Xu Hướng 2/2024 # Top 7 Bài Văn Mẫu Thuyết Minh Về Biển Nha Trang Lớp 9 Chọn Lọc # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Top 7 Bài Văn Mẫu Thuyết Minh Về Biển Nha Trang Lớp 9 Chọn Lọc được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thuyết minh về biển Nha Trang lớp 9 – Bài làm 1

Nha Trang là một trong những thành phố biển nổi tiếng của nước ta. Nơi đây có bãi biển Nha Trang vô cùng xinh đẹp mà hàng năm vào mùa du lịch lúc nào cũng đông khách. Không chỉ du khách trong nước, du khách nước ngoài cũng rất thích được đến đây. Chẳng thế mà nơi đây được mệnh danh là hòn ngọc của biển Đông.

Nằm bên bờ vịnh Cam Ranh, biển Nha Trang thuộc thành phố Nha Trang của tỉnh Khánh Hòa. Nơi đây có vịnh Nha Trang với diện tích 507km2, gồm có 19 hòn đảo lớn nhỏ. Những hòn đảo này cũng được nhiều người biết đến, nổi bật lên là đảo Hòn Tre với diện tích 3520ha. Đây cũng là hòn đảo có diện tích lớn nhất trong số các đảo thuộc vịnh Nha Trang.

Vì là vùng biển nên nơi đây khí hậu trong lành quanh năm. Vào mùa hè thời tiết thường mát mẻ hơn nhiều so với miền Bắc nên rất nhiều du khách chọn đây làm nơi nghỉ dưỡng. Đến với biển Nha Trang, chúng ta sẽ được tận hưởng rất nhiều điều kì diệu của thiên nhiên. Đó là bãi cát trắng mịn, đó là những hòn đảo lớn nhỏ và đó là những rặng san hô kì ảo nằm dưới lòng đại dương. Mỗi buổi sáng, biển Nha Trang bình yên đến lạ. Nước biển xanh biếc và trong vắt. Đêm xuống, không khí trở nên sôi động hơn rất nhiều. Vì là vùng biển nhiệt đới nên ở Nha Trang hội tụ đủ các hệ sinh thái như rạn san hô, đất ngập nước, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, hệ sinh thái bãi cát ven bờ, hệ sinh thái biển đảo, hệ sinh thái cửa sông,… Chính những điều này đã làm nên một Nha Trang rất riêng.

Đến với biển Nha Trang, du khách sẽ không thể bỏ qua được việc thăm thú những hòn đảo ở đây. Với những ai ưa khám phá đại dương hẳn sẽ thích ngắm nhìn san hô ở Hòn Mun. Tại đây có khoảng 350 loài san khô, gần bằng một nửa số san hô trên thế giới. Hòn Mun còn có rất nhiều tảng đá màu đen tuyền như gỗ mun nhô cao. Bên cạnh Hòn Mun còn có hòn Chồng – hòn Vợ nằm dưới chân đồi La-san.

Nói đến đồ ăn, nếu đến biển Nha Trang bạn nhất định phải thưởng thức những món ăn hải sản như cua ghẹ, sò, ốc,… Một vài món ăn đặc sản mà bạn không nên bỏ qua là các món ốc luộc, cháo cá mú, cua rang me, bánh canh chả cá – cá dầm, bún cá sứa,…

Với những vẻ đẹp vốn có mà thiên nhiên ưu ái cùng với bàn tay nhào nặn của con người, biển Nha Trang trở thành địa điểm du lịch nổi tiếng cả trong nước và quốc tế. Nơi đây cần được bảo tồn và gìn giữ để ngày càng góp phần vào sự phát triển của du lịch Việt Nam và mang một hình ảnh đẹp của Việt Nam ra thế giới.

Một điều tuyệt vời không thể thiếu đối với chúng ta khi đến những ngày hè là được vui đùa trên biển xanh cát trắng. Nào là biển Sầm Sơn ào ào những con sóng lớn, là bãi biển Cát Bà với đụn cát trắng phau, là biển Cửa Lò còn nét hoang sơ và những rặng phi lao bạt ngàn… Nhưng bãi biển đẹp nhất nước ta phải kể đến biển Nha Trang, nơi được mệnh danh là hòn ngọc của biển Đông vì vẻ đẹp tự nhiên và giá trị thiên nhiên của nó.

Biển Nha Trang nằm bên bờ vịnh Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa. Nói đến biển Nha Trang ta không thể không nhắc đến vịnh Nha Trang với diện tích 507 km2 bao gồm 19 đảo lớn nhỏ. Trong đó đảo Hòn Tre có diện tích lớn nhất là 3520 ha và đảo Hòn Nọc có diện tích nhỏ nhất chỉ khoảng 4 ha.

Khí hậu Nha Trang dễ chịu, trong lành, mát mẻ phù hợp cho những chuyến du lịch nghỉ dưỡng. Thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho thành phố biển Nha Trang tất cả những gì mà một vùng duyên hải Nam Trung bộ có thể có. Từ bãi tắm với dải cát trắng mịn trải dài đến những hòn đảo ngoài khơi đẹp đến ngỡ ngàng, từ những rặng san hô kì ảo dưới lòng đại dương tới những ngôi đền Chăm rêu phong cổ kính trên núi… Biển Nha Trang vào buổi sáng hay chiều tà đều mang đến một sự bình yên dễ chịu. Biển sạch sẽ và trong vắt đến mức có thể nhìn thấy đáy. Về đêm khi thành phố lên đèn thì biển Nha Trang lại trở nên sôi động và rực rỡ khác hẳn với không khí yên bình lúc trời còn rõ ràng ánh sáng. Nha Trang bao gồm hầu hết các hệ sinh thái điển hình của vùng biển nhiệt đới như đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái biển đảo, hệ sinh thái bãi cát ven bờ… Tất cả đã làm phong phú thêm vẻ đẹp của biển Nha Trang.

Đến với Nha Trang là đến với những cảnh quan tươi đẹp hiếm có. Hàng ngàn những đảo đá ở đây cho du khách những trải nghiệm hấp dẫn. Ta không thể dời mắt trước sắc đẹp của những rặng san hô ở Hòn Mun. Nơi đây tập trung khoảng 350 loài san hô đá trong tổng thể 800 loài trên thế giới. Một điều rất thú vị về tên của đảo được giải thích là ở đây có rất nhiều tảng đá nhô cao màu đen tuyền như gỗ mun nên người dân đã đặt tên là Hòn Mun. Ngoài ra còn có hòn Chồng- hòn Vợ gồm hai cụm đá lớn nằm bên bờ biển dưới chân đồi La-san, có thể được tạo nên do sự xâm thực của thủy triều lên ngọn đồi này. Cụm thứ nhất gọi là hòn Chồng vì nó gồm một tảng đá, phía mặt đá quay ra biển có vết lõm hình bàn tay rất lớn tượng trưng cho sức mạnh của người đàn ông. Còn cụm đá thứ hai có tên là hòn Vợ vì nó có dáng mình của người phụ nữ ngồi trông ra phía biển.

Không chỉ được đắm mình trong không khí của biển, Nha Trang còn chào đón du khách với những di tích lịch sử và những khu vui chơi giải trí nổi tiếng. Bạn có thể đi tham quan chợ Đầm, chợ trung tâm của thành phố biển Nha Trang để ngắm nhìn thiết kế đẹp độc đáo của chợ và chọn mua những đồ lưu niệm hay hải sản về làm quà. Ngoài ra còn có những điểm đến thú vị khác như chùa Long Sơn, nhà thờ Núi hay tháp bà Ponagar…Đặc biệt nổi tiếng nhất có lẽ là Vinpearl Land, nơi nhiều du khách chọn đến để giải trí. Đây có thể coi như thiên đường với hệ thống cáp treo giúp bạn quan sát được toàn cảnh biển Nha Trang, với những trò chơi thú vị và mạo hiểm như lặn biển, cano, lướt ván…Vinpearl còn là nơi tổ chức nhiều lễ hội và sự kiện mang tầm cỡ thế giới.

Đến với Nha Trang bạn sẽ được thưởng thức nhiều đồ hải sản hết sức tươi ngon bởi nơi đây tập trung hơn 190 loại cá lớn nhỏ và cực kì nhiều loại ốc, sò , cua ghẹ… Bạn có thể cảm nhận vị của biển cả qua những đặc sản địa phương như bún cá sứa, bánh canh chả cá- cá dầm, cua rang me, cháo cá mú, ghẹ hấp, các món ốc luộc…

Ngày nay, Nha Trang đã trở thành địa điểm du lịch nổi tiếng thu hút nhiều du khách trong nước và quốc tế. Vì vậy mà vẻ đẹp của biển Nha Trang cần được bảo tồn và gìn giữ để phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng của người dân Việt và có được hình ảnh đẹp trong mắt bạn bè quốc tế.

Thuyết minh về biển Nha Trang lớp 9 – Bài làm 3

Việt Nam- dải đất hình chữ S tuy nhỏ bé nhưng lại được tạo hóa ưu ái ban tặng những cảng sắc tự nhiên tuyệt đẹp. Ấy là những ngọn núi kì vĩ lại mang dáng hình của những con người kì vĩ; những ao đầm gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Nhắc đến Việt Nam mọi người con nhớ tới những bãi biển đẹp, trong sạch và thoáng đãng. Trong đó, biển Nha Trang được coi là một thắng cảnh đẹp, là viên ngọc biển ngời chói lấp lánh.

Bãi biển Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa. Trước khi trở thành vùng đất của Việt Nam, Nha Trang thuộc quyền sở hữu của nhà nước Chiêm Thành. Nơi đây tuy gần Đà Lạt mát mẻ quanh năm nhưng thành phố này lại có cái nắng rực rỡ, cái nóng nhè nhẹ của miền nhiệt đới ẩm. Biển có khí hậu hai mùa rất rõ rệt: mùa khô từ tháng giêng đến tháng 8 và mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12. Bãi biển Nha Trang có diện tích khoảng 507 km2 với 19 hòn đảo lớn nhỏ. Hòn Tre là đảo lớn nhất với diện tích 32, 5 km2 còn đảo nhỏ nhất là Hòn Ngọc chỉ khoảng 4ha.

Biển Nha Trang là một bãi tắm đẹp thu hút rất nhiều khách du lịch hàng năm. Bãi cát mềm mịn, trắng phau trải dài mênh mông, long lanh dưới ảnh nắng ban mai. Bao bọc xung quanh là những rặng thông, rặng phi lao xanh rì, lúc nào cũng lao xao không ngớt cùng gió biển bao la. Trên bãi cát lúc nào cũng nhộn nhịp khách du lịch đi lại, tham quan hay tắm mát. Những chiếc dù sặc sỡ sắc màu được đặt giữa bãi biển rộng lớn trông như những viên kẹo nhỏ bé dưới ánh mặt trời. Trên mặt nước trong xanh và mát lành là những chiếc phao bơi đủ mọi hình thù, những chiếc cano để mọi người có những trải nghiệm mới… Tiếng reo hò, đùa vui không ngớt hòa vào tiếng sóng biển vỗ bờ. Buổi trưa khi mặt trời lên cao, nước biển lại trong xanh đến lạ kì như những mảnh chai.

Nha Trang không chỉ là bãi biển đẹp mà còn là khu sinh thái, khu bảo tồn đa dạng sinh học quan trọng của quốc gia. Biển Nha Trang là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm có của hệ thống vũng vịnh trên thế giới. Đây là nơi rất phát triển của hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái bãi cát ven bờ.

