gắn bó như gợi niềm ruột thịt yêu thương.

Không chỉ gợi cho con về nguồn sinh dưỡng, cha còn nói với con về những đức tính cao đẹp của “người đồng mình”. Đó là lòng yêu lao động, hăng say lao động với cả tấm lòng. Đó là sức sống bền bỉ, mạnh mẽ, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ:

Người đồng mình thương lắm con ơi

Cao đo nỗi buồn

Xa nuôi chí lớn

Dùng những từ ngữ rất mạnh mẽ như “cao”, “xa”, “lớn”, tác giả muốn nhấn mạnh cuộc sống khoáng đạt, mạnh mẽ của những “người đồng mình”. Dù khó khăn, đói nghèo còn nhiều nhưng họ không nhụt chí, ý chí của họ vẫn rất vững chắc, kiên cường:

Những “người đồng mình” vượt qua vất vả để bám trụ lấy quê hương. Bằng cuộc sống lao động không mệt mỏi, họ xây dựng quê hương với những truyền thống cao đẹp. Những “người đồng mình” mộc mạc, thẳng thắn nhưng giàu chí khí, niềm tin…Người cha đã kể với con về quê hương với cảm xúc rất tự hào.

Tình cảm của người cha dành cho con rất thiết tha, trìu mến. Tình cảm này bộc lộ tự nhiên, chân thực qua những lời nhắn gửi của cha cho cọn. Người cha muốn con sống phải có nghĩa tình, thuỷ chung với quê hương, biết chấp nhận những khó khăn, vất vả để có thể:

Người cha mong cho con mình sống ngay thẳng, trong sạch, sống với ý chí, niềm tin để vững vàng vượt qua mọi thử thách khó khăn. Người cha mong cho con sống phải luôn tin vào khả năng của mình, tin tưởng vào bản thân. Có như vậy, con mới có thể thành công, mới không thua kém ai cả. Người cha đã nói với con bằng tất cả lòng yêu thương của mình, nói với con những điều từ đáy lòng mình. Điều lớn nhất người cha đã truyền dạy cho con chính là niềm tự tin vào bản thân và lòng tự hào với sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, với truyền thống của quê hương.

Qua những lời người cha nói với con, có thể thấy tình cảm của người cha đối với con thật trìu mến, thiết tha và tin tưởng. Điều lớn lao nhất mà người cha muốn nói với con chính là niềm tự hào với sức sống mạnh mẽ bền bỉ của quê hương và niềm tin khi bước vào đời.

Bài thơ đã gợi cho người đọc những niềm cảm động sâu xa và những suy nghĩ sâu sắc. Thì ra, đằng sau những lặng lẽ, thâm trầm cùa cha là biết bao yêu thương, biết bao mong mỏi, biết bao hi vọng, biết bao đợi chờ… Con lớn lên như hôm nay không chỉ nhờ vào cơm ăn và áo mặc mà còn mang nặng ân tình của những lời dạy dỗ ân cần thấm thía. Quả là:

Vậy thì, là người làm con, con xin nguyện:

Chẳng những vậy, con sẽ bước theo những bước chân vững chắc mà cha để lại trên con đường cha bước đến đỉnh Thái Sơn – nguyện “sống như sông như suối”, nguyện ngẩng cao đầu “lên đường” mà không “thô sơ da thịt”. Và trên con đường ấy, con sẽ mang theo hình ảnh quê hương để tiếp tục nối tiếp cha anh “tự đục đá kê cao quê hương” thân thiết của mình.

Bài thơ có nhiều nét đặc sắc về nghệ thuật, tuy nhiên, độc đáo nhất và đặc sắc nhất là cách thể hiện, diễn tả tình cảm. Những từ ngữ, hình ảnh trong bài rất mộc mạc nhưng đồng thời cũng rất giàu hình ảnh gợi tả vừa cụ thể vừa có sức khái quát cao.

Bài thơ nhắc nhở chúng ta về tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương, của dân tộc. Qua lời nói với con, ta phần nào hiểu rõ hơn, cảm nhận sâu sắc hơn những tình cảm của người cha dành cho con. Những bài học mà người cha trong bài thơ Nói với con có lẽ là những bài học mà bất kỳ người cha nào cũng muốn dạy cho con mình. Và những bài học giản dị, mộc mạc đó có lẽ sẽ theo con suốt trên chặng đường đời, bài học của cha – bài học đầy ý nghĩa sâu sắc.

