Bài Thơ Nhớ Tây Bắc / 2023 / Top 20 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | Kovit.edu.vn

Nỗi Nhớ Cảnh Và Người Tây Bắc Trong Bài Thơ Tây Tiến / 2023

Đề bài: Nỗi nhớ cảnh và người Tây Bắc trong bài thơ Tây Tiến – Quang Dũng

Bài làm

1. Đặt vấn đề:

Nhà thơ Chế Lan Viên từng để tâm hồn thăng hoa trong những lời thơ sâu sắc: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở / Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Trong cuộc đời mỗi người từng gắn bó với nhiều mảnh đất. Mỗi mảnh đất ta qua đều trở thành dấu ấn, trở thành những kỉ niệm khó quên. Nhà thơ Quang Dũng cũng đã từng trải qua cảm xúc ấy. Nỗi nhớ của ông về những năm tháng kháng chiến, về những kỉ niệm gắn bó với mảnh đất Tây Bắc đã được ghi lại chân thực trong bài thơ Tây Tiến. Ở đó, có những kỉ niệm hiện lên đẹp đẽ, lung linh hơn bao giờ hết:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

2. Giải quyết vấn đề:

Nếu khổ thơ thứ nhất là nỗi nhớ chơi vơi về mảnh đất miền Tây thì đến đây, nỗi nhớ lắng đọng trong đêm hội đuốc hoa đậm đà tình nghĩa và trong kí ức về con người Châu Mộc. Đọc Tây Tiến, tôi thấy toàn bài thơ là tiếng nói bổi hồi, tha thiết trong nỗi nhớ của tâm hồn. Nỗi nhớ chơi vơi, dàn trải vô định. Nỗi nhớ như từng đợt sóng, khi ào ạt. khi lặng lẽ xô vào lòng người: nhớ từ cảnh thiên nhiên hùng vĩ với dốc cao, vực sâu, thác ngàn dữ dội, nhớ đến cảnh thiên nhiên mĩ lệ, trữ tình. Và ở khổ thơ này, nỗi nhớ của Quang Dũng đã in đậm trong đêm hội đuốc hoa đậm đà tình nghĩa cùng vẻ đẹp của những người dân nơi đây.

Mở đầu đoạn thơ là những kí ức của Quang Dũng về đêm lien hoan lửa trại đậm đà tình nghĩa:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Giữa những năm tháng gian nan của cuộc kháng chiến, những đêm lien hoan lửa trại giữa người lính và đồng bào Tây Bắc diễn ra đơn sơ nhưng đậm nghĩa, đậm tình. Thế nhưng với những người lính đang từng giây từng phút đối mặt với gian nan, thậm chí cả mất mát, hy sinh thì những đêm đơn sơ ấy lại trở thành buổi dạ tiệc huy hoàng “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa”. Doanh trại bừng lên, cả núi rừng hoang vu, âm u bỗng chợt bừng sáng, tưởng như có hàng ngàn, hàng vạn ngọn đuốc đang bao phủ núi rừng. Cảnh vật bừng tỉnh, núi rừng bừng tỉnh bởi lung linh ánh sáng, rộn ràng âm thanh của tiếng khèn, tiếng hát, của tiếng nói, tiếng cười. Trong câu thơ, Quang Dũng sử dụng một từ cổ để diễn tả không khí của đêm trại – đuốc hoa. Đây là hình ảnh thường để chỉ ngọn nến được thắp lên trong phòng cưới đêm tân hôn, như Nguyễn Du xưa kia từng viết “Đuốc hoa chỉ thẹn với chàng mai xưa”. Hình ảnh xuất hiện trong câu thơ của Quang Dũng đã tạo nên màu sắc vừa trẻ trung, vừa hiện đại, vừa lãng mạn, vừa cổ kính, thiêng liêng, ấm áp nghĩa tình keo sơn gắn bó. Trên nền ánh sáng lung linh, rực rỡ, nổi bật lên dáng vẻ uyển chuyển, mềm mại của nàng sơn nữ “Kìa em xiêm áo tư bao giờ”. Ẩn sau những từ ngữ:kìa em, xiêm áo tự bao giờ là ánh mắt ngỡ ngàng, ngạc nhiên, vui sướng của những chàng lính trẻ. Họ say sưa, ngây ngất chiêm ngưỡng vẻ đẹp của người thiếu nữ miền Tây trong trang phục lộng lẫy, trong bước đi uyển chuyển của những điệu múa làm say lòng người. Quang Dũng đã khéo miêu tả nét đẹp riêng của những nàng tiên nữ nơi núi rừng này. Những từ ngữ ấn tượng giàu sức gợi: “xiêm áo, man điệu” toát lên hương vị nơi xứ lạ, mang cái hồn riêng của miền sơn cước. Đối với những chàng trai của mảnh đất Hà Thành, đó là vẻ đẹp có sức quyến rũ kì lạ. Trong không khí tưng bừng náo nhiệt, trước vẻ đẹp huyền bí của người thiếu nữ Tây Bắc, tâm hồn người lính Tây Tiến dạt dào bao cảm xúc lãng mạn “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”. Các anh thả hồn mình theo tiếng nhạc. Lòng người xây bao mộng ước về ngày chiến thắng, mơ về ngày mai tươi sáng, mơ về những phút giây được cùng đồng bào Viên Chăn nắm tay vui múa trong ngày thắng lợi. Vì thế, dòng thơ được thi sĩ sử dụng thanh bằng, tựa như âm điệu xao suyến, âm vang. Bốn câu thơ đem lại cho lòng người ấn tượng khó phai, không chỉ bằng tình thơ lãng mạn mà còn bằng cách dùng từ rất duyên dáng của Quang Dũng: “đuốc hoa, xiêm áo, man điệu, e ấp”. Tất cả tạo cho thơ Quang Dũng dấu ấn của một phong cách riêng: hào hoa, lãng mạn, tinh tế và chân thực vô cùng.