Đến với Nha Trang là ta đến với sắc đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của biển cả. Nói đến đây thì chắc hẳn ai đã từng một lần đến với Nha Trang sẽ nhớ đến Hòn Mun. Sở dĩ có cái tên gọi này là bởi ở phía đông nam của đảo có những mỏm đá nhô cao, vách dựng hiểm trở tạo thành hang động, đặc biệt đá ở đây lại đen như gỗ mun, điều rất hiếm khi bắt gặp. Đây là nơi có rạn san hô phong phú và đa dạng nhất Việt Nam với 350 loại san hô, chiếm 40% san hô trên thế giới. Cùng với việc phục vụ nghiên cứu sinh học, Hòn Mun còn là nơi rất phát triển về mảng du lịch với nhiều trải nghiệm thu hút khách hàng như lặn biển, thả dù, ngắm cảnh sắc từ trên cao…

Bên cạnh đó, Hòn Tằm cũng là một địa điểm du lịch sinh thái biển thu hút khách bởi vẻ nguyên sơ của thảm thực vật biển, bãi cát dài lãng mạn. Đặc biệt là sau bãi tắm có một cái hang Dơi- nơi cư trú của hàng trăm loại dơi ở độ cao cheo leo 60m. Đây không chỉ là nơi để tham quan, khám phá mà còn lưu trữ nhiều giá trị về mặt khoa học. Ngoài Hòn Mun, Hòn Tằm thì biển Nha Trang còn nổi tiếng với Hòn Miễu, Hòn Tre, Hòn Chồng- Hòn Vợ. Chạy dọc theo bờ biển Nha Trang là con đường Trần Phú uốn lượn mềm mại theo đường bờ biển với những ngôi biệt thự nhỏ xinh, những khách sạn cao cấp và những nhà hàng sang trọng. Xen vào đó là hệ thống dịch vụ hiện đại như bưu điện, nhà bảo tàng, thư viện, câu lạc bộ…

Biển Nha Trang còn nổi tiếng là một thiên đường ẩm thực miền Trung. Hải sản ở biển Nha Trang rất phong phú và đa dạng, lại có hương vị rất đặc trưng của vùng miền. Những món đặc sản như bong bóng cá, vi cá, nhím biển ăn sống với cải bẹ xanh… đều để lại ấn tượng với du khách dù chỉ một lần thưởng thức.

Hiện nay biển Nha Trang diễn ra rất nhiều hoạt động như đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, giao thông vận tải biển, dịch vụ du lịch… Các hoạt động này đã mang lại nguồn lợi không nhỏ cho xã hội, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của tỉnh nói chung và của thành phố Nha Trang nói riêng.

Ngày nay, để phát huy giá trị của biển Nha Trang, ban quản lí cần có chiến lược bảo tồn và phát huy giá trị của biển để biển Nha Trang mãi là một điểm đến lí tưởng cho mọi người.

Thuyết minh về biển Nha Trang lớp 9 – Bài làm 4

Dọc mảnh đất chữ S Việt Nam có rất nhiều những bãi biển nổi tiếng. Kể đến như biển Vũng Tàu, biển Titop Hạ Long, biển Sầm Sơn,… Và có một bãi biển nổi tiếng không chỉ trong nước và với cả ngoài nước là biển Nha Trang.

Vừa đặt chân vào trung tâm thành phố Nha Trang, bạn hẳn sẽ thích thú trước khung cảnh đẹp nao lòng của thiên nhiên đẹp ngỡ ngàng ở nơi đây. Đó chính là bờ biển dài hun hút, xanh biếc và mênh mông nằm bên thành phố dọc theo con đường Trần Phú – con đường biển đẹp nhất đất Việt. Cùng với những hàng cây xanh rì, những đám mây bồng bềnh lơ lửng giữa trời, bãi biển Nha Trang đã khiến du khách siêu lòng ngay từ ánh nhìn đầu tiên.

Biển Nha Trang dài 7km với cát trắng mịn bờ biển thoai thoải dài cong ôm lấy vịnh Nha Trang xanh ngọc ngà. Bãi biển uốn cong với hai, bên bờ biển những rặng dừa và hàng dương lao xao trong gió càng tôn lên vẻ đẹp ngây ngất của biển. Nước trong màu xanh nhìn thấy được cả dưới đáy biển. Cát biển Nha Trang vàng rực rỡ như màu vàng của nắng trời. Từ trên cao nhìn xuống biển Nha Trang như một bức tranh vô cùng kì ảo và thơ mộng , dịu dàng đến khó quên.một bãi biển với bờ cát trắng tải dài như một tấm lụa, những hàng cây dừa, cây dương đu đưa trong gió cùng tới dòng nước biển xanh ngắt tạo nên một bức tranh, một bãi biển vô cùng sinh động và quyến rũ. Biển Nha Trang đẹp mọi lúc mọi khoảnh khắc. Ngay cả trong bầu trời đã khoác lên chiếc áo đen tuyền thì bãi biển Nha Trang cũng lung linh, độc đáo với những ánh đèn đầy sắc màu. Từ trên những tòa nhà cao tầng hướng về biển trời lúc đêm về hẳn sẽ là một trong những khám phá thú vị mà du khách không thể nào quên được đấy!

Nhắc đến biển Nha Trang không thể không nói đến Vịnh Nha Trang, một vịnh tuyệt đẹp có diện tích trên 500km², bao gồm 19 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó Hòn Tre là đảo lớn nhất, có diện tích 3.250 ha và đảo nhỏ nhất là Hòn Nọc chỉ khoảng 4 ha.

Tại biển Nha Trang, có rất nhiều hoạt động được diễn ra. Nhiều du khách vẫy vùng trong làn nước biển trong xanh mát lạnh. Nhiều du khách lại thích thú nằm trên bãi cát vàng nhìn ngắm ra biển mà lặng lẽ suy nghĩ những điều vu vơ. Để phục vụ cho nhu cầu của du khách thời nay, có rất nhiều trò chơi mạo hiểm được tổ chức. Như trò chơi kéo dù, du khách có thể ngắm nhìn cảnh biển từ trên trời cao và cảm nhận một biển Nha Trang ở góc khác. Hay như trò lướt ván, đua mô tô trên nước lại tạo cho người tham gia những cảm giác thú vị mới lạ. Bởi vậy, biển Nha Trang ngày càng sôi động và trẻ trung.

Biển Nha Trang thu hút khách du lịch không chỉ bởi vẻ đẹp của nó mà còn có ẩm thực đặc sắc khiến ai đến đây nhớ mãi không quên. Đó là những bữa ăn hải sải tươi ngon có mực, có tôm, có hàu,… đầy dinh dưỡng. Hay những món đặc sản như bánh canh chả cá- một món ăn rất bình dân nhưng khá phổ biến bởi hương vị và tính chất đậm đà của món ăn, hay món nem nướng, món ăn cũng không thể nào bỏ qua nếu bạn từng đặt chân lên thành phố biển xinh đẹp này. và còn rất nhiều món ngon khác: bò nướng lạc cảnh, bún sữa, bún ốc, bánh căn hay chả.

Những phút giây vui chơi thú vị cùng bãi biển hay những khoảnh khắc bình yên bên bờ biển sẽ phần nào xua đi những phiền muộn, lo toan trong cuộc sống thường nhật của bạn, giúp bạn thư giãn và tìm lại những niềm vui trong cuộc sống. Biển Nha Trang với nước trong xanh bãi cát vàng sẽ luôn là điểm đến lý tưởng cho mọi người.

Bài văn hay thuyết minh về biển Nha Trang lớp 9

Biển, gợi nhắc ta tới mùa hè với những con sóng vỗ rì rào, với màu nước biển trong xanh. Biển cho ta cảm giác trong lành của cuộc sống. Mỗi người chúng ta có những cái tên về biển để nhớ, để thích thú. Với tôi, biển Nha Trang gợi nhắc cho tôi những kỉ niệm về những chuyến du lịch mùa hè.

“Dừng chân nghỉ lại Nha Trang, Hiu hiu gió thổi, trời quang tuyệt vời. Xanh xanh mặt biển, da trời, Cảnh sao quyến rũ lòng người, khó quên. Đây rồi Hòn Én, Hòn Tre, Xa xa Hòn Khói, đi về thuyền ai? Mặt trời vừa mọc ban mai, Mênh mông cát trắng, hồng phai mịn màng. Giặc tan tác chạy lâu rồi, Dân ta làm chủ cuộc đời vẻ vang. Đẹp thay non nước Nha Trang,

Biển Nha Trang đón chào ta với bãi cát vàng trải dài, óng ánh dưới ánh nắng vàng của xứ trời miền Trung. Dọc bãi biển là những rặng dừa cao chót vót, rid rào đung đưa lá như đang vẫy chào những vị khách xa xứ đến thăm. Bờ biển Nha Trang bằng phẳng không nhiều đá ngầm như Đồ Sơn ở Hải Phòng. Từ trên bãi cát phóng tầm mắt ra xa, có thể nhìn thấy những hòn đảo nhỏ như những chấm xanh, nhô lên trên mặt biển, đó là Hòn Én, Hòn Tre. Nước biển Nha Trang lúc nào cũng một màu xanh ngọc của bầu trời. Nước trong vắt soi bóng cả những đám mây lặng lờ trôi. Khung cảnh biển Nha Trang đẹp như bức tranh phong thuỷ hữu tình nên thơ.

Người đi hồn vẫn mơ màng đâu đây.”

Với những vẻ đẹp ấy, không lạ gì khi Nha Trang trở thành điểm dừng chân của bao khách du lịch nước ngoài và trong nước. Vì thế, thành phố Nha Trang ngày một trở thành vị trí tiềm năng phát triển các ngành du lịch, góp phần cho cuộc sống của người dân được cải thiện. Biển Nha Trang cho con người những phút giây thư dãn thoải mái sau những tháng ngày làm việc mệt mỏi. Ta có thể nằm sưởi nắng trên bãi cát vàng, ngắm nhìn khung cảnh nên thơ của biển Nha Trang mà thư thái đầu óc. Ta có thể vùng mình dưới làn nước trong mát của biển, để sảng khoái tiếp thêm sức khoẻ. Ta có thể tham gia vào những trò chơi được tổ chức trên biển như lướt ván, trượt sóng,… Rất nhiều hoạt động bổ ích mà khách xa xứ đến biển Nha Trang tham gia.

Không chỉ có khung cảnh đẹp, những hoạt động bổ ích, mà biển Nha Trang còn ghi dấu ấn trong lòng người du lịch bởi những đặc sản nổi tiếng. Sau những giờ vũng vẫy dưới làn nước trong mát, khách du lịch sẽ được trải nghiệm những món ngon được chế biến từ hải sản tươi sống nơi đây. Những chú mực sữa trắng ngần, những đĩa nộm sứa ăn giòn sừn sựt, những con tôm tươi hấp bia,… Toàn những hải sản tươi sống chế biến ngon mắt, ngon miệng. Không chỉ được ăn trực tiếp tại biển Nha Trang mà ta có thể mua về làm quá cho người thân. Những con mực một nắng, những hộp cá rim cay, những lọ yến sào nổi tiếng hay đơn giản là những gói bánh tráng xoài. Đặc sản Nha Trang mang theo cả hơi biển Nha Trang.

Thuyết minh về biển Nha Trang lớp 9 – Bài làm 6

Có thể nói, Nha Trang là một trong những thắng cảnh đẹp của đất nước ta, là viên ngọc biếc bên bờ biển đẹp. Tuy gần Đà Lạt, nhưng thành phố lại có cái nắng rực rỡ của miền nhiệt đới nóng ẩm. Hình ảnh đầu tiên khiến em chú ý là những tòa nhà đồ sộ trong những vườn cây xanh nằm bên những đại lộ lớn. Đây là một thành phố trẻ trung, tươi mát. Nhưng cuốn hút khách dụ lịch đến đây chính là những bãi biển ven thành phố, những khu nghỉ mát hiện đại.

Bãi cát trải ra mênh mông, óng ả dưới ánh nắng mặt trời, những rặng thông, phi lao rì rào với gió biển suốt ngày đêm. Từ sáng sớm, bầu trời đã quang mây, xanh ngắt. Trên bãi cát khách du lịch đông đúc, đi lại nhộn nhịp. Những chiếc dù đủ màu sắc rực rỡ dưới ánh nắng mặt trời. Trên mặt biển, nước trong xanh, bập bềnh những chiếc phao bơi. Tiếng reo hò náo nức hòa với tiếng sóng biển ì ầm đập vào bãi cát tung bọt trắng xóa. Những khi mặt trời mọc, tia nắng chiếu xuống vỡ ra thành muôn vàn đồng tiền óng ánh. Buổi trưa những ngày đẹp trời, nước biển trong veo như màu mảnh chai. Mặt trời sau một ngày lao động vất vả từ từ lặn xuống tỏa ánh sáng tím hồng xuống mặt biển.

