Bài Thơ Đồng Chí Được Sáng Tác Vào Năm Nào / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top View | Kovit.edu.vn

Nêu Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Đồng Chí

Trình Bày Cảm Nhận Bài Thơ Đồng Chí Của Nhà Thơ Chính Hữu

Nêu Cảm Nhận Của Bản Thân Về 7 Câu Thơ Đầu Bài Đồng Chí Của Chính Hữu

Phân Tích Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu

Đóng Vai Người Lính Trong Bài Thơ Đồng Chí….( Tổ 2)

Mở Bài Bài Thơ Đồng Chí

– Bài thơ “Đồng chí” được sáng tác mùa xuân năm 1948, sau khi tác giả tham gia chiến dịch Việt – Bắc thu đông (1947). Bài thơ là kết quả từ những trải nghiệm của tác giả về thực tế cuộc sống và chiến đấu của bộ đội ta trong những ngày đầu kháng chiến.

– Được in trong tập thơ “Đầu súng trăng treo” (1966).

Năm ấy, khi viết bài thơ “Đồng chí”, anh bộ đội Trần Hữu Chính (bút danh nhà thơ Chính Hữu) vừa tròn 20 tuổi; đang là chính trị viên đại đội thuộc Trung đoàn Thủ Đô. Đại đội của anh được biệt phái đi truy kích địch trên vùng Việt Bắc. Cuộc sống của người lính lúc ấy thật gian khổ; quần áo một bộ, chân đất đầu trần, đúng như câu thơ tả thực anh viết: “Áo anh rách vai/ Quần tôi có hai mảnh vá”. Bên cạnh đó, hoạt động của họ cũng hết sức bí mật, kín đáo, vì nhiệm vụ đặc biệt họ đang đảm nhiệm. Cuộc sống dường như càng ác liệt, càng gian khổ bao nhiêu thì ý chí của họ càng quyết tâm, tinh thần đồng đội càng thắm thiết, bền chặt bấy nhiêu…

Một lần nhớ lại những người đồng đội năm xưa là thêm một lần nhà thơ bồi hồi xúc động. Nhà thơ kể:

– Không có tình bạn thì không tồn tại được. Sau chiến dịch phục kích này, mình bị ốm (bệnh), đơn vị hành quân, nhưng có cử một anh ở lại trông nom, giúp đỡ mình. Chính nhờ một phần sự tận tình của anh và tình cảm của đồng đội mà sau trận ốm này mình viết bài “Đồng chí”. Anh bạn không phải là nhân vật nhưng là một gợi ý, một nguyên mẫu. Ở đơn vị chỉ thấy xung quanh mình 3 “nhân vật”: Khẩu súng – Bạn – Trăng; cho nên cả bài thơ bạn đọc chỉ thấy 3 hình tượng này quấn quýt. Với “Đồng chí”, mình không tả trận đánh diễn ra như thế nào, hay sự gian khổ (mặc dù trong bài cũng có chi tiết nêu lên việc này); chủ yếu mình nói tình cảm, tình người của những người lính. Có lẽ vậy mà bài thơ mình viết nhanh, chỉ một hai đêm là xong.

Với “Đồng chí”, ta không chỉ biết thêm về những kỷ niệm tình cảm một thời quân ngũ của nhà thơ Chính Hữu mà còn hiểu hơn những quan niệm, suy nghĩ sáng tác của ông. Ông tâm sự nhân trò chuyện về bài thơ này:

– Trước và sau mình làm ít vì vẫn xác định làm nghiệp dư, lúc nào hứng thì làm. Mình là người ít nói, nên không thích ai nói nhiều. Lúc nào làm mà thấy không được thì dừng lại. Mình không tham, viết mà nhạt, không thật thì thôi!

