Bài Thơ Nói Về Quả Cam / 2023 / Top 17 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Kovit.edu.vn

Tả Quả Cam Lớp 5 / 2023

Mùa thu đến cũng là lúc rất nhiều loại quả trong vườn đua nhau chín rộ. Trong số những loại quả chín thơm ngon ấy, em thích nhất vẫn là quả cam.

Cây cam này do chính tay em và bố trồng cách đây 4 năm vì vậy mà em lúc nào cũng mong đợi đến ngày nó ra quả. Từ năm ngoái, cây cam đã bắt đầu cho ra những quả đầu tiên. Tuy nhiên, có lẽ vì là năm đầu nên chúng chưa được sai quả lắm. Cho đến năm nay, cây cam thực sự khiến em phải bất ngờ. Từ những quả cam bé xíu như những hòn bi màu xanh, đến nay cây cam đã sai trĩu quả. Những quả cam chín dần chuyển sang màu vàng. Trông chúng chẳng khác nào những ông mặt trời đang tỏa ánh vàng rực rỡ. Vỏ quả cam chín vàng bóng như mời gọi mọi người thưởng thức. Chúng mọng nước tới nỗi kéo những cành cam xà xuống mặt đất.

Cam là loại quả đặc biệt vì chúng được chia thành nhiều múi khác nhau. Quả cam to hơn quả chanh nhưng lại bé hơn quả bưởi. Khi ăn, chúng ta có thể bổ ra thành từng múi rồi thưởng thức. Cam chín có vị ngọt và rất thơm mát. Ngoài ra, chúng ta cũng có thể bóc vỏ hoặc vắt nước để uống. Cam có nhiều vitamin C nên ăn chúng sẽ giúp cơ thể con người tăng sức đề kháng rất tốt.

Đây cũng là một phần lý do khiến em rất thích quả cam. Bên cạnh đó, em còn thích cam bởi nó gắn với kỉ niệm của em và gắn với tuổi thơ của em. Em sẽ chăm sóc cho cây cam thật tốt để năm nào cây cam cũng sai trĩu quả như năm nay.

Ông có một khoảng vườn nhỏ, ông dùng nó để trồng một vài loại cây ăn quả. Ông thường hay dẫn em ra vườn cây vào những ngày cuối tuần. Cách đây mấy năm, ông có mua về một cây giống cam sành. Ông nói hai ông cháu cùng trồng cây cam này, đợi đến khi cam ra quả chín em sẽ có những ly nước cam ngọt mát để ăn. Em nhớ hôm ấy hai ông cháu vừa trồng xong thì trời bắt đầu đổ mưa lất phất. Ông nói, trời mưa thế này là may lắm. Đúng như lời ông nói, năm đầu tiên ra quả mà cây cam đã sai trĩu rồi.

Đầu tiên cây cam bắt đầu nở hoa, từng nụ hoa trắng bé xíu xinh xinh. Sau khi hoa rụng đi, những quả cam đầu tiên bắt đầu nhú ra. Ban đầu chúng bé xíu nhỉ như hạt nho, sau đó chúng bắt đầu to dần, to dần, chúng lớn bằng một hòn bi rồi lớn bằng một quả quýt rồi lại tiếp tục lớn cho đến khi bằng khoảng nắm tay của người lớn thì dừng. Quả cam từ nhỏ đến lớn đều có màu xanh đậm. Đến khi chín chúng mới chuyển sang màu vàng. Nhìn những quả cam đung đưa trên cành cây giống như những chiếc đèn lồng treo trong gió.

Khi những quả cam đầu tiên bắt đầu chín, ông cắt vào và mang cho bà thắp hương. Ông nói cam chín đầu mùa phải thắp hương cúng cụ để xin năm sau cây lại được sai quả. Tối hôm ấy, sau khi ăn xong, cả gia đình em sẽ được thưởng thức một đĩa cam tươi ngon.

Em thích ăn cam không chỉ bởi đây là loại quả ngon và bổ dưỡng mà em còn thích chúng bởi mỗi khi thưởng thức em lại nhớ đến kỉ niệm êm đẹp giữa em và ông.

Giáo Án Hoạt Động: Tạo Hình Đề Tài: Nặn Quả Cam Mới Nhất / 2023

I. Mục tiêu:

– Trẻ biết nặn quả cam, ích lợi của quả cam.

– Trẻ có kỹ năng xoay tròn, lăn dọc, ấn dẹt để nặn quả cam.

– Trẻ hứng thú tham gia hoạt động cùng cô và bạn

II. Chuẩn bị:1. Đồ dùng của cô:

– Quả cam thật, giỏ quà

– Quả cam mẫu.

– Đất nặn, bảng con.

