Mùa Xuân Nhớ Bác – Phạm Thị Xuân Khải – Spring Advent Missing Uncle Hu

Kính tặng đồng chí Lê Đức Thọ, tác giả bài thơ “Lẽ sống” và đồng chí Hồ Thiện Ngôn, tác giả bài thơ “Đọc thơ anh”.

Mùa xuân về nhớ Bác khôn nguôi Tiếng pháo giao thừa nhớ ngày xuân Bác còn chúc Tết

Vần thơ thân thiết Ấm áp lòng người Bác đã đi xa rồi Để lại chúng con bao nỗi nhớ Người cha đã đi xa.

Các anh ơi, Mùa xuân về đọc thơ xuân các anh trên báo Đảng Lòng càng nhớ Bác nhiều hơn Làm sao có thể quên Mỗi lần gặp Bác Bác bắt nhịp bài ca đoàn kết Người thường nhắc nhở: Yêu nước, thương dân Dẫu thân mình có phải hy sinh Cũng chỉ vì trường xuân cho đất Việt.

Mùa xuân về đọc thơ xuân các anh Tuổi trẻ chúng tôi thấy lòng mình day dứt Day dứt vì mình chưa làm được Những điều hằng ước mơ Những điều chúng tôi thề Dưới cờ Đoàn trong giờ kết nạp, Tuổi trẻ chúng tôi tha thiết Được Đảng chăm lo Được cống hiến cho quê hương nhiều nhất

Nhưng tuổi trẻ chúng tôi Không ít người đang lỡ thì, mai một.

Theo năm tháng cuộc đời Ngoảnh lại nhìn, mình chưa làm được bao nhiêu Bởi một lẽ chịu hẹp hòi, ích kỷ Thanh niên chúng tôi thường nghĩ: Bỏ công gieo cấy, ai quên gặt mùa màng

Mỗi vụ gieo trồng Có phải đâu là lép cả?

Tuổi trẻ chúng tôi vẫn tự hào Những trang sử vẻ vang dân tộc Chúng tôi được học Được thử thách nhiều trong chiến tranh

Chúng tôi nghĩ: Nguyễn Huệ – Quang Trung Lứa tuổi hai mươi lập nên nhiều chiến công hiển hách. Lẽ nào tuổi trẻ hôm nay thua thiệt Có học hành, lại phải sống cầu an Phải thu mình, xin hai chữ “bình yên” Bởi lẽ đấu tranh – tránh đâu cho được?

Đồng chí không bằng đồng tiền Bằng lòng vẫn hơn bằng cấp Có ai thấu chăng Và ai phải sửa? Mỗi xuân về con càng thêm nhớ Bác

Lòng vẫn thầm mơ ước Bác Hồ được sống đến hôm nay Làm nắng mặt trời xua tan hết mây Trừ những thói đời làm dân oán trách

Có mắt giả mù, có tai giả điếc Thích nghe nịnh hót, ghét bỏ lời trung Trấn áp đấu tranh, dập vùi khốn khổ

Cùng chí hướng sao bầy mưu chia rẽ? Tham quyền cố vị Sợ trẻ hơn già

Quên mất lời người xưa: “Con hơn cha là nhà có phúc” Thời buổi này, Không thiếu người xông pha thuở trước Nay say sưa trong cảnh giàu sang Thoái hóa, bê tha khi dân nước gian nan?

Mùa xuân đất nước Nhớ mãi Bác Hồ Ta vẫn hằng mong lý tưởng của Người

Cho đất nước khải hoàn, mùa xuân mãi mãi.

Xuân Bính Dần

Phạm Thị Xuân Khải

Học sinh năm thứ hai khoa Ngữ văn Trường Đại họcTổng hợp Hà Nội

For Mr. Le Duc Tho, the author of “Lifeway” and Mr. Ho Thien Ngon, the author of “Reading your Poem”

Spring has come and I miss Him so much Eve firecracks remind the moment HE delivered New Year Wish Lovely verses So warm and touching Now He has gone Left us behind with such yearning Dad has gone

My dear, this spring Reading Your Poem in the Party papers I miss Him more than ever And can’t forget Whenever met HIM HE conducted the very song To Unite Reminding us To love the country and cherish the folks Even if to sacrifice Only for the eternity of solemn Viet Land

We the young find it tormenting Feeling so hopeless, can do nothing Our dreams Our oaths Under the Union Flag At the Ritual Service We the young all wish To be led by the Party And to devote ourselves to homeland utmost But we the young now Do have little chance As time go by Looking it back just to see so little done ‘cause of egoism you possess We the young often think Once sowed you would long for the harvest

Any sowing Not all is seedless I reckon We youngster have the pride In glorious historical pages Which we have learnt Days of wars we all have gone through We the young think: Kuangchung – Nguyen Hue Had done great job in their twenties Why today the young can not Learning much yet kept tolerant Humbling in “let-me-alone” cliché As fighting means nowhere to shelter

Camarada is nothing to a buck Pleasing others would do more than true certificates Who would mind seeing this? And who would bother to fix this? Each spring I miss HIM more! Deep down wishes go If only HE were to live up-till-now as sunrays to sweep all clouds away and clear out all social sickness and those disguised defectives who are inclined to toadies yet coercing the truly honest Repressing fighters and stamping the weak

Sink and swim together while plotting to trap Entrenching in power Scarier of the younger Ignorant of the old words: Evil parents want good kids Today No fewer pioneers than your time Now –you being lured in luxury life Overindulgenced while the country’s at risk.