Bây giờ ta mới hiểu rõ hơn vì sao bạn đọc và những nhà phê bình có lý khi có chung nhận xét: “Thơ ông hàm súc, cô đọng và ông viết không nhiều”. Nhà thơ dường như cũng hiểu thấu điều ấy; ông chẳng giấu gì và nhận xét:

Chính bài “Đồng chí” mình không bằng lòng bằng những bài mình viết sau này: Gửi Mẹ, Thư nhà, Duyệt binh, Lá ngụy trang, Qua Xi-bê-ri…

Ta hiểu vì sao ở những bài thơ ấy ông tâm đắc, vì những thiếu hụt ở những bài thơ trước (như phần trí tuệ) ông đã bù đắp được để giọng thơ mình hoàn thiện hơn.

Dẫu sao thì “Đồng chí” vẫn là một trong những bài thơ viết về chiến tranh thành công của nhà thơ cựu binh Chính Hữu.

Tham khảo ngay! Tìm hiểu chi tiết bài thơ Đồng chí – Chính Hữu

Soạn Bài Đồng Chí Lớp 9

Phân Tích Hình Tượng Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Chuyên Đề Ôn Thi Đại Học Bài Thơ Tây Tiến

Phân Tích Dòng Chảy Cảm Xúc Trong Bài Thơ Tây Tiến

Phân Tích Khổ Thơ Sau Trong Bài “tây Tiến” Của Quang Dũng:

Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Đồng Chí

Hoàn Cảnh Sáng Tác Của Các Tác Phẩm Thơ Hiện Đại

Thuyết Minh Về Tác Giả Chính Hữu Và Bài Thơ Đồng Chí

Bài Thơ “đồng Chí” Đã Ra Đời Như Thế Nào?

Hình Ảnh Người Lính Trong Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kín & Đồng Chí

Vẻ Đẹp Người Lính Trong Khổ Thơ Cuối Bài Đồng Chí

Chuyên đề 7: ĐỒNG CHÍ

* Giới thiệu bài học

Tình cảm là thứ quan trọng nhất đối với mỗi con người. Nó như dòng nước ngọt ngào chảy dọc trong ống nhựa tắm mát tâm hồn ta, tưới nước cho hạt giống tinh thần bên trong ta nảy nở. Thiếu đi cái ngọt ngào của tình cảm, ta sẽ chỉ như ống nước rỗng ruột, khô cứng, tâm hồn ta sẽ chẳng khác gì hoang mạc cằn khô nứt nẻ. Tình cảm trong chiến tranh, trong những mưa bom bão đạn, những khói lửa mịt mù lại càng đáng nhớ hơn, nó thể hiện sự gắn bó, yêu thương không điều kiện, đồng cam cộng khổ vượt qua những chông gai của cuộc chiến. Thứ tình cảm thiêng liêng ấy không gì khác chính là tình đồng chí. Nhà thơ Chính Hữu đã viết về tình cảm cao đẹp ấy, đồng thời tái hiện lại một cách chân thực hình ảnh người lính chống Pháp, qua bài thơ “Đồng chí” của ông.

I – Tìm hiểu chung 1. Tác giả:

– Chính Hữu,tên khai sinh Trần Đình Đắc (1926-2007), quê:Can Lộc,Hà Tĩnh.

– 1946,ông gia nhập Trung đoàn Thủ đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ.

– 1947,ông bắt đầu sáng tác thơ và thơ ông chủ yếu viết về người lính và chiến tranh với cảm xúc dồn nén,ngôn ngữ cô đọng.

– 2000, ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học – nghệ thuật.

– Tác phẩm chính: Đầu súng trăng treo(1966), Ngọn đèn đứng gác ….

2. Tác phẩm:

– “Đồng chí” là một trong số những bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Chính Hữu và cũng là của nền thơ kháng chiến.

– Bài thơ đã đi qua một hành trình hơn nửa thế kỉ làm đẹp mãi cho một hồn thơ chiến sĩ – hồn thơ Chính Hữu.

a. Hoàn cảnh sáng tác:

– Bài thơ “Đồng chí” được sáng tác vào đầu năm 1948 – sau chiến dịch Việt Bắc ( thu đông 1947 ).Trong chiến dịch này, Chính Hữu là chính trị viên đại đội, ông có nhiều nhiệm vụ nhất là việc chăm sóc anh em thương binh và chôn cất một số tử sĩ. Sau chiến dịch, vì là rất vất vả, nên ông bị ốm nặng, phải nằm lại điều trị. Đơn vị đã cử một đồng chí ở lại để chăm sóc cho Chính Hữu và người đồng đội ấy rất tận tâm giúp ông vượt qua những khó khăn, ngặt nghèo của bệnh tật. Cảm động trước tấm lòng của người bạn, ông đã viết bài thơ “Đồng chí” như một lời cảm ơn chân thành nhất gửi tới người đồng đội, người bạn nông dân của mình.