Bờ biển Nha Trang bằng phẳng không nhiều đá ngầm như Đồ Sơn ở Hải Phòng. Từ trên bãi cát em phóng tầm mắt ra xa, có thể nhìn thấy những hòn đảo nhỏ như những chấm xanh, nhô lên trên mặt biển, đó là Hòn Én, Hòn Tre.

Nha Trang thật xứng đáng với niềm yêu mến của khách nước ngoài và trong nước. Em nhớ mãi những ngày đẹp được sống ở Nha Trang. Khi em viết những dòng này nói về Nha Trang, trong lòng em lại ngân nga những câu thơ của nhà thơ Sóng Hồng:

Bài văn mẫu Thuyết minh về biển Nha Trang lớp 9 Anh về Bình Định thăm cha Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em

Vâng, nơi biển rộng của Khánh Hòa ấy không nơi nào khác chính là bãi biển Nha Trang. Bãi biển đẹp nhưu tranh vẽ và được mệnh danh là hòn ngọc biển đông, nơi thiên đường thu hút nhiều du khách.

Khánh Hòa là xứ trầm hương

Nha Trang là một thành phố ven biển và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam. Trước khi trở thành phần đất của Việt Nam, Nha Trang thuộc về Chiêm Thành. Do bãi biển mọc nhiều lau sậy nên theo tiếng Chăm, Nha Trang có tên gọi là Ea Tran (Sông Lau). Đầu thế kỷ XIX, thành phố Nha Trang ngày nay còn là một bãi biển hoang sơ với một làng chài vài mươi nóc nhà tranh ở xóm Cồn dọc theo cửa sông Cái. Bãi biển Nha Trang thuộc quần thể vịnh Nha Trang trong thành phố. Vịnh Nha Trang có diện tích 507 km2 bao gồm 19 đảo lớn nhỏ. Hiện tại, Nha Trang có tuor du lịch đảo và du lịch lặn biển dành cho khách du lịch. Khách du lịch có thể đến bãi biển Nha Trang bằng máy bay và taxi. Hoặc bình dân hơn có thể đi những chuyến xe khách hay đi theo tuor du lịch.

Non cao, biển rộng, người thương đi về

Có thể nói, Nha Trang là một trong những thắng cảnh đẹp nhất nước ta. Mẹ thiên nhiên hẳn rất yêu thương đứa con Nha Trang này nên đã ban cho nơi đây khí hậu mát mẻ, không khí trong lành, dễ chịu. Bờ biển Nha Trang dài hun hút, mênh mông vô tận, nước biển xanh biếc hài hòa cùng những hàng cây xanh rì rào nghe sóng vỗ nằm bên đường Trần Phú. Từ trên bãi cát phóng tầm mắt ra xa, có thể nhìn thấy những hòn đảo nhỏ như những chấm xanh, nhô lên trên mặt biển, đó là Hòn Én, Hòn Tre, Hòn Nọc, Đảo Yến… Có những ngày nắng vàng, màu xanh của những triền núi nhấp nhô trên bờ, của các hòn đảo hoà cùng mầu biển biếc, như tôn thêm vẻ quyến rũ của những dải cát vàng dạt dào sóng trắng. Từ trên cao nhìn xuống, bãi biển Nha Trang như một cô gái nhỏ ngây thơ, dịu hiền mặc chiếc váy lụa trắng làm bằng cát. Đôi mắt xanh mênh mông của cô đấy sức thu hút. Ngay cả khi về đêm, bãi biển cũng rì rào sóng vỗ mời gọi mọi người chú ý đến mình, từ các tòa nhà xung quanh, ngắm cảnh biển đêm cũng là điều thú vị. Dưới mặt biển Nha Trang lại có một thế giới kỳ thú khác, đó là thế giới của 350 loài san hô, 190 loài cá, các loài nhuyễn thể, giáp xác, cỏ biển… tạo nên hệ sinh thái đặc biệt ở đây. Thiên nhiên quả thực hữu tình nên đã làm siêu lòng không biết bao nhiêu du khách.

Bãi biển Nha Trang là một thắng cảnh, một khu nghỉ dưỡng cao cấp mang lại nguồn lợi kinh tế tích cực. Hằng năm, Nha Trang đem về nguồn lợi lớn từ khách du lịch biển, du lịch sinh thái cả trong và ngoài nước. Nhiều hoạt động khác như đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, giao thông vận tải biển… cũng đem lại nguồn lợi không nhỏ cho xã hội, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của tỉnh nói chung và của thành phố Nha Trang nói riêng. Hằng năm việc khai thác yến sào mang về hàng triệu USD cho tỉnh Khánh Hòa. Biển Nha Trang còn nổi tiếng là một thiên đường ẩm thực miền Trung với những món đặc sản như bong bóng cá, vi cá, nhím biển ăn sống với cải bẹ xanh… Tất cả đó đã làm nên một điều gì đó rất khác biệt, rất Nha Trang.

Các bạn thấy đó, vẻ đẹp của biển Nha Trang, hệ sinh thái đa dạng cũng những đặc sản nổi tiếng nơi đây đã để lại ấn tượng khó phai trong lòng du khách dù chỉ một lần ghé qua, thậm chí chỉ được nghe kể, nghe giới thiệu.

Thu Thủy

Top 7 Bài Văn Mẫu Thuyết Minh Về Cây Cà Phê Lớp 9 Chọn Lọc

Thuyết minh về cây cà phê lớp 9 – Bài làm 1

Nói đến các loại nước giải khát người ta thường nghĩ đến nước chanh, nước mía, nước sấu,… Nhưng có một thứ nước người ta dùng mang tính chất thưởng thức nhiều hơn là giải khát đó chính là cà phê. Để có được những ly cà phê thơm ngon mà biết bao người say đắm đó là nhờ công vun trồng, chăm sóc của những người trồng cây cà phê.

Cây cà phê thuộc nhóm cây công nghiệp, là loại cây chiếm tỉ trọng cao trong sản xuất ở Việt Nam hàng năm. Không chỉ trong nước, cây cà phê còn giúp người Việt Nam xuất khẩu cà phê ra nước ngoài, đem lại một nguồn lợi lớn. Từ hạt cà phê, người dân trồng thành những cây cao lớn. Nhưng để chúng phát triển, ra hạt thì đòi hỏi người nông dân phải lựa chọn cẩn thận từng hạt giống. Hạt giống có tốt thì sau này cây mới phát triển tốt.

Cây cà phê phát triển tốt nhất là ở vùng đất đỏ ba zan. Vậy nên ở nước ta nơi trồng nhiều cà phê nhất, cũng là nơi cây cà phê phát triển tốt nhất chính là mảnh đất Tây Nguyên. Hơn nữa, cây cà phê cũng thích hợp phát triển ở vùng khí hậu nhiệt đới ẩm mưa nhiều. Điều kiện thời tiết của nước ta rất phù hợp cho sự phát triển của cây cà phê. Chính vì lẽ đó, nước ta trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới.

Ban đầu cây cà phê có nguồn gốc từ nước Pháp. Sau khi Pháp xâm lược Việt Nam, chúng tiến hành cướp ruộng đất và trồng cây cao su, cây cà phê. Từ đó đến nay, dân ta vẫn tiếp tục trồng cao su, cà phê vì chúng đem lại nguồn lợi về kinh tế khá lớn cho người dân.

Cà phê chè và cà phê vối là hai loại cà phê chính ở nước ta hiện nay. Đây cũng là hai loại cà phê cho sản lượng lớn, đem lại nguồn lợi kinh tế cao. Trong đó, cà phê chè chiến tới 61% các sản phẩm cà phê trên toàn thế giới. Cà phê vối thì chiếm 36%. Còn lại là các sản phẩm cà phê khác.

Trung bình một cây cà phê cao từ 6m tới 10m. Tuy nhiên, để việc thu hoạch cà phê được thuận lợi hơn người trồng cà phê thường phải cắt tỉa để giữ độ cao của cây cà phê trong khoảng 2 – 4m. Cành của cây cà phê thon dài, cuống lá ngắn, hình oval và có màu xanh đậm ở mặt trên và mặt dưới nhạt hơn một chút. Mỗi lá dài khoảng 8 – 15cm, rộng khoảng 4 – 6cm. Cây cà phê thuộc loại rễ cọc. Chúng cắm sâu xuống dưới lòng đất từ 1 – 2,5m. Ngoài ra chúng còn có những rễ phụ tỏa ra xung quanh để làm nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng đi nuôi cây.

Cây cà phê cũng có hoa. Những bông hoa của chúng có màu trắng, năm cánh và thường mọc thành từng chùm. Nhìn thoáng qua trông rất giống hoa nhài. Hương thơm cũng thoang thoảng như hương hoa nhài vậy. Điểm đặc biệt của hoa cà phê là chúng chỉ nở trong vòng 3 – 4 ngày và thời gian thụ phấn chỉ vỏn vẹn có 3 tiếng. Mỗi một cây cà phê trưởng thành cho ra từ 30.000 – 40.000 bông hoa. Cũng giống như hoa, quả cà phê mọc thành từng chùm và có màu xanh lúc non. Khi chín chúng chuyển sang màu đỏ mộng.

Hạt cà phê thường được đem đi rang rồi xay ra để pha chế thành đồ uống. Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại cà phê khác nhau. Có loại cà phê đen, có loại cà phê sữa. Không chỉ phục vụ khách hàng trong nước, cà phê còn được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài và được đánh giá cao.

Cà phê là một trong những nông sản thuộc cây công nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong sản xuất mỗi năm. Nó cũng góp phần xuất khẩu đi và mang lại thu nhập cho đất nước cũng như người dân nước ta. Cây cà phê được trồng bằng hạt cà phê, những hạt cà phê làm giống được chọn lựa rất kĩ càng. Khâu này là khâu quan trọng vì nó quyết định đến chát lượng cây và quả cà phê sau này.

Cây cà phê được trồng nhiều trên những mảnh đất ba dan ở Tây Nguyên hay những vùng cao của Tấy bắc và Đông Nam Bộ. Những mảnh đất cao ấy thích hợp cho sự phát triển của cây cà phê. Đặc biệt nước ta khí hậu nhiệt đới ẩm mưa nhiều đã góp phần vào điều kiện thuận lợi phát triển cây cà phê.

Nguồn gốc của cà phê là từ nước pháp. Trong những năm Pháp xâm lược Việt nam thì chúng đã cướp ruộng đất của nhân dân ta và trồng đồn điền cao su và cà phê. Chính vì thế trên những mảnh đất phù hợp với sự phát triển của nó thì ta vẫn trồng cà phê.

Ở nước ta thì có hai loại cà phê chính và có số lượng lớn đạt sản lượng kinh tế cao đó là cà phê chè và cà phê vối. Trong đó cà phê chè chiếm 61% các sản phẩm cà phê trên thế giới còn cà phê vối chiếm khoảng 36% các sản phẩm cà phê khác.

Đặc điểm của cây cà phê là cao tới 6m, cà phê vối tới 10m. Tuy nhiên ở các trang trại cà phê người ta thường phải cắt tỉa để giữ được độ cao từ 2-4m, thuận lợi cho việc thu hoạch. Cây cà phê có cành thon dài, lá cuống ngắn, xanh đậm, hình oval. Mặt trên lá có màu xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt hơn. Chiều dài của lá khoảng 8-15 cm, rộng 4-6 cm. Rễ cây cà phê là loại rễ cọc, cắm sâu vào lòng đất từ 1 đến 2,5m với rất nhiều rễ phụ tỏa ra xung quanh làm nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng nuôi cây.

Về phần hoa của cây cà phê thì hoa cà phê màu trắng, có năm cánh, thường nở thành chùm đôi hoặc chùm ba. Màu hoa và hương hoa dễ làm ta liên tưởng tới hoa nhài. Hoa chỉ nở trong vòng 3 đến 4 ngày và thời gian thụ phấn chỉ vài ba tiếng. Một cây cà phê trưởng thành có từ 30.000 đến 40.000 bông hoa.