We remember UNCLE HU Wishing HIS idea To be realized For the country in triumph flourish And Hope Springs Eternal On this HOMELAND

Spring 1986

Đọc “Mùa Xuân Xanh” Nhớ “Mùa Xuân Chín” Của Nguyễn Bính

Gửi bài viết qua email Lưu bài viết này

Đọc “Mùa xuân xanh” Nhớ “Mùa xuân chín” của Nguyễn Bính-Hàn Mạc Tử

Đăng lúc: Thứ sáu – 08/02/2013 16:43

Mùa xuân của thiên nhiên cứ theo qui luật tạo hóa mà đi và đến. Mùa xuân của lòng người lại theo nhịp đập của trái tim tình yêu và tuổi trẻ, ước mơ và khát vọng. Mùa xuân của một dân tộc là cái bản lề nối liền những thắng lợi của năm cũ với năm mới sau 365 ngày.

Nhà thơ Nguyễn Bính chào đời và ra đi đều vào mùa xuân. Từ sáng 30 Tết năm Ất Tỵ (20/1/1966) nhà thơ vĩnh biệt thế giới này. Còn nhà thơ Hàn Mặc Tử, tuy hơn Nguyễn Bính 6 tuổi, nhưng cũng đã lên tiên từ mùa đông năm Canh Thìn (11/11/1940). Hai nhà thơ ở hai phương trời xa lạ nhưng cảm xúc về mùa xuân lại có nét tương đồng. Cả hai thi sĩ đều nhìn mùa xuân như một trái cây ngọt lành đang chuyển từ xanh đến chín. Hàn Mặc Tử có cả một tập Xuân như ý với mấy chục bài thơ xuân. Nguyễn Bính lại có Mưa xuân, Xuân về, Thơ xuân, Xuân tha hương, Xuân nhớ miền Nam… Với mùa xuân này, tôi muốn quay về mấy hơn nửa thế kỷ trước để tận hưởng Mùa xuân xanh của Nguyễn Bính. Bài thơ được in năm 1937 trong tập Một nghìn cửa sổ và  Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử cùng in năm 1937 trong tập Nắng xuân. Nguyễn Bính chân quê, dân dã. Hàn Mặc Tử tài hoa, bất hạnh. Cảm nhận về mùa xuân của Nguyễn Bính Bắt đầu là cái thắt lưng xanh của một cô gái vừa ra khỏi lũy tre làng. Đó là tứ thơ mộc mạc, gần gũi mà không phải thi sĩ nào cũng phát hiện ra. Từ cái màu xanh đầy hơi ấm của sức trẻ ấy, tầng liên tưởng được mở rộng:                                     Mùa xuân là cả một mùa xanh                                                                                           Giời ở trên cao, lá ở cành                                     Lúa ở đồng tôi và lúa ở                                      Đồng nàng và lúa ở đồng quanh.Một màu xanh bát ngát, tràn ngập như vây quanh ta. Trên trời cao mây xanh, dưới mặt đất lúa xanh. Cỏ cây, lá cành đều xanh. Màu xanh quấn quít, nhiều tầng, nhiều lớp được diễn tả bởi câu thơ vắt dòng: Lúa ở đồng tôi và lúa ở/ Đồng nàng và lúa ở đồng quanh. Bốn câu thơ mà có tới năm từ “ở”, làm màu xanh của mùa xuân hiển hiện rõ nét ở giời, ở lá, ở cành, ở đồng nàng, ở đồng tôi, ở đồng quanh. Nhìn phương nào ta cũng bắt gặp một màu xanh bát ngát đến vô tận. Mùa xuân có tiết thanh minh trong sáng, thường vào cỡ tháng ba âm lịch. Cỏ non như chờ đợi xuân đến, chờ tình yêu của đất trờiban tặng:                                       Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh                                       Tôi đợi người yêu đến tự tình                                       Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy                                       Bắt đầu là cái thắt lưng xanh.Mùa xuân là mùa của tình yêu. Chẳng thế mà Nguyễn Du đã để cho Thúy Kiều và Kim Trọng gặp nhau trong ngày hội Đạp thanh của tiết thanh minh với Cỏ non xanh tận chân trời. Cỏ cây hoa lá, lòng người đều háo hức đón xuân. Chàng trai mới ước đó mà cô gái đã xuất hiện: Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy/ Bắt đầu là cái thắt lưng xanh. Hóa ra mùa xuân không ở đâu xa, không đợi con tạo xoay vần, mà mùa xuân đồng nghĩa với tình yêu. Màu xanh của chiếc thắt  lưng cô gái là biểu tượng của màu tình yêu. Nó là cái màu của thời gian, màu của hy vọng tuổi trẻ. Nguyễn Bính rất ưa dùng màu xanh trong thơ. Ở bài Xanh (1951) ông cũng đã để cho màu xanh chen lấn với cảnh và người:                                       Xanh cây, xanh cỏ, xanh trời                                 Xanh rừng, xanh núi, da giời cũng xanh                                        Áo chàm cô Mán thanh thanh                                Mắt xanh biêng biếc một mình tương tư.Mùa xuân ở phía Bắc mang nét đặc trưng riêng. Còn ở phía Nam thì bốn mùa không phân biệt rõ, mà ta chỉ thấy hai mùa mưa nắng tiếp nhau. Cũng mùa xuân 1937 ấy, Hàn Mặc Tử đang ở Qui Nhơn, ông hỏi xuân Ngoài kia xuân đến thắm duyên chưa/ Trời ở trong đây chẳng có mùa. Sau ngày giải phóng miền Nam, nhạc sĩ Phạm Tuyên ngồi giữa