– Bài thơ được in trong tập “Đầu súng trăng treo” ( 1966) – tập thơ phần lớn viết về người lính trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

b. Bố cục: 3 phần.

+ Bảy câu thơ đầu : Cơ sở hình thành tình đồng chí.

+ Mười câu thơ tiếp: Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí.

+ Ba câu thơ cuối: Bức tranh đẹp về tình đồng chí, biểu tượng cao cả của cuộc đời người chiến sĩ.

c. Chủ đề: Ngợi ca tình đồng đội, đồng chí cao cả, thiêng liêng của các anh bộ đội Cụ Hồ -những người nông dân yêu nước mặc áo lính trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

II – Đọc – hiểu văn bản * Câu hỏi 2, sgk,trang 130:

Sáu dòng đầu bài thơ đã nói về cơ sở hình thành tình đồng chí của những người lính cách mạng. Cơ sở ấy là:

+ Cùng chung cảnh ngộ.

+ Cùng chung nhiệm vụ, lí tưởng chiến đấu.

+ Cùng chia sẻ mọi gian lao, thiếu thốn.

1. Cơ sở hình thành tình đồng chí a. Hai câu đầu:

– Hai câu thơ mở đầu bằng lối cấu trúc song hành, đối xứng như làm hiện lên hai gương mặt người chiến sĩ. Họ như đang tâm sự cùng nhau.Giọng điệu tự nhiên, mộc mạc, đầy thân tình. “Quê anh” và “làng tôi” đều là những vùng đất nghèo, cằn cỗi, xác xơ, là nơi ” nước mặn đồng chua” – vùng đồng bằng ven biển, là xứ sở của “đất cày lên sỏi đá” – vùng đồi núi trung du.

– Tác giả đã mượn thành ngữ, tục ngữ để nói về làng quê, nơi chôn nhau cắt rốn thân yêu của những người chiến sĩ. Điều ấy đã làm cho lời thơ mang đậm chất chân quê, dân dã đúng như con người vậy – những chàng trai dân cày chân đất, áo nâu lần đầu mặc áo lính lên đường ra trận! Như vậy, sự đồng cảnh, cùng chung giai cấp chính là cơ sở, là cái gốc hình thành nên tình đồng chí.

Năm câu thơ tiếp nói lên một quá trình thương mến: từ chỗ “đôi người xa lạ” rồi thành ” đôi tri kỉ” để kết thành “đồng chí”. Câu thơ có độ dài ngắn khác nhau, cảm xúc thơ như dồn tụ, nén chặt lại. Những ngày đầu, đứng dưới lá quân kì, những chàng trai ấy còn là “đôi người xa lạ”, mỗi người một phương trời “chẳng hẹn quen nhau”. Nhưng rồi cùng với thời gian kháng chiến, đôi bạn ấy gắn bó với nhau bằng biết bao kỉ niệm: “Súng bên súng, đầu sát bên đầu – Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. “Súng bên súng” là cách nói hàm súc,giàu hình tượng, đó là những con người cùng chung lí tưởng chiến đấu. Họ cùng nhau ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước, quê hương, giữ gìn nền độc lập, tự do, sự sống còn của dân tộc – “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Còn hình ảnh “đầu sát bên đầu” lại diễn tả sự đồng ý, đồng tâm, đồng lòng của hai con người đó. Và câu thơ “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” lại là câu thơ ắp đầy kỉ niệm về một thời gian khổ, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi “Bát cơm sẻ nửa – Chăn sui đắp cùng” . Và như thế mới thành “đôi tri kỉ” để rồi đọng kết lại là ” Đồng chí!”. “Đồng chí” – hai tiếng ấy mới thiêng liêng làm sao! Nó diễn tả niềm tự hào, xúc động, cứ ngân vang lên mãi. Xúc động bởi đó là biểu hiện cao nhất của một tình bạn thắm thiết, đẹp đẽ.Còn tự hào bởi đó là tình cảm thiêng liêng, cao cả của những con người cùng chung chí hướng, cùng một ý nguyện, cùng một lí tưởng, ước mơ.