– Bàn để mẫu

– Xắc xô, que chỉ

2. Đồ dùng của trẻ:

– Bảng con, đất nặn

– Bàn để trưng bày sản phẩm

III. Tổ chức thực hiện:Sờ và đoán quả

– Hôm qua cô có ra vườn hái được rất nhiều quả để tặng cho lớp chúng ta, các con hãy đoán xem cô mang đến quả gì nhe!

– Cô cho trẻ sờ và đoán quả cam.

– Con có được uống nước cam bao giờ chưa?

– Nước cam cung cấp vitamin gì cho cơ thể chúng ta vậy các con?

– Con thường thấy quả cam có những màu gì?

– Cô cho trẻ biết quả cam có rất nhiều màu: Có quả màu xanh, vàng, cam…

– Hôm nay, cô sẽ cho các con nặn quả cam!

Quan sát vật mẫu:

– Cô cho trẻ xem vật mẫu

– Cô đưa mẫu lên cho trẻ quan sát và đàm thoại:

+ Qủa cam cô nặn có màu gì?

+ Quả cam có dạng gì?

+ Cuống của quả cam có dạng gì?

+ Lá của quả cam có màu gì vậy con?

Cô làm mẫu:

– Cô vừa làm mẫu vừa giải thích cách nặn:

+ Đầu tiên cô nặn hình quả cam trước, cô chọn 1 mẫu đất màu vàng nhào đất cho mềm, sau đó cô đặt mẫu đất trên bảng, cô làm động tác xoay tròn để nặn phần quả

+ Cô lấy 1 mẫu đất nhỏ màu xanh để nặn cuống. Cô làm động tác lăn dọc để nặn phần cuống.

+ Cô lấy tiếp 1 mẫu đất nhỏ để nặn lá, cô dùng 2 ngón tay vuốt mẫu đất lại, rồi dùng ngón tay cái ấn dẹt mẫu đất này ra và dính chặt 1 đầu vào cuống để làm lá.

– Cho trẻ làm động tác xoay tròn và lăn dọc trên không.

Cho trẻ thực hiện

– Cho trẻ thực hiện.

– Cô hướng dẫn cho những bạn chưa làm được, gợi ý sáng tạo cho những trẻ thực hiện tốt.

Nhận xét sản phẩm

– Cô động viên, hướng dẫn lần nữa những trẻ làm chưa hoàn thiện để lần sau trẻ cố gắng hơn.

– Cho trẻ trưng bày những sản phẩm đẹp.

Thư giãn:

-Cô và trẻ cùng vận động: “Ồ! Sao bé không lắc”

– Giáo dục: Sau khi nặn xong cô giáo nhắc nhở trẻ rửa tay sạch bằng xà phòng, khoá vòi nước cẩn thận để tiết kiệm nước sạch.

– Kết thúc hoạt động

Xuân Diệu: Trái Cam Xanh Vỏ / 2023

 

Noel 1938, xuất bản tập thơ đầu Thơ thơ. Năm 1939, tập văn xuôi Phấn thông vàng. Từ 1940 đến 1943 làm ở sở Đoan Mĩ Tho. Năm 1943, bỏ việc nhà Đoan, ra Hà Nội sống với Huy Cận. Năm 1945, ra đời tập thơ thứ hai Gửi hương cho gió.

Xuân Diệu có 40 năm lao động thơ dưới chế độ mới. Làm thơ, viết văn, dịch thơ và đặc biệt từ năm 1965, ông liên tục nghiên cứu, giới thiệu những nhà thơ cổ điển và viết nhiều tiểu luận thơ.

Đặc sản thơ tình

Sinh thời, Xuân Diệu vẫn coi tình yêu là đóng góp chủ yếu của ông. Những lúc có bạn đến thăm, đem thơ ra “chiêu đãi” Xuân Diệu cũng chỉ chọn thơ tình.

Bài thơ được viết sớm nhất lúc 16 tuổi, in trong tập đầu tay Thơ thơ là một bài thơ tình:

Làm sao sống được mà không yêu

Không nhớ không thương một kẻ nào

Và bài thơ từ tạ cuộc đời để đi vào cái cõi “chẳng mô tê” cũng lại là một lời khẳng định lại:

Hãy để cho tôi được giã từ

Vẫy chào cõi thực để vào hư

Trong hơi thở chót dâng trời đất

Cũng vẫn si tình đến ngất ngư

(Chấp nhận)

Nồng và trẻ là hai vị đặc sắc của thơ tình Xuân Diệu, xuyên suốt cả đời ông. Tình cảm các nhà thơ lớn thường sâu sắc. Nhưng có cái sâu sắc bình đạm lại có cái sâu sắc nồng nàn (có thể so Nguyễn Khuyến với Tú xương để thấy hai dạng thức tình cảm này). Xuân Diệu ưa nồng thắm, dạt dào, bộc lộ. Trước cách mạng, anh đòi hỏi:

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng

Cho chếnh choáng mùi thơm,

cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

(Vội vàng)

Sau cách mạng, vẫn nỗi lòng dào dạt ấy:

Đã hôn rồi, hôn lại

Cho đến mãi muôn đời

Đến tan cả đất trời

Anh mới thôi dào dạt

(Biển)

Sức nồng ấm của tình cảm đã biến những chi tiết bình dị, những phút giây bình thường thành những sự kiện sáng chói của đời người, Xuân Diệu gọi là tạo thần tiên. Ông tạo thần tiên ngay cả khi đọc một lá thư đơn sơ. Chỉ đọc những câu nói thường như: “Ồ, mới nghiêng mình xem nước trong/ Vui mừng em thấy má em hồng”, đã đủ để ông kêu lên:

Em tôi ăn nói vô duyên quá

Em đốt lòng anh em biết không

(Đơn sơ)

Một việc đơn sơ khác là đèo người tình sau chiếc xe đạp tàng. Cảnh ấy vào thơ được đã là giỏi, thế mà lại còn thần tiên nữa:

Không cần nghĩa chữ vẫn nghe hay

Sau xe những tiếng em phơ phất

Cởi hết ưu phiền gửi gió mây

(Giọng nói)

Tình yêu nồng nàn đủ sức làm ấm cả cõi chết. Trong một bài thơ nhan đề Đa tình, Xuân Diệu tạo một tứ thơ độc đáo: sau khi chết, “không xương vóc chỉ huyền hồ bóng dáng”, ông vẫn yêu và tình ông đủ làm đuốc sáng soi rạng cõi âm ti để nhận ra những Tây Thi, Lộng Ngọc, Điêu Thuyền, Tần Nhĩ, Dương Phi… toàn những người đẹp nổi tiếng trong lịch sử nhân loại. Chết lại hóa… hội ngộ, đại hội ngộ:

Hồn đông thế

tôi sợ gì cô độc

Ma với nhau thì

ôm ấp cùng nhau

(…) Kẻ đa tình

không cần đủ thịt da

Khi chết rồi,

thì tôi sẽ yêu ma.

(Đa tình)

Có lần Xuân Diệu tâm sự: Ông muốn làm một từ điển bằng thơ về mọi cung bậc tình cảm trong cõi tình yêu, ông muốn vẽ bản đồ tình cảm của con người. Chúng ta kinh ngạc trước nhiều khám phá tinh tế, những phát hiện bất ngờ, những góc khuất nẻo của tình người. Chúng ta có thể “tra” trong thơ tình Xuân Diệu những nhớ, mong, chờ, được yêu, thất tình, nghi ngờ, chung thủy, tương tư và cả tương tư đơn phương:

Tương tư có nghĩa đôi bờ ngóng

Anh một mình thôi cũng đợi chờ

Thơ Xuân Diệu muốn định nghĩa tình yêu từ những biểu hiện sống động của những cặp người. Ông từ chối định nghĩa tình yêu bằng khái niệm:

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu

Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu

(Vì sao)

Ông định nghĩa bằng cảm giác, cảm xúc nên thơ tình của ông đã có một không gian hô hấp rộng lớn. Xuân Diệu vốn là nhà thơ nhạy cảm về giác quan, cảm giác. Đó chính là một yếu tố tạo nên cái nồng nàn mê đắm trong phong cách thơ ông. Đó là dấu hiệu của tài năng.

Xuân Diệu nghe cái lạnh từ:  

Những luồng run rẩy rung rinh lá

(Đây mùa thu tới)

nghe thời gian từ:

Dưới gốc nào đâu thấy xác ve

Thế mà ve đã tắt theo hè

Và nghe cái tĩnh lặng:

Ngẩng đầu ngắm mãi chưa xong nhớ

Hoa bưởi thơm rồi, đêm đã khuya

(Buồn trăng)

Ở bài Nguyệt cầm, ông cảm thụ âm nhạc tinh tế đến kinh sợ và khi diễn đạt thì đầy ấn tượng cảm giác:

Đàn ghê như nước: lạnh, trời ơi

Long lanh tiếng sỏi vang vang hận.