Sài Gòn cũng  muốn gói nắng vàng rực rỡ gởi ra ngoài Bắc cho em: Anh ở trong này không thấy mùa đông/ Nắng vẫn đỏ mận hồng đào cuối vụ/ Trời Sài Gòn xanh trong như quyến rũ/ Thật diệu kỳ là mùa đông phương Nam. Có lẽ nhìn ánh nắng vàng chan hòa ấy mà Hàn Mặc Tử mới tưởng tượng ra là Mùa xuân chín:                                         Trong làn nắng ửng khói mơ tan                                         Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng                                         Sột soạt gió trêu tà áo biếc,                                         Trên giàn thiên lý, bóng xuân sang. Mùa xuân của Hàn Mặc Tử lại gắn với màu vàng tràn đầy nơi thôn dã, thật thơ mộng và đáng yêu. Lòng người, lòng xuân bừng nở, hân hoan, ngân vang và tỏa hương sắc với đất trời. Một buổi mai có nắng nhẹ lơ lửng làm tan màn sương khói mờ ảo. Nắng xuân như rắc vàng lấm tấm lên cảnh vật, lên mái nhà tranh. Gió xuân vô tình hay hữu ý trêu tà áo biếc của cô gái. Và bóng hình mùa xuân đã làm giàn thiên lý đẹp hơn. Nhà thơ nói bóng xuân sang, nghĩa là mùa xuân mới bắt đầu chớm tới. Thi sĩ đi từ những hình ảnh cụ thể của nắng, khói, sương, gió của giàn thiên lý để chào nàng xuân. Còn Nguyễn Bính đi từ khái quát: Mùa xuân là cả một mùa xanh đến các chi tiết cụ thể. Các cô gái của Hàn Mặc Tử trong Mùa xuân chín hiện lên như sờ thấy được, chứ không như cô gái e lệ, thấp thoáng sau lũy tre làng trong Mùa xuân xanh của Nguyễn Bính, chỉ ló ra cái thắt lưng xanh. Trên cái nền xanh của cỏ gợn tới trời, các cô thôn nữ đùa vui hồn nhiên, nhí nhảnh và pha một chút nghịch ngợm:                                        Sóng cỏ xanh tươi gợi tới trời                                        Bao cô thôn nữ hát trên đồi                                     – Ngày mai trong đám xuân xanh ấy                                       Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Đang vui sum họp, các cô đã nghĩ tới sự xa cách của cái ngày mai ấy. Tiếng hát du xuân như chững lại, như ngậm ngùi khi cuộc vui đến hồi kết thúc. Tuổi trẻ rồi sẽ trôi qua như đời người không ai tắm hai lần trên một dòng sông. Các cô thôn nữ vui hết mình, vui bất tận. Ta như nghe rõ từng tiếng ca vắt vẻo tiếng thở hổn hển, tiếng tâm sự thầm thĩ bên những khóm trúc. Theo nhịp đập của con tim, từng đôi trai gái đang đắm đuối, tận hưởng mùa xuân. Trong thơ hiện đại Việt Nam, hiếm có những khổ thơ đẹp như thế. Một loạt từ láy gợi âm, gợi hình càng làm sống động hơn bức tranh xuân tràn trề sức trẻ. Lúc này Hàn Mặc Tử đang ở trong nhà thương Quy Nhơn, nhưng hồn thơ vẫn thả theo gió mây, theo tiếng ca xuân để viết nên những dòng tuyệt bút. Trở về với thực tại cay đắng của số phận, ông ôm một mối sầu buồn: nhớ quê, nhớ làng, nhớ tới một mối tình không thành:                                        Khách xa gặp lúc mùa xuân đến                                              Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng:                                       – Chị ấy năm nay còn gánh thóc                                        Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?Nhân vật trữ tình đến đây có sự đổi vai. Từ cô thôn nữ tới có kẻ rồi tới  ai,  và sau cùng là chị ấy. Chị ấy là ai ta không cần biết. Đó có thể là một Mộng Cầm, hay một Hoàng Cúc chăng? Thời gian sẽ xóa nhòa tất cả như nhà thơ đã viết trong Đây thôn Vĩ Dạ: Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/ Ai biết tình ai có đậm đà? Với Mùa xuân chín  hình bóng người con gái ấy tưởng như xa vời nhưng lại rất gần gữi thân thương. Nhà thơ vẫn tôn thờ người tình trong tâm tưởng và nâng lên ở mức cung kính qua cách xưng chị ấy, để rồi vĩnh viễn lìa xa. Câu thơ cuối cùng khép lại ý tưởng mà âm hưởng cứ lan tỏa với vần điệu quấn quít được chứa đựng trong một câu hỏi tu từ: Chị ấy năm nay còn gánh thóc/ Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?   Ngày xuân đọc lại hai bài thơ xuân của Nguyễn Bính và Hàn Mặc Tử ta như được thả hồn mình về với một miền quê yên vui thanh bình, chan hòa các sắc màu tươi mát để lắng nghe những âm thanh rộn rã và hít thở hương đồng gió nội của mùa xuân xanh -  mùa xuân chín, của làn nắng ửng: khói mơ tan… Hai bài thơ như có ma lực ám ảnh ta mãi mãi. Nó chứa chan nhựa sống của mùa xuân và tuổi trẻ, của tình yêu và hy vọng. 