– Dòng thơ thứ bảy trong bài thơ “Đồng chí” là một điểm sáng tạo,một nét độc đáo qua ngòi bút của Chính Hữu. Dòng thơ được tác riêng độc lập, là một câu đặc biệt gồm từ hai âm tiết đi cùng dấu chấm than, tạo nốt nhấn vang lên như một sự phát hiện, một lời khẳng định đồng thời như một bản lề gắn kết đoạn thơ đầu với đoạn thơ sau. Sáu câu thơ đầu là cội nguồn, là cơ sở hình thành tình đồng chí; mười câu thơ tiếp theo là biểu hiện, sức mạnh của tình đồng chí. “Đồng chí” – ấy là điểm hội tụ, là nơi kết tinh bao tình cảm đẹp: tình giai cấp, tình bạn,tình người trong chiến tranh. Hai tiếng “đồng chí” bởi vậy mà giản dị, đẹp đẽ, sáng ngời và thiêng liêng.

2. Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí a. Trước hết, đồng chí là sự thấu hiểu, chia sẻ những tâm tư, nỗi lòng của nhau:

“Ruộngnương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lunglay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”.

Vì nghĩa lớn, các anh sẵn sàng từ giã những gì gắn bó thân thương nhất: “ruộng nương”,”gian nhà”,”giếng nước”,”gốc đa”… Họ ra đi để lại sau lưng những băn khoăn, trăn trở, những bộn bề, lo toan của cuộc sống đời thường. Hai chữ “mặc kệ” đã diễn tả sâu sắc vẻ đẹp và chiều sâu đời sống tâm hồn người lính. Vì nghĩa lớn, họ sẵn sàng ra đi khi lí tưởng đã rõ ràng, mục đích đã chọn lựa.Song dù có dứt khoát thì vẫn nặng lòng với quê hương. Gác tình tiêng ra đi vì nghĩa lớn, vẻ đẹp ấy thật đáng trân trọng và tự hào. Trong bài thơ “Đất nước”, ta bắt gặp điểm tương đồng trong tâm hồn những người lính: facebook.com/hocvanlop9

“Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”.

Mặc dù đầu không ngoảnh lại nhưng các anh vẫn cảm nhận được “Sau lưng thềm năng lá rơi đầy”, cũng như người lính trong thơ của Chính Hữu, nói “mặc kệ” nhưng tấm lòng luôn hướng về quê hương. “Giếng nước gốc đa” là hình ảnh hoán dụ mang tính chất nhân hóa diễn tả một cách tinh tế tâm hồn người chiến sĩ, tô đậm sự gắn bó của người lính với quê nhà. “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” hay chính là tấm lòng của người ra đi không nguôi nhớ về quê hương. Quả thật, giữa người chiến sĩ và quê hương có mỗi giao cảm vô cùng sâu sắc,đậm đà. Người đọc cảm nhận từ hình ảnh thơ một tình quê ăm ắp và đây cũng là nguồn động viên, an ủi, là sức mạnh tinh thần giúp người chiến sĩ vượt qua mọi gian lao, thử thách suốt một thời máu lửa, đạn bom.

b. Tình đồng chí còn là sự đồng cam cộng khổ, chia sẻ những khó khăn thiếu thốn của cuộc đời người lính:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.

