Bài Thơ Đâu Phải Bởi Mùa Thu / 2023 / Top 12 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Kovit.edu.vn

Đâu Phải Bởi Mùa Thu (Phú Quang / 2023

Tiếp nối dòng nhạc về mùa thu, [dongnhacxua.com] xin giới thiệu bản “Đâu phải bởi mùa thu” của nhạc sỹ Phú Quang, phỏng theo ý thơ của nhà thơ nữ Giáng Vân.

BÀI THƠ “YÊN TĨNH” CỦA GIÁNG VÂN (Nguồn: thica.net)

Mặt trời trưa đã quá đỉnh đầuVách đá chắn ngang điều muốn nóiEm ru gì cho đá núiĐá núi trụi trần vết tạc của thời gianEm ru gì cho dòng sôngDòng sông chẳng khi nào ngừng lặngSóng cuộn lên nỗi khát khao vô bờSóng rất biết nơi mình đi và đến

Em ru gì cho anhMặt trời linh thiêng mặt trời giông tốĐã mệt mỏi rồi đã bao nỗi âu loTrên gương mặt anh hằn lên nỗi khổKhiến câu hát cất lên bỗng tắt nửa chừngEm yêu anh như yêu cuộc đời cực nhọcCó tuổi thơ em buồn bã dịu dàngSáng lung linh vầng ánh sáng thiên thầnNiềm hạnh phúc muôn đời có thậtXin đừng trách em nhiềuCũng xin đừng day dứtCây lá có rơi nhiều xin đừng hỏi mùa thuLặng nghe anhYên tĩnh – lời ru

Ít ai biết rằng, “Đâu phải bởi mùa thu” – một trong những ca khúc về mùa thu hay nhất của nhạc sĩ Phú Quang từng bị “tuýt còi” 10 năm trời trước khi được chính thức đưa ra biểu diễn.

Mùa thu Hà Nội – lãng mạn và đầy chất thơ đã in dấu trong không biết bao nhiêu tác phẩm thi ca và tình khúc của các nhạc sĩ. Trong kho tàng ca khúc kếch sù lên đến vài trăm ca khúc của nhạc sĩ Phú Quang, những bài hát về mùa thu vẫn đẹp hơn hết, luôn để lại những ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng người yêu nhạc.

Phú Quang từng tâm sự, ông có một nguyên tắc bất dịch là không bao giờ sáng tác theo đơn đặt hàng, ông sáng tác đơn giản chỉ vì “thích và thấy cần phải viết”, vì xuất phát từ những rung động, xúc cảm của bản thân, từ những trải nghiệm cuộc đời, từ những tình yêu có thật và cả ảo tưởng… Bởi thế mà mỗi tác phẩm của ông đều gắn với một hoàn cảnh, một tâm trạng nhất định, không ca khúc nào giống ca khúc nào.

Là một người có biệt tài về phổ nhạc cho thơ, rất nhiều bài thơ được khoác lên mình một “giai điệu” khác khi thành ca từ của Phú Quang. Ông không phổ nguyên bài mà thường chọn những ý hay nhất, tinh túy nhất của bài thơ để viết nhạc. Và xuất phát từ những ý thơ trong bài thơ “Yên tĩnh” của nhà thơ Giáng Vân, nhạc sĩ Phú Quang đã sáng tác nên một bản tình ca bất hủ mang tên “Đâu phải bởi mùa thu”.

Ca khúc được nhạc sĩ sáng tác năm 1976, viết cho người tình đầu tiên ở Sài Gòn, đã vượt biên năm 1977. Nếu như với nhà thơ Giáng Vân, bài thơ kể về tâm trạng một người vợ ở hậu phương khắc khoải về người chồng nơi biên cương thì câu chuyện của nhạc sĩ Phú Quang lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Thông điệp mà Phú Quang tự gửi tới mình và cả những ai đang yêu, đã yêu và chia ly qua “Đâu phải bởi mùa thu” là: “Đừng nghĩ chia li là do lỗi của một người. Tình yêu có lý lẽ riêng của nó. Có thể lỗi ở cả hai người, cũng có thể không bởi tại ai mà chỉ do hoàn cảnh, số phận xô đẩy. Đừng buồn bã, giày vò nhau vì những chia xa…”.

Mùa thu đẹp nhưng buồn, những chiếc lá vàng rơi xuống là biểu tượng của mùa thu nhưng có đôi khi lá vàng rơi cũng chẳng phải do mùa thu, mùa nào cũng có cái niềm riêng, thế nên mới có “Lá trút rơi nhiều đâu phải bởi mùa thu”. Phú Quang là vậy, trong nỗi buồn sâu lắng vẫn ánh lên niềm tin yêu trong cuộc sống, thúc giục người ta cố gắng kiếm tìm những khoảng trống trong tâm hồn để lấp đầy nó bằng niềm tin mãnh liệt.