Bên cạnh kỉ niệm về đêm liên hoan đậm đà tình nghĩa, ấn tượng để lại sâu sắc trong lòng Quang Dũng còn là cảnh song nước miền Tây:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Trong suốt bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng gửi hồn mình vào từng mảnh đất, nơi đoàn quân đã đi qua. Mỗi địa danh mang một dáng vẻ, một nét riêng in sâu trong kí ức của nhà thơ. Nhớ từ dòng sông Mã, nhớ đến vùng đất Sài Khao, nhớ đến vùng Mường Lát ngạt ngào hoa rừng, nhớ từ thanh âm cọp true người trên mảnh đất Mường Hịch nhớ đến cơn mưa rừng giăng giăng trên lưng núi Pha Luông. Mỗi mảnh đất là một kỉ niệm, một dấu ấn khó quên. Để rồi trong đoạn thơ này, hồn thơ Quang Dũng lắng chìm trong vùng quê Châu Mộc vào một buổi chiều sương – gợi nên chất thơ riêng của miền rừng núi. Khi chiều buông xuống, cả đất trời chìm trong màn sương khói mờ ảo, lãng đãng. Màn sương giăng bồng bềnh trong không gian, bao trùm mọi cảnh vật. Giữa khung cảnh ấy, Quang Dũng đặc tả vẻ đẹp của dòng sông giữa chiều sương ” Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”. Người lính bắt gặp cái thần của cảnh nơi rừng biên giới là ở bạt ngàn hoa lau trắng. Những bông lau phớt phơ trong chiều sương ẩn trong tất cả sự hoang sơ, tính lặng và yên ả của cảnh sắc nơi đây. “Cảnh bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”, “Cảnh hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích ngày xưa”. Lau biên giới không chỉ xôn xao trong nỗi niềm thơ Quang Dũng mà sắc trắng tinh khôi, mềm mại đó từng rung động biết bao trái tim người thi sĩ “Ai lên biên giới theo lòng ta theo với / Thăm ngàn lau chỉ đứng có một mình / Bạt ngàn trắng ở tận cùng bờ cõi / Suốt một đời cùng với gió giao tranh” (Lau biên giới – Chế Lan Viên). Có điều, trong câu thơ của mình, Quang Dũng không dùng từ ngàn lau, bãi lau mà là “hồn lau”. Nhà thơ cảm nhận vẻ đẹp của cảnh không chỉ bằng trực quan của mình mà bằng cả thế giới tâm linh để rồi nắm bắt được cả cái hồn của thiên nhiên sông núi phảng phất trong buổi chiều sương. Cách diễn đạt đem đến cho không gian thơ một ấn tượng mơ hồ, nhạt nhòa, vừa gây cảm giác lâng lâng bềnh bồng như chính tâm hồn con người chơi vơi theo từng cảnh vật. Đồng thời chỉ với từ “hồn lau”, nhà thơ đã làm sống dậy vẻ đẹp thiêng liêng của sông nước nơi này. Hồn lau – hồn của cảnh hay cũng gợi lên hồn người cảm giác bang khuâng, nao nao buồn. Dù cho cuộc chiến có nhiều gian khổ, dù hằng ngày phải cận kề với những hy sinh nhưng chẳng thể khiến tâm hồn người lính trở nên chai sạn. Các anh vẫn xôn xao cảm xúc trước một buổi chiều sương, vẫn rung động tâm hồn trước vẻ đẹp hoang sơ của lau biên giới, vẫn nôn nao cảm xúc trước vẻ đẹp của một cành hoa bé nhỏ trên dòng sông. Tất cả làm nên vẻ đẹp lãng mạn, tinh tế trong tâm hồn người lính.