Bằng những hình ảnh tả thực, hình ảnh sóng đôi, tác giả đã tái hiện chân thực những khó khăn thiếu thốn trong buổi đầu kháng chiến: thiếu lương thực, thiếu vũ khí, quân trang, thiếu thuốc men…Người lính phải chịu “từng cơn ớn lạnh”, những cơn sốt rét rừng hành hạ, sức khỏe giảm sút, song sức mạnh của tình đồng chí đã giúp họ vượt qua tất cả. Nếu như hình ảnh “Miệng cười buốt giá” làm ấm lên, sáng lên tinh thần lạc quan của người chiến sĩ trong gian khổ thì cái nắm tay lại thể hiện tình đồng chí, đồng đội thật sâu sắc! Cách biểu lộ chân thực, không ồn ào mà thấm thía. Những cái bắt tay truyền cho nhau hơi ấm, niềm tin và sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Cái nắm tay nhau ấy còn là lời hứa hẹn lập công.

3. Biểu tượng đẹp của tình đồng chí

– Bài thơ khép lại với bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội,là biểu tượng cao đẹp về cuộc đời người chiến sĩ:

“Đêmnay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo”.

+ Nổi lên trên cảnh rừng đêm hoang vắng, lạnh lẽo là hình ảnh người lính “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”. Đó là hình ảnh cụ thể của tình đồng chí sát cánh bên nhau trong chiến đấu. Họ đã đứng cạnh bên nhau giữa cái giá rét của rừng đêm, giữa cái căng thẳng của những giây phút “chờ giặc tới”. Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ, giúp họ vượt lên tất cả….

+ Câu kết là một hình ảnh thơ rất đẹp: “Đầu súng trăng treo”. Cảnh vừa thực, vừa mộng. Về ý nghĩa của hình ảnh này có thể hiểu: Đêm khuya, trăng tà, cả cánh rừng ngập chìm trong sương muối. Trăng lơ lửng trên không, chiếu ánh sáng qua lớp sương mờ trắng, đục. Bầu trời như thấp xuống, trăng như sà xuống theo. Trong khi đó, người chiến sĩ khoác súng trên vai, đầu súng hướng lên trời cao như chạm vào vầng trăng và trăng như treo trên đầu súng. “Trăng”là biểu tượng cho vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước, là sự sống thanh bình. “Súng” là hiện thân cho cuộc chiến đấu gian khổ, hi sinh. Súng và trăng, cứng rắn và dịu hiền. Súng và trăng, chiến sĩ và thi sĩ. Hai hình ảnh đó trong thực tế vốn xa nhau vời vợi nay lại gắn kết bên nhau trong cảm nhận của người chiến sĩ: trăng treo trên đầu súng. Như vậy, sự kết hợp hai yếu tố, hiện thực và lãng mạn đã tạo nên cái vẻ đẹp độc đáo cho hình tượng thơ. Và phải chăng, cũng chính vì lẽ đó, Chính Hữu đã lấy hình ảnh làm nhan đề cho cả tập thơ của mình – tập “Đầu súng trăng treo” – như một bông hoa đầu mùa trong vườn thơ cách mạng.

III. Tổng kết

– Bài thơ kết thúc nhưng lại mở ra những suy nghĩ mới trong lòng người đọc. Bài thơ đã làm sống lại một thời khổ cực của cha anh ta, làm sống lại chiến tranh ác liệt. Bài thơ khơi gợi lại những kỉ niệm đẹp, những tình cảm tha thiết gắn bó yêu thương mà chỉ có những người đã từng là lính mới có thể hiểu và cảm nhận hết được.

– Với nhiều hình ảnh chọn lọc, từ ngữ gợi cảm mà lại gần gũi thân thuộc, với biện pháp sóng đôi, đối ngữ được sử dụng rất thành công, Chính Hữu đã viết nên một bài ca với những ngôn từ chọn lọc, bình dị mà có sức ngân vang. Bài thơ đã ca ngợi tình đồng chí hết sức thiêng liêng, như là một ngọn lửa vẫn cháy mãi, bập bùng không bao giờ tắt, ngọn lửa thắp sáng đêm đen của chiến tranh.