Mở Bài Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương

Top 8 Mở Bài Nói Với Con Hay Nhất Ngữ Văn 9

Dàn Ý Cảm Nhận Vẻ Đẹp Người Đồng Mình Trong Bài Thơ Nói Với Con

Phân Tích Bài Thơ Nói Với Con Của Nhà Thơ Y Phương

Cảm Nhận Của Em Về Khổ Thơ Đầu Bài: “nói Với Con” Của Y Phương.

Phân Tích Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương

Cảm Nhận Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương

Trình Bày Cảm Nhận Khổ Cuối Bài Nói Với Con Của Y Phương

Cảm Nhận Khổ Cuối Bài Nói Với Con Của Y Phương

Bài Thơ “chị Dâu” Của Vương Trọng

Cổng Điện Tử Ubnd Huyện Núi Thành

I. Tác giả:

– Y Phương tên khai sinh là Hứa Vĩnh Sước, là nhà thơ dân tộc Tày. Ông sinh năm 1948, quê ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

– Thơ ông thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của người miền núi.

1. Hoàn cảnh sáng tác:

– Bài thơ ra đời vào năm 1980 – khi đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân cả nước nói chung, nhân dân các dân tộc thiểu số ở miền núi nói riêng vô cùng khó khăn, thiếu thốn.

2. Bố cục: 2 phần:

– Phần 1: Từ đầu đến “Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”: Người cha nói với con cội nguồn sinh dưỡng: Con lớn lên trong tình yêu thương, sự nâng đỡ của cha mẹ, trong cuộc sống lao động nên thơ của quê hương.

– Phần 2: Còn lại: Đức tính tốt đẹp của người đồng mình. Người cha bộc lộ lòng tự hào về sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, về truyền thống cao đẹp của quê hương và mong ước con hãy kế tục xứng đáng truyền thống ấy.

3. Những nét tiêu biểu về nội dung, nghệ thuật

a. Cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người.

– Đến với bài thơ, ta thấy điều đầu tiên Y Phương muốn nói với con chính là cội nguồn sinh dưỡng mỗi con người – tình yêu thương vô bờ bến mà cha mẹ dành cho con – tình gia đình:

Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười.

+ Nhịp thơ 2/3, cấu trúc đối xứng, nhiều từ được láy lại, tạo ra một âm điệu tươi vui, quấn quýt: “chân phải” – “chân trái”, rồi “một bước” – “hai bước”, rồi lại “tiếng nói” – “tiếng cười”….

+ Bằng những hình ảnh cụ thể, giàu chất thơ kết hợp với nét độc đáo trong tư duy, cách diễn đạt của người miền núi, bốn câu thơ mở ra khung cảnh một gia đình ấm cúng, đầy ắp niềm vui, đầy ắp tiếng nói cười.

+ Lời thơ gợi vẽ ra trước mắt người đọc hình ảnh em bé đang chập chững tập đi, đang bi bô tập nói, lúc thì sa vào lòng mẹ, lúc thì níu lấy tay cha.

+ Ta có thể hình dung được gương mặt tràn ngập tình yêu thương, ánh mắt long lanh rạng rỡ cùng với vòng tay dang rộng của cha mẹ đưa ra đón đứa con vào lòng.

+ Từng câu, từng chữ đều toát lên niềm tự hào và hạnh phúc tràn đầy.Cả ngôi nhà như rung lên trong “tiếng nói”, “tiếng cười” của cha, của mẹ.Mỗi bước con đi, mỗi tiếng con cười đều được cha mẹ đón nhận, chăm chút mừng vui. Trong tình yêu thương, trong sự nâng niu của cha mẹ, con lớn khôn từng ngày.

– Cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người được Y Phương nói đến không chỉ là gia đình mà còn là quê hương, là thiên nhiên tươi đẹp và thấm đượm nghĩa tình. Đó là:

Người đồng mình yêu lắm, con ơi!

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát.

+ Quê hương hiện ra qua hình ảnh của người đồng mình. Nói với con về những “người đồng mình”, nhà thơ như đang giới thiệu ân cần đây là những người bản mình, người vùng mình, người dân quê mình gần gũi, thân thương.

+ Người đồng mình là những con người đáng yêu, đáng quý: “Đan lờ cài nan hoa – Vách nhà ken câu hát”. Cuộc sống lao động cần cù và tươi vui của họ được gợi ra qua những hình ảnh thật đẹp! Những nan nứa, nan tre dưới bàn tay tài hoa của người quê mình đã trở thành “nan hoa”. Vách nhà không chỉ ken bằng tre, gỗ mà còn được ken bằng những câu hát si, hát lượn.