Khung cảnh thiên nhiên tĩnh lặng và hoang sơ làm nền cho sự xuất hiện của con người Tây Bắc “Có nhớ dáng người trên độc mộc / Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Quả là minh chứng về bút pháp thi trung hữu họa! Hai dòng thơ tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp. Hình ảnh thơ từng gợi nhiều hướng cảm nhận khác nhau. Song có lẽ cảm xúc mà Quang Dũng muốn tô đậm nhất vẫn là vẻ đẹp của con người Tây Bắc và nét đẹp trong tâm hồn của người lính Tây Tiến. Dưới con mắt của các anh, dòng sông hiển hiện trong sự dữ dằn của mùa nước lũ. Cái dữ dội, cái âm thanh gầm gào, cuồn cuộn như chất chứa tất cả vẻ khắc nghiệt của thiên nhiên nơi này. Trên dòng nước cuồn cuộn trôi, hình ảnh con người nổi bật trên chiếc thuyền độc mộc giữa mênh mang sông nước. “Có nhớ dáng người trên độc mộc” – con người trở thành trung tâm của bức tranh. Nhưng ở đây, nhà thơ chỉ viết “dáng người”, nhà thơ không chú trọng ngoại hình mà đặc biệt tô đậm sức sống tâm hồn, ý chí dẻo dai, phi thường của con người khi đối diện với thiên nhiên dữ dội. Đọc câu thơ, tôi mường tượng hình ảnh bé nhỏ, mảnh mai của con người trên con thuyền đang lao nhanh giữa dòng nước lũ. Cái khắc nghiệt của thiên nhiên chẳng thể nào khuất phục con người. Dáng vẻ của con người duyên dáng, mảnh mai, dẻo dai và kiêu hãnh vô cùng. Nét đẹp của họ lồng lộng trong tư thế làm chủ giữa mien man sông nước. Dòng sông càng dữ dội bao nhiêu, dáng người trên chiếc thuyền độc mộc lại càng đem đến cho tôi cảm giác than phục và gợi nhiều cảm xúc bấy nhiêu.

Tôn lên vẻ đẹp của con người là hình ảnh “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Không phải là nhành hoa trôi nổi bị cuốn theo dòng nước mà là nhành hoa bé nhỏ vẫn tồn tại, vẫn cố bám trụ trong dòng nước cuồn cuộn trôi. Thủ pháp tương phản đã được vận dụng triệt để. Ngôn ngữ tạo hình “đong đưa” được Quang Dũng vận dụng vừa gợi hình vừa gợi cảm: gợi dáng vẻ ngả nghiêng không được vững vàng nhưng vẫn không bị cuốn trôi. Cũng xuất phát từ hai chữ “đong đưa” khiến tâm hồn tôi lien tưởng: Nhành hoa nghiêng ngả, lả lướt, tình tứ đong đưa như muốn làm duyên bên dòng nước lũ. Cảnh gợi tả vô cùng! Một vẻ đẹp mềm mại nhưng ẩn chứa sức sống mãnh liệt, dẻo dai. Như thế, hoa là hình ảnh ẩn dụ, tô đậm cho nét đẹp của con người. Thiên nhiên nơi đây cũng như con người vậy, ẩn giấu vẻ đẹp huyền bí vô cùng. Nó hấp dẫn, lôi cuốn tâm hồn chàng lính trẻ, đem lại cho anh những cảm nhận tinh tế, lãng mạn và đầy chất thơ. Góp phần khắc họa vẻ đẹp mơ màng của cảnh sắc nơi đây còn là giọng thơ của thi sĩ. Quang Dũng vận dụng lien tiếp các điệp từ “có nhớ, có thấy” ở đầu hai câu thơ đem lại cảm giác nỗi nhớ thi nhau ùa về, khơi gợi trong lòng người ấn tượng khó quên về cảnh sắc thiên nhiên. Điệp khúc “có nhớ, có thấy” kết hợp với từ láy “độc mộc, đong đưa” cùng cách diễn đạt “hồn lau” đem lại cho 4 câu thơ âm điệu ngân nga như hát. Đọc đoạn thơ, tôi thấy mình như lạc vào cõi mơ của một bức tranh thủy mặc, lạc vào khung cảnh chiều sương, chiều mơ, chiều thơ và chiều họa. Hơn bao giờ hết, chất thơ và chất họa đã hòa trong nhau để làm nên thế giới nhạc và hình nên thơ như chính dòng cảm xúc say sưa trong tâm hồn thi sĩ. Có biết bao buổi chiều sương đã di vào thơ ca, đã biết bao cảnh dòng sông đắm mình trong sương được dệt nên bởi thế giới ngôn từ. Quả thật, ai đó đã rất có lý khi cho rằng “Trong thơ Quang Dũng, ta bắt gặp 1 nhạc sĩ, 1 họa sĩ, con người nào cũng thật lãng mạn, hào hoa”.