Link đăng kí tuyển sinh Online: ĐĂNG KÍ TUYỂN SINH

Cảm Nhận Về Bài Thơ Đồng Chí

Gia Sư Tại Nhà Cảm Nhận Về Bài Thơ Đồng Chí

Phân Tích 3 Câu Thơ Cuối Bài “đồng Chí”

Nêu Cảm Nhận Về Đoạn Cuối Bài Thơ Đồng Chí

Nêu Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Đồng Chí

Thuyết Minh Về Tác Giả Chính Hữu Và Bài Thơ Đồng Chí

Bài Thơ “đồng Chí” Đã Ra Đời Như Thế Nào?

Hình Ảnh Người Lính Trong Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kín & Đồng Chí

Vẻ Đẹp Người Lính Trong Khổ Thơ Cuối Bài Đồng Chí

Cảm Nhận Khổ Cuối Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu: Đêm Nay Rừng Hoang Sương Muối…

Sơ Đồ Tư Duy Đồng Chí Lớp 9 Ngắn Gọn Hay Nhất

Dàn ý Thuyết minh về tác giả Chính Hữu và bài thơ Đồng chí A. Mở bài

– Từ hình ảnh người lính trong kháng chiến chống Pháp giới thiệu về tác giả và tác phẩm

– Nêu nhận định đánh giá chung

B. Thân bài

* Tác giả Chính Hữu

– Sinh năm 1926 mất năm 2007

– Tên thật là Trần Đình Đắc

– Quê ở huyện Cam Lộc tỉnh Hà Tĩnh

– Vừa là một nhà thơ vừa là một người chiến sĩ trực tiếp tham gia kháng chiến

– Hồn thơ mộc mạc giản dị giàu chất hiện thực

– Được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

* Bài thơ Đồng Chí

– Được sáng tác đầu năm 1948 khi tác giả cùng đồng đội tham gia vào Chiến dịch Việt Bắc Thu Đông

– Bài thơ có bố cục làm hai phần

– Bài thơ thể hiện tình đồng chí đồng đội gắn bó keo sơn trong cuộc kháng chiến chống Pháp

– Vượt lên trên những gian khổ khó khăn thiếu thốn là tình đồng chí đã vươn lên chiến thắng kẻ thù

– Vận dụng thành công các thành ngữ câu thơ sóng đôi đối xứng

– Thể thơ tự do hình ảnh thơ mộc mạc chân thật

C. Kết bài

– Khái quát lại giá trị của tác phẩm

– Nêu cảm nhận cá nhân

– Đánh giá chung

Bài tham khảo Thuyết minh về tác giả Chính Hữu và bài thơ Đồng chí

Cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã qua đi như những dư âm của chúng vẫn còn vang mãi. Lập nên công lao to lớn ấy không thể kể đến công lao to lớn của những người lính đã góp phần không nhỏ trong cuộc kháng chiến. Nhà thơ chính Hữu cũng thế ông đã góp tiếng lòng mình và trong kho tàng văn học Việt Nam thời kì kháng chiến với nhiều tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu. Mà có lẽ ấn tượng hơn cả là bài thơ Đồng Chí bài thơ đã ca ngợi và đề cao tinh thần đồng chí đồng đội sâu sắc.

Chiến ngưu Sinh năm 1926 mất năm 2007 tên thật là Trần Đình Đắc quê ở huyện Cam Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Ông vừa là nhà thơ vừa là người chiến sĩ trực tiếp tham gia chiến đấu trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Chính Hữu chủ yếu viết về đề tài người lính và chiến tranh. Thơ của ông mộc mạc giản dị giàu chất hiện thực cảm xúc dồn nén hình ảnh và ngôn ngữ có chọn lọc hàm xúc. Năm 2000 ông được trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật các tác phẩm tiêu biểu như “Đầu súng trăng treo”, “Ngọn đèn đứng gác”,..

Bài thơ Đồng chí được sáng tác vào đầu năm 1948 khi tác giả cùng đồng đội của mình tham gia vào Chiến dịch Việt Bắc Thu Đông đã đánh bại cuộc chiến công với quy mô lớn của Pháp lên chiến khu Việt Bắc. Bài thơ được in trong tập thơ Đầu Súng Trăng Treo 1966.

