Bài Thơ Mẹ Ốm Của Tác Giả Nguyễn Đình Kiên / Top 2 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Kovit.edu.vn

Bài Thơ Tết Của Mẹ Tôi Của Tác Giả Nguyễn Bính

Tác giả: Nguyễn Bính

Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều, Mẹ tôi lo liệu đủ trăm điều. Sân gạch tường hoa người quét lại, Vẽ cung trừ quỷ, trồng cây nêu.

Nuôi hai con lợn tự ngày xưa, Mẹ tôi đã tính “tết thì vừa.” Trữ gạo nếp thơm, mo gói bó, Dọn nhà, dọn cửa, rửa bàn thờ.

Nay là hăm tám tết rồi đây, (Tháng thiếu cho nên hụt một ngày) Sắm sửa đố lề về việc tết, Mẹ tôi đi chợ buổi hôm nay.

Không như mọi bận người mua quà, Chỉ mua pháo chuột và tranh gà, Cho các em tôi đứa mỗi chiếc, Dán lên khắp cột, đốt inh nhà.

Giết lợn, đồ xôi, lại giết gà, Cỗ bàn xong cả từ hôm qua. Suốt đêm giao thừa mẹ tôi thức, Lẫm nhẫm cầu kinh Đức Chúa Bà.

Mẹ tôi gọi cả các em tôi, D0ến bên mà dặn: “Sáng ngày mai Các con phải dậy cho thật sớm, Đầu năm năm mới phải lanh trai.

Mặc quần mặc áo lên trên nhà, Thắp hương thắp nến lễ ông bà. Chớ có cãi nhau, chớ có quấy, Đánh đổ, đánh vỡ như người ta…”

Sáng ngày mồng một sớm tinh sương, Mẹ tôi cấm chúng tôi ra đường. Mở hàng mỗi đứa năm xu rưỡi, Rửa mặt hoa mùi nước đượm hương.

Thầy tôi lấy một tờ hoa tiên, BuÙt lông dầm mực viết lên trên. Trên những gì gì tôi chẳng biết, Giữa đề năm tháng, dưới đề tên.

Mẹ tôi thắt lại chiếc khăn sồi, Rón rén lên bàn thờ ông tôi. Đôi mắt người trông thành kính quá, Ngước xem hương cháy đến đâu rồi.

Mẹ tôi uống hết một cốc rượu, Mặt người đỏ tía vì hơi men, Người rủ cô tôi đánh tam cúc, Cười ầm tốt đỏ đè tốt đen.

Tôi mặc một chiếc quần mới may, Áo lương, khăn lượt, chân đi giày. Cho tôi đi lễ bên quê ngoại, Người dặn con đừng uống rượu say.

Xong ba ngày tết mẹ tôi lại, Đầu tắt mặt tối nuôi chồng con. Rồi một đôi khi người dậm gạo, Chuyện trò kể lại tuổi chân son.

Xem tiếp:

Có thể bạn sẽ thích

Bài Thơ “Mẹ Ốm” Của Trần Đăng Khoa

Trần Đăng Khoa nổi tiếng là một thần đồng về thơ khi đang còn học lớp ba trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ của Khoa trong sáng giản dị mà dạt dào cảm xúc, đầy tình yêu thương con người và thiết tha yêu quê hương đất nước. Biết bao em nhỏ Việt Nam yêu thích những bài thơ của Khoa viết và bài thơ “Mẹ ốm” cũng vậy. Mẹ ốm Cánh màn khép lỏng cả ngày Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan. Khắp người đau buốt, nóng ran Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm Người cho trứng, người cho cam Và anh y sĩ đã mang thuốc vào. Sáng nay trời đổ mưa rào Nắng trong trái chín ngọt ngào bay hương Cả đời đi gió đi sương Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi. Mẹ vui con có quản gì Ngâm thơ kể chuyện, rồi thì múa ca Rồi con diễn kịch giữa nhà Một mình con sắm cả ba vai chèo. Vì con, mẹ khổ đủ điều Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn Con mong mẹ khoẻ dần dần Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say. Rồi ra đọc sách, cấy cày Mẹ là đất nước, tháng ngày của con… Trần Đăng Khoa

Mở đầu bài thơ, tác giả đã miêu tả cảnh mẹ ốm bằng hình ảnh so sánh:

“Mọi hôm mẹ thích vui chơi. Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu”

Thường ngày mẹ hay ăn trầu, đôi má lúc nào cũng đỏ hồng lên. Thế mà hôm nay mọi cảnh vật trong nhà thật buồn bã. Lá trầu cũng như lặng đi và héo khô trong cơi trầu. Những lúc rỗi rãi mẹ thường ngâm nga Truyện Kiều, giờ mẹ bị ốm nên “Truyện Kiều gấp lại trên đầu…”.