+ Các động từ “cài”, “ken” vừa miêu tả chính xác động tác khéo léo trong lao động vừa gợi sự gắn bó, quấn quýt của những con người quê hương trong cuộc sống lao động.

– Quê hương với những con người tài hoa, tâm hồn lãng mạn,cũng là quê hương với thiên nhiên thơ mộng, nghĩa tình:

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng.

+ Hình ảnh “rừng cho hoa” gợi về những gì đẹp đẽ và tinh tuý nhất.

+ Quê hương còn hiện diện trong những gì gần gũi, thân thương. Đó cũng chính là một nguồn mạch yêu thương vẫn tha thiết chảy trong tâm hồn mỗi người, bởi “con đường cho những tấm lòng”.

+ Điệp từ “cho” mang nặng nghĩa tình. Thiên nhiên đem đến cho con người những thứ cần để lớn, dành tặng cho con người những gì đẹp đẽ nhất. Thiên nhiên đã che chở, nuôi dưỡng con người cả về tâm hồn và lối sống.

– Sung sướng ôm con thơ vào lòng, người cha nói với con về kỉ niệm có tính chất khởi đầu cho hạnh phúc gia đình:

Cha mẹ mãi nhớ về ngàycưới

Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.

b. Đức tính tốt đẹp của người đồng mình.

– Trong cái ngọt ngào của kỉ niệm về gia đình và quê hương, người cha đã tha thiết nói với con về những phẩm chất tốt đẹp của người đồngmình.

*. Người đồng mình biết lo toan và giàu mơ ước ( Giàu ý chí, nghị lực ).

– Người đồng mình không chỉ là những con người giản dị, tài hoa trong cuộc sống lao động mà còn là những con người biết lo toan và giàu mơ ước:

Người đồng mình thương lắm con ơi!

Cao đo nỗi buồn

Xa nuôi chi lớn.

+ Bằng cách tư duy độc đáo của người miền núi, Y Phương đã lấy cái cao vời vợi của trời để đo nỗi buồn, lấy cái xa của đất để đo ý chí con người.

+ Sắp xếp tính từ “cao”, “xa” trong sự tăng tiến, nhà thơcho thấy khó khăn, thử thách càng lớn thì ý chí con người càng mạnh mẽ.

*. Người đồng mình dù sống trong nghèo khổ, gian nan vẫn thủy chung gắn bó với quê hương, cội nguồn.

Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo đói

Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc

+ Vận dụng thành ngữ dân gian “Lên thác xuống ghềnh”, ý thơ gợi bao nỗi vất vả, lam lũ.

+ Điệp ngữ “sống”, “không chê” và điệp cấu trúc câu cùng hình ảnh đối xứng đã nhấn mạnh: người đồng mình có thể nghèo nàn, thiếu thốn về vật chất nhưng họ không thiếu ý chí và quyết tâm. Chính cuộc sống nhọc nhằn, đầy vất vả khổ đau ấy đã tôi luyện cho chí lớn để rồi tình yêu quê hương sẽ tạo nên sức mạnh giúp họ vượt qua tất cả.

+ Phép so sánh “Sống như sông như suối” gợi vẻ đẹp tâm hồn và ý chí của người đồng mình. Gian khó là thế, họ vẫn tràn đầy sinh lực, tâm hồn lãng mạn, khoáng đạt như hình ảnh đại ngàn của sông núi. Tình cảm của họ trong trẻo, dạt dào như dòng suối, con sống trước niềm tin yêu cuộc sống, tin yêu con người.

*. Người đồng mìnhcó ý thức tự lập, tự cường và tinh thần tự tôn dân tộc:

– Phẩm chất của người của con người quê hương còn được người cha ca ngợi qua cách nói đối lập tương phản giữa hình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên trong, nhưng rất đúngvới người miền núi:

Người đồng mình thô sơ da thịt

Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con

+ Lời thơ mộc mạc, giản dị nhưng chứa bao tâm tình.

+ Cụm từ “thô sơ da thịt” là cách nói bằng hình ảnh cụ thể của bà con dân tộc Tày, ngợi ca những con người mộc mạc, giản dị, chất phác, thật thà, chịu thương, chịu khó.

+ Cụm từ “chẳng nhỏ bé” khẳng định sự lớn lao của ý chí, của nghị lực, cốt cách và niềm tin.

Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương

Còn quê hương thì làm phong tục.

+ Lối nói đậm ngôn ngữ dân tộc – độc đáo mà vẫn chứa đựng ý vị sâu xa.