Về bố cục bài thơ có thể chia làm 2 phần. Phần thứ nhất gồm 7 câu thơ đầu nói lên cơ sở hình thành tình đồng chí và phần thứ hai gồm 13 dòng thơ còn lại là biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí. Các câu thơ đã phản ánh chân thực và sâu sắc nội dung của bài thơ.

Bài thơ đã thể hiện tình đồng chí đồng đội gắn bó keo sơn trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Họ là những người nông dân từ miền quê nghèo có ra đi cùng chung nhiệm vụ mục đích và lý tưởng chiến đấu cùng chia sẻ những khó khăn gian khổ với nhau. Bên cạnh đó vượt lên trên những gian khổ khó khăn thiếu thốn là tình đồng chí đã vượt lên để chiến thắng kẻ thù.

Thêm vào đó bài thơ cũng thành công bởi sự phối hợp nghệ thuật một cách đặc sắc. Đó là thể thơ tự do hình ảnh thơ chân thực giản dị ngôn ngữ thơ giàu cảm xúc sử dụng các thành ngữ câu thơ sóng đôi đối xứng và một loạt các biện pháp liệt liệt kê ẩn dụ.

Có thể nói đồng chí là thành công sớm nhất của thơ ca cách mạng và kháng chiến. Nó đã góp phần mở ra phương hướng khai thác rất thương và vẻ đẹp của người lính trong cái bình dị đời thường chân thật.

Gắn với tên tuổi của nhà thơ chính Hữu Chính là bài thơ Đồng Chí. Kháng chiến đã đi xa có những người phải vùi mình ở nơi đất khách quê người cũng có những người sống sót trở về Nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì những người lính vẫn sẽ hướng về với nhau hướng về tình đồng đội cao đẹp năm nào. Bởi lẽ đó mà dù thời gian có trôi nhanh thế nào thì bài thơ Đồng chí vẫn sẽ để lại trong lòng bạn đọc dấu ấn khó phai.

………………………………..

Để có kết quả thi học kì 1 lớp 9 tốt nhất, mời các bạn làm thêm các đề thi học kì 1 lớp 9 năm 2022 – 2022 được HSG sưu tầm, cũng như các đề thi được tải nhiều nhất của chúng tôi:

Mời các bạn tham khảo tài liệu sau: Ngữ văn lớp 9, Giải bài tập Ngữ văn lớp 9, Tài liệu học tập lớp 9, Đề thi giữa kì 1 lớp 9, Đề thi học kì 1 lớp 9

Hoàn Cảnh Sáng Tác Của Các Tác Phẩm Thơ Hiện Đại

Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Đồng Chí

Cảm Nhận Về Bài Thơ Đồng Chí

Gia Sư Tại Nhà Cảm Nhận Về Bài Thơ Đồng Chí

Phân Tích 3 Câu Thơ Cuối Bài “đồng Chí”

Phân Tích Tình Đồng Chí Qua Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu

Phân Tích Tình Đồng Chí Qua Bài Thơ Đồng Chí Của Tác Giả Chính Hữu

Cảm Nhận Của Em Về Hình Tượng Người Lính Trong Bài Thơ Đồng Chí

Hệ Thống Câu Hỏi Ôn Tập Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu

Phân Tích Vẻ Đẹp Người Lính Qua Khổ Thơ Cuối Bài Đồng Chí

Tổng Ôn Kiến Thức Bài Thơ Đồng Chí Của Nhà Thơ Chính Hũu

Phân tích tình đồng chí qua bài thơ Đồng chí của Chính Hữu

Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu ra đời cách đây hơn 30 năm, cho đến nay, vẫn là một bài thơ mà em ưa thích bởi nó giúp em hiểu thêm được vì sao quân đội ta đã trở thành một quân đội anh hùng.

Đọc bài thơ, em bắt gặp những anh bộ đội đã có một cuộc đời, một quê hương nghèo khổ, nào là “nước mặn đồng chua”, nào là “đất cày lên sỏi đá” nào là “gian nhà không”. Đến khi vào bộ đội, họ cũng chẳng giàu có gì hơn, cũng “áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá” và “chân không giày…”. Đã thế, còn bị những cơn sốt rét rừng hành hạ.