Trong đoạn thơ, Quang Dũng đã khám phá và thể hiện được chiều sâu vẻ đẹp tâm hồn người lính Tây Tiến. Đằng sau cảnh sông nước miền Tây đẹp như bức họa thời tiền sử, đằng sau nét đẹp con người Tây Bắc là những rung cảm tinh tế trong tâm hồn người lính Tây Tiến. Họ kiên cường trước những khó khắn, gian khổ, kiên dũng, bất khuất, oai nghiêm trước quân thù. Nhưng trong tâm hồn họ, vẫn vẹn nguyên bao xúc cảm trẻ trung, thơ mộng.

Đọc xong những ý thơ mà tôi có cảm giác vẻ đẹp của thiên nhiên, con người miền Tây còn chập chờn, mien man đâu đó. Quả thật bằng tình cảm sâu đậm của mình với mảnh đất này, Quang Dũng đã tạo nên mối tơ tình đồng điệu, gắn bó giữa độc giả với nhà thơ, giữa độc giả với thiên nhiên, con người miền Tây trong những năm tháng kháng chiến gian nan. Quả là ” Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.

Cảm Nhận Vẻ Đẹp Nỗi Nhớ Miền Tây Tha Thiết Của Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Và Việt Bắc / 2023

Cảm nhận vẻ đẹp nỗi nhớ miền Tây tha thiết của người lính trong bài thơ Tây Tiến và Việt Bắc qua hai đoạn thơ sau:

(Tây Tiến – Quang Dũng) (Việt Bắc – Tố Hữu) I. Mở bài:

Trong cuộc đời ai cũng có ít nhất một niềm thương nỗi nhớ. Có lẽ vì thế mà nỗi nhớ đã trở thành đề tài quen thuộc được các nhà văn, nhà thơ ưu ái nói đến. Nếu như trong “Tây Tiến”, Quang Dũng nhớ da diết thiên nhiên và con người miền Tây thì đến với “Việt Bắc”, nhà thơ không chỉ nhớ về con người và thiên nhiên hùng vĩ thơ mộng, nhớ về những ngày tháng kháng chiến gian khổ, hào hùng mà hơn thế nữa là những dấu ấn tươi nguyên về những ngày chiến thắng. Trong rất nhiều nỗi nhớ đó nổi bật lên là những kí ức của Quang Dũng và Tố Hữu về những vùng đất, những địa danh đã làm nên lịch sử. Và điều đó được thể hiện rõ nhất qua hai đoạn thơ sau:

(Tây Tiến – Quang Dũng) II. Thân bài: 1. Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm:

– Quang Dũng là một người nghệ sĩ tài hoa, vẽ đẹp, hát giỏi, thơ hay. Ông gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam vào ngày Cách mạng tháng Tám thành công, trở thành phóng viên tiền phương của báo “Chiến đấu”. Năm 1947, ông được điều đi học Trường bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây. Sau khóa học, ông đảm nhận chức vụ Đại đội trưởng ở tiểu đoàn 212, Trung đoàn Tây Tiến. Ông tham gia chiến dịch Tây Tiến đợt hai, mở đường qua đất Tây Bắc. Cuối năm 1948, sau chiến dịch Tây Tiến, ông làm Trưởng tiểu ban tuyên huấn của Trung đoàn 52 Tây Tiến, rồi làm trưởng đoàn Văn nghệ Liên khu III.

– Quang Dũng viết rất nhiều truyện ngắn và sáng tác kịch, tham gia nhiều triển lãm tranh sơn dầu cùng với nhiều họa sĩ nổi danh…nhưng thành công nhất vẫn là thơ ca. Các tập thơ tiêu biểu của Quang Dũng được bạn đọc biết đến nhiều như “Mây đầu ô”, “Mùa hoa gạo”…Nhưng tên tuổi của Quang Dũng có lẽ đã gắn liền với bài thơ “Tây Tiến”. Bài thơ được viết vào năm 1948, khi ông tham dự Đại hội toàn quân ở Liên khu III tại làng Phù Lưu Chanh. “Tây Tiến” là một bài thơ mang đậm nét hào hùng, bi tráng pha chất lãng mạn, hào hoa.