Tuy nhiên, ít ai biết rằng, hành trình của những ca từ lãng mạn, âm thanh khắc khoải như một món quà dành cho người, cho đời ấy phải trải qua một hành trình dài tới 10 năm mới được chính thức đến gần với công chúng.

Nhạc sĩ Phú Quang kể, vào thời điểm ra đời, ca khúc này từng bị đặt nghi vấn bởi những ca từ “đầy ẩn ý”: “câu hát ngân lên bỗng tắt nửa chừng, thôi đừng hát ru… thôi đừng day dứt…, lá trút rơi nhiều đâu phải bởi mùa thu”. “Đâu phải bởi mùa thu” từng bị đem ra mổ xẻ tại 3 cuộc họp vì cho rằng mùa thu ở đây là ám chỉ cách mạng, với những lời buồn bã, dã đám…

“Sau cuộc họp, tôi có nói đùa với các anh ấy như thế này, tôi thương các anh quá, phí mất 3 ngày trời và cả ngân sách của dân chỉ để bàn một chuyện không đâu. Nếu các anh cứ nói là mùa thu đồng nghĩa cách mạng, ai chê mùa thu thì anh bảo chê cách mạng. Nhưng các anh đã nhầm vì cách mạng chỉ sinh ra vào mùa thu, chứ không phải là cách mạng sinh ra mùa thu. Và nếu nói mùa thu là cách mạng thì tôi phải được khen thưởng mới đúng vì tôi bênh cách mạng đến thế là cùng: “lá rơi xuống rồi mà vẫn không phải bởi mùa thu”…

Tôi còn nhớ, 7 năm sau khi tôi viết biết hát, một hôm có anh bạn chỉ huy tính tình rất tốt, thật thà nói nhỏ với tôi. Phú Quang này, hôm nay mình đã rất can đảm… Hỏi có chuyện gì mà rất can đảm, thì anh ấy bảo: Mình đã cho dựng bài “Đâu phải bởi mùa thu” của cậu cho anh em biểu diễn!. Tôi chỉ buồn cười về cái sự ngây ngô của anh bạn, nhưng cũng không thể trách được bởi đó là thực tế của một thời kì ấu trĩ nên khó tránh khỏi có những hiểu lầm”, nhạc sĩ Phú Quang hài hước kể lại.

10 năm sau ngày ra đời, “Đâu phải bởi mùa thu” mới được chính thức giới thiệu đến công chúng. Đến hôm nay, trải qua những thăng trầm thời gian, những giai điệu mượt mà, sâu lắng của “Đâu phải bởi mùa thu” đã trở thành một trong những tình khúc bất hủ của nhạc sĩ Phú Quang.

[footer]

Bài Thơ Đất Nước: “Đất Nước Mình Không Phải Vậy Đâu Em!” / 2023

Bài thơ hay “Đất nước mình không phải vậy đâu em” được tác giả Kỳ Tâm cảm tác từ bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh” của cô giáo Trần Thị Lam.

Tiếng thở dài của lớp người ra trận

Chẳng phải ngàn năm thêm mãi ngàn lần

Sao em nỡ thấy gần rồi sâu hận Gây đau buồn để giận giữ đời sau Chắc là em không một vết thương đau Cũng đúng thôi em nuông chiều giàu có Đâu có biết trong gian nan cùng khó Để bây giờ ngực da đỏ hồng căng Em nghĩ suy cho thấu đáo công bằng Ai nằm xuống để bây giờ lăng mạ Nước Việt này là tất cả con tim Hàng triệu người ôm đất mẹ lặng im

Cũng vì để các em tìm độc lập

Cũng vì để không xích xiềng đánh đập Sống cuộc đời trong độc lập tự do Hòa bình rồi ta đứng giữa tàn tro Xây tổ quốc ấm no và giàu mạnh Xóa cho đời những nỗi niềm bất hạnh Đến bây giờ ta hãnh diện lắm thay Đổi mới từ từ đâu phải được ngay Ta phải mượn phải vay nhiều bè bạn Xây đất nước cho ngày thêm sáng lạng Em có nhìn thấy sáng phía hừng đông Tránh khỏi sao những món nợ chất chồng Nhưng đâu phải vay mà không trả được Chống tham nhũng cần có thêm biệt dược Em có ý gì xin được hiến dân Đừng viết thơ hay từ những câu vần Nhưng sáo rỗng rồi vân vân chấm phẩy Anh tin em không phải người như vậy Nếu quá lời xin được hãy cảm thông Lời sẻ chia người nếm trải xiềng gông