Mẹ vốn là người lam làm tần tảo. Khi mẹ ốm thì “Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa”. Cả cuộc đời mẹ vất vả gian nan nay bị ốm, tác giả đã cảm nhận được và thể hiện qua hình ảnh:

“Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”.

Tác giả – một em thiếu niên 10 tuổi đã liên tưởng từ hình ảnh “nắng mưa” mà thấy được sự vất vả, những thăng trầm của cuộc sống mà người mẹ đã phải trải qua. Vì vậy mà tác giả như hiểu được người mẹ đang phải chịu sự “đau buốt, nóng ran” khi bị ốm.

Rồi tình làng nghĩa xóm, sự quan tâm của mọi người tới mẹ cũng được nhà thơ thể hiện rất mộc mạc, giản dị mà thắm đượm tình người:

“Mẹ ơi, cô bác xóm làng đến thăm. Người cho trứng, người cho cam Và anh y sĩ đã mang thuốc vào”.

Điều đó chứng tỏ rằng, hàng ngày mẹ sống tốt với mọi người nên khi mẹ ốm mọi người quý mến và thương cảm tới mẹ. Còn nhà thơ – em bé thiếu niên Trần Đăng Khoa bấy giờ đã thấu hiểu nỗi vất vả cực nhọc của mẹ trong cuộc sống lam lũ mà em đã từng chứng kiến và cảm nhận được:

“Cả đời đi gió, đi sương Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi”.

“Cả đời đi gió đi sương” là hình ảnh ẩn dụ diễn tả sự vất vả, gian khổ của người mẹ.

Trong cuộc sống lao động cực nhọc, mẹ đã từng trải qua và vượt lên tất cả để vì cuộc sống và vì tương lai tốt đẹp của các con. Khoa còn hiểu được qua thành ngữ “đi gió đi sương” là nói lên được sự vất vả gian khổ, lao động trong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sớm tối lặn lội. Cảm nhận được như vậy, chứng tỏ tác giả rất yêu thương mẹ, muốn làm tất cả những gì để mẹ vui lòng mà chóng khỏi ốm:

“Mẹ vui con có quản gì Ngâm thơ, kể chuyện rồi thì múa ca”.

Khoa còn làm được cả những việc vượt ngoài khả năng mà trước đây bản thân chưa làm được: “Một mình con sắm cả ba vai chèo” – một em thiếu niên thật là ngoan ngoãn, có thể lúc trước còn nhõng nhẽo, hay vòi vĩnh mẹ nhưng bây giờ mẹ ốm đã biết thể hiện sự hiếu thảo của mình qua sự chăm sóc mẹ. Nhìn những nếp nhăn hằn trên khuôn mặt của mẹ, Khoa rất cảm động và thấy vô cùng biết ơn mẹ:

“Vì con mẹ khổ đủ điều Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn”.

Vì vậy mà trong lòng của nhà thơ lúc nào cũng ước:

“Con mong mẹ khoẻ dần dần Ngày ăn ngon miệng đêm nằm ngủ say”.

Thật cảm động biết bao trước tình cảm đẹp đẽ của một người con – một cậu bé chưa đầy 10 tuổi trước cảnh “Mẹ ốm”. Bài thơ còn hay ở câu kết mà tác giả đã nói hộ chúng ta về lòng biết ơn vô hạn của những đứa con với các bà mẹ:

“Mẹ là đất nước, tháng ngày của con”.

Phải chăng đó cũng là tình cảm của mỗi chúng ta khi nghĩ về mẹ: Con yêu mẹ nhất trên đời, con yêu mẹ như yêu đất nước và mẹ chính là Tổ quốc của riêng con!

Theo báo Bắc Giang

Bài Thơ Trời Mưa Ở Huế Của Tác Giả Nguyễn Bính

Tác giả: Nguyễn Bính

Trời mưa ở Huế sao buồn thế! Cứ kéo dài ra đến mấy ngày Thềm cũ nôn nao đàn kiến đói Trời mờ ngao ngán một loài mây. Trường Tiền vắng ngắt người qua lại Đập Đá mênh mang bến nước đầy. Đò vắng khách chơi nằm bát úp Thu về lại giở gió heo may…

Chúng tôi hai đứa xa Hà Nội Bốn tháng hình như kém mấy ngày Lăn lóc có dư mười mấy tỉnh Để rồi nằm mốc ở nơi đây

Thuốc lào hút mãi người ra khói Thơ đọc suông tình hết cả hay Túi rỗng nợ nần hơn Chúa Chổm Áo quần trộm mướn, túng đồ thay.