Quả cà phê mọc thành từng chùm trên khắp các cành và có màu xanh, khi nó chín thì có màu đỏ mộng nhìn rất ngon.

Công dụng của những hạt cà phê là đem say ra làm thành đồ uống. Có thể uống cà phê đen và có thể uống cà phê đã thêm sữa và nghiền gói trong túi bán ngoài thị trường. Tùy vào từng sở thích mà người ta sẽ thích uống thế nào hơn. Không những thế cà phê còn có thể xuất khẩu ra các nước khác thu lợi nhuận cho đất nước ta tạo điều kiện phát triển kinh tế. Ngày nay trên thị trường có rất nhiều loại cà phê hộp sẵn hay gói nhỏ như vinacafe, busdy…

Như vậy qua đây ta đã biết được về những đặc điểm cũng như nguồn gốc công dụng của cây cà phê đối với cuộc sống của chúng. Thật sự là một loại cây hữu ích không chỉ có giá trị về kinh tế mà nó còn mang giá trị về giải khát.

Thuyết minh về cây cà phê lớp 9 – Bài làm 3

Cà phê được xem là đồ uống số 1 trên thế giới. Lượng tiêu thụ gần 9.012.540 tấn trên một năm. Nếu nhắc tới cà phê Việt Nam thì không ai không nhắc tới vùng đất đầy nắng và gió ở Đắc Lắc, được biết là thủ phủ cà phê ở Việt Nam.

Theo như tài liệu công bố của hiệp hội cà phê, ca cao Việt Nam, câu chuyện huyền thoại về cà phê bắt đầu từ năm 600 cách đây vào thế kỉ, vào một ngày đẹp trời người chăn dê ở vùng miền núi thuộc địa phận ethiopia đã tình cờ phát hiện ra nó, sau đó loại quả này được tặng nhau trong các nhà thờ, mãi đến năm 1700 cây cà phê đầu tiên được người Hà Lan giới thiệu ở indonexia, sau đó lan rộng ra trên thế giới.

Cây cà phê du nhập vào Việt Nam khoảng những năm 1850 đến 1912, đến 1914 cây cà phê thực sự ghi được dấu ấn trên Việt Nam và đặc biệt à Đắc Lắc hàng với chục ngàn ha cà phê, được trồng tập trung ở Buôn Ma Thuột. Sau hơn 100 năm với điều kiện thuận lợi của khí hậu và thổ nhưỡng cùng với sự hỗ trợ đắc lực của khoa học và các chính sách phù hợp, cây cà phê phát triển một cách mạnh mẽ, đưa Đắc Lắc trở thành thủ phủ về cây cà phê.

Cà phê là một trong những nông sản đem lại cho bà con nông dân nguồn thu nhập chính ở các vùng Nam Bộ và Tây Nguyên, Việt Nam được biết đến là một trong những quốc gia xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới, phục vụ cho người dân trong nước và thế giới.

Cà phê được trồng bằng hạt, hạt phải là hạt tốt, giống khỏe có khả năng cho quả nhiều và ít bị sâu bệnh, trung bình một cây cà phê thường cao khoảng 6 mét, nhưng nhờ kỹ thuật hiện đại, khoa học phát triển và kỹ thuật cắt tỉa giống đã làm cho chiều cao của cây giảm dần, thuận lợi cho bà con trong việc chăm sóc và thu hoạch. Đặc điểm của cà phê cũng như các loài cây cho quả khác, cũng đầy đủ các bộ phận, thân, rễ, hoa, lá, quá. Cành cà phê thì thon, lá có cuống ngắn, màu xanh đậm, thường hình dáng của một chiếc lá cũng không quá to hoặc quá bé, chiều dài khoảng từ 5-15 cm, còn chiều rộng từ 4 -8 cm, rễ cây cà phê là rễ cọc cắm sâu khoảng từ 1 đến 2 mét.

Cây cà phê có hoa màu trắng, 5 cánh, thường nở thành chùm có khi là hai cũng có lúc là chùm ba, nó có mùi hương đặc trưng, dịu nhẹ như hoa nhài vậy, hoa nở trong thời gian chỉ 3,4 ngày rồi rụng trước khi thụ phấn khoảng vài tiếng trước. nếu như một cây cà phê trưởng thành có hoa khoảng từ 30.000 đến 40.000 hoa trong một vụ ra hoa.

Chúng ta có thể biết hương vị của cà phê nhưng chẳng mấy ai biết quả cà phê như thế nào đâu nhỉ, quả cà phê phụ thuộc vào số lượng hoa thụ phấn, nhìn chung là quả rất nhiều, mọc chi chít và thành từng chùm, khi non thì có màu xanh, khi chín nó chuyển sang màu đỏ.

Do khoa học tiến bộ và cách chăm sóc hợp lí nên sản lượng cà phê hàng năm đều tăng lên, nhìn thì có vẻ đơn giản nhưng để trồng và chăm sóc một cây cà phê cho năng lượng cao, bà con nông dân đã phải tìm tòi, học hỏi nhiều kinh nghiệm để cho sản lượng hàng năm cao và chất lượng sản phẩm cũng thế mà ngày càng đậm đà hơn.

Vì những hữu ích mà cây cà phê đem lại, nó không chỉ là niềm tự hào của người dân Đắc Lắc mà còn sản phẩm được thế giới đánh giá Việt Nam là một đối tác tin cậy trên thị trường buôn bán cà phê và nông sản.

Thuyết minh về cây cà phê lớp 9 – Bài làm 4

Những tách cà phê thơm lừng mỗi buổi sáng mang lại cho chúng ta sự sảng khoái và tỉnh táo cả một ngày dài. Chắc hẳn mọi người ai cũng biết nguyên liệu làm ra những tách cà phê thơm ngon ấy là cây cà phê- một loại cây quen thuộc đối với con người.

Cà phê là một loại cây phổ biến bắt nguồn từ Châu Phi và được trồng ở các vùng trên Ấn Độ Dương, sau dần chúng được trông sang các vùng lân cận và được nhân rộng hơn nữa ra toàn thế giới.

Cà phê là một loại cây mang lại kinh tế cao. Cây cà phê thường có chiều cao từ 6 mét, tuy nhiên để thuận tiện cho việc chăm sóc và thu hoạch người ta tỉa và giữ cho cây cà phê có độ cao từ 2 đến 4 mét. Cành cà phê thon mảnh, lá cuống ngắn hình ô van có màu xanh, mặt trên của lá có màu xanh đậm hơn mặt dưới. Để nuôi dưỡng thân và lá, quan trọng nhất là rễ, rễ cà phê là rễ cọc cắm sâu xuống lòng đất từ 1 đến 2,5 mét và có nhiều rễ nhánh tỏa ra để hút thêm chất dinh dưỡng dưới lòng đất. Đến mùa cây ra hoa, ngửi mùi hương ta liên tưởng đến hoa nhài, hoa cà phê có màu trắng , nở thành từng chùm đôi hoặc chùm ba. Hoa cà phê nở đẹp trong vòng 3 đến 4 ngày. Một cây cà phê trưởng thành có tới hơn 30000 bông hoa. Quả cà phê phát triển sau quá trình tự thụ phấn của hoa, nó có hình bầu dục. Trong thời gian chín, quả ngả từ xanh sang vàng và cuối cùng sang đỏ, quả trên cây thành từng chùm đỏ sẫm. Bên trong quả cà phê là hai hạt ép sát vào nhau được bao bọc bên ngoài bởi thịt quả, mỗi hạt lại được bao bọc bởi lớp mang mỏng. Tùy vào sự phát triển của từng cây mà nó có hình tròn hoặc dài. Nếu nhìn thấy quả cà phê màu đen tức quả bị chín nẫu.

Chăm sóc cà phê cũng là một công việc khá vất vả của những người dân Tây Nguyên để có được những hạt cà phê thơm nhất. Người dân thực hiện nhiều công việc như giao hạt đúng vụ, che chắn cây khỏi thời tiết xấu, đánh chồi vượt, cày rạch hàng ép xanh, bón phân, tỉa cành để duy trì độ cao của cây phục vụ cho việc thu hoạch, phòng trừ sâu bệnh cho cây,..

Cà phê được trồng ở Việt Nam chủ yếu ở các vùng Tây Nguyên như Buôn Mê Thuột và Đắc Lăk. Nước ta cũng là nước đứng đầu thế giới về sản xuất cà phê vối, thời vụ kéo dài từ tháng 10 đến tháng 9 năm sau tính theo lịch dương, thời gian thu hoạch thường kéo dài trong 4 tháng hàng năm.

Cây cà phê là một loại cây trồng đóng vai trò quan trọng trong đời sống của con người. Hạt cà phê được xay nhuyễn làm thức uống, làm bánh và một số thực phẩm khác. Không những thế cây cà phê còn trở thành cây biểu tượng cho vùng đất Tây Nguyên và những con người Tây Nguyên giản dị chân thật. Đối với nên kinh tế Việt Nam, cây cà phê là cây đóng vai trò quan trọng nhằm gia tăng và phát triển kinh tế trong các lĩnh vực trao đổi hàng hóa, mua bán ,xuất khẩu…

Như vậy, cây cà phê chiếm giữ vị trí quan trọng trong đời sống hàng ngày và cả trong quá trình phát triển kinh tế. Vì thế chúng ta nên biết bảo vệ chăm sóc loại cây mang lại nhiều lợi ích này.

Những bài văn mẫu thuyết minh về cây cà phê lớp 9

Có một thứ quà mà người ta thường ví rằng “đen như địa ngục, đắng như tử thần, ngọt ngào như tình yêu” đó chính là cà phê, là món quà tuyệt vời được cả thế giới đón nhận, vì thế mà có rất nhiều những câu chuyện và hành trình khám phá cây cà phê diễn ra một cách rộng lớn và thú vị.

Cà phê được xem là đồ uống số 1 trên thế giới. Lượng tiêu thụ gần 9.012.540 tấn trên một năm. Nếu nhắc tới cà phê Việt Nam thì không ai không nhắc tới vùng đất đầy nắng và gió ở Đắc Lắc, được biết là thủ phủ cà phê ở Việt Nam.

Cây cà phê du nhập vào Việt Nam khoảng những năm 1850 đến 1912, đến 1914 cây cà phê thực sự ghi được dấu ấn trên Việt Nam và đặc biệt à Đắc Lắc hàng với chục ngàn ha cà phê, được trồng tập trung ở Buôn Ma Thuột. Sau hơn 100 năm với điều kiện thuận lợi của khí hậu và thổ nhưỡng cùng với sự hỗ trợ đắc lực của khoa học và các chính sách phù hợp, cây cà phê phát triển một cách mạnh mẽ, đưa Đắc Lắc trở thành thủ phủ về cây cà phê.

Cà phê là một trong những nông sản đem lại cho bà con nông dân nguồn thu nhập chính ở các vùng Nam Bộ và Tây Nguyên, Việt Nam được biết đến là một trong những quốc gia xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới, phục vụ cho người dân trong nước và thế giới.

Cà phê được trồng bằng hạt, hạt phải là hạt tốt, giống khỏe có khả năng cho quả nhiều và ít bị sâu bệnh, trung bình một cây cà phê thường cao khoảng 6 mét, nhưng nhờ kỹ thuật hiện đại, khoa học phát triển và kỹ thuật cắt tỉa giống đã làm cho chiều cao của cây giảm dần, thuận lợi cho bà con trong việc chăm sóc và thu hoạch. Đặc điểm của cà phê cũng như các loài cây cho quả khác, cũng đầy đủ các bộ phận, thân, rễ, hoa, lá, quá. Cành cà phê thì thon, lá có cuống ngắn, màu xanh đậm, thường hình dáng của một chiếc lá cũng không quá to hoặc quá bé, chiều dài khoảng từ 5-15 cm, còn chiều rộng từ 4 -8 cm, rễ cây cà phê là rễ cọc cắm sâu khoảng từ 1 đến 2 mét.