Xin được gửi nỗi lòng cho hậu duệ

Cảm tác từ bài thơ Đất nước mình ngộ quá phải không anh

Bạn đang mất phương hướng trong cuộc sống hay chưa thể tìm được hướng đi cho cuộc sống hoặc chưa đạt được mục tiêu mà mình mong muốn vậy hãy đến với chúng tôi chuyên cập nhật những câu nói tạo động lực trong cuộc sống, bài học thành công, câu chuyện thành công, những câu trích dẫn hay, quote tiếng anh hay, quote hay. Hãy đến với chúng tôi và chọn cho mình một danh ngôn sống làm kim chỉ nang cho mình

Cùng Nội Dung:

Liên Quan Khác

Mùa Thu Qua Ba Bài Thơ Thu Của Nguyễn Khuyến / 2023

Bài làm

Viết về mùa thu, Nguyễn Khuyến đã gặp gỡ không chỉ thi ca truyền thống mà còn thi ca hiện đại, không chỉ thị ca Việt Nam mà cả thi ca nước ngoài. Không chỉ gặp gỡ hồn thơ Á Đông mà còn gặp gỡ hồn thơ phương Tây trước mùa thu. Dường như mùa thu trở thành nơi giao hoà, cộng hưởng, là điểm hẹn của tâm hồn thi sĩ muôn phương, ngàn đời.

Vẫn là mùa thu làng cảnh Việt Nam bình dị nhưng dưới con mắt, tâm hồn cảm nhận tinh tế của Nguyễn Khuyến, mùa thu hiện lên mang những gương mặt, dáng điệu khác nhau. Nếu Thu điếu là bức tranh mùa thu xanh, sắc xanh trải ngàn, lênh láng. Thu vịnh là bức tranh mùa thu của gió nhẹ trời cao xanh trong, của tâm trạng hoài niềm thì Thu ẩm là bức tranh mùa thu đa vẻ đa diện được cảm nhận trong nhiều thời điểm, nhiều không gian.

Vẫn là bầu trời thu xanh ngắt nhưng mỗi bài thơ là một sắc điệu riêng:

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao

(Thu vịnh)

Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?

(Thu ẩm)

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

(Thu điếu)

Xanh ngắt là màu xanh như thế nào? Chỉ một từ nhưng Nguyễn Khuyến đã thu được và lấy hồn trời thu lên trang thơ. Một màu xanh đến quá quắt. Bầu trời mùa thu không chỉ xanh, đó còn là bầu trời cao vời vợi, xanh ngát, rộng mênh mông. Không gian mở ra khoảng đạt đến vô cùng. Xanh ngắt trở thành “nhãn tự” của câu thơ, trở thành linh hồn của trời thu. Bầu trời dưới con mắt Nguyễn Khuyến đẹp lạ, cao, xa, rộng đến ngút ngàn tầm mắt. Nó trở thành phông nền cho bức tranh thu.

Vẫn là màu xanh ngắt ấy nhưng khi thì Nguyễn Khuyến nói lời cảm nhận, miêu tả: Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao là một nét vẽ cho màu xanh chảy tràn suốt mấy từng trời cao rộng, lúc khác lại là một băn khoăn, một thắc mắc: Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt? Hẳn tạo hóa nhiệm màu nhuộm sắc xanh ngắt cho da trời mùa thu. Trước sắc màu tươi sáng của trời thu, thi sĩ sao tránh khỏi thảng thốt giật mình vì vẻ đẹp mê say ấy. Câu hỏi không cần lời đáp. Hỏi chỉ để thể hiện sự ngạc nhiên, thảng thốt trước vẻ thu.

Phải chăng từ câu từ, tổ chức ngôn từ khác nhau khiến sắc xanh ngắt kia sống mãi trong cả ba bài thơ thu? Ta giật mình gặp lại sắc màu nhưng ta còn giật mình, thú vị hơn khi được thay đổi góc độ cảm nhận sắc màu ấy theo lăng kính thi nhân. Nguyễn Khuyến quả đã đạt đến độ nhuần nhuyễn, điêu luyện của sự sáng tạo trong thi ca, Sắc xanh ngắt đã mới, đã là sự sáng tạo, cách thể hiện sắc xanh ngắt còn mới mẽ, độc đáo hơn. Ba câu thơ, ba hình ảnh thơ mà không rơi vào thế nhàm chán, đơn điệu. Ngược lại câu chữ cuốn người đọc vào hành trình bất tận khám phá vẻ đẹp mùa thu.