Dùng cảm giác làm dấu ấn ghi lại những khoảnh khắc trong tình yêu là một cách vĩnh cửu hóa nó. Thoáng một người đẹp ngang đường, ghi lấy cái chao đảo trời đất:

Một luồng ánh sáng xô qua mặt

Thắm cả đường đi, rực cả đời

(Tình qua)

Một con đường nhỏ, một cành cây nắng nhuộm, qua giác quan Xuân Diệu, sẽ lưu giữ mãi:

Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu

Lả lả cành hoang, nắng trở chiều

Lúc đã cao niên, giác quan Xuân Diệu vẫn nhọn sắc, điều này đã góp phần không nhỏ vào năng lực phân tích, phê bình thơ của ông. Trong thơ tình, nó giúp ông tạo không khí riêng cho từng bài thơ, cho cả đời thơ, giúp người đọc nhập cuộc vào tình ý của câu chữ một cách hồn nhiên, trực giác:

Lâm râm mưa chuyện trên cành

Thầm thì lá nói qua mành nước se

Phòng anh nghe tiếng mưa đi

Em xa chẳng hiểu làm chi giờ này

Khí đêm man mác qua tay

Có mưa thưa nhẹ thêm ngây vị hè

(Mưa)

Thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu không bị bẹt xuống như trong bưu ảnh mà nó động cựa là nhờ cảm giác của ông, ông không chỉ nhìn bằng mắt nghe bằng tai mà bằng cả xúc giác, khứu giác, tổng hợp giác:

Lá bàng non ngon lành như ăn được

hay:

Một trái xoài xanh hai hàng răng trẻ

Cắn phập vô ai thấy cũng phải thèm

(Một vườn xoài)

Trong thư tình, Xuân Diệu rất coi trọng cảm giác, thiếu cảm giác thơ tình yêu thành ra văn kiểm điểm.

Những đòi hỏi này, phải đến Xuân Diệu, thơ Việt Nam mới dám mạnh diễn đạt. Đây cũng là bước nhảy từ tình yêu thần tiên kiểu Thế Lữ “Tiên Nga xõa tóc bên nguồn” đến tình yêu trần thế của Xuân Diệu. Chính vì những giác quan ấy mà Xuân Diệu bám rất chắc vào mặt đất “Hai tay chín móng bám vào đời”. Trong tình yêu, con người ấy rất duy vật, ông không luận về tình yêu, càng không thích triết lí trên chín tầng cao mà quên mất người yêu đang đi chân đất phía dưới. Thơ yêu của ông gắn với tình người, không ngại nói thân thể:

Hãy sát đôi đầu, hãy kề đôi ngực

Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài!

Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai

Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt

(Xa cách)

Nồng nàn, say đắm cũng chính là một biểu hiện của sức trẻ. Nhưng nói đến chất trẻ của Xuân Diệu là nói tới cách cảm thụ cuộc sống, cảm thụ thời gian của ông. Trong văn chương Việt Nam chưa có ai yêu tuổi trẻ đến tôn thờ, đến hốt hoảng âu lo như Xuân Diệu:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

(Vội vàng)

Ông muốn hãm nhịp đi của thời gian để tận hưởng tuổi trẻ, ông từng giục giã:

Mau với chứ, vội vàng lên với chứ

Em ơi em tình non sắp già rồi

(Giục giã)

Khi ông kêu gọi tuổi trẻ hãy sống hết, hưởng hết cái phần trẻ của mình chính là kêu gọi một cách sống nghệ thuật, khám phá, tràn đầy lòng yêu đời. Xuân Diệu rất lo khi con người vì đói khổ quá chỉ còn đủ sức tìm nhu cầu vật chất mà quên đi nhu cầu tinh thần. Tình yêu, với Xuân Diệu là nhu cầu tinh thần rõ rệt, là nội dung của tuổi trẻ.

Chớ để riêng em phải gặp lòng em

Tay ái ân du khách hãy làm rèm

Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng

Tay anh và tóc em, em và anh đủ tạo nên một khoảng không gian hạnh phúc có rèm có võng. Lời mời yêu ở đây có gì xót thương, đó là lời mời của nghệ sĩ trước cuộc đời, người kĩ nữ ở đây là hồn thơ Xuân Diệu đó.

Với Xuân Diệu, sống không có nghĩa là tồn tại mà là phải sống trong tuổi trẻ, trong khát khao mãnh liệt, trong yêu đương mê say:

Ta uống mê vào hơi thở của người

Ta bấu răng vào da thịt của đời

Ngoàm sự sống để làm êm đói khát

Những câu thơ tả bước đi của thời gian thường là những câu thơ cực kỳ tinh vi của Xuân Diệu, ông cảm nghe nó từ mọi phía và bao giờ cũng gây xao xuyến:

– Gió lạnh rồi đây sắp nhớ nhung

Xương the bảng lảng bạc cây tùng

– Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

– Hoa thu không nắng cũng phai màu

Trên mặt người kia in nét đau.