+ Hình ảnh “Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương” vừa mang tính tả thực ( chỉ truyền thống làm nhà kê đá cho cao của người miền núi),vừa mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc.

+ Người đồng mình bằng chính bàn tay và khối óc, bằng sức lao động đã xây dựng và làm đẹp giàu cho quê hương, xây dựng để nâng tầm quê hương.

+ Còn quê hương là điểm tựa tinh thần với phong tục tập quán nâng đỡ những con người có chí khí và niềm tin.

– Khép lại đoạn thơ bằng âm hưởng của một lời nhắn nhủ trìu mến với biết bao niềm tin hi vọng của người cha đặt vào đứa con yêu:

Con ơi tuy thô sơ da thịt

Không bao giờ nhỏ béđược

+ Ý thơ “Tuy thô sơ da thịt” và “không bao giờ nhỏ bé” được lặp lại với bốn câu thơ trước đó càng trở nên da diết, khắc sâu trong lòng con về những phẩm chất cao đẹp của “người đồng mình”.

+ Trong hành trang của người con mang theo khi “lên đường”có một thứ quí giá hơn mọi thứ trên đời, đó là ý chí, nghị lực, truyền thống quê hương. Lời dặn của cha thật mộc mạc, dễ hiểu, thấm thía, ẩn chứa niềm hi vọng lớn lao của cha, hi vọng đứa con sẽ tiếp tục vững bước

trên đường đời,tiếp nối truyền thống và làm vẻ vang quê hương.

+ Hai tiếng “Nghe con” lắng đọng bao cảm xúc, ẩn chứa tìnhyêu thương vô bờ bến của cha dành cho con. Câu thơ còn gợi ra một cảnh tượng cảm động đang diễn ra lúc chia li: cha hiền từ âu yếm nhìn con, xoa đầu con và người con ngoan ngoãn cúi đầu lắng nghe lời cha dặn.

III. Tổng kết:

1. Nội dung:

Bài thơ thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương và dân tộc. Bài thơ giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một dân tộc miền núi , gợi nhắc tình cảm gắn bó với truyền thống, với quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống,

2. Nghệ thuật:

– Thể thơ tự do.

– Bài thơ giản dị,với những hình ảnh vừa cụ thể vừa mang ý nghĩa biểu tượng, giàu sắc thái biểu đạt và biểu cảm.

– Cách nói giàu bản sắc của người miền núi tạo nên một giọng điệu riêng cho lời tâm tình mộc mạc mà sâu sắc của người cha đối với đứa con.

Cảm Nhận Về Người Cha Trong Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương

Cảm Nhận Của Em Về Khổ Đầu Trong Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương

Phân Tích Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương Tuyệt Hay

Đứt Dây Mà Xót Thương Bầu Bí Ơi

Viết Bài Văn Nêu Cảm Nhận Của Em Về Đoạn Thơ Sau Trong Bài Nói Với Con Của Y Phương: “người Đồng Mình Thương Lắm Con Ơi… Không Lo Cực Nhọc”

Thơ Chọn Và Lời Bình: Nói Với Con Dâu

Vẻ Đẹp Trong Bài Thơ “nói Với Con” Của Nhà Thơ Y Phương

Phân Tích Tình Cảm Cha Con Trong Bài Thơ “Nói Với Con” Của Y Phương

Cảm Nhận Ý Nghĩa Đoạn 2 Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương

Cảm Nhận Của Em Về Khổ Thơ Đầu Bài: “Nói Với Con” Của Y Phương.

Cảm Nhận Ý Nghĩa Đoạn 1 Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương

NÓI VỚI CON DÂU

Thế là, cháu đã thành con

Bác thành bố, mẹ – chẳng còn lạ, xa

Ăn chung bữa, ở chung nhà

Nói năng thêm giọng, vào ra thêm người.

Nhà mình, quý nhất con ơi:

Nâng niu, gìn giữ nghĩa đời trước sau

Đã rằng hai tiếng thương nhau

Thì thương cho đến bạc đầu còn thương.

Dặn con biết trước mà lường:

Bố hay nóng nảy, mẹ thường nghĩ lâu

Đừng vì những chuyện không đâu

Mà sinh nặng nhẹ, vàng thau những lời.

Chồng con, con đã hiểu rồi:

Mải mê công việc, chây lười vệ sinh

Những khi dọn dẹp một mình

Thì con tự ví trúc xinh trong nhà!

Buồn làm dâu sẽ chóng qua

Niềm vui lắng đọng, nỗi xa xích gần

Cũng như trời đất xoay vần

Mùa đông đang hết, ngày xuân cận kề.