Sốt run người, vầng trán ướt mồ hôi.

Lại phải sống cảnh “rừng hoang sương muối”. Bao nhiêu thiếu thốn về vật chất! Phải nói là cực kì gian khổ. Nhưng trong suốt bài thơ, em không hề nghe một lời than, hay cảm thấy ở họ một phút chán chường, dao động. Trái lại, bao trùm lên cuộc sống, thấm đượm trong từng trái tim của họ là mối tình đồng chí keo sơn, là niềm tin ở chính mình, ở đồng đội.

Tình của những người nông dân chân lấm tay bùn, sông ở mọi vùng quê của đất nước, nghe tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, họ nhanh chóng có mặt trong đoàn quân – chiến sĩ:

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.

Từ xa lạ đến chỗ thân quen, họ không cần chờ thời gian, năm tháng, bởi vì họ đang tập hợp dưới ngọn quân kì, bởi vì họ đã gặp nhau ở mục đích của cuộc ra đi. Lí tưởng chiến đấu gắn bó họ lại với nhau và họ nhanh chóng trở thành “đồng chí”; “Súng bên súng, đầu sát bên đầu. Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”.

Chính vì cùng chung một lí tưởng cùng sông trong tình đồng chí mà họ sẵn sàng chia ngọt, sẻ bùi: “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh”. Họ động viên nhau vượt qua mọi gian khổ “miệng cười buốt giá” và “thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.

Cuộc sống chiến đấu đã xây đắp nên tình đồng chí cao đẹp đó. Và cũng chính tình đồng chí giúp họ tạo nên sức mạnh và niềm tin cho mỗi con người – chiến sĩ và cho cả đoàn quân. Một tư thế sẵn sàng chiến đấu, một tinh thần lạc quan tin tưởng, một biểu tượng rất cao đẹp của người lính cụ Hồ:

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

Đây là đỉnh cao của tình đồng chí. Vì nếu đêm nay giữa “rừng hoang sương muối” mà Anh hoặc Tôi không “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới” thì mọi tình cảm thân ái như “chung chăn”, áo rách quần vá “thương nhau tay nắm lấy bàn tay” còn có ý nghĩa gì? Câu thơ này có một từ bình thường nhưng không thay thế được đó là từ “đứng”. Có nhạc sĩ đã phổ nhạc bài thơ này và sửa lại thành “ngồi”. “Đứng” là thường trực chiến đấu mà “ngồi” là nghỉ ngơi. Với lại từ “đứng” có âm “đ” cứng, thanh trắc (dấu sắc) mạnh phô diễn được sức mạnh của tình đồng chí ở đỉnh cao. Nói như thế, nhà thơ cảm thấy hãy còn hữu hạn nên đã chọn một ấn tượng cho cái vô cùng của tình đồng chí:

“Đầu súng trăng treo”

Lãng mạn thay, súng và trăng cũng là một cặp đồng chí! Cặp đồng chí này (súng và trăng) nói về cặp đồng chí kia (tôi và anh), nói được cái cụ thể và gợi đến vô cùng súng và trăng, gần và xa “Anh với tôi đôi người xa lạ, tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”. Súng và trăng, cứng rắn và dịu hiền; súng và trăng, chiến sĩ và thi sĩ; súng và trăng…là biểu hiện cao cả của tình đồng chí.

Sự kết hợp yếu tố hiện thực, tươi rói với tính chất lãng mạn trong trẻo là màu sắc mới mẻ mà Chính Hữu đã sớm mang lại cho thơ ca kháng chiến, thi ca cách mạng.

Giá Trị Tác Phẩm “đồng Chí” Của Chính Hữu

Sơ Đồ Tư Duy Đồng Chí Lớp 9 Ngắn Gọn Hay Nhất

Cảm Nhận Khổ Cuối Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu: Đêm Nay Rừng Hoang Sương Muối…

Vẻ Đẹp Người Lính Trong Khổ Thơ Cuối Bài Đồng Chí

Hình Ảnh Người Lính Trong Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kín & Đồng Chí

🌟 Home
🌟 Top