– Tố Hữu là lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng, với phong cách trữ tình chính trị. “Việt Bắc” là bài thơ tiêu biểu nhất của ông, thể hiện tình cảm cách mạng sâu nặng của nhân dân với cách mạng, của người cán bộ về xuôi với người ở lại và những kỉ niệm kháng chiến gian khổ mà hào hùng.

2. Cảm nhận hai đoạn thơ: Phân tích đoạn thơ: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!….. Mường Lát hoa về trong đêm hơi.”

– 2 câu thơ đầu: gọi tên cho cảm xúc chủ đạo của toàn bộ thi phẩm. Đó là nỗi nhớ và những hoài niệm.

+ Câu thơ thứ nhất với nhịp 2/2/3, vừa như đứt quãng, vừa như liền mạch. Khi Quang Dũng nhớ về sông Mã thì ngay lập tức lại thấy nó xa rồi nên “Tây Tiến ơi” vừa như một lời gọi thiết tha, lưu luyến vừa như một cảm xúc dâng trào và nỗi nhớ đã nổi hình, nổi khối. Vì sao khi nhớ về Tây Tiến, Quang Dũng lại gọi tên sông Mã? Vì dọc con đường hành quân của họ, dòng sông Mã như một địa danh đồng hành, từng chứng kiến bao kỉ niệm, đau thương, mất mát.

+ Câu thơ thứ hai, tác giả nói rõ hơn về nỗi nhớ của mình, nỗi nhớ rừng núi và mang cảm xúc chơi vơi. Vì địa bàn hoạt động của người chiến binh chủ yếu là núi rừng hiểm trở nên hình ảnh núi, rừng đã ăn sâu vào tâm khảm những người chiến binh cho dù đã xa Tây Tiến. Còn nỗi “nhớ chơi vơi”, đó là trạng thái cảm xúc mông lung, không định hình rõ rệt. Nhất là hai chữ “chơi vơi” ấy phối hợp với chữ “rồi”, “chữ “ơi” ở câu trên tạo nên một thứ hòa âm của nỗi niềm thao thức, nó cứ lan tỏa mênh mông. Những tình cảm này cũng từng được cha ông ta nói đến trong ca dao như là nỗi nhớ chơi vơi, sự bâng khuâng, xao xuyến: “Ra về nhớ bạn chơi vơi”.

+ Cả hai câu thơ cùng kết lại trong vần “ơi”, “chơi vơi”. Nó vẽ lên điều gì đó như xa xôi, như mất mát. Cảm xúc của tác giả như hụt hẫng, chới với vì Tây Tiến lúc này chỉ là quá khứ. Từ nỗi nhớ và tiếng vẫy gọi của tác giả làm cho Tây Tiến như một sinh thể có hồn, đang chuyển tải cảm xúc của nhà thơ Quang Dũng.

– 2 câu thơ tiếp theo:

+ Sài Khao, Mường Lát là những địa danh rất quen thuộc của Tây Bắc góp phần gợi nỗi nhớ chơi vơi. Hình ảnh Tây Bắc hiện lên trong câu thơ mịt mù và cả mệt mỏi, gian khó của đoàn quân như lẫn vào sương. Bên cạnh cái gian khổ lại pha một chút rất thơ, có vẻ như huyền hoặc mà có thật:

“Mường Lát hoa về trong đêm hơi.”

+ Câu thơ rất độc đáo, “hoa về” chứ không phải là hoa nở, “đêm hơi” chứ không phải là đêm sương. Vì nhìn từ xa, đoàn quân Tây Tiến hành quân về Mường Lát mang theo những ngọn đuốc giống như một dòng sông hoa lung linh, ẩn hiện trong đêm sương mờ ảo. Đọc đến đây, cái “mỏi” của đoàn quân dường như tan biến. Quang Dũng thật tài tình khi viết một câu thơ hầu hết là thanh bằng, lâng lâng, chơi vơi như sương, như hoa, như hồn người. Bên cạnh cái khắc nghiệt của núi rừng, nguy hiểm của chiến tranh là những giây phút người lính thả hồn đầy lãng mạn. Đó cũng là chất thơ toát lên từ hiện thực cuộc chiến, rất đặc trưng cho hồn thơ tài hoa của Quang Dũng.

Phân tích đoạn thơ: “Nhớ gì như nhớ người yêu….. Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.”

– Nỗi nhớ đằm thắm, sâu nặng của người cán bộ kháng chiến dành cho Việt Bắc, trong đó chan hòa tình nghĩa riêng chung.