                                                              Vương Trọng

Lời bình:

         Trong ứng xử mối quan hệ gia đình chúng ta thường có câu: Mẹ chồng nàng dâu. Đó cũng là tâm lý sinh hoạt thông thường của xã hội. Trong thơ ca Việt Nam, Xuân Quỳnh đã có bài thơ Mẹ của anh viết rất cảm động. Mẹ của anh cũng chính là mẹ của em không còn phân biệt nàng dâu, mẹ chồng. Bởi mẹ đã sinh ra anh và anh là tài sản lớn nhất của đời em. Đó là cái nhìn bao dung, nhân hậu đầy nữ tính. Gần đây, tôi được đọc bài thơ Nói với con dâu của nhà thơ Vương Trọng ở góc độ cha chồng nói với con dâu với tấm lòng của một người mẹ. Đây cũng là một trong những mô típ “chuyện đời thường” mà Vường Trọng khá thành công bởi lời thơ giản dị, những cảnh ngộ thân phận được cảm thông, được chia sẻ. Tác giả chọn một cách nói tâm tình rủ rỉ: Thế là cháu đã thành con – Bác thành bố, mẹ chẳng còn lạ xa – Ăn chung bữa, ở chung nhà – Nói năng thêm giọng vào ra thêm người. Thêm giọng nói, thêm người là hiển nhiên nhưng trong cái tổ ấm gia đình ấy lại thêm một cá thể, một tính cách khác đến từ một đời sống khác, hoà hợp vốn không dễ vì lứa tuổi vì thứ bậc từ “bác chuyển sang bố mẹ”, từ “cháu chuyển thành con”. Ở đây nhà thơ nhấn mạnh đến chữ “thương”: Đã rằng hai tiếng thương nhau – Thì thương cho đến bạc đầu còn thương. Tiếng Việt có hai chữ rất hay “yêu thương” hay “thương yêu”. Người Việt có những ứng xử riêng gắn kết với cộng đồng bắt đầu bằng chữ thương: Bầu ơi thương lấy bí cùng hay  Người trong một nước phải thương nhau cùng. Thường, yêu gắn với một người nhưng thương thì rộng hơn. Yêu có thương mới bền vững. Cũng chính vì nhà thơ rất thương con dâu mình mới dặn dò bảo ban như người mẹ đẻ: Dặn con biết trước mà lường – Bố hay nóng nảy, mẹ thường nghĩ lâu, rồi: Chồng con, con đã hiểu rồi – Mải mê công việc, chây lười vệ sinh. Ở đây ta không còn thấy thơ nữa mà chỉ thấy tấm lòng, rất thật thà, thật đến mức vụng về hồn hậu đáng yêu. Tôi hình dung ra một Vương Trọng ngoài phẩm chất thi sỹ tài hoa thông minh đáng quý, anh còn là một người đàn ông rất chu đáo cẩn thận trong cuộc sống đời thường. Một sự chuẩn mực rất cần thiết trong đời sống hiện đại. Nhưng anh còn là một người rất dí dỏm – chính cái sự hóm hỉnh này đã phá vỡ cái không khí khá nghiêm túc có lúc sa vào chất giáo huấn của bài thơ. Đó là anh tự cười với mình khi tôn vinh con dâu: Những khi dọn dẹp một mình – Thì con tự ví trúc xinh trong nhà. Đây là hai câu thơ hay nhất của toàn bài, là điểm sáng lung linh, cái ngọn nến hư ảo ấy đã hiện ra một “liền chị” đáng yêu. Trúc xinh em đứng một mình cũng xinh rất Việt Nam, rất dân tộc. Có lẽ bài thơ dừng ở đây cũng đã đạt được ý tưởng chuyển tải như một thông điệp nhà thơ muốn nói với con dâu. Khổ thơ cuối có cảm giác bị thừa, âu đó cũng chính là tính cẩn thận chu tất của nhà thơ nguyên là một thầy giáo dạy toán.

N.N.P

Nói Với Con Của Y Phương

Bài Văn: Gợi Ý Đọc Hiểu Bài Thơ “Nói Với Con”

Gợi Ý Đọc Hiểu Bài Thơ “Nói Với Con”

Soạn Bài: Nói Với Con – Ngữ Văn 9 Tập 2

Từ “Nam Quốc Sơn Hà”, “Bình Ngô Đại Cáo” Đến “Tuyên Ngôn Độc Lập”

🌟 Home
🌟 Top