Lê Xuân (Theo VNTG số 56 – xUÂN 2013)

Chia sẻ:

Từ khóa:

Mùa xuân xanh, Mùa xuân chín. Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử

Đánh giá bài viết

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Đọc “Mùa Xuân Xanh” Của Nguyễn Bính Nhớ “Mùa Xuân Chín” Của Hàn Mặc Tử

Lê Xuân

(Vanchuongphuongnam.vn) – Ngày xuân đọc lại hai bài thơ xuân của Nguyễn Bính và Hàn Mặc Tử ta như được thả hồn mình về với một miền quê yên vui thanh bình, chan hòa các sắc màu tươi mát để lắng nghe những âm thanh rộn rã và hít thở hương đồng gió nội của mùa xuân xanh – mùa xuân chín, của làn nắng ửng: khói mơ tan… Hai bài thơ như có ma lực ám ảnh ta mãi mãi. Nó chứa chan nhựa sống của mùa xuân và tuổi trẻ, của tình yêu và hy vọng.

Nhà thơ Hàn Mặc Tử và nhà thơ Nguyễn Bính

Mùa xuân của thiên nhiên cứ theo qui luật tạo hóa mà đi và đến. Mùa xuân của lòng người lại theo nhịp đập của trái tim tình yêu và tuổi trẻ, ước mơ và khát vọng. Mùa xuân của một dân tộc là cái bản lề nối liền những thắng lợi của năm cũ với năm mới sau 365 ngày. Nhà thơ Nguyễn Bính chào đời và ra đi đều vào mùa xuân. Từ sáng 30 Tết năm Ất Tỵ (20/1/1966) nhà thơ đã vĩnh biệt thế giới này. Còn nhà thơ Hàn Mặc Tử, tuy hơn Nguyễn Bính 6 tuổi, nhưng cũng đã lên tiên từ mùa đông năm Canh Thìn  (11/11/1940). Hai nhà thơ ở hai phương trời xa lạ nhưng cảm xúc về mùa xuân lại có nét tương đồng. Cả hai thi sĩ đều nhìn mùa xuân như một trái cây ngọt lành đang chuyển từ xanh đến chín. Hàn Mặc Tử có cả một tập Xuân như ý với mấy chục bài thơ xuân. Nguyễn Bính lại có Mưa xuân, Xuân về, Thơ xuân, Xuân tha hương, Xuân nhớ miền Nam…

Với mùa xuân này, tôi muốn quay về mấy hơn nửa thế kỷ trước để tận hưởng “Mùa xuân xanh”của Nguyễn Bính. Bài thơ được in năm 1937 trong tập Một nghìn cửa sổ và  “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử cùng in năm 1937 trong tập Nắng xuân. Nguyễn Bính chân quê, dân dã. Hàn Mặc Tử tài hoa, bất hạnh. Cảm nhận về mùa xuân của Nguyễn Bính Bắt đầu là cái thắt lưng xanh của một cô gái vừa ra khỏi lũy tre làng. Đó là tứ thơ mộc mạc, gần gũi mà không phải thi sĩ nào cũng phát hiện ra. Từ cái màu xanh đầy hơi ấm của sức trẻ ấy, tầng liên tưởng được mở rộng:

Mùa xuân là cả một mùa xanh Giời ở trên cao, lá ở cành Lúa ở đồng tôi và lúa ở Đồng nàng và lúa ở đồng quanh.

Một màu xanh bát ngát, tràn ngập như vây quanh ta. Trên trời cao mây xanh, dưới mặt đất lúa xanh. Cỏ cây, lá cành đều xanh. Màu xanh quấn quít, nhiều tầng, nhiều lớp được diễn tả bởi câu thơ vắt dòng: Lúa ở đồng tôi và lúa ở/ Đồng nàng và lúa ở đồng quanh. Bốn câu thơ mà có tới năm từ “ở”, làm màu xanh của mùa xuân hiển hiện rõ nét ở giời, ở lá, ở cành, ở đồng nàng, ở đồng tôi, ở đồng quanh. Nhìn phương nào ta cũng bắt gặp một màu xanh bát ngát đến vô tận. Mùa xuân có tiết thanh minh trong sáng, thường vào cỡ tháng ba âm lịch. Cỏ non như chờ đợi xuân đến, chờ tình yêu của đất trời ban tặng:

Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh Tôi đợi người yêu đến tự tình Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy Bắt đầu là cái thắt lưng xanh.

Mùa xuân là mùa của tình yêu. Chẳng thế mà Nguyễn Du đã để cho Thúy Kiều và Kim Trọng gặp nhau trong ngày hội Đạp thanh của tiết thanh minh với Cỏ non xanh tận chân trời. Cỏ cây hoa lá, lòng người đều háo hức đón xuân. Chàng trai mới ước đó mà cô gái đã xuất hiện: Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy/ Bắt đầu là cái thắt lưng xanh. Hóa ra mùa xuân không ở đâu xa, không đợi con tạo xoay vần, mà mùa xuân đồng nghĩa với tình yêu. Màu xanh của chiếc thắt  lưng cô gái là biểu tượng của màu tình yêu. Nó là cái màu của thời gian, màu của hy vọng tuổi trẻ. Nguyễn Bính rất ưa dùng màu xanh trong thơ. Ở bài Xanh (1951) ông cũng đã để cho màu xanh chen lấn với cảnh và người:

Xanh cây, xanh cỏ, xanh trời Xanh rừng, xanh núi, da giời cũng xanh Áo chàm cô Mán thanh thanh Mắt xanh biêng biếc một mình tương tư.