– Đoạn thơ là nỗi nhớ người, nhớ cảnh Việt Bắc – mảnh đất gắn bó máu thịt với người cách mạng. Không phải thể hiện một cách chi tiết nỗi nhớ, Tố Hữu sử dụng hình ảnh so sánh hết sức độc đáo “nhớ gì như nhớ người yêu”. Nhà thơ đã lấy nỗi nhớ trong tình yêu làm thước đo giá trị để cắt nghĩa, lí giải cho tình cảm cán bộ đối với nhân dân. Vì thế, đó không phải là nỗi nhớ của ý thức, của nghĩa vụ mà là nỗi nhớ của hai trái tim yêu, của tình cảm chân thành.

– Câu thơ “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương” thể hiện hai nửa thời gian của nỗi nhớ: vế đầu là thời gian đêm trăng, vế sau là thời gian buổi chiều lao động. Thời gian như chảy ngược, nỗi nhớ đi từ gần tới xa. Để rồi tình yêu như chuyển thành nỗi nhớ trong tình cảm gia đình. Toàn không gian núi rừng Việt Bắc được gói gọn trong không khí gia đình ấm áp tình thương:

“Nhớ từng bản khói cùng sương3. So sánh biểu hiện nỗi nhớ trong hai đoạn thơ: * Điểm giống nhau: Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.” * Điểm khác nhau:

Hiện lên trong nỗi nhớ là một Việt Bắc thân thương, đẹp bình dị mà thơ mộng với nhịp sống êm đềm. Hình ảnh “bếp lửa” là một hình ảnh nhiều sức gợi. Nó cho thấy con người Việt Bắc ấm áp, giàu yêu thương đồng thời thể hiện tình cảm chứa chan, nồng nàn mà người cán bộ cách mạng dành cho con người nơi đây mỗi khi nhớ về. Tình cảm quân dân kết tinh trong ngọn lửa thiêng liêng bất diệt ấy.

+ Đều thể hiện nỗi nhớ gắn với một vùng đất cụ thể.Nếu như nỗi “nhớ chơi vơi” của Quang Dũng gắn với địa danh Tây Tiến thì nỗi “nhớ người yêu” của Tố Hữu gắn chặt với không gian Việt Bắc.

+ Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc, đầy ý nghĩa.

+ “Tây Tiến”: sử dụng một loạt các tên địa danh để cụ thể hóa nỗi nhớ, sử dụng khéo léo bút pháp lãng mạn khi viết về hiện thực. Thể thơ 7 chữ điêu luyện.

III. Kết bài:

+ “Việt Bắc”: nêu rất nhiều không gian (đầu núi, lưng nương, bản, bếp lửa), thời gian khác nhau (trăng lên đầu núi, nắng chiều, sớm khuya), thể thơ lục bát làm cho nỗi nhớ đậm chất dân gian.

Theo chúng tôi

– Nguyên nhân của sự khác biệt:

+ Lí giải từ hoàn cảnh sáng tác và phong cách nghệ thuật của từng nhà thơ.

– Hai đoạn thơ đều diễn tả những nỗi nhớ rất sâu đậm về một địa danh cụ thể gắn với một vùng đất chan chứa kỉ niệm. Dù là nỗi nhớ chơi vơi hay nỗi nhớ người yêu thì chúng ta đều nhận thấy mức độ sâu nặng trong tình cảm nhớ thương của hai nhà thơ. Họ không chỉ nhớ về một nơi cụ thể mà đó còn là nơi cất giấu những kỉ niệm, những ân tình kháng chiến, những gian khổ đã từng trải qua và hơn thế nữa còn là tình cảm quân dân gắn bó. Từ đó, có thể coi “Tây Tiến” của Quang Dũng và “Việt Bắc” của Tố Hữu là hai bài thơ trữ tình đặc sắc trong nền thi ca cách mạng. Thông qua cách thể hiện nỗi nhớ rất riêng biệt của từng nhà thơ, chúng ta thấy được cá tính sáng tạo đặc biệt của họ và điều đó tạo nên dấu ấn lâu bền trong lòng người đọc.

Bài Thơ “Nhớ Bắc” Của Huỳnh Văn Nghệ / 2023

Ai đi về Bắc, ta đi với Thăm lại non sông giống Lạc Hồng Từ thuở mang gươm đi mở cõi Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

Ai nhớ người chăng, ôi Nguyễn Hoàng Mà ta con cháu mấy đời hoang Vẫn nghe trong máu buồn xa xứ Non nước Rồng Tiên nặng mến thương.

Ai đi về Bắc xin thăm hỏi Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa Hoàn Kiếm, hồ xưa linh quy hỡi Bao giờ mang trả kiếm dân ta. (Ga Sài Gòn 1940 Huỳnh Văn Nghệ)

Tuy nhiên, tôi được biết bài thơ “Nhớ Bắc” của Huỳnh Văn Nghệ lại có nội dung khác hẳn (những chữ in đậm khác với bản trên, có thêm khổ thứ tư):

Ai đi về Bắc, ta theo với Thăm lại non sông giống Lạc Hồng Từ thuở mang gươm đi mở cõi Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

Ai nhớ người chăng, ôi Nguyễn Hoàng Mà ta con cháu mấy đời hoang Vẫn nghe trong máu buồn xa xứ Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương.

Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn Vẫn nhớ vẫn thương mùa vải đỏ Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng.

Sứ mệnh ngàn năm đâu dễ quên Chinh Nam say bước quá xa miền Kinh đô chốn cũ xa muôn dặm Muốn trở về quê mơ cảnh tiên.

Như vậy là bài thơ “Nhớ Bắc” do Nguyễn Tấn Thành trích với bài thơ “Nhớ Bắc” mà tôi nêu thì bản nào là bản đúng của Huỳnh Văn Nghệ? Xin học giả An Chi chỉ dùm.

Bảo Sơn

Và rồi, Huỳnh Văn Nghệ đã phóng bút viết nên những câu được nhiều người ví là “thần thi”:

Ai về Bắc, ta đi với Thăm lại non sông giống Lạc Hồng Từ độ mang gươm đi mở cõi Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng Mà ta con cháu mấy đời hoang Vẫn nghe trong máu buồn xa xứ Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương!

Vẫn nghe tiếng hát trời quan họ Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn Vẫn nhớ, vẫn thương mùa vải đỏ Mỗi lần man mác hương sầu riêng…

Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên Chinh Nam say bước quá xa miền, Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm! Muốn trở về quê, mơ cánh tiên.

Ai đi về Bắc xin thăm hỏi Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa Hoàn Kiếm hồn xưa Linh Quy hỡi Bao giờ mang kiếm trả dân ta? (Ga Sài Gòn, 1940)

Cứ như trên thì khổ đầu của bài thơ cũng không hoàn toàn giống với khổ thơ bạn đã nhớ: câu đầu chỉ có 6 tiếng; còn chữ thứ 2 câu thứ ba lại là độ và bài thơ có đến 5 khổ. Về câu đầu, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên nhận xét: “Câu thơ mở đầu chỉ sáu chữ, thốt lên như một lời kêu “Ai về Bắc ta đi với”. Tâm tư của nhà thơ đã thành tâm tư chung của muôn triệu người đất Việt phương Nam, hơn thế, của muôn triệu người đất Việt muôn nơi, mỗi khi nhớ về quê Việt tổ. Thăng Long đây không chỉ là Thăng Long kinh thành, đó còn là vùng châu thổ sông Hồng – cái nôi của người Việt, của dân tộc Việt”.

Phạm Xuân Nguyên cũng nhận xét:

“Có ba chữ hay bị đọc sai trong hai câu này: “độ” thành “thuở”, “trời Nam” thành “nghìn năm” và nhất là “cõi” thành “nước”. “Cõi” đây là cõi giang sơn, vùng lãnh thổ, công nghiệp mở mang bờ cõi đất nước của bao đời tiền nhân, những con người ra đi từ sông Hồng đến lập ấp bên dòng Cửu Long. Biên tập sửa lại câu chữ như thế có vẻ làm câu thơ nghe mênh mang hơn, nhưng không hợp với tên bài thơ và nỗi niềm tác giả gởi gắm trong đó khi sáng tác. Và đặc biệt không tôn trọng nguyên văn một tác phẩm”.

Riêng về hai chữ “nghìn năm” (thay cho trời Nam), bài báo trên cho biết rằng, theo ông Cù Huy Hà Vũ, thì đây là do Xuân Diệu chỉnh sửa (ông Hà Vũ là con nuôi của nhà thơ này). Về chuyện này, ông Huỳnh Văn Nam cũng cho biết vào cuối thập niên 60 của thế kỷ trước, gia đình ông sinh sống tại nhà số 10 Lý Nam Đế (Hà Nội), gần trụ sở Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Có một lần, một nhà văn của tạp chí này đến gặp ông Huỳnh Văn Nghệ xin được đăng bài thơ “Nhớ Bắc” trên Văn nghệ Quân đội theo văn bản mà Xuân Diệu đã chỉnh sửa và ông Nghệ đã đồng ý. Vì được lưu hành rộng rãi nên câu thơ dị bản càng ăn sâu vào tâm trí người đọc. Chúng tôi cho rằng, chỉ với một chút tinh ý, ta cũng có thể hiểu rằng sở dĩ Huỳnh Văn Nghệ đồng ý chẳng qua là vì một sự nể nang. Chứ riêng Huỳnh Văn Nghệ – vẫn theo lời ông Huỳnh Văn Nam – thì cho biết như sau:

“Hai từ Trời Nam dùng ở đây ý nghĩa rộng hơn. “Trời Nam” không phải là sự bó hẹp về không gian mà là một sự khẳng định chủ quyền bất khả xâm phạm của người Nam đã được “thiên định” như ông cha ta từng khẳng định trong “Hịch tướng sĩ”, “Bình Ngô đại cáo” hay “Nam quốc sơn hà”. “Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” – đó là tâm hồn, tư tưởng của người Việt tự ngàn đời hướng về gốc gác giống nòi… Hồn thơ thức tỉnh những mơ hồ về Tổ quốc”.