Đối với thế giới mùa thu trong Thu điếu, ta cơ hồ nhận ra cái gì cũng nhỏ bé, cũng khẽ khàng:

Một chiếc thuyền cậu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

Một chiếc thuyền bé lại còn bé tẻo teo. Tưởng chừng hình ảnh thu nhỏ hết cỡ. Trong không gian đầy ao đầm của làng quê Nguyễn Khuyến, con thuyền cũng nhỏ bé nhẹ nhàng trôi trên ao. Nếu không phải trong ao hồn con thuyền sẽ chẳng bé tẻo teo như thế. Và cũng vì trong ao nên sóng biếc cũng chỉ hơi gợn tí. Gợn vốn là sự chuyển động rất mỏng, rất nhỏ khó thấy…vậy mà câu thơ Nguyễn Khuyến lại dùng hơi gợn tí. Sự kết hợp từ ngữ độc đáo, mới lạ đã đưa hoạt động như có như không đạt đến độ vi mô, tinh tế nhất. Ngay cả lá vàng trước gió cũng chỉ khẽ đưa vào nhẹ nhàng, sẽ sàng. Câu thơ không tả gió, chỉ tả lá rơi mà vẻ nhẹ nhàng man mác của gió heo may vẫn được biểu hiện. Ba câu thơ, ba hình ảnh, ba nét vẽ mà hình ảnh nào cũng nhỏ bé, nhẹ nhàng, nét vẽ nào cũng thanh thoát. Chỉ “lẩy bút ti ti mà khí thu, hơi thu đã hiện lên, dù nhẹ. Đặc biệt Thu điếu, với việc gieo vần eo, đã tạo nên cảm giác cái gì cũng thu nhỏ lại. Hoạt động cũng ít ỏi thôi. Âm thanh cũng nhẹ nhàng thôi, không gian hầu như tĩnh lặng tuyệt đối. Phải gắn bó với làng quê Việt Nam, phải tinh tế trong cảm nhận lắm, Nguyễn Khuyến mới thu vào trong thơ mình nét dịu nhẹ, cơ hố như Có như không, như hữu hình mà cũng như vô hình của nét thu. Khí thu khác hẳn với cảm nhận của Đỗ Phủ trong thu húng Hơi thu hiu hắt, khí thu loà. Thu trong cảm quan nhà thơ mang linh hồn Việt Nam nhẹ nhàng và thanh sơ.

Cũng thể hiện sự nhẹ nhàng, man mác của gió thu, tiết thu, Nguyễn Khuyển trong Thu vịnh viết:

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu

Nếu trong Thu điếu, Nguyễn Khuyến lấy cải động của sóng, của lá vàng để tả gió, nói gió thì ở đây trong Thu vịnh nhà thơ lại dùng hình ảnh cần trúc lợi phơ để thể hiện sự dịu dàng, man mác của gió heo may đầu thu. Cần trúc là một hình ảnh rất quen, rất điển hình của làng quê Việt Nam, nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ. Những đợt măng qua thời gian lớn lên, khẽ cong trước gió như cân trúc. Nhưng chỉ lơ phơ thôi, dịu nhẹ thôi dưới tác động của gió hắt hiu. Hai từ láy lơ pho, hắt hiu miêu tả sự nhẹ, sự mỏng cùng song hành trong một câu thơ đã lắng vào đấy, quyện vào đấy không gian đất trời mùa thu, quyện vào đấy hơi thu, khi thu, một nét thu rất Việt Nam nhẹ và êm..

Hoà trong khí thu, tiết thu thanh cao, dịu nhẹ ấy, không gian khung cảnh mùa thu cũng mở ra nhiều chiều nên thơ và say mê lòng người. Tập trung nhất, cảm nhận nét thu dịu dàng, thơ mộng nhất có lẽ là ở bài thơ Thu điếu:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền cậu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí.

Lá vàng trước gió khẽ đưa vào

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tựa gối buông cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Không gian bức tranh mở ra tại ao thu lạnh lẽo, cái lạnh không thấm vào da thịt, không buốt xương, nó chỉ nhẹ nhàng, mơn man. Một chiếc thuyền cậu bé tẻo teo lững lờ trên mặt nước ao thu ây. Nước trong veo, xanh và sáng đến vô ngần. Phải trong, phải xanh, nhất là phải rất sáng mới có được làn nước ao trong veo như thế. Đến sóng gợn cũng phải biếc, cũng chứa sắc xanh đến nao lòng người. Cùng hoà điệu với nước xanh, sóng xanh là bầu trời xanh ngắt. Sắc xanh như đổ tràn, kết nối mặt nước với bầu trời, Bầu trời xanh in bóng xuống mặt nước khiến mặt nước vốn trong lại xanh thêm. Mặt nước phải tĩnh lặng như tấm gương khổng lồ của tạo vật để bầu trời kia nghiêng mình soi bóng. Trời và nước giao hoà, kết nối. Trời cao vời vợi, nước sâu thăm thẳm, tất cả đều kéo giãn không gian, mở rộng khoảng cách. Tưởng không có gì hơn giữa cõi thăm thẳm của nước trời độ thu. Giữa không gian cao, rộng và sâu ấy, chiếc lá vàng vốn nhỏ càng nhỏ thêm, rợn ngợp thêm. Sắc vàng duy nhất như đâm xuyên giữa bao nhiêu là sắc xanh. Một chiếc lá, một sắc vàng nhỏ xíu khẽ đung đưa, trở thành tâm điểm, nổi bật lên trên nền không gian ấy. Bức tranh thiên nhiên cảnh vật rất thật và đẹp, sống động và xinh xắn. Nhìn sắc vàng của lá, ta nhớ đến câu thơ:

Một lá ngô đồng rụng

Thiên hạ biết thu sang.

Chẳng cần nhiều sắc vàng cuả lá. Không gian mùa thu Việt Nam dưới cái nhìn của Nguyễn Khuyến ngợp sắc xanh, khác hẳn màu áo mơ phai trong thơ Xuân Diệu:

Đây mùa thu tới – mùa thu tới

Với ảo mơ phai dệt là vàng.

Đâu cứ phải sắc vàng mới dệt nên mùa thu, đậu cứ phải chỉ bức tranh Mùa thu vàng của Levitan mới đẹp, mới đắm say lòng người. Nguyễn Khuyến bằng vốn ngôn ngữ giàu chất gợi, chất hoạ đã vẽ nên một màu thu xanh nên thơ rất Việt Nam làm say đắm lòng bất cứ một người nào đã từng sống với thu, với làng quê đất Việt trong tiết thu. Thậm chí những câu này của Nguyễn Khuyến đủ giúp ai chưa từng sống ở cảnh ấy, không gian ấy thêm yêu mến và khát khao tìm về hoà điệu cùng cảnh vật, lòng người hay chí ít, đủ tạo cảm giác ta đã sống, đã cảm nhận sâu sắc, cảm nhận đủ đầy mùa thu Việt Nam nơi chốn quê thanh bình, yên tĩnh.

Khác với không gian Thu điếu, Thu vịnh, bài thơ Thu ẩm lại tạo nên một vẻ đẹp khác rất quen mà sao vẫn hấp dẫn, cuốn hút, mê say. Bài thơ mở ra không phải là không gian cao trong, rộng rãi, khoáng đạt đến vô cùng của Thu điều, Thu vịnh, không phải là trời mây, non nước, là thiên nhiên tạp vật đắm say. Bài thơ mở ra một không gian gần gũi, thân thuộc của quê nghèo Việt Nam buổi ấy:

Năm gian nhà có thấp le te

Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.

Năm gian nhà có hiện lên đủ để tạo cảm nhận về sự nghèo đói của quê hương, của đời riêng Nguyễn Khuyển nhưng còn nghèo hơn, khổ hơn, tăm tối hơn với cụm từ thấp le te. Đã thấp lại cò: le te! Tưởng như năm gian nhà chạm đất được. Phải chăng đây là hình ảnh rất chân thực của làng quê ông, một vùng đồng bằng chiêm trũng chưa mưa đã úng, quanh năm đói nghèo? Cảnh vẫn đẹp, vẫn nên thơ say lòng người nhưng cuộc sống thì lấm lem, nghèo đói. Nhà thấp. Một sự tôi. Lại thêm ngõ tối, đêm sâu. Không gian càng tối đen, ngột ngạt hơn. Giữa đêm tối mịt mùng, sự lập loè của đom đóm không làm sáng lên không gian, không làm ấm lên. Ngược lại cảm giác tôi càng rợn ngợp hơn, đặc quánh lại, đầy ám ảnh. Phải nói rằng, Nguyễn Khuyến đã rời khỏi không gian tràn đầy ánh sáng, tràn đầy màu sắc đẹp đẽ của thu để trở thành về cảm thương trước cảnh sống, trước không gian sống quen thuộc quanh mình. Đọc những vần thơ ấy, ta có cảm giác Nguyễn Khuyến như nhói lòng trước cảnh ấy, trước hiện thực tăm tối ấy. Bài thơ vì thế như ngoặt sang hướng khác, không còn nữa sự thảnh thơi, thư thái trước đất trời tạo vật. Thế nhưng:

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt

Làn áo lóng lánh bóng trăng loe.