Mùa xuân ở phía Bắc mang nét đặc trưng riêng. Còn ở phía Nam thì bốn mùa không phân biệt rõ, mà ta chỉ thấy hai mùa mưa nắng tiếp nhau. Cũng mùa xuân 1937 ấy, Hàn Mặc Tử đang ở Quy Nhơn, ông hỏi xuân Ngoài kia xuân đến thắm duyên chưa/ Trời ở trong đây chẳng có mùa. Sau ngày giải phóng miền Nam, nhạc sĩ Phạm Tuyên ngồi giữa Sài Gòn cũng muốn gói nắng vàng rực rỡ gởi ra ngoài Bắc cho em: Anh ở trong này không thấy mùa Đông/ Nắng vẫn đỏ mận hồng đào cuối vụ/ Trời Sài Gòn xanh trong như quyến rũ/ Thật diệu kỳ là mùa đông phương Nam. Có lẽ nhìn ánh nắng vàng chan hòa ấy mà Hàn Mặc Tử mới tưởng tượng ra là Mùa xuân chín:

Trong làn nắng ửng khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý, bóng xuân sang.

Mùa xuân của Hàn Mặc Tử lại gắn với màu vàng tràn đầy nơi thôn dã, thật thơ mộng và đáng yêu. Lòng người, lòng xuân bừng nở, hân hoan, ngân vang và tỏa hương sắc với đất trời. Một buổi mai có nắng nhẹ lơ lững làm tan màn sương khói mờ ảo. Nắng xuân như rắc vàng lấm tấm lên cảnh vật, lên mái nhà tranh. Gió xuân vô tình hay hữu ý trêu tà áo biếc của cô gái. Và bóng hình mùa xuân đã làm giàn thiên lý đẹp hơn. Nhà thơ nói bóng xuân sang, nghĩa là mùa xuân mới bắt đầu chớm tới. Thi sĩ đi từ những hình ảnh cụ thể của nắng, khói, sương, gió của giàn thiên lý để chào nàng xuân. Còn Nguyễn Bính đi từ khái quát: Mùa xuân là cả một mùa xanh đến các chi tiết cụ thể. Các cô gái của Hàn Mặc Tử trong “Mùa xuân chín” hiện lên như sờ thấy được, chứ không như cô gái e lệ, thấp thoáng sau lũy tre làng trong “Mùa xuân xanh” của Nguyễn Bính, chỉ ló ra cái thắt lưng xanh. Trên cái nền xanh của cỏ gợn tới trời, các cô thôn nữ đùa vui hồn nhiên, nhí nhảnh và pha một chút nghịch ngợm:

Sóng cỏ xanh tươi gợi tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi Ngày mai trong đám xuân xanh ấy Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…

Đang vui xum họp, các cô đã nghĩ tới sự xa cách của cái ngày mai ấy. Tiếng hát du xuân như chững lại, như ngậm ngùi khi cuộc vui đến hồi kết thúc. Tuổi trẻ rồi sẽ trôi qua như đời người không ai tắm hai lần trên một dòng sông. Các cô thôn nữ vui hết mình, vui bất tận. Ta như nghe rõ từng tiếng ca vắt vẻo tiếng thở hổn hển, tiếng tâm sự thầm thĩ bên những khóm trúc. Theo nhịp đập của con tim, từng đôi trai gái đang đắm đuối, tận hưởng mùa xuân. Trong thơ hiện đại Việt Nam, hiếm có những khổ thơ đẹp như thế. Một loạt từ láy gợi âm, gợi hình càng làm sống động hơn bức tranh xuân tràn trề sức trẻ. Lúc này Hàn Mặc Tử đang ở trong nhà thương Quy Hòa, nhưng hồn thở vẫn thả theo gió mây, theo tiếng ca xuân để viết nên những dòng tuyệt bút. Trở về với thực tại cay đắng của số phận, ông ôm một mối sầu buồn: nhớ quê, nhớ làng, nhớ tới một mối tình không thành:

Khách xa gặp lúc mùa xuân đến Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: – Chị ấy năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

Nhân vật trữ tình đến đây có sự đổi vai. Từ cô thôn nữ tới có kẻ rồi tới  ai, và sau cùng là chị ấy. Chị ấy là ai ta không cần biết. Đó có thể là một Mộng Cầm, hay một Hoàng Cúc chăng? Thời gian sẽ xóa nhòa tất cả như nhà thơ đã viết trong “Đây thôn Vĩ Dạ”: Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/ Ai biết tình ai có đậm đà? Với “Mùa xuân chín” hình bóng người con gái ấy tưởng như xa vời nhưng lại rất gần gũi thân thương. Nhà thơ vẫn tôn thờ người tình trong tâm tưởng và nâng lên ở mức cung kính qua cách xưng chị ấy, để rồi vĩnh viễn lìa xa. Câu thơ cuối cùng khép lại ý tưởng mà âm hưởng cứ lan tỏa với vần điệu quấn quít được chứa đựng trong một câu hỏi tu từ: Chị ấy năm này còn gánh thóc/ Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

Ngày xuân đọc lại hai bài thơ xuân của Nguyễn Bính và Hàn Mặc Tử ta như được thả hồn mình về với một miền quê yên vui thanh bình, chan hòa các sắc màu tươi mát để lắng nghe những âm thanh rộn rã và hít thở hương đồng gió nội của mùa xuân xanh – mùa xuân chín, của làn nắng ửng: khói mơ tan… Hai bài thơ như có ma lực ám ảnh ta mãi mãi. Nó chứa chan nhựa sống của mùa xuân và tuổi trẻ, của tình yêu và hy vọng.