Khi tuổi đã cao, Xuân Diệu ví mình như trái cam sành Bố Hạ, ruột đã chín vàng nhưng vỏ cứ còn xanh, còn cái vị hăng nồng của tuổi trẻ, câu thơ bâng khuâng ao ước:

Tôi ước một bàn tay

Trong vạn trùng yêu nhớ

Bóc cho tôi bâng khuâng

Một trái cam xanh vỏ

(Trái cam xanh vỏ)

Cũng xin nói một chút tới chỗ khác nhau giữa thơ tình Xuân Diệu trước và sau cách mạng. Trước cách mạng, Xuân Diệu đòi hỏi một tình yêu lý tưởng. Ông cần nồng nàn:

Hãy tuôn âu yếm, lùa mơn trớn

Sóng mắt lời môi, nhiều, thật nhiều

(Vô biên)

Nhưng “yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ” vì ông lại “muốn vào dò xét giấc mơ em”. Ông đã không làm nổi, bất lực vì không đi hết được hồn người khác nên vẫn “cứ nghĩ hoài, hay ghen bóng gió”. Mỗi hồn người là một vũ trụ bí mật, không kiểm tra tài sản được cái vũ trụ đó, Xuân Diệu cho là mình chưa có nó, chưa có được một tình yêu tràn đầy. Vì vậy không bao giờ ông đạt được tới hạnh phúc, hay chính xác hơn, hạnh phúc ở nơi ông bao giờ cũng có vị cay đắng. Lúc gắn bó nhất với người yêu ông thấy vẫn là xa cách:

(…) Khắng khít nhất những cặp môi

gắn chặt

Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng

Cảm tạ cuộc đời

Đọc thơ Xuân Diệu, người ta bắt gặp một tâm hồn, một cá thể xúc cảm, cụ thể và khác biệt với những gì đã có của thơ Việt Nam trước đó. Tâm hồn ấy được diễn tả trực tiếp trên trang giấy, vượt qua mọi khuôn khổ, mọi quy ước, mọi thói quen của người làm thơ lẫn người đọc thơ hồi đó. Có người chê ngô nghê, chê Tây… nhưng ai cũng nhận thấy rằng đây là một tiếng thơ thành thật. Thành thật trong mọi khát khao ham mê, thành thật ở những cái rất thấp và những cái rất cao. Thành thật trong sự táo bạo đắm say. Sau này thành nhà thơ cách mạng, Xuân Diệu đổi thay nhiều trong cách cảm, cách nghĩ, nhưng sự thật thì vẫn nguyên vẹn. Có lẽ vì vậy trong mỗi câu thơ, mỗi dòng văn, thậm chí ngay trong những bài phê bình của Xuân Diệu người đọc như nghe được cả cái hơi thở rất gần, rất gấp của người viết, như đụng được vào cá tính của một con người, không có gì cách bức che giấu. Xuân Diệu đã viết khoảng 1000 bài thơ, nghĩa là hàng vạn câu thơ, vậy mà ở mỗi câu thơ số vạn ấy vẫn còn như run rẩy, luống cuống thuở ban đầu. Ông như muốn phá cái vỏ kết cấu quen thuộc của ngôn ngữ để diễn đạt cho kì được, cho đến đáy cái cảm giác, cái ý nghĩa mà ông phát hiện trong việc đời. Ông ngạc nhiên trước những việc rất ít người còn ngạc nhiên, như việc một chú bé ra đời:

Bỗng tự đâu sang cu cháu Thạch

Mẹ mày mang ấp, bố mày sinh

Bé thằng lững trững lăng xăng bước

Câu thơ “Bé thằng lững chững lăng xăng bước” thuộc loại câu mà Hoài Thanh nhận xét là như trẻ con tập nói. Thật ra là nó muốn chộp lấy sự sống, câu thơ cựa quậy, dùng sự xô lệch của ngôn ngữ để dựng cảm giác dậy. Đôi lúc Xuân Diệu có những câu thơ rất mộc, mộc đến nỗi những ai quen bóng bẩy du dương không khỏi giật mình, có khi phản đối. Ấy là khi tâm hồn đang bay bổng với bông lau tím bạc hoa, bỗng rơi bộp với cái bu gà thô tháp lam lũ:

Hỡi những bông lau tím bạc hoa

Hỡi xe đang chạy với bu gà

(Thăm Hòa Bình)

Nhưng cuộc đời vốn là vậy. Hài hước và cảm động.

Một đêm ở Thái Bình, ông lắng nghe và kinh ngạc nhận ra:

Thỉnh thoảng ếch kêu trội hơn tiếng khác

Nhất là chó sủa văng vẳng hay hay

Nói xóm làng nhà cửa đêm nay

(Đêm ở Thái Bình)

Đấy chính là một đặc sắc của Xuân Diệu, một cách tìm chất thơ trong đời thường, đời thực. Ông phát hiện ra tiếng chó sủa tạo nên cái hồn của làng mạc lúc đêm khuya, còn văng vẳng hay hay nói được cái ngạc nhiên của ông thành phố về làng. Chính cái chất ấy tạo lên sự thấm thía nhân tình trong thơ ông. Còn khi cần du dương, ông đủ sức để cực du dương:

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

Tương tư nâng lòng lên chơi vơi

(Nhị hồ)

Cái kỳ lạ nhất trên đời này, lí lẽ nhiều khi không cắt nghĩa được, khoa học cũng bất lực, ấy là lòng yêu thương. Yêu thương đến đâu thì hiểu biết đến đấy. Quy luật thơ là vậy. Thấy lũ trẻ hái những quả si chín, mời nhau ăn và rối rít khen si ngọt. Nhà thơ xin một quả và nếm. Không có vị gì trên lưỡi cả. Nhưng cái vị để lại trên lòng ông lại rất sâu:

Thương yêu các cháu lắm các cháu ơi

Các cháu thấy ngọt ngào một cái quả

nhạt thôi

Đây là phép thần thông trong tâm hồn

các cháu

(Cho chú xin một quả si)

Phục cái tâm hồn ngây thơ giàu tưởng tượng và đau nơi trái tim của phận làm cha làm mẹ:

Là cho các cháu được ăn những quả

ngon hơn

Không phải khen trái si là có vị như đường.

Cái lối cảm thụ cuộc đời như vậy làm ông dễ thương cảm những ai thiệt thòi nghèo khổ. Nhìn núi đừng nhìn xa. Nhìn xa thì “Thấy núi yên như một miếng bìa”. Nhưng sống lặn vào cuộc sống của núi, là cả một thế giới thân phận hiện ra:

Chim hôm run rẩy trong tim nhỏ

Thỏ sợ giơ tai hứng tiếng ồn.

Có lẽ ông tiều sống giữa cây

Đêm nay hồn lạnh đã theo mây;

Gió rừng có lẽ tuôn muôn gốc

Có lẽ mưa im xối đã đầy…

(Núi xa)

Xuân Diệu không phải là người quan liêu với cuộc đời. Ông lãng mạn nhưng không tháp ngà, ông lãng mạn với nguyên bụi bặm trần gian. “ta là quán tha hồ muôn khách đến”. Ông lẫn hồn mình với gió mây. Nhưng hãy lắng lại cùng ông, nghe trong tiếng gió “Có nhiều lúc gió bấc kêu thê thiết quá”. Nghe tiếng gió mà:

Gợi bóng hình những thân thể cơ hàn

Với môi tím, với cảnh nghèo vạc mặt

Và trong bài Đất nước, một chất trữ tình thân gần bắt nguồn từ nguồn cội của dân tộc:

Những là chè, là mít, những là cau

Những là chòm, là xóm đẹp như nhau

Quay bốn phía chỉ một màu: đất nước

Thoang thoảng hương cau lồng phía trước

Rập rờn lá mít ánh đằng sau

Những sân con liên tiếp những vườn rau

Những mái rạ bền lâu như vạn thuở…

Nửa thế kỷ cầm bút, trong hồn đã trải qua bao nhiêu cung bậc tình cảm, bao nhiêu dâu bể của việc đời, Xuân Diệu vẫn giữ được đôi mắt xanh non để khám phá lại những yêu thương vĩnh cửu trong dáng vẻ mới của đời. Ông nói với thằng cu cháu mới sinh, như một sự giãi bày:

Tuổi bác ngần này hơn sáu mươi

Song le bác có hiểu chi đời

Nó mênh mông lắm, sâu xa lắm

Ngọn lửa muôn đời bốc chẳng ngơi

(Thương cái tình cha)

Xuân Diệu trù tính viết một cuốn hồi ký đời mình ở tuổi 70, một cuộc tổng giãi bày. Ông đặt tên trước cho cuốn sách: Tôi cảm tạ cuộc đời. Ý nguyện này đã không thành hiện thực. Ông đột ngột ra đi ở tuổi sáu mươi chín trong một cơn đột quỵ ngày 18/12/1985.

Vũ Quần Phương/Người Hà Nội

Nghị Luận Về Bài Thơ Nói Với Con / 2023

Dàn ý nghị luận về bài thơ “Nói với con” của Y Phương

Giới thiệu tác phẩm cần nghị luận: bài thơ “Nói với con” của Y Phương.

Tác giả: Y Phương là một trong những nhà thơ dân tộc tiêu biểu. Thơ ông vừa gần gũi, giản dị vừa mang giá trị sâu sắc.

Tác phẩm: “Nói với con” là lời chia sẻ, trò chuyện của một người cha với con. Bài thơ mang đậm bản sắc dân tộc miền núi.

Người cha nói cho con nghe về cội nguồn sinh dưỡng.

4 câu đầu: cội nguồn sinh dưỡng đầu tiên là tình cảm gia đình:

Con lớn lên trong tình yêu thương nồng ấm của cha mẹ.

Nhịp thơ ⅔ cùng cấu trúc đối xứng: âm hưởng vui tươi, quấn quýt.