Câu thơ không tả trăng, chỉ gợi về trăng nhưng đủ để vẻ đẹp ấy ngời toả, lung linh. Ta đã gặp nhiều hình ảnh về trăng trong thơ nhất là thơ thu. Đây là trăng trong thơ Xuân Diệu: thỉnh thoảng nàng trắng tự ngẩn ngơ – một vầng trăng như người con gái đầy tâm trạng ngẩn ngơ. Và đây là trắng thu trong thơ Bác: Trung thu trăng sáng như gương. Nó khác hẳn trăng trong thơ Nguyễn Khuyển. Trăng không hiện hình, trăng ẩn mặt. Nhưng mặt ao vẫn soi được bóng trăng. Trăng dát bạc lên mặt ao khiến cho không gian lung linh, lóng lánh đầy ánh sáng. Sắc trắng, ánh trăng như loe dài, như lan toả trên mặt ao. Từ loe được Nguyễn Khuyến sử dụng rất đắt, tạo nên duyên riêng của trăng, của câu thơ, tạo nên vẻ đẹp riêng của bài thơ.

Có thể nói, bức tranh cảnh thu ở mỗi bài thơ là một vẻ riêng, một nét đẹp riêng không hoà lẫn. Cùng với việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng, điêu luyện, Nguyễn khuyên đã góp những tiếng thơ hay, những bài thơ hấp dẫn, độc đáp trong thơ thu. Có lẽ hiểm có một tác giả nào có thể để lại chùm thơ cùng đề tài sống mãi, cuốn hút, giành được sự yêu mến mãi như Nguyễn Khuyến với ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh.

Đặc biệt không chỉ sáng tạo mới mẻ trong thể hiện cảnh thu, Nguyễn Khuyến còn đặt dấu ấn riêng trong hình ảnh nhân vật trữ tình. Tất cả đều mang nét buồn, nhưng mỗi bài thơ là một vẻ riêng không gian giống nhau, ở Thu điếu, nhân vật trữ tình dường như chìm khuất trong hình ảnh. Hiển hiện lên trang thơ là con người vui thú “an bần lạc đạo”, vui cùng điền viên nhưng kì thực đã thả hồn theo đất trời thu hay nỗi niềm gì lẩn khuất tự bao giờ. “Tựa gối buông cần” nhưng chẳng hề chú tâm đến việc câu. Thu điếu vậy mà điếu hậu như chẳng được mảy may bận tâm. Cái còn lại có chăng chỉ là con người mang nặng tâm trạng, tìm về với thiên nhiên đất trời để “thanh lọc tâm hồn”, để tìm chỗ nghỉ trên chặng đường đời. Ở Thu ẩm ấy lại là người uống rượu, say sưa với tâm sự u uẩn, gửi vào đó bao nhiêu nỗi niềm không thể nào giải toả. Con mắt đỏ hoe kia hẳn không phải là say rượu. Có lẽ đó là do khóc cho đời, cho kiếp người chăng? Đằng sau vẻ uống rượu đến say nhè, đằng sau hình ảnh mắt lão không vậy cũng đỏ hoe kia chứa đựng biết bao nhiêu tâm trạng, bao nhiêu nỗi niềm.

Rồi nữa, ở Thu Vịnh lại là con người mang tâm trạng hoài niệm xa xăm:

Mây chùm trước giậu hoa năm ngoái

Một tiếng trên không ngỗng nước nào.

Tâm trạng thảng thốt như đang gửi ở phương nào nay sực tỉnh: Thi hứng tràn về, vậy mà chẳng thể nào cất bút: Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Thẹn vì lẽ tài thơ chưa bằng hay thẹn vì mỗi không có khí phách, chí khí của Đào Tiềm? Có lẽ là cả hai, những căn cốt vẫn ở phần sau. Phải chăng đó cũng là nỗi lòng u uẩn trong hai bài thơ trên chưa thể nói ra. Cùng một tâm trạng, cùng một nỗi lòng nhưng mỗi lần mỗi khác, những nét vẽ riêng, những diện mạo riêng không hoà lẫn.

Cái gì đã giúp cho chùm ba bài thơ thu này vượt qua sự băng hoại của thời gian, tổn tại mãi trên dòng thơ ở tầm cao, ở chiều sâu của nó, chiếm lĩnh, ăn sâu trong lòng bạn đọc? Phải chăng là bởi cả ba bài thơ đã được tinh luyện, chắt lọc từ hiện thực cuộc đời đẹp đẽ, nên thơ xen lẫn cả những vất vả, lấm lem bùn đất? Hiện thực vẻ đẹp quê hương qua lăng kính của nhà thơ đã khúc xạ, phát quang lên trang viết. Hiện thực mà không sao chép, không quy chụp. Ngược lại Nguyễn Khuyến đã hút lấy phần tinh tuý nhất, sâu sắc nhất của hồn thơ, của tình người để tạo nên trang thơ.