L.X

Nhớ Mùa Xuân Đầu Tiên Cao Bằng Đón Bác Hồ Về Nước

NHỚ MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN CAO BẰNG ĐÓN BÁC HỒ VỀ NƯỚC

“ Bác đã về đây, Tổ quốc ơi! Nhớ thương hòn đất, ấm hơi Người Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ Mà đến bây giờ mới tới nơi!” (Tố Hữu) Mùa xuân năm 1941 là một mùa xuân đặc biệt trong cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng.

“ Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!           Nhớ thương hòn đất, ấm hơi Người           Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ           Mà đến bây giờ mới tới nơi!”                                                                       (Tố Hữu)

Mùa xuân năm 1941 là một mùa xuân đặc biệt trong cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng.           Ngày 28/1/1941(tức mùng 2 tết Tân Tỵ) Bác Hồ đã vượt cột mốc 108 biên giới Việt Nam – Trung Quốc về đến Pác Pó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Với tầm nhìn xa trông rộng của một nhà chiến lược cách mạng thiên tài, Người xác định Cao Bằng là nơi hội tụ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để xây dựng căn cứ địa cách mạng đầu tiên của cả nước. Đồng bào Pác Pó, nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng vinh dự tự hào thay mặt nhân dân cả nước đón người con ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam. Cùng đi với Người có đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Lộc. Khi đến cột mốc 108, Người dừng lại đọc những dòng chữ khắc sâu trên đá, cúi xuống bốc một nắm đất lên hôn rồi đứng lặng hồi lâu hướng tầm mắt về phía dải đất Tổ Quốc trùng điệp ngút ngàn. Trời đất đang vào xuân, hoa nở thắm núi rừng, cây cối đâm chồi lộc biếc.Tất cả vạn vật như khoác trên mình chiếc áo mới hứa hẹn một ngày mai tươi sáng. Đất nước trải qua bao biến cố lịch sử vẫn bừng lên sức sống mãnh liệt. Nhà thơ Tố Hữu trong cảm xúc dâng trào đã từng thốt lên:          

“ Ôi sáng xuân nay xuân 41           Trắng rừng biên giới nở hoa mơ           Bác về im lặng con chim hót           Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”

          Sau 30 năm bôn ba khắp bốn biển, năm châu đi tìm đường cứu nước, xa quê hương, xa Tổ quốc giờ đây Người đã trở về trong lòng đất Mẹ, trở về với cái tết cổ truyền của dân tộc, được sống trong không khí nghĩa tình ấm áp của nhân dân. Đây là giây phút lịch sử thiêng liêng, xúc động. Phút giây đó, sau này Người kể lại: Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến lòng Bác vô cùng xúc động.            Sự kiện Bác Hồ về nước mùa xuân 1941 có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn. Từ đây cách mạng Việt Nam có một vị lãnh tụ xuất sắc trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ mùa xuân này, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta chuyển sang một thời kỳ mới với nhiều thắng lợi mới, từng bước đưa dân tộc Việt Nam đi tới những mùa xuân tự do và độc lập.           Xuân Kỷ Hợi đang đến gần, nhân dân Việt Nam kỷ niệm 78 năm ngày Bác Hồ về nước (28/1/1941 – 28/1/2024). Ghi nhớ công lao to lớn của Người mỗi cán bộ, đảng viên và đồng bào cả nước tiếp tục nỗ lực phấn đấu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đưa đất nước phát triển đi lên, sánh vai với các cường quốc năm châu như sinh thời Người hằng mong muốn.  

                                                                         Phùng Thị Hương Giang Phòng tuyên truyền giáo dục

Những Vần Thơ Viết Về Đảng, Bác Và Mùa Xuân

Trong bài thơ Một nhành xuân, Tố Hữu từng viết: “… Năm hai mươi của thế kỷ hai mươi/Tôi sinh ra nhưng chưa được làm người/Nước đã mất, cha đã làm nô lệ/Ôi những ngày xưa mưa xứ Huế, mưa sao buồn vậy hỡi mưa rơi!?/Ngẩng đầu lên không thấy mặt trời/Đất lai láng những là nước mắt… Từ vô vọng mênh mông đêm tối,/ Người đã đến chói chang nắng dội, /trong lòng tôi ôi Đảng thân yêu…” Một nhành xuân-Tố Hữu).