Cây cà phê có hoa màu trắng, 5 cánh thường nở thành chùm có khi là hai cũng có lúc là chùm ba, nó có mùi hương đặc trưng, dịu nhẹ như hoa nhài vậy, hoa nở trong thời gian chỉ 3, 4 ngày rồi rụng trước khi thụ phấn khoảng vài tiếng trước. nếu như một cây cà phê trưởng thành có hoa khoảng từ 30.000 đến 40.000 hoa trong một vụ ra hoa.

Chúng ta có thể biết hương vị của cà phê nhưng chẳng mấy ai biết quả cà phê như thế nào đâu nhỉ, quả cà phê phụ thuộc vào số lượng hoa thụ phấn, nhìn chung là quả rất nhiều, mọc chi chít và thành từng chùm, khi non thì có màu xanh, khi chín nó chuyển sang màu đỏ.

Do khoa học tiến bộ và cách chăm sóc hợp lí nên sản lượng cà phê hàng năm đều tăng lên, nhìn thì có vẻ đơn giản nhưng để trồng và chăm sóc một cây cà phê cho năng lượng cao, bà con nông dân đã phải tìm tòi, học hỏi nhiều kinh nghiệm để cho sản lượng hàng năm cao và chất lượng sản phẩm cũng thế mà ngày càng đậm đà hơn.

Vì những hữu ích mà cây cà phê đem lại, nó không chỉ là niềm tự hào của người dân Đắc Lắc mà còn sản phẩm được thế giới đánh giá Việt Nam là một đối tác tin cậy trên thị trường buôn bán cà phê và nông sản.

Thuyết minh về cây cà phê lớp 9 – Bài làm 6

Quả đỏ hoa trắng lá xanh

Vâng, quả đỏ, hoa trắng, lá xanh ấy không gì khác ngoài cây cà phê_một loài cây vừa xa xôi lại vừa gẫn gũi với người dân Việt Nam. Cây cà phê vừa là biểu tượng cho vùng đất Tây Nguyên nắng gió lại vừa là một nét vẽ sinh động trong bức tranh nông nghiệp Việt Nam.

Hạt nâu rang giã em thành cà phê”

Cà phê là loại thực vật thuộc họ Thiên thảo được trồng đầu tiên các vùng nhiệt đới ở châu Phi và vùng trên Ấn Độ Dương. Sau đó, nhờ sự giao thương mà cây cà phê ngày nay đã được phổ biến trên toàn thế giới và sản phẩm từ cây cũng được bày bán ở hầu khắp các nước. Brazil được biết đến là nước xuất khẩu nhiều cà phê nhất trên thế giới, Việt Nam là nước xếp thứ hai, tiếp sau đó là Columbia và Indonesia.

Cà phê là cây thân gỗ khá lớn. Thân cây cà phê có thể cao từ sáu đến mười mét. Tuy nhiên, đối với cà phê được trồng để khai thác thì người dân thường hạn chế chiều cao của cây ở hai đến bốn mét để thuận lợi hơn cho việc thu hoạch. Từ thân cây mọc ra nhiều cành, từ cành lại đâm trổ ra những lá. Lá cây cà phê có hình oval, màu xanh đậm. Mặt trên của lá thì xanh thẫm, mặt dưới lại có màu xanh nhạt hơn do mặt trên nhận được nhiều ánh mặt trời nên các diệp lục cũng phát triển hơn mặt dưới. Cây cà phê là loại cây có dễ cọc gồm một rễ chính to, khỏe, đâm sâu xuống dưới mặt đất, hút nước và muối khoáng từ đất mẹ để nuôi dưỡng cây.

Tương tự như nhiều loài cây khác, cà phê là cây ra hoa. Hoa cà phê có màu trắng muốt và có năm cánh thuôn dài, hơi cong. Hoa không mọc riêng lẻ mà mọc thành chùm đôi hoặc chùm ba tạo thành những cụm hoa trắng xóa, nhìn từ xa trông như thể những bông cúc đại đóa trắng đang thi nhau tỏa sắc khoe hương. Hoa cà phê có hương nhè nhẹ như hoa nhài, thu hút được ong bướm đến thụ phấn. Hoa chỉ nở trong khoảng thời gian ngắn từ ba đến bốn ngày là sẽ tàn. Hoa tàn, rơi xuống đất thì ta có quả cà phê. Bề ngoài, trông chúng như những quả anh đào chín mọng với màu đỏ bóng nhẵn. Không phải vừ lúc bắt đầy quả đa có màu đỏ mà nó biến đổi màu sắc từ xanh, đến vàng rồi cuối cùng là đỏ, khi chín nẫu thì quả sẽ biến thành màu đen. Quả cà phê phát triển từ bảy đến chín tháng, một khoảng thời gia khá lâu so với nhiều loài cây khác nên một năm thường chỉ có một vụ cà phê và đôi khi xảy ra trường hợp trên cây vừa có hoa vừa có quả. Thông thường, trong một quả sẽ có hai hạt cà phê được bao bọc bởi lớp thịt và vỏ ngoài. Hai hạt nằm ép sát vào nhau, tiếp xúc tại một mặt phẳng hình bầu dục hơi tròn, phần còn lại hình cánh cung.

Ở Việt Nam cũng như các nước có sản lượng cà phê lớn khác, nhiều chuyên gia rang xay xà phê đã tìm ra hai cách chế biến cà phê: chế biến ướt và chế biến khô. Với quy trình chế biến ướt, hạt cà phê sau khi được thu hoạch thủ công sẽ được lên men để thuận lợi cho quá trình bóc tách hạt, sau đó trải qua những công đọan để tách lấy hạt với sự hỗ trợ của máy móc, cuối cùng là làm khô hạt cà phê. Với quy trình chế biến khô, là phương pháp đầu tiên được sử dụng để gia công cà phê, được áp dụng ở những vùng khan hiếm nước và tiết kiệm nhiều chi phí hơn. Quả cà phê được thu hoạch sau đó sẽ cho phơi khô luôn, đến khi độ ẩm còn lại vừa đúng tiêu chuẩn thì người ta sẽ tiến hành bóc tách bằng cối xay. Phương pháp này không cho được những hạt cà phê sạch như chế biến ướt nhưng vị cà phê sẽ ngọt hơn.

Cà phê là loại cây đặc biệt quan trọng với đời sống và kinh tế Việt Nam. Cây cà phê cũng cấp cho ta nguyên liệu cho những cốc cà phê nóng hay ly cà phê sữa đá thơm ngon. Cà phê là một thức uống rất phổ biến và được nhiều người ưa chuộng. Người ta còn có thú thưởng cà phê phin với độ đắng cao hơn những loại cà phê pha sẵn khác nhưng khi ngẫm kĩ sẽ thấy rất ngọt và chất. Cà phê còn là nguồn hàng xuất khẩu quan trọng của đất nước, đóng góp một lượng lớn nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế quốc dân. Nó cũng góp phần đem lại nguồn thu nhập cho người nông dân, giúp đỡ rất nhiều cho cuộc sống còn nhiều khó khăn của họ. Cà phê chính là biểu tượng cho vùng Tây Nguyên đất đỏ ba-dan, cho con người Tây Nguyên da sạm đi vì nắng, cho đất nước dân tộc Việt Nam tự hào với thương hiệu cà phê nức danh khắp thế giới.

“Hoa cà phê thơm lắm, em ơi Hoa cùng một điệu với hoa lài Trắng ngà, trong ngọc, xinh mà sáng

Xuân Diệu trong “Hoa cà phê” đã viết về một loài hoa đặc biệt như thế. Vì hoa cà phê, hay cây cà phê không chỉ đơn thuần là một loài cây mà nó là hiện thân của một đất nước, một dân tộc, là một nét vẽ không thể thiếu trong bức tranh nông nhiệp Việt Nam.

Việt Nam là một nước nông nghiệp đang trên đà phát triển với nhiều loại hình sản xuất. Ngoài cây lúa, cao su, điều… thì Việt Nam còn là nước chú trọng trong việc nuôi trồng và sản xuất cây cà phê. Cây cà phê đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta.

Bài văn mẫu thuyết minh về cây cà phê

Theo những ghi chép của con người còn lại cho đến ngày nay thì cà phê được phát hiện đầu tiên ở vùng đất Kaffa (Ethiopia ngày nay) từ thế kỷ thứ IX. Đến thế kỷ XIV những người nô lệ đã mang cà phê từ Ethiopia sang xứ Ả Rập. Nhưng tới tận thế kỷ XV người ta mới biết rang cà phê lên và sử dụng làm đồ uống. Cà phê đã trở thành một thức uống truyền thống của người Ả Rập và là nơi trồng cà phê đặc quyền. Lần đầu tiên cà phê được đưa vào Việt Nam là năm 1875 được người Pháp mang từ đảo Bourton sang trồng ở phía Bắc sau đó lan ra các tỉnh miền Trung. Cho đến nay sản lượng cà phê cả nước chiếm 10% sản lượng nông nghiệp, chiếm 16% giá trị xuất khẩu và là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới sau Brazil. Điều này góp phần làm ổn định kinh tế xã hội ở những vùng xa xôi hẻo lánh, dân tộc ít người.

Nói về cây cà phê trước hết ta nói về đặc điểm hình dạng của cây: thân cây, lá cây, rễ cây, hoa và quả cà phê. Cây cà phê có thể cao đến 6m, 10m hay 15m tùy theo từng loại cây nhưng người trồng cà phê thường hãm ngọn ở chiều cao 2-4m do trồng tập trung. Lá cà phê có hình oval thon dài, mặt trên xanh bóng màu đậm, mặt dưới màu thường nhạt hơn, cuống lá ngắn. Rễ cà phê là dạng rễ cọc, đâm sâu vào đất khoảng từ 1-2m, bên cạnh đó còn có hệ thống rễ phụ tỏa ra xung quanh, nằm sát mặt đất để hút chất dinh dưỡng. Hoa cà phê có màu trắng, 5 cánh, thường nở thành chùm, hoa nở kéo dài 3-4 ngày, thời gian thụ phấn chỉ vài giờ đồng hồ, khi hoa nở có mùi rất thơm, dễ chịu. Quả cà phê sau khi thụ phấn sẽ phát triển trong 7 đến 9 tháng và có hình bầu dục nhỏ, bề ngoài trông giống như quả anh đào. Màu sắc của quả sẽ thay đổi từ xanh sang vàng rồi cuối cùng là đỏ nâu trong thời gian chín. Một quả cà phê thường chứa hai hạt (thỉnh thoảng cũng có quả chỉ có một hạt), chúng được bao bọc bởi lớp thịt quả bên ngoài. Hai hạt cà phê nằm ép sát vào nhau, ngăn cách bởi một mặt phẳng hướng ra bên ngoài có hình vòng cung. Mỗi hạt sẽ được bảo vệ bởi hai lớp mang bao phủ mỏng: một lớp màu trắng bám chặt lấy vỏ hạt, một lớp màu vàng rời rạc hơn bọc ở bên ngoài. Hạt có thể có hình tròn hoặc dài, lúc còn tươi có màu xám vàng, xanh hoặc xám xanh.

Quy trình để trồng cà phê cũng không quá phức tạp, chỉ cần ta biết cách và chăm sốc tốt. Về phần đất trồng, cây cà phê có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất như đất đỏ bazan, đất xám, đất thịt pha,…; đất trồng phải tơi xốp, thoát nước tốt, giàu dinh dưỡng, có độ pH từ 5.0-6.5. Về điều kiện thời tiết như gió và ánh sáng thì cây cần được trồng cạnh những cây có khả năng chắn gió tốt. Cà phê là cây ưa ánh sáng tán xạ vì vậy nên trồng cà phê xen lẫn với bơ, sẽ giúp giảm ánh sáng trực tiếp chiếu lên cây. Cây cà phê thường được trồng vào vụ Thu (tháng 8-9) hoặc vụ xuân (tháng 2-3) dương lịch. Trước khi trồng, chúng ta phải đào hố và bón lót phân trước một tháng, sau đó tiến hành trồng cây con vào hố. Khi trồng cần xé nhẹ lớp ni-lon của bầu ươm, chú ý không làm vỡ bầu rồi đặt chính giữa hố và lấp đất. Trong quá trình phát triển của cây cà phê cần chú ý đến quy trình chăm sóc tưới nước và bón phân cho cây, hãm cây ở độ cao vừa phải. Đến thời gian thu hái cà phê cần hái đúng độ chín, không hái quả xanh.