Hàng xóm có người con gái lẻ Ý chừng duyên nợ với nhau đây Chao ơi! Ba bốn tao ân ái Đã đủ tan tành một kiếp trai.

Tôi rờn rợn lắm giai nhân ạ! Đành phụ nhau thôi, kẻo đến ngày Khăn gói gió đưa sang xứ lạ Ai cười cho được lúc chia tay?

Trời mưa ở Huế sao buồn thế! Cứ kéo dài ra đến mấy ngày Xa xôi ai nhớ mà thương nhớ? Mà nhớ mà thương đến thế này!

Cố nhân chẳng khóa buồng xuân lại Vung vãi ân tình khắp đó đây. Mưa chiều, nắng sớm, người ta bảo Cả đến ông trời cũng đổi thay

Gia đình thiên cả lên thành thị Buôn bán loanh quanh bỏ cấy cày “Anh em cánh nhạn người Nam Bắc Tâm sự hồn quyên lệ ngắn dài…”

Trời mưa ở Huế sao buồn thế! Cứ kéo dài ra đến mấy ngày Hôm qua còn sót hơn đồng bạc Hai đứa bàn nhau uống rượu say

Nón lá áo tơi ra quán chợ Chơ vơ trên bến nước sông đầy Sầu nghiêng mái quán mưa tong tả Chén ứa men lành lạnh ngón tay.

Ôn lại những ngày mưa gió cũ Những chiều quán trọ, những đêm say Người quen nhắc lại từng tên một Kể lại từng nơi đặt dấu giầy

Trôi dạt dám mong gì vấn vít Sòng đời thua nhẵn cả thơ ngây Tỉ tê gợi tới niềm tâm sự Cúi mặt soi gương chén rượu đầy

Bốn mắt nhuộm chung màu lữ thứ Đôi lòng hòa một vị chua cay Đứa thương cha yếu thằng thương mẹ Cha mẹ chiều chiều… con nước mây

Không hiểu vì đâu hai đứa lại Chung lưng làm một chuyến đi đầy? Trời mưa ở Huế sao buồn thế! Cứ kéo dài ra đến mấy ngày…

Xem tiếp:

Có thể bạn sẽ thích

Phân Tích Bài Thơ Khóc Dương Khuê Của Tác Giả Nguyễn Khuyến

Khóc Dương Khuê mang những tình cảm chân thực và đẹp đẽ của tác giả Nguyễn Khuyến đối với người bạn tâm giao Dương Khuê. Em hãy phân tích bài thơ Khóc Dương Khuê để thấy được những tình cảm chân thực này.

I. Dàn ý chi tiết cho đề phân tích bài thơ Khóc Dương Khuê

1. Mở bài

Giới thiệu tác giả Nguyễn Khuyến và bài thơ “Khóc Dương Khuê”: Những bài thơ của ông mang những tình cảm chân thực đẹp đẽ của người Việt Nam

2. Thân bài

Giới thiệu về tình bạn của Nguyễn Khuyến và Dương Khuê: Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cùng đỗ tiến sĩ và làm quan dưới triều Nguyễn

Nỗi đau buồn của Nguyễn Khuyến trước sự ra đi đột ngột của Dương Khuê: Cái chết đột ngột của Dương Khuê là một đau của Nguyễn Khuyến

Nhắc lại những kỉ niệm của đôi bạn tri kỉ: Đôi bạn tâm đầu ý hợp đã từng trải qua những ngày tháng vui vẻ, thú vị

Nỗi buồn mất bạn hòa chung với nỗi buồn mất nước: Cùng phụng sự dưới một triều đại, đôi bạn thân đã cùng chi sẻ nỗi đau mất nước

3. Kết bài

Ý nghĩa bài thơ “Khóc Dương Khuê”: Bài thơ Khóc Dương Khuê mang một nỗi niềm tiếc nuối sâu sắc về một tình bạn tri kỉ

II. Bài tham khảo

Trong nền thơ văn Việt Nam đã in dấu hơn một nghìn năm lịch sử của dân tộc, nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng đóng góp một phần vẻ vang trong đó. Những bài thơ của ông mang những tình cảm chân thực đẹp đẽ của người Việt Nam, được diễn đạt bằng ngôn ngữ Việt Nam gần gũi và giản dị. Trong số các bài thơ ấy tiêu biểu là bài “Khóc Dương Khuê”.

Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cùng đỗ tiến sĩ và làm quan dưới triều Nguyễn, tuy nhiên sau năm 1884, đất nước rơi vào tay thực dân Pháp, Nguyễn Khuyến cáo quan về làng nhưng Dương Khuê thì không có cái chí hướng đó, ông tiếp tục làm quan cho triều đình bấy giờ là tay sai cho thực dân, cho tới lúc ông qua đời ở tuổi 64. Cái chết đột ngột của Dương Khuê là một đau của Nguyễn Khuyến. Chẳng màng đến những chuyện khác, lúc đó Nguyễn Khuyến chỉ nghĩ rằng mình đã mất đi một người bạn thân, một tình cảm quý già không có gì có thể thay thế được. Tự ông hiểu được tình bạn ấy đến chính ông cũng không đo lường hết được chiều sâu, và rồi ông kêu lên những tiếng thảng thốt:

“Bác Dương thôi đã thôi rồi

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.”

Chẳng còn sự trau chuốt văn chương chữ nghĩa, câu thơ chỉ còn là nỗi đau, một nỗi đau chân thành và trọn vẹn. Tiếng “thôi” nghe dân giã mà tự nhiên làm sao, bộc phát từ chính sự đau đớn trong cõi lòng tác giả, trong hoàn cảnh xã hội mà người ta luôn đề cao sự “cao nhã” trong văn chương thì ta thấy Nguyễn Khuyến đã coi trọng sự chân thực đời thường đến mức nào. Tuy là nói đến cái chết nhưng ông lại không dám nói hẳn từ “chết”, thay vào đó là “thôi đã…thôi rồi”, vậy là coi như hết, hết thật rồi, ông đã mất đi người bạn thân mãi mãi. Kẻ quyền quý có đánh rơi viên ngọc quý độc nhất vô nhị cũng chỉ kêu đến vậy mà thôi, nếu như không đau nỗi đau thật làm sao có thể khóc tiếng khóc thật đến thế. Chỉ có điều nỗi đau ấy của Nguyễn Khuyến không thể thét lên, ông khóc với chính mình, tự mình khóc mình nghe, tiếng khóc đi vào lòng chứ chẳng thấu đến ai. Lúc này ông muốn ngồi một mình, ngồ với người bạn đã mất để cùng nhớ lại những kỉ niệm đã có từ những ngày đã rất xa xôi:

“Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước…

Trong khi gặp gỡ biết đâu duyên trời.”

Tình bạn ấy được gắn bó từ khi hai người cùng đi thi Hương và đỗ cùng nhau, hai người vốn khác quê, xa lạ, chẳng quen biết gì nhưng cứ như duyên trời định sẵn, họ cứ thế gắn bó cùng nhau. Đọc câu từ của Nguyễn Khuyến ta cảm thấy thật bình dị mà gần gũi, thân mật “sớm hôm”, “tôi bác”, “cùng nhau”, chan chứa tình cảm gắn bó, sự “kính yêu từ trước đến sau”.

“Cũng có lúc chơi nơi dặm khách…

Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang.”

Đôi bạn tâm đầu ý hợp đã từng trải qua những ngày tháng vui vẻ, thú vị, có tâm hồn biết thưởng thức và chia sẻ những niềm vui của kẻ cao nhân mặc khách. Tâm hồn nhà thơ như đang rung động trước những kỉ niệm, đang sống lại vói những cảm giác “từng gác cheo leo”, lắng nghe tiếng đàn tiếng hát “ả đào”. Là những người bạn đến với nhau như duyên số, thân vì lòng mến mộ nhau, nên tình bạn của Nguyễn Khuyến và Dương Khuê như là chỗ tri âm tri kỉ, “Cũng có lúc rượu ngon cùng nhấp…Biết bao đông bích, điển phần trước sau.” Chỉ nhấp chén rượu để thưởng thức vị đậm và mùi thơm, vừa ngẫm nghĩ để cho bầu thơ thêm lai láng. Cùng phụng sự dưới một triều đại, đôi bạn thân đã cùng chi sẻ nỗi đau mất nước, ông cũng cảm thấy mình bất lực, cam chịu nặng nề. Không chỉ thương cho người bạn đã ra đi mà đây còn là sự thương mình, thương mình đã mất đi một người tri kỉ. Nguyễn Khuyến đã mang trong mình cả nỗi đau mất tri kỉ, cả nỗi đau thời thế:

“Ai chẳng biết chán đời là phải

Vội vàng chi đã mải lên tiên.”

Sự ra đi mãi mãi của người bạn tri kỉ là sự mất mát quá lớn đố với ông, sự thiếu vắng lẻ loi trong cuộc đời.

Bài thơ Khóc Dương Khuê mang một nỗi niềm tiếc nuối sâu sắc về một tình bạn tri kỉ, góp phần khẳng định về tình cảm giữa những con người với nhau. Bài thơ đã để lại cái nhìn cao đẹp về tình bạn cũng như nhân cách cao đẹp của Nguyễn Khuyến.