Vừa ra đời, Đảng đã trở thành người lãnh đạo, người tổ chức của cách mạng Việt . Và, suốt 85 năm qua, dưới ngọn cờ của Đảng, đất nước ta, dân tộc ta và nhân dân ta vươn lên muôn vàn thử thách, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên biết bao kỳ tích vẻ vang. Những vần thơ viết về Bác Hồ, về Đảng của các nhà thơ phần nào nói được tình cảm sâu sắc của mình và của mọi người trước những chặng đường lịch sử vĩ đại của Đảng ta. Hạnh phúc cho chúng ta là Hồ Chủ tịch người đầu tiên mang đến cho dân tộc ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, cũng là người suốt đời tiêu biểu hoàn mỹ nhất cho chân lý của chủ nghĩa đó. Cả dân tộc có một tấm gương sống động để noi theo, tin tưởng và kính yêu. Như một nhu cầu về tình cảm, Chế Lan Viên đã viết nhiều bài thơ về Bác. Người đi tìm hình của nước viết năm 1960, trong dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng là một bài đặc sắc: “Luận cương đến với Bác Hồ. Và Người đã khóc/Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin./Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp/Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin”. Làm sao quên được thời khắc xúc động và thiêng liêng đối với Bác, đối với Tổ quốc, nhân dân. Chân lý cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã soi sáng tâm hồn Người, đất trời và vạn vật xung quanh như bừng tỉnh, cùng hòa chung niềm hạnh phúc vô bờ: “Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc:”Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”/Hình của Đảng lồng trong hình của Nước/Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười ” (Người đi tìm hình của nước-Chế Lan Viên).

Với Chế Lan Viên, ngày vào Đảng chính là ngày sinh lại của đời mình, ngày ông có một quê hương thứ hai là Đảng để gắn bó, yêu thương. Đảng “đã trở thành nơi cắt rốn chôn nhau”: ” Ngày vào Đảng đất trời như đổi khác/ Những vật vô tri cũng làm rưng nước mắt/ Đá sỏi, cây cằn sao bỗng thấy thiêng liêng?/ Giọng nói quen nghe, màu đất quen nhìn/ Bỗng chan chứa trăm điều chưa nói hết! (Kết nạp Đảng trên quê mẹ).

Đảng rất gần gũi, thân thiết với Nhân dân từ việc nhỏ nhặt nhất như: hạt muối, cọng rau, bát cơm, manh áo…Từ ngày mới ra đời, Ðảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Màu cờ đỏ của Ðảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế, phản phong: ” Đảng nghĩ số triệu dân, nghĩ sức nước sông Cả, sông Hồng/ Những vóc dáng những Trường Sơn, dung mạo những đồng bằng/ Những mâm cơm ta có gì, Trung ương phải nghĩ/ Một lạng ngô thôi cũng lo đều cho mười chín triệu đầu dân …/ Ta nghĩ chuyện nghìn năm chưa kịp nghĩ/ Và đôi mắt thần của Đảng chiếu tầm xa. (Nghĩ về Đảng-Chế Lan Viên).

Viết về Đảng, ngợi ca Đảng đến nay đã có nhiều nhà thơ đề cập đến, nhưng ấn tượng nhất vẫn là những vần thơ của nhà thơ Tố Hữu. Đảng là niền tin, là sức mạnh. Đảng đấu tranh vì lợi quyền dân tộc, mang hạnh phúc, ấm no cho mỗi con người: ” Đảng ta, muôn vạn công nông/ Đảng ta, muôn vạn tấm lòng niềm tin/ Đảng ta, Mác – Lê-nin vĩ đại/ Lại hồi sinh, trả lại cho ta/ Trời cao, đất rộng bao la/ Bát cơm, tấm áo, hương hoa, hồn người” (Ba mươi năm đời ta có Đảng). Sức mạnh của Đảng và sự bền vững của chế độ bắt nguồn từ sức mạnh của lòng dân, của mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với dân, giữa dân với Đảng; đồng thời là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp hữu cơ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Dù trong hoàn cảnh nào, khi đã có niềm tin thì người dân luôn tin theo Đảng, bảo vệ Đảng đến cùng: ” Dù khi tắt lửa tối trời/ Vững lòng quyết sống không rời Đảng ta/ Dù khi giặc khảo giặc tra/ Cắn răng thà chết không xa Đảng mình (Ba mươi năm đời ta có Đảng-Tố Hữu).

Nhà thơ Phạm Hổ, một cây bút nổi tiếng chuyên viết cho thiếu nhi đã có những cảm nhận về Đảng thật tươi mới và sáng lạn: “… Ôi Đảng chúng ta là mùa xuân tuyệt đẹp,/Ngày một thêm xuân không bao giờ hết./Với địch, Đảng có chiếc nỏ thần An Dương Vương xưa/Nhưng Đảng không để mất bao giờ./Là ông Bụt hiện lên trong Tấm Cám/Đảng cho người nghèo đôi hài thêu đi lên vui sướng/Theo Đảng nhìn trời, không chỉ thấy sao,/Thấy những ánh đèn nhà cửa mai sau,/Góp một ngọn hải đăng trên biển cả loài người/Đảng góp đường đi và nhận đường đi khắp các chân trời..”(Dọc đường theo Đảng-Phạm Hổ).

Lê Đức Thọ là một chiến sĩ cách mạng yêu thơ và làm nhiều thơ ngay từ khi còn bị giam cầm trong nhà tù đế quốc. Khi nghe tin con được kết nạp vào Đảng, Ông xúc động khi nghĩ đến con, người đồng chí cùng chung lý tưởng chiến đấu: “Đảng đã cho con cả cuộc đời/Cả mùa xuân thắm rộn vui tươi/ Chắp cho đôi cánh thần tiên đó/Con hãy bay đi tận cuối trời”.