Sống sâu sắc, nặng nghĩa nặng tình với quê hương, với con người Nguyễn Khuyển đã thấm vào máu thịt của mình tình quê, vẻ đẹp quê hương. Có bao nhiêu tinh hoa ông dồn cả lên ngọn bút để rồi viết nên những vần thơ thật tinh tế.Vẻ đẹp quê hương soi chiếu trong cái nhìn, cảm quan người nghệ sĩ trở lên lung linh, đa vẻ, đa màu. Ba bài thơ mùa thu được viết nên, nhào nặn nên từ những gì rất thực, rất đời, từ vẻ đẹp của quê hương nhưng hơn thế, cái để tác phẩm sống là phần tình mà nhà văn gửi gắm, trao trọn cho nó. Một trái tim yêu quê, một xúc cảm chân thành nồng nhiệt trước cuộc đời, trước cái đẹp đã thăng hoa, vút lên thành những vần thơ. Tình cảm cùng sự liên tưởng, chọn lựa của nhà thơ đã thổi phồng cùng cánh diều hiện thực của quê hương. Hồn thơ tung cảnh, câu thơ vút lên, ngân nga như câu hát. Để rồi xúc cảm chân thành của nhà thơ lay động tới miền sâu nhất của xúc cảm bạn đọc. Từ trái tim đến trái tim, tác phẩm thơ sống mãi, trường tồn, vượt qua mọi thử thách của thời gian, sự cách trở của không gian, tri âm với triệu triệu con người.

Hơn nữa, cùng bắt nguồn từ hiện thực, vẻ đẹp mùa thu và tâm trạng trước thu, nhà thơ đã luôn đặt mình trong hành trình khám phá, chinh phục và sáng tạo cái mới? Cảm quan nghệ sĩ tạo nên sự khác biệt mới lạ trong cách cảm nhận, thể hiện so với các nhà thơ khác và mỗi người lại phải cố gắng không giẫm lên dấu chân người khác và không lặp lại chính mình. Nhờ thể ba bài thơ, ba vẻ đẹp riêng, ba sức hấp dẫn riêng sống mãi. Phải chăng như Nguyễn Tuân phát biểu: “Thơ là mở ra một cái gì mà trước câu thơ đó, trước nhà thơ đó như là vẫn phong kín”. Mới về nội dung, mới về cảm xúc và mới về nghệ thuật biểu hiện nữa. Bởi như L.Lêônộp đã nói: “Mỗi tác phẩm văn học phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung”. Vẫn là cảnh ấy, tình ấy nhưng ở mỗi bài thơ, Nguyễn khuyến đã tìm cho mình hệ thống phương tiện ngôn ngữ riêng. Câu chữ thay đổi, nét nghĩa cơ hồ cũng khác trước. Bài thơ, câu thơ không lặp lại. Những lớp nghĩa, những tầng nghĩa khép mở, đổi thay trong hình thức ngôn từ. Có bao nhiêu tinh hoa của ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng, biểu cảm, Nguyễn Khuyến đã dành trọn để thể hiện mùa thu làng quê. Câu chữ bình dị mà trong sáng, hình ảnh gần gũi mà giàu sức gợi, sức cảm. Nội dung, hình thức thống nhất, quyền hoà, bình và rượu thống nhất, hoà hợp, đan xen, tạo nên sức hấp dẫn thu hút người đọc vào hành trình bất tận.

Có thể nói, Nguyễn Khuyến bằng tài năng và trái tim người nghệ sĩ, đã cảm nhận và thể hiện tinh tế mùa thu với sắc vẻ riêng nên thơ và hấp dẫn lạ kì. Nó đã đạt được những yêu cầu chung đối với bất kì tác phẩm văn học chân chính nào: “Thơ là hiện thực, là cuộc đời và còn là thơ nữa”. Cuộc đời cộng hưởng trong cái nhìn cảm quan người nghệ sĩ tạo nên vôn chất liệu làm thành tác phẩm. Chất hồ kết dính, nhào nặn nó chính là sức liên tưởng, tưởng tượng sự sáng tạo của riêng thi sĩ. Vì thế chăng mà ba bài thơ thu cùng tên tuổi Nguyễn Khuyến sống mãi? Thực tế văn học đặt ra yêu cầu bức thiết cho mỗi nhà văn khi bước chân vào làng văn là phải sống thực sự mà đón nhận tinh lọc cuộc đời, đãi cát tìm vàng giữa bể trời rộng lớn, tinh luyện nên chất muối cuộc đời từ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa khách quan hiện thực và chủ quan nhà thơ, kết hợp cuộc đời với trái tim giàu xúc cảm, dễ ngân rung của người sáng tác. Đó không chỉ là đòi hỏi với cá nhân nhà thơ mà cả với dòng thơ, nên thơ.