Tóm lại, theo chúng tôi thì trả chữ lại cho Huỳnh Văn Nghệ như trong văn bản của Báo Người Lao Động là một việc làm hoàn toàn hợp lý.

Những Bài Thơ Hay Viết Về Vùng Đất Tây Bắc / 2023

Tuyển chọn những bài thơ hay viết về vùng đất Tây Bắc. Đó là những vần thơ tình yêu, ca ngợi vẻ đẹp, cuộc sống, con người vùng núi Tây Bắc nước ta.

BÀI THƠ: MƠ VỀ TÂY BẮC

Tác giả: Hoa Cỏ May

Từng bông hoa mận trắng nền trời xa

Xung quanh ruộng lúa vườn hoa thắm màu

Mến tình du khách trước sau

Con người chân thực lời chào thân thương

Làm say lòng khách thập phương tìm về

Cảnh chiều tỏa xuống bốn bề đẹp sao

Bậc thang ruộng lúa dạt dào

Đìu hiu gió thoảng làm nao lòng người

Mây ngàn giăng lối phủ trời nơi đây

Đến rồi chắc ở nơi này chẳng đi.

BÀI THƠ: GỬI TÂY BẮC

Tác giả: Hoa Cỏ May

Ai có về miền Tây Bắc xa xôi

Cho em nhắn gửi đôi lời phương ấy

Nơi vùng biên núi điệp trùng cao vậy

Thôn nữ làng mặc áo váy thêm yêu

Ánh nắng soi qua đồi núi rừng chiều

Bao cô gái chàng trai miền sơn cước

Phiên chợ tình ai nào đã tìm được

Khúc đồng dao đậm chất đến mượt mà

Những cánh đồng lúa chín ở đằng xa

Từng bậc thang ươm màu qua phố bản

Dốc sương mù bình minh vừa ló dạng

Hàng cây xanh gió mát trẻ vui đùa

Một sớm chiều bất chợt những cơn mưa

Làm tươi màu khóm hoa xưa trổ nụ

Tây Bắc ơi những đồi hoang phố cũ

Hẹn một ngày ta đến giữa mênh mông.

BÀI THƠ: NHỚ TÂY BẮC

Tác giả: Chưa rõ

Đông đã về chưa Tây Bắc ơi

Ngày nào vượt dốc đội mây trời

Nước xuôi đá ngược ta qua suối

Em cười như thể ánh sao rơi

Tây Bắc vào đông trời xuống thấp

Suối chảy lững lờ nước trong xanh

Làn mây trắng bạc trôi lơ đãng

Cỏ ướt đầm sương hạt mong manh

Hẹn ngày trở lại miền quê ấy

Khói thơm cơm nếp vẫn cay nồng

Làm sao quên được người trong mộng

Tím cả chiều hoang bặt ngõ trông.

BÀI THƠ: VỀ TÂY BẮC NHÉ ANH

Tác giả: Thủy Tiên

Kìa Tây Bắc…quê em đấy ạ

Anh nhìn xem nắng đã lên nương

Vàng ươm sóng lúa toả hương

Nặng gùi bó củi ven đường ai đeo.

Về Tây Bắc…anh theo dáng liễu

Ngắm Cây Đào Tô Hiệu đơm hoa

Nhà tù di tích… đón ta dân mừng

Điện Biên Phủ tưng bừng trận thắng

Nay Mường Thanh bình lặng sớm mai.

Là thành phố mới nở đầy chiến công.

Về Tây Bắc để lòng lãng mạn

Đi chợ tình vào tháng mùa thu

Say người say núi ngẩn ngơ

Điệu khèn tiếng sáo nhạc chờ yêu đương.

Anh đến đó sẽ thương đất Mộc

Tới Pha Luông ngắm ngọc trong sương

Dạo chơi khắp chốn bản mường

Chè xanh ngô ngọt thơm hương sữa bò.

Mời anh hoạ lũng mơ đua sắc

Bước chênh chao cầu bắc qua khe

Xuôi sông hãy bước lên bè

Ngắm con cá lội tôm le có đàn.

Về Đất Mộc hương tràn mỗi sáng

Mỗi mùa sang đều rạng má hồng

Thả theo gió cuốn anh không nỡ về.