Cây cà phê có vai trò quan trọng trong đời sống cũng như sản xuất. Chúng vừa là thực phẩm vừa là thức uống có giá trị lớn. Mỗi năm có hàng ngàn lượng cà phê được xuất khẩu đi các nước đem lại nguồn lợi kinh tế cao cho nước ta. Đặc biệt là với người nuôi trồng ca phê, công việc này đã đem lại cho họ nguồn lợi nhuận và thu nhập không hề nhỏ.

Có thể nói, cây cà phê là một loài thực vật không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp bởi giá trị mà nó đem lại cho chúng ta là rất lớn. Trong tương lai, mô hình sản xuất cây cà phê sẽ ngày càng phát triển hơn nữa.

Thu Thủy

Top 10 Bài Văn Mẫu Thuyết Minh Về Ngôi Trường Của Em Lớp 9 Chọn Lọc

Thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9 – Bài làm 1

Nhắc đến hai tiếng ngôi trường, trong tôi lại không khỏi bồi hồi, xúc động nhớ về những năm tháng học tập dưới mái trường thân yêu này, trường THCS Lý Tự Trọng. Đây là ngôi trường cấp 2 có bề dày lịch sử hàng chục năm và là một trong những trường điểm của thành phố.

Những năm trước đây, trường nằm chung khuôn viên với trường cấp 1 nên học sinh 2 cấp cùng học chung một trường. Tuy nhiên, bắt đầu từ năm tôi vào học lớp 6, trường đã tách riêng. Trường của tôi được xây dựng trên một mảnh đất rất rộng, mặt trước của trường giáp với con đường đôi đẹp nhất thành phố. Lúc mới hoàn thiện, trường còn chưa có cổng, tôi vẫn nhớ cánh cổng tạm làm bằng thân cây tre ọp ẹp. Bây giờ, trường đã có cổng sắt, có biển hiệu vô cùng khang trang. Những cái cây xanh trồng trong sân trường sau 4 năm học cũng đã lớn lên nhiều. Chúng trở thành người bạn của học sinh trường tôi trong những giờ ra chơi. Sân trường giờ đây đã được đổ bê tông rất sạch sẽ. Chúng tôi có thể thoải mái chạy nhảy mà không còn lo bụi như trước nữa.

Trường học của tôi có tất cả 30 phòng học, chia làm 3 tầng. Mỗi lớp sở hữu một phòng học riêng. Ngoài ra, trường còn có phòng chức năng như phòng thí nghiệm môn Vật lý, môn Hóa học, phòng Tin học, phòng học Tiếng Anh,… Các phòng học chức năng đều được trang bị máy móc hiện đại, đầy đủ đồ dùng thí nghiệm phục vụ cho việc học của mỗi học sinh. Ở tất cả các lớp học, sàn đều được lát gạch hoa, có cửa sổ đón ánh sáng, có trang bị cả quạt trần và quạt treo tường. Ngoài ra, mỗi lớp còn tự trang trí để lớp học của mình thêm đẹp hơn. Lớp tôi có một chiếc tủ sách ở cuối lớp với rất nhiều đầu sách hay.

Để được là học sinh của trường, chúng tôi phải trải qua một kì thi với các môn Toán, Ngữ Văn, Tiếng Anh. Sau đó, chúng tôi được chia lớp dựa trên số điểm mà mình đã đạt được. Dạy chúng tôi là những người thầy, người cô có chuyên môn cao. Hầu hết các thầy cô giáo trong trường đều có bằng cao học. Có những thầy cô giáo đã được phong tặng danh hiệu nhà giáo ưu tú. Chúng tôi luôn cảm thấy vinh dự và tự hào vì được là học trò của những người thầy, người cô như vậy. Họ luôn yêu quý và dạy dỗ chúng tôi như thể đang dạy cho con của mình. Bao nhiêu năm qua trường tôi vẫn luôn dẫn đầu về thành tích học sinh giỏi.

Bên cạnh phong trào thi đua dạy tốt học tốt, trường tôi còn thường xuyên tổ chức những phong trào hoạt động tình nguyện quyên góp cho các bạn học sinh vùng gặp khó khăn. Tôi lúc nào cũng hào hứng với các phong trào như vậy. Trường của tôi đã được Tỉnh tặng bằng khen cho những hoạt động ngoại khóa này. Bên cạnh đó, đội bóng đá của trường tôi cũng đang là đương kim vô địch giải bóng đá thiếu niên nhi đồng toàn thành phố.

Tôi đã gắn bó với ngôi trường của mình năm nay là năm thứ 4 rồi. Biết là nay mai sẽ phải xa rời mái trường này để bước lên bậc học cao hơn. Nhưng với tôi nơi này sẽ là nơi lưu giữ nhiều kỉ niệm đẹp nhất của tuổi học trò. Sẽ nhớ mãi không quên ngôi trường mang tên người anh hùng Lý Tự Trọng.

Có lẽ với mỗi người khi đã đang và sẽ đi qua những năm tháng tuổi học sinh thì sẽ còn ghi dấu mãi mãi hình ảnh ngôi trường mà mình đã gắn bó bao lâu. Không biết tự bao giờ, ngôi trường nhỏ bé, thân thuộc đã trở thành ngôi nhà thứ hai bởi nơi đó có thầy cô nhiệt tình, tận tụy với học sinh; có bạn bè yêu quý, sẻ chia cùng nhau như chị em trong gia đình. Với tôi, ngôi trường cấp hai Trần Huy Liệu là thế đó, là một miền cứ ức tươi đẹp mà khi đi đến nơi đâu cũng luôn luôn hướng về với tình cảm thương mến.

Dọc theo quốc lộ 10 về phía Tây Nam, ta sẽ bắt gặp hình ảnh ngôi trường Trần Huy Liệu nằm cách mặt đường chính khoảng 10m. Trường nằm ở thị trấn Gôi, huyện Vụ Bản- nơi cách trung tâm thành phố Nam Định khoảng 15km. Tiền thân của ngôi trường là trường năng khiếu Vụ Bản, được thành lập năm 1993 tại cầu Chuối, Vụ Bản. Đến năm 1997, trường được xây mới và chuyển về địa điểm như hiện tại. Từ ngày 22/8/1997, trường vinh dự được mang tên giáo sư, viện sĩ sử học của quê hương “Thiên Bản lục kỳ”- Trần Huy Liệu.

Được sinh ra từ cái nôi của mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng và hiếu học, suốt 20 năm qua trường luôn kiên trì, bền bỉ vươn lên để ngày một trưởng thành. Ban đầu, trường chỉ có 13 cán bộ giáo viên và 150 em học sinh thì đến nay trường đã có một tập thể sư phạm 50 cán bộ giáo viên, 16 lớp với hơn 600 học sinh cùng nhau đoàn kết, nỗ lực làm nên những trang vàng truyền thống của nhà trường. Từ những khó khăn về cơ sở vật chất thì đến nay trường đã được xây dựng khang trang, sạch đẹp. Trường gồm 45 phòng học hiện đại được trang bị đầy đủ các phương tiện giảng dạy như bảng, máy tính, máy chiếu. Các phòng bộ môn cũng được chú trọng đầu tư các mẫu vật thí nghiệm để học sinh có cơ hội quan sát và học tập hiệu quả hơn. Phía sau dãy nhà học sinh là sân cát khá rộng để học sinh có thể tham gia các hoạt động ngoại kháo đầy sôi nổi. Vì là ngôi trường chất lượng cao của huyện nên lượng học sinh từ xa về học rất đông. Trường cũng đã chú trọng, quan tâm đến các em, xây dựng nhà bếp và khu nhà ăn khang trang và hợp vệ sinh, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các em học tập. Các phòng nội trú rộng rãi, thoáng mát được quản lí nghiêm bởi thầy quản sinh.

Một học sinh cũ, nay đã là một cô giáo mới, về trực tiếp giảng dạy tại trường đã nhận xét rằng: ” Có thể khẳng định: đây là một môi trường lí tưởng để học sinh học tập tốt, rèn luyện tốt”. “Mái trường là mái ấm tình thương của chúng em, là cái nôi nuôi dưỡng nhân tài cho quê hương đất nước”. Đã từ lâu, Trường THCS Trần Huy Liệu được biết đến là cái nôi bồi dưỡng học sinh giỏi, với đội ngũ thầy, cô giáo tâm huyết và giàu kinh nghiệm, được các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân trong huyện tin tưởng. Tuy có tuổi đời rất trẻ song đã có bề dầy thành tích: hàng chục Bằng khen của UBND tỉnh, Công đoàn Giáo dục Việt Nam, Bộ trưởng bộ GD-ĐT, Thủ tướng Chính phủ, TƯ Đoàn TNCS HCM… Hàng năm: 98% đến 100% học sinh lớp 9 đỗ vào PTTH, có 28- 45 em đỗ vào các trường chuyên của Nam Định, Ninh Bình, Đại học Quốc Gia Hà Nội. Để đạt được kết quả trên, Ban giám hiệu Trường THCS Trần Huy Liệu đã có nhiều giải pháp để động viên, khích lệ phong trào dạy và học. Cùng với quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên có phẩm chất đạo đức, nhiệt tình, tâm huyết với sự nghiệp trồng người, Ban giám hiệu nhà trường còn đặc biệt quan tâm đến hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ giáo viên, như thực hiện nghiêm túc chế độ dự giờ, sinh hoạt chuyên môn; đồng thời, chú trong đổi mới phương pháp dạy học và thường xuyên kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm khơi dậy sự hứng thú, tinh thần chủ động sáng tạo trong học tập của học sinh. Ngoài ra, nhà trường còn phối hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh để thống nhất phương pháp giáo dục, cũng như công tác quản lý học sinh.

Nhiều thế hệ học sinh đã trưởng thành từ mái trường Trần Huy Liệu. Hàng năm, dịp 20/11, các em kéo về thăm trường -thăm “mái ấm”, “cái nôi xưa” với những tình cảm chân thành, với sự gắn bó thân thiết. Và các em về với cả sự quan tâm, chăm sóc: Hàng trăm xuất quà, học bổng được dành tặng cho các em học sinh nghèo vượt khó với những lời dặn dò của người anh, người chị đã động viên, khích lệ, giáo dục các em thật thiết thực.

Thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9 – Bài làm 3

“Ngôi trường” hai tiếng gần gũi giản dị, thiêng liêng, chứa đựng bao kỉ niệm gắn bó về một thời áo trắng, hồn nhiên thơ ngây. Ngôi trường như là ngôi nhà thứ hai của em.

Thật tự hào khi ngôi trường em mang tên một anh hùng dân tộc lịch sử. Trường THCS Chu Văn An được thành lập năm 1908 . Sau hòa bình lập lại, trường được tách riêng vào năm 1956. Từ năm đó đến nay, có những thời kỳ gián đoạn do chiến tranh phá hoại, do nhiệm vụ chính trị, xã hội của đất nước, trường ổn định từ năm 1964 đến nay.

Ngôi trường nằm trên con đường quốc lộ với nhiều phương tiện xe cộ đi lại. Hai bên cổng trường là cây cối um tùm, cành lá xum xuê nên những bạn học sinh khi đến trường có thể nghỉ ngơi, nghỉ giải lao dưới bóng mát mà không sợ nắng. Cổng trường được sơn màu xanh, với bảng hiệu ghi tên trường, luôn mở rộng chào đón các bạn học sinh, đưa các bạn trở về với thế giới của những tri thức. Hai bên cánh cổng còn được lát gạch đỏ trông rất sang trọng. Bước vào sân trường được đổ bê tông phẳng lì, cây cối to, cao che bóng má cho cả một khoảng trời trong sân trường. Vào mỗi giờ ra chơi, các bạn thường ra gốc cây tham gia những trò chơi, ngồi nghỉ giải lao, hóng mát sau những giờ học căng thẳng. Trên cành cây những chú chim ca hót líu lo tạo nên những bản nhạc không lời nghe thật vui tai. Ngôi trường với những dãy nhà cao to, khang trang, cao đẹp được sơn màu vàng. Mỗi khi có ánh nắng chiếu vào, ngôi trường càng trở nên lung linh, kì diệu hơn. Trường có rất cả 30 phòng học với những phòng học bộ môn như Vật lý, Hóa học,… với những máy móc, đồ thí nghiệm để học sinh được học tập khoa học. Các lớp học đều được lát nền đá hoa, mùa hè đi vào mát rượi. Mỗi phòng học rộng khoảng 40 mét vuông, được nhà trường trang bị đầy đủ những thiết bị cần thiết phục vụ cho việc dạy và học. Trong mỗi lớp học các bạn học sinh còn khéo léo trồng những cây xanh đem đến không khí trong lành, thoải mái, dễ chịu. Bên cạnh đó, nhà trường còn xây dựng nhà đa năng để học sinh tham gia những hoạt động thể dục thể thao, văn nghệ.