5 câu tiếp: con còn lớn lên trong không khí lao động, trong tình yêu thương của quê hương:

Niềm vui lao động, sự gắn bó của người đồng mình.

Vẻ đẹp quê hương đã nuôi dưỡng tâm hồn con lớn lên từng ngày.

Cha nhắc tới điểm tựa hạnh phúc: “ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”.

Cha nói với con về phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình

Đó là sức sống mãnh liệt và truyền thống cao đẹp của người đồng mình:

Người đồng mình: cha mẹ, quê hương.

Phẩm chất của người đồng mình được thể hiện qua lời ăn tiếng nói gần gũi, mộc mạc.

Đó là phẩm chất chung thuỷ với nơi chôn rau cắt rốn: kết hợp nhiều điệp từ, nhiều kiểu câu dài ngắn khác nhau.

Mong con sống thuỷ chung, tình nghĩa với quê mình:

Biết dùng ý chí để đối mặt với khó khăn.

Duy trì phong tục của người đồng mình: sống cao thượng, mạnh mẽ bước đi vì luôn có cha mẹ, quê hương ở bên.

Khẳng định lại giá trị bài thơ: bài thơ giúp hiểu thêm vẻ đẹp tâm hồn và sức sống của đồng bào miền núi, gợi nhắc về ý chí vượt qua khó khăn trong cuộc sống.

Đề tài tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước không hề mới lạ. Nó đã được rất nhiều nhà văn, nhà thơ lựa chọn cho những sáng tác của mình. Nhưng Y Phương lại đem một cách tiếp cận hoàn toàn mới lạ cho đề tài này. Bài thơ “Nói với con” chính là lời của người cha nói với con, mang đậm bản sắc dân tộc, nhắc nhở con về những truyền thống tốt đẹp của đồng bào cũng như dặn con vững tin bước tiếp tới tương lai. Bằng tình cảm chân thành, xuất phát từ trái tim mình, Y Phương đã thật thành công trong việc thể hiện tình cảm thiêng liêng của cha với con, với quê hương xứ mình. Áng thơ ấy mở ra cho người đọc những cảm xúc thật sâu lắng…

Y Phương là một trong những nhà thơ dân tộc tiêu biểu. Thơ ông vừa gần gũi, giản dị vừa mang giá trị sâu sắc. Tác phẩm “Nói với con” là lời chia sẻ, trò chuyện của một người cha với con. Bài thơ mang đậm bản sắc dân tộc miền núi, gợi nhắc cho người đọc trách nhiệm của người làm con. Qua đó, ta có thể thấy mong ước của một người cha đối với con thật nồng ấm và giản dị.

Mở đầu bài thơ, người cha đã nói với con về cội nguồn sinh dưỡng. Những hình ảnh gia đình đầm ấm, quấn quýt dần hiện ra:

“Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười”

Cội nguồn sinh dưỡng đầu tiên là tình cảm gia đình. Cách diễn đạt thật độc đáo cho thấy tình yêu thương của cha mẹ với con. Con được lớn lên từng ngày trong sự chở che ấy. Nhịp thơ ⅔ cùng cấu trúc đối xứng càng tạo nên âm hưởng vui tươi, tràn đầy hạnh phúc của gia đình. Người ta nói nhà là nơi nuôi dưỡng tốt nhất cho tâm hồn cũng bởi lẽ đó. Không khí gia đình ấm áp chính là nguồn sữa mát lành nhất cho sự phát triển của con. Cha nhắc nhớ con về cội nguồn sinh dưỡng, về sự đón nhận của mẹ cha với mỗi bước đi của con đầu đời của con. Từ tình cảm gia đình ấy, cha nói với con rằng con còn lớn lên trong không khí lao động, trong tình yêu thương của quê hương:

“Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ cài nan hoa, vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa, con đường cho những tấm lòng Cha mẹ nhớ mãi về ngày cưới

Ngày đầu tiên đẹp nhất trong đời”.

Một loạt các từ ngữ giàu sắc thái biểu hiện được sử dụng: “cài nan hoa”, “ken câu hát”,… khắc họa rõ nét cuộc sống người đồng bào dân tộc miền núi. Niềm vui lao động, sự gắn bó của người đồng mình cũng từ đó mà hiển hiện trên trang thơ. Thiên nhiên với những ghềnh thác, núi rừng,… cũng là những bàn tay êm ái nuôi dưỡng con người cả về lối sống lẫn tâm hồn. Vẻ đẹp ấy của quê hương đã nuôi dưỡng con lớn lên từng ngày. Cách nói “người đồng mình” càng tạo cảm giác thân thiết, gắn bó tới độc giả. Không chỉ vậy, cha còn nhắc tới điểm tựa hạnh phúc: “ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”. Y Phương từng chia sẻ rằng khi con người sống gắn bó với lao động, với quê hương nghĩa tình thì họ sẽ dễ dàng tìm được hạnh phúc của mình. Tình yêu của cha mẹ, tình cảm gia đình, rộng ra là tình thương quê hương đang từng ngày hội tụ vào trong tâm hồn con. Quê hương là nơi có rất nhiều văn hoá nghĩa tình, cha không bao giờ muốn con quên điều đó.