Với Xuân Diệu viết về Đảng là niềm tự hào, là lòng biết ơn và một tình thương thấm thía: ” Ôi người yêu, yêu hơn cả ái tình/ Người rất mực xa xanh và đỏ thắm/ Người gần gũi và bao la vạn dặm/Người một người và ức triệu con người” (Gánh).Những câu thơ say đắm bộc lộ này là của Xuân Diệu, chúng ta dễ dàng nhận ra cái giọng nồng nhiệt của nhà thơ tình yêu. Ngoài lòng biết ơn công dân, ông muốn giãi bày một khía cạnh ân nghĩa của riêng mình: ” Trong đời cũ trái tim ngoài ngực,/Tôi thoi thót đêm ngày đau nhức, /Cái gì nuôi, cái gì quật hố chôn, /Đảng dạy cho tôi phân biệt từ nguồn” (Đấu Tranh-Xuân Diệu).

Nói đến Lưu Trọng Lư, người đọc thường nghĩ và nhớ đến hình ảnh một con nai vàng ngơ ngác, cái ngơ ngác của người thi sĩ giữa ngã ba đường của cuộc đời cũ. Thì nay, trên mỗi “nước bước”, “đường đi” không thể không có ánh sáng Đảng soi đường: “Trên mỗi bước đi, lòng luôn tự hỏi: “Nếu trong ta vắng bóng một ngày”/Nếu trong ta, vắng Người mãi mãi/ Đi từ đâu, ta sẽ lại về đâu?” ( Bước theo Đảng-Lưu Trọng Lư).

Thơ Lê Anh Xuân luôn say sưa ca ngợi những con người đã dâng trọn đời mình cho lý tưởng của Đảng: “Phải nhờ lý tưởng chói chang/ Hoa tình yêu mới thơm hương mặt trời... Anh Trần Phú, chị Minh Khai/Tên còn thơm mát cành mai, cành đào/Võ Thị Sáu – đỉnh núi cao/Dưới chân sóng bể dạt dào hát ca” (Nguyễn Văn Trổi).Nhất là anh say sưa ca ngợi Bác, thơ Lê Anh Xuân rất nhiều lần nói đến Bác, lần nào cũng với một niềm tin tưởng, một niềm tin kính yêu vô hạn: “Miền Nam đọc thư Bác/ Sông Hiền Lương bồi hồi/ Trời Cà Mau giàn giụa nước mắt vui” (Chúng con đón thư Bác), “Ôi ba tiếng Hồ Chí Minh/ Đã thành vũ khí đã thành niềm tin/Đã thành lời hứa thiêng liêng/ Lửa thêu cháy đã nghiền chẳng tan” (Nguyễn Văn Trổi-Lê Anh Xuân).

Lê Anh Xuân miêu tả cô gái bị địch bắt nhốt trong xà lim không hề cảm thấy cô đơn trong bốn bức tường. Từ trong xà lim, cô đã làm thơ tặng người yêu và qua bài thơ cô ấy đã gửi gắm nổi lòng của mình, với chồng, với Đảng: “Đừng buồn em hỡi anh yêu quý/ Trái tim em chung thủy suốt đời/Với Đảng với anh người đồng chí/ Em là hoa sen thơm ngát đời anh” (Bài thơ áo trắng -Lê Anh Xuân).

Với nhà thơ Thanh Hải, anh kể chuyện nhân dân bất chấp kẻ thù hăm dọa vẫn chôn cất người cộng sản và trồng hoa lên mộ anh: “Hôm qua chúng giết anh/ Xác phơi đầu ngõ xóm … Thằng này là cộng sản/Không được đứa nào chôn!/ Lũ chúng vừa quay lưng/ Chiếc quan tài sơn son/ Đã đưa anh về mộ/ Đi theo sau hồn anh/ Cả làng quê đường phố… Trên mộ người cộng sản/ Hoa hồng đỏ và đỏ Như máu nở thành hoa..”. (Mộ anh hoa nở). chúng tôi Hồ Thế Hà, cán bộ giảng dạy Trường Đại học Khoa học Huế, khi nhắc đến bài thơ này đã viết: “Thanh Hải, với “Mồ anh hoa nở” đã khái quát tình đồng chí, đồng bào, tình quân dân cá nước một cách bản chất nhất thông qua cái chết của người chiến sĩ cách mạng. Mặc cho kẻ thù dọa dẫm, trên mộ người cộng sản giữa lòng địch vẫn lộng gió bốn phương và đỏ tươi hoa cách mạng”. (“Sức mạnh tinh thần từ những vần thơ”, trích từ sách “Tìm trong trang viết”, NXB Thuận Hóa, 1998).

Ơn Đảng, Bác Hồ kính yêu – Người đã đem lại cho dân tộc Việt một mùa Xuân bất tận. Đảng và Bác là đề tài tập hợp được nhiều tầng lớp thi sĩ, với biết bao lời thơ chân thành, những ý nghĩ trung thực, chín trong tâm hồn. Xuân Ất Mùi 2024 về, khí thế mới thêm thúc giục mỗi chúng ta đoàn kết một lòng, đồng tâm hiệp lực kiên định đi tới để xây dựng đất nước ta vừa đẹp vừa giàu.

“Tổ quốc tôi rất đẹp, rất giàu

Đẹp từ mái tóc xanh đầu nguồn Pắc Bó

Đẹp đến gót chân hồng đất mủi Cà Mau”.

(Với Đảng, mùa Xuân-Tố Hữu).