Được học tập dưới mái trường, chúng em luôn cảm nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô bạn bè. Đội ngũ giáo viên với chuyên môn cao, có kinh nghiệm cao trong nghề. Đặc biệt các giáo viên luôn tâm huyết với nghề, luôn yêu thương học sinh. Truyền thống ấy còn được viết lên bằng những cái tên ưu tú, những nhà giáo, những thế hệ học trò. Nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, giám đốc sở giáo dục đào tạo, vụ trưởng, phó giáo sư tiến sĩ…Học sinh có truyền thống chăm ngoan, học giỏi, luôn không ngừng tu dưỡng đạo đức. Ở đây ta bắt gặp những tình thầy trò thật đẹp. Chúng em luôn tôn trọng những thầy cô giáo, những người đã tiếp thêm cho chúng em sức mạnh và niềm tin, như những người lái đò chèo lái cho bao thế hệ học sinh sang sông một cách an toàn. Mai này bài giảng của thầy cô giúp chúng em trở thành những người có ích cho gia đình, xã hội. Ngoài ra, nhà trường còn tổ chức cho học sinh nhiều buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp như tiếng anh, hội chợ,… giúp học sinh phát triển năng lực toàn diện trở nên năng động hơn. Những hoạt động ngoại giờ của nhà trường giúp học sinh có thêm những phút giây thoải mái cũng như những kinh nghiệm thực tế quý báu. Trường có bề dày lịch sử cao về truyền thống học tập, với tỉ lệ đỗ vào các trường cấp ba đứng đầy Tỉnh, cùng với học sinh giỏi chiếm tỉ lệ cao.

Ngôi trường gắn bó biết bao nhiêu kỉ niệm, ngôi trường gắn bó biết bao kỉ niệm về tuổi học trò về thời áo trắng, chắp cánh cho biết bao thế hệ học sinh bay cao, bay xa. Dù có đi đâu xa thì ngôi trường vẫn luôn in đậm trong tâm trí bao thế hệ học sinh: ” Thời gian trôi qua nhanh chỉ còn lại những kỉ niệm”.

Thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9 – Bài làm 4

“Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Ngôi trường là mái nhà thứ hai, nơi lưu giữ bao kỉ niệm của thời áo trắng biết bao mơ mộng. Chính nơi này đã vun đắp nên tình thầy trò, tình bạn và cả những mối tình học trò hồn nhiên, trong sáng. Thời gian thật nhanh, chỉ còn một năm nữa tôi đã là học sinh cuối cấp, sắp phải tạm biệt mái trường này.

Thật tự hào khi được học tập trong một ngôi trường mang tên một vị trạng nguyên trẻ tuổi nhất lịch sử, trạng nguyên Nguyễn Hiền. Trường được thành lập từ năm 1971, chỉ vài năm nữa là kỉ niệm tròn 50 năm thành lập.

Ngôi trường nằm đồ sộ trên con đường râm mát, rợp bóng cây xanh. Vì vậy mỗi ngày đi bộ đến trường không còn là vất vả mà ngược lại tôi có cơ hội được tận hưởng cái không khí trong lành, dễ chịu. Từ ngoài bước vào là cánh cổng xanh thân thuộc, cánh cổng đã mở ra cho mỗi chúng tôi một thế giới thật diệu kì.Trường có khuôn viên rộng lớn gồm nhiều dãy phòng học, nhà đa năng và sân trường. Bước vào là sân trường rộng khoảng 300 mét vuông trồng đầy những cây phượng, cây bàng tán rộng. Trên sân trường, vào mỗi giờ ra chơi, những nhóm học sinh rủ nhau nhảy dây, đá cầu. Hiện ra trước mắt là khu nhà A gồm phòng làm việc của thầy cô ban giám hiệu, phòng giáo viên và cả phòng truyền thống. Trường tôi có bốn khối, mỗi khối năm lớp. Hai dãy B, C hai bên là 20 lớp học, ngoài ra còn có những phòng thực hành bộ môn. Các lớp khối 6,7 ở dãy B, còn các lớp khối 8,9 sẽ ở dãy nhà C. Mỗi phòng học rộng khoảng 40 mét vuông, được nhà trường trang bị đầy đủ những thiết bị cần thiết phục vụ cho việc dạy và học. Để giúp cho không khí trong lớp được trong lành, mát mẻ, các bạn học sinh còn tự tay thiết kế những chậu cây xanh nho nhỏ treo bên cửa sổ. Các phòng thực hành bộ môn như lý, hóa, sinh có đầy đủ các thiết bị cho thí nghiệm để học sinh có cơ hội được quan sát trực tiếp. Đằng sau trường là nhà đa năng để học sinh tập luyện những môn thể thao trong nhà. Trước nhà đa năng có sân cát rộng để đá bóng. Tại đây đã diễn ra bao trận đá bóng đẹp mắt và kịch tính.

Đội ngũ giáo viên của trường là những người luôn có ý thức tự giác và học hỏi, chuyên môn tốt. Đặc biệt ở các thầy cô là nhiệt huyết với nghề và tấm lòng yêu thương học sinh. Những giáo viên lớn tuổi có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm, còn những giáo viên trẻ có sự năng động, sáng tạo, luôn muốn làm mới mình. Học sinh có truyền thống chăm ngoan, học giỏi, luôn không ngừng tu dưỡng đạo đức. Ở đây ta bắt gặp những tình thầy trò thật đẹp. Trường còn thường xuyên tổ chức các buổi ngoại khóa để học sinh có thêm những kiến thức mà còn để thể hiện những tài năng của bản thân. Những buổi ngoại khóa tiếng Anh, trường còn mời cả những thầy cô giáo nước ngoài để học sinh có cơ hội được nói chuyện trực tiếp với người bản địa, nâng cao kĩ năng nghe và nói tiếng Anh. Trường còn tổ chức những buổi tìm hiểu về những ngày lễ lớn của dân tộc với mục đích giúp học sinh có kiến thức toàn diện hơn không chỉ là trong sách vở.

Trải qua gần năm mươi năm xây dưng và phát triển, ngôi trường có một bề dày thành tích thật vẻ vang và đáng tự hào. Trường luôn đứng đầu cả huyện về phần trăm học sinh đỗ vào các trường cấp ba, mà phần lớn là những ngôi trường chất lượng của tỉnh. Trường vinh dự được nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì. Đây là sự ghi nhận xứng đáng cho sự nỗ lực, cố gắng không ngừng của nhà trường. Từ mái trường này đã đào tạo nên biết bao những người tài giỏi, thành đạt cho đất nước.

Mỗi chúng ta, rồi đây sẽ khôn lớn, trưởng thành, sẽ rời xa mái trường nhưng kỉ niệm về một thời học sinh dưới mái trường này sẽ mãi là những hồi ức thật đẹp. Nơi đây đã chắp cánh cho biết bao những ước mơ thật đẹp được bay cao, bay ra.

Thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9 – Bài làm 5

Trường của em mang tên người chiến sĩ Cách mạng Trần Đăng Ninh. Đó là ngồi trường cấp Hai mà em đang theo học: ” Trường Trung Học Cơ Sở Trần Đăng Ninh”.

Trường em nằm trên đường Đông Mạc, phường Hạ Long thành phố Nam Định. Trường được ra đời năm 1950 với tên gọi là: “Trường THCS Nguyễn Khuyến” . Đến năm 1960 trường đổi tên thành: ” Trường THCS Trần Đăng Ninh” và mang nhiều trọng trách trong việc nuôi dạy thế hệ học sinh nên người.

Trước năm 2012 trường toạ lạc tại số 59 đường Nguyễn Du với khuôn viên trường nhỏ. Để phục vụ cho số lượng học sinh và học tập được tiện nghi, năm 2012 cùng với kỉ niệm 45 năm thành lập trường, ngôi trường được chuyển rời ra khu mới tại đường Đông Mạc, phường Hạ Long. Khuôn viên mới rộng lớn hơn rất nhiều. Ngôi trường khang trang hơn với 3 khu nhà học xây hình chữ U. Mỗi khu nhà đều có bốn tầng học. Dãy nhà A là các phòng cho cán bộ công nhân viên chức trong trường, có phòng chờ giáo viên, phòng hiệu trưởng, hiệu phó, thư viện,… Dãy nhà C là các phòng thi nghiệm thực hành cho các bạn học sinh. Và dãy giữa là bốn tầng học được phân chia theo từng khối. Khối 6 tầng một và tiến lên trên là các khối cao theo thứ tự.

Nơi tiếng cười của mỗi đứa học trò vang lên đầy thích thú với nhiều hoạt động bổ ích là ở sân trường, nơi được thả mình vào niềm vui của học trò. Sân trường được xây dựng khá rộng láng xi măng và lát gạch đỏ sạch sẽ, mùa mưa không sợ sân trơn. Khuôn viên trường trở nên trong lành hơn trong những ngày nắng hè, tươi mát hơn trong những ngày trời thu là nhờ cây xanh.Cây tùng cứng cáp, dẻo dai qua ngày tháng.Cây phượng đỏ rực hoa mùa hè đến. Và những cây cọ tầm thấp ở bồn cây hai bên sân trường khiến ngôi trường thê, xanh.

Trường được coi nhận là một trong những trường cấp Hai đứng đầu của Thành phố cũng như của Tỉnh. Hàng năm trường đào tạo nhiều lứa học sinh giỏi với nhiều giải thưởng cao trong mọi kì thi của thành phố, tỉnh và toàn quốc. Nhiều bạn được giải Nhất, Nhì hay Huy chương Vàng, bằng khen trong các kì thi Hùng biện, Olympic,IOE,… Trường cũng nhiều lần được chứng nhận là trường giỏi của Tỉnh và hai lần nhận Huy chương lao động của nhà nước. Nhiều giáo viên trong trường cũng được trao thưởng và vinh danh là giáo viên giỏi của Tỉnh. Đặc biệt, trường là nơi có đào tạo được nhiều tốp học sinh thi đỗ vào các trường công lập nhiều nhất thành phố đặc biệt số lượng đỗ vào trường chuyên của Tỉnh : Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong rất lớn. Gần 50 năm thành lập đến nay trường đã tạo nên một bề dày thành tích đầy tự hào.

Trường không chỉ có một bề dày thành tích ngưỡng mộ mà bên cạnh đó nhà trường luôn thường xuyên tổ chức những hoạt động ngoài giờ đầy bổ ích. Giờ ra chơi, nhà trường tổ chức những hoạt động thể thao mang tính tập thể giúp các bạn học sinh có thêm tinh thần sau những giờ học căng thẳng như: kéo co, nhảy bao bố tiếp sức,… Những ngày lễ kỉ niệm nhà trường phát động những cuộc thi văn nghệ chào mừng như 20-11, 8-3,… Từ năm 2012 năm nào, đến mùa xuân trường cũng tổ chức Hội chợ cho các bạn học sinh tự do sáng tạo những gian hàng của mình, giúp các bạn thêm gần gũi cũng như có những kinh nghiệm thực tế. Ngoài ra năm nào trường cũng tổ chức đêm Dạ hội ngoại ngữ dành cho các bạn khổi ngoại ngữ Anh, Nga , Pháp của trường thể hiện những tài năng của mình. Những hoạt động ngoại giờ của nhà trường giúp học sinh có thêm những phút giây thoải mái cũng như những kinh nghiệm thực tế quý báu.