Từ việc nhắc lại cội nguồn sinh dưỡng, người cha lại tiếp tục nói với con về phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình. Người đồng mình có những đức tính cao đẹp mà con cần phát huy và trân trọng:

” Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc.”

Đó không chỉ là sức sống mãnh liệt mà còn chính là truyền thống cao đẹp của người đồng mình. Nếu khổ thơ đầu Y Phương dùng “yêu lắm con ơi” thể hiện tình cảm chân thành, tha thiết thì ở đây lại là “thương lắm con ơi”. Tình thương đến đây đã bao gồm tình yêu, nó không chỉ xuất phát từ trái tim nữa, nó còn đến từ sự đồng cảm, chia sẻ tự đáy lòng. Vậy nên “người đồng mình” – những người cùng nguồn cội – đều cùng mang phẩm chất cao đẹp, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn. Phẩm chất ấy được thể hiện qua lời ăn tiếng nói hàng ngày gần gũi, giản dị; qua sức sống mạnh mẽ, kiên cường. Hình ảnh đối lập “Cao đo nỗi buồn/ Xa nuôi chí lớn” nhấn mạnh những khó khăn mà người đồng mình gặp phải. Nhưng trong trường hợp nào, họ cũng vững vàng đối mặt, vững vàng tiến lên, chung thuỷ với nơi chôn rau cắt rốn của mình. Niềm tự hào ấy gắn với những phẩm chất mà cha muốn truyền cho con: “Lên thác xuống ghềnh/ Không lo cực nhọc”. Cha mong con biết chấp nhận những khó khăn, thử thách và vượt qua bằng niềm tin, ý chí tất thắng. Câu thơ dung dị, mộc mạc nhưng lại càng làm nổi thêm chất quật cường của những con người vùng núi…

Giọng tâm tình ngọt ngào đến đây chuyển thành giọng triết lí sâu sắc:

“Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục.”

Ngoại hình của người đồng mình có “thô sơ” đến đâu thì tâm hồn vẫn đáng quý, đáng trọng. Họ giàu lòng tự trọng, ý chí, giàu niềm tin để rồi xây dựng quê hương trên nền tảng văn hoá của dân tộc. Thật vậy, chính những phong tục ngàn đời kia đều được vun đắp bằng đôi bàn tay lao động miệt mài của người đồng mình. Việc nhắc đi nhắc lại cụm từ “người đồng mình” chắc hẳn Y Phương muốn khơi lên trong con tình yêu quê hương, bản làng để từ đó khẳng định khát vọng, ý chí của người đồng mình và mong con giữ vững thái độ sống tích cực ấy.

Ước mong lớn nhất của người cha được đúc kết trong những vần thơ cuối cùng:

“Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con.”

Từng lời thủ thỉ tâm tình thấm vào lòng người đọc, người nghe. Cha mong con sống thuỷ chung, tình nghĩa với quê mình. Con lớn lên, nhất định phải giống như sông, như suối của người đồng mình: mạnh mẽ mà kiên cường. Con cần biết dùng ý chí để đối mặt với khó khăn; cần biết duy trì phong tục của người đồng mình: sống cao thượng, mạnh mẽ bước đi vì luôn có cha mẹ, quê hương ở bên. Thì ra, cha mẹ vẫn không ngừng hi vọng, kì vọng vào con cái. Đây chắc hẳn không phải tiếng lòng của một người mà của muôn người cha:

“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Chỉ khi con giữ vững niềm tin vào quê hương, lấy truyền thống quê hương làm động lực cố gắng thì lúc ấy, con mới nắm chắc được chìa khoá của thành công. Và tin chắc rằng, con sẽ lại quay về “tự đục đá kê cao quê hương”, làm giàu đẹp thêm cho quê hương, bản làng mình. Bài thơ kết lại bằng hai tiếng “Nghe con” thật bồi hồi, xao xuyến. Dư âm lời dặn của cha cứ thế vang mãi, ngân mãi…

Bài học của cha muôn thuở đều là những bài học giá trị, nâng đỡ con trên mọi bước đường đời sau này. Y Phương mượn lời cha, giúp con hiểu thêm vẻ đẹp tâm hồn và sức sống của đồng bào mình, gợi nhắc con về ý chí vượt qua khó khăn trong cuộc sống.

Bình Luận Facebook

.