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Chùm Thơ Tạm Biệt Mùa Thu Hay, Thơ Tình Giao Mùa Thu / 2023

Rồi cái mùa đẹp nhất cũng sắp sửa trôi qua. Những chiếc lá khô giòn cong mình cuốn theo làn gió. Mới ngày nào Thu còn e ấp, ngại ngùng đứng nép bên thềm chờ tiễn đưa mùa Hạ. Mà giờ đây Thu cũng đang thu xếp hành trang để nói tiếng tạ từ. Mấy đóa cúc buổi trước còn hàm tiếu, thẹn thùng hé nhụy ngậm sương mai mà phút chốc đã qua thời kỳ mãn khai, tàn úa. Từng cánh mỏng nhạt dần, nhạt dần trong hơi thở vội vàng của mùa đông đang từ từ kéo đến. Thảm nắng vàng mơ đã bắt đầu nhuốm hơi sương lạnh. Khoảng không trên kia thôi hết màu xanh khi mành Đông đang cố vây phủ khung trời bằng những mảng màu mây xam xám.

GỬI VÀO THƠ – Thơ: Hoàng Lan

MÙA THU CẠN – Thơ: Mạc Phương

MÙA THU ĐI QUA – Thơ: Mạnh Chiến

THƠ TÌNH CUỐI MÙA THU – Thơ: Sen Hồng

VẾT BỎNG MÙA THU – Thơ: Mạc Phương

PHÚT GIAO MÙA – Thơ: Sen Hồng

THƠ TÌNH CUỐI MÙA THU – Thơ: Hồng Thùy

QUA NƠI HẸN CŨ – Thơ: Mạc Phương

DẤU CHẤM TÌNH THU – Thơ: Mạc Phương

THU XA NHỚ – Thơ: Hoàng Lan

CHIA XA – Thơ: Mạc Phương

CẠN MÙA THƯƠNG NHỚ – Thơ: Mạc Phương

Mùa thu cạn một mình em mong nhớ.

Hít thật sâu hơi thở của mùa đông.

Mưa tí tách gõ nhịp cõi mênh mông.

Hồn khắc khoải trước cuộc đời lạnh lẽo. Quãng thời gian đã cách chia hai nẻo.

Nẻo xôn xao ánh sáng của tình yêu.

Nẻo lặng thầm làm bạn với cô liêu.

Cảnh trầm mặc màn mưa giăng lặng lẽ Nỗi niềm riêng vẫn cồn lên nhè nhẹ.

Lành lạnh sầu đang len khẽ trong tim.

Khép cánh cửa ru kỉ niệm ngủ im.

Ngọn gió bấc tràn về bao tê tái. Mùa nối mùa ngày đầu đông trống trải.

Ngập hồn hoa một khoảng trống vô hình.

Dòng lệ tuôn mặn đắng cả môi xinh.

Bao năm rồi vườn yêu thương bỏ ngỏ Mưa đầu đông nỗi buồn về trước ngõ.

Bước chênh chao mòn mỏi những vấn vương.

Đã cùng anh đi gần hết đoạn trường.

Nay lỗi hẹn yêu thương em cất giữ. Xin tạm biệt bóng hình người lữ thứ.

Trả lại anh vườn thượng uyển vầng trăng.

Những niềm vui vùng vẫy giữa cung hằng.

Em xây đập ngăn suối nguồn tình ái. Đông lại về bắt đầu mùa gieo cải.

Vườn yêu xưa lại nở thắm vàng hoa.

Cải lên ngồng chẳng ngóng đợi người xa.

Em mỉm cười cho tâm hồn thanh thản. Chúc nơi anh một cuộc tình viên mãn.

Em sẽ mừng rót chén rượu chung vui.

Dẫu đông lạnh cũng chẳng thấy ngậm ngùi.

Tô môi hồng đón mừng mùa xuân tới.

VU VƠ – Thơ: Mạc Phương

NIỀM VUI BUỔI SÁNG – Thơ: Mạc Phương

TÀN THU – Thơ: Mạc Phương

PHỐ XƯA – Thơ: Mạc Phương

HƯƠNG MÙA THU – Thơ: Lê Dũng

THƠ TÌNH CUỐI MÙA THU – Thơ: Thu Trang

CHIỀU CUỐI THU – Thơ: Dương Hoàng

CUỐI THU – Thơ: Khánh Ngọc

CHÙM THƠ TÌNH CUỐI THU TỪ CƯ DÂN MẠNG

Theo chúng tôi