Trường Trần Đăng Ninh của em đã và đang tiếp tục phấn đấu trong mọi công tác dạy và học, phấn đấu xây dựng giữ vững là trường tốp đầu của thành phố cũng như của tỉnh Nam Định. Và thế hệ học trò chúng em sẽ không ngừng nỗ lực học tập mang lại những thành tích vẻ vang cho trường.

Bài văn mẫu thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9

Ngôi trường em đang theo học là trường Trung học cơ sở Nguyễn Lương Bằng, ngôi trường thân yêu ấy đã gắn bó với em suốt bốn năm qua, xây đắp cho em những ước mơ tương lai, đầy hi vọng. Trong em, nơi đây nhiều ngôi nhà thứ hai của mình vậy, thật thân thương và đẹp đẽ.

Sân trường rộng với nhiều loại cây xanh như cây phượng, cây bằng lăng, cây bàng,… được trồng rộng khắp, toả bóng mát vào mùa hè, tạo bầu không khí trong lành. Dưới mỗi gốc cây có đặt các ghế đá cho mọi người ngồi hóng mát và thư giãn trong giờ ra chơi sau những giờ học tập mệt mỏi, đặc biệt là những ngày thời tiết oi bức. Nhiều loại hoa được trồng và chăm sóc chu đáo góp phần xây dựng trường học xanh – sạch – đẹp.

Trước đây, trường có hơn 1400 giáo viên và học sinh. Theo thời gian, số lượng cán bộ giáo viên và học sinh ngày càng tăng. Thầy cô cán bộ giáo viên trong nhà trường đều tâm huyết với nghề, có chất lượng giảng dạy và giáo dục cao, tận tụy với công việc, tất cả vì tương lai của học sinh, luôn ân cần, chỉ bảo cho chúng em từ những khó khăn trong cuộc sống đến những vướng mắc trong học tập. Luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Học sinh trường trung học cơ sở Nguyễn Lương Bằng có truyền thống hiếu học, tương thân thương ái, đoàn kết giúp đỡ nhau trong học tập, phấn đấu vươn lên vượt qua những khó khăn của nghịch cảnh, tham gia nhiều cuộc thi và gặt hái được các kết quả tốt. Nhiều sáng kiến kinh nghiệm khoa học đầy sáng tạo được vận dụng vào thực tiễn, văn hoá ứng xử của học sinh được thực hiện nghiêm túc góp phần xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.

Dù mới thành lập song trường đạt nhiều thành tích nổi bật, nhiều hoạt động xã hội, hoạt động ngoại khoá được tổ chức giúp chúng em có điều kiện để phát triển toàn diện, thư giãn sau những giờ học đầy căng thẳng, mệt mỏi. Nhiều hoạt động tham quan các danh lam thắng cảnh, viện bảo tàng góp phần giúp chúng em có thêm nhiều hiểu biết, thu thập được nhiều thông tin bổ ích. Nhân các ngày lễ lớn, nhiều hoạt động văn nghệ, ca hát, hội khỏe Phù Đổng giúp chúng em có điều kiện phát huy năng khiếu, thể hiện tài năng của mình. Đặc biệt, nhà trường tạo nhiều điều kiện để chúng em được tiếp xúc ngôn ngữ thứ hai trong trường học như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật vô cùng hiệu quả và đầy lí thú.

Ngôi trường Nguyễn Lương Bằng đầy xinh đẹp và tự hào của chúng em đang ngày một phát triển và sẽ chất lượng hơn nữa trong thời gian sắp tới. Chúng em, những học sinh dưới mái trường xanh đang ngày ngày miệt mài, cố gắng thật nhiều để mang lại những thành tích xuất sắc cho nhà trường.

Ngôi trường yêu dấu đã cùng em lớn lên và trưởng thành, sau này, dẫu có đi xa, em vẫn luôn mãi nhớ về mái trường cùng thầy cô bè bạn, nơi lưu giữ những kí ức tuyệt vời với những năm tháng chẳng thể nào quên của tuổi học trò. Thật cảm ơn thật nhiều công lao to lớn như biển cả của thầy cô, chẳng quản gian nan trong sự nghiệp trồng người chèo lái con thuyền đưa chúng em đến những bến bờ tri thức.

Thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9 – Bài làm 7

Ngôi trường của tôi với tên gọi của người anh hùng dân tộc Võ Thị Sáu. Trường thành lập năm 1998 đến nay đã có hàng chục năm phát triển, trường nằm khang trang tại một khu đất rộng, xung quanh là những bồn hoa xinh đẹp. Có rất nhiều những kỷ niệm gắn bó với ngôi trường mà tôi cắp sách đi học mỗi ngày.

Nhìn từ trường ra phía trước đó chính là khoảng trống rộng rãi, khu vực trung tâm nên có nhiều bóng mát, ghế đá được đặt rất nhiều. Đây là khu vực chính để chúng tôi vui đùa trong giờ giải lao với nhiều trò chơi như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông giúp thư giãn, giải trí để bước vào tiết học mới. Nhắc đến không gian của trường phải nói đến hàng cây bóng mát mà trường đã trong nhiều năm trước, nổi bật nhất là cây phượng, mỗi mùa hè nở rộ màu sắc rất đẹp, đây là thời gian mà chúng tôi phải tạm chia tay nhau trong lưu luyến.

Ngôi trường Võ Thị Sáu không lớn, không nhiều học sinh nhưng mỗi năm đều tham gia đầy đủ các hội thi về học tập cũng như thể thao đạt nhiều thành tích cao. Các thầy cô và học sinh đang nỗ lực hết sức để giúp trường Võ Thị Sáu nhận bằng đạt trường chuẩn quốc gia trong thời gian không xa.

Trường của tôi là như vậy đó, dù chỉ là một ngôi trường bình thường như hàng ngàn ngôi trường trong đất nước này nhưng với tôi nó có vị trí đặc biệt quan trọng và mỗi khi nhớ về đều là những kỷ niệm mãi không quên.

Thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9 – Bài làm 8

Dù đi đâu về đâu tôi vẫn nhớ về nhiều kỉ niệm học sinh dưới mái trường xưa, những kỉ niệm thân thương buồn vui lẫn lộn và không thể xóa nhòa trong kí ức của mỗi học trò. Ngôi trường trung học cơ sở Quang Trung một thời tôi đã gắn bó.

Ngôi trường thành lập từ năm 1990, với gần 30 năm dạy học, trường đã đào tạo hàng ngàn học sinh và nằm trong số các ngôi trường xuất sắc ở huyện. Trường nằm trên con đường lớn của xã, nhìn từ xa đã thấy ngôi trường nổi bật với tường vàng, mái ngói đỏ. Trường nằm ở một khuôn viên rộng, có khuôn viên, chỗ để xe và sinh hoạt ngoài trời. Sau cánh cổng trường ấy có biết bao nhiêu điều thú vị.

Sau cánh cổng trường đó là bác bảo vệ hiền lành, trách nhiệm đã làm việc ở trường hơn 10 năm. Mặc dù đã lớn tuổi nhưng bác vẫn cần cù và trách nhiệm. Bước vào trường hiện ra trước mắt gồm có ba dãy phòng, mỗi dãy có hai lầu. Dãy A thuộc về ban giám hiệu, thầy cô thuộc tổ chuyên môn, phòng truyền thống đội. Dãy B khu học của học sinh. Dãy C dành cho sinh hoạt hoặc tổ chức ngoại khóa. Kế bên dãy B là nơi diễn ra các buổi họp, gần bên là phòng thực hành của các môn như Hóa – Sinh. Từng phòng được thiết kế với bàn học, quạt và điện chiếu sáng. Trang thiết bị của trường đầy đủ.

Trong trường không thể thiếu thư viện, phòng thực hành tin học. Hai phòng này sát bên nhau phục vụ việc học tập, nghiên cứu của học sinh các khối lớp. Nơi để xe của thầy cô nằm ở góc trái của ngôi trường, khu để xe học sinh thì sau dãy B phòng học. Tất cả đều sắp xếp hợp lý, khoa học nhằm đảm bảo thời gian di chuyển ngắn nhất cho giáo viên và học sinh.

Phía trước trường có khoảng đất rộng đó chính là khuôn viên và dành cho các buổi chào cờ đầu tuần. Khuôn viên gồm có cột cờ và nhiều các loại hoa trang trí. Trong trường cũng có nhiều cây xanh lâu năm như cây bàng, cây phượng… tạo bóng mát và nơi vui đùa, nghỉ ngơi của học sinh trong giờ giải lao.

Phía sau trường còn có một khoảng đất rộng, đó là nơi tập luyện thể dục thể thao rèn luyện sức khỏe với các môn bóng đá, bóng chuyền, cầu lông. Nhiều cuộc thi về thể thao được tổ chức nhằm rèn luyện sức khỏe cho giáo viên và học sinh trong trường. Trường chúng tôi từng vinh dự đạt nhiều giải cao trong bóng đá ở huyện và tỉnh.

Trường trung học cơ sở Quang Trung sau thời gian dài phấn đấu vừa giành được danh hiệu trường chuẩn quốc gia. Học sinh và giáo viên trong trường ai cũng đều tự hào và phấn khích.

Ai cũng phải lớn lên và rời xa trường cũ nhưng những kỷ niệm gắn bó với ngôi trường chắc chắn sẽ không thể phai nhòa. Thầy cô, bạn bè của trường Quang Trung đã là một phần trong tuổi thơ tôi.

Thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9 – Bài làm 9

Dù bạn là ai, dù bạn ở nơi đâu, hay dù bạn đã đi xa nhưng kỉ niệm về một thời học sinh duới mái trường thân yêu- ngôi nhà thứ hai sẽ không phai nhạt trong kí ức của mỗi đứa học trò.Thật may mắn cho tôi đã được gắn bó với ngôi trường mang tên Trường trung học cơ sở thị trấn pliekần. Một thời cắp sách đến trường-đó là thời đẹp nhất, ngây thơ, trong sáng nhất với những kỉ niệm về thầy cô và bạn bè. được thành lập từ năm 2000.Trải qua chín năm hoạt động dạy học và học tập cố gắng của hơn tám tram học sinh và gần một trăm thầy cô giáo trường tôi đã xuất sắc là ngôi trường đứng đầu huyện.Nằm trên con đường hai bà trưng.Từ xa xa trên con đường đi học, có thể nhìn thấy trường tôi với tường vàng, mái ngói đỏ son. trường tôi nằm ở một khuôn viên rông, thoáng đãng. Từ ngoài bước vào là cánh cổng kéo dài chào đón chúc tôi mỗi ngày, mở ra cho chúng tôi một thế giới kì diệu. Ngày ngày bên cánh cổng thân yêu đó là hình dáng của bác bảo vệ hiền lành, cởi mở đã gắn bó với trường tôi từ khi thành lập đến nay. Hoạt động thường ngày ở cổng trường trong giờ hành chính là của các bạn đội cờ đỏ.Theo vào,hiện ra trước mắt là ba dãy phòng, mỗi dãy hai lầu. Dãy A là nơi làm việc của ban giám hiệu nhà trường, của các thầy cô ở từng tổ chuyên môn,phòng truyền thống đội.Trường tôi có hai mươi chín lớp.Dãy B khu học chính của hai mươi tư lớp. Thêm bên dãy C là ba phòng học của năm lớp còn lại ,được sắp xếp học chéo buổi sáng chiều. Kéo dài ở dãy B là phòng hội trường ở lầu trên-nơi diễn ra các buổi họp cũng như chuyên đề của nhà trường.Lầu dưới là phòng thực hành với đầy đủ các thiết bị thực hành của các tổ chuyên môn:Hoá-sinh, lý-công nghệ mới được đua vào hoạt động.Kéo dài ở dãy C là khu vực đang được xây dựng chuẩn bị được đưa vào hoạt động để làm phòng học cho các lớp bồi dưỡng và phụ đạo.Mỗi phòng học của từng lớp được xây dựng rỗng rãi với đầy đủ các thiết bị quạt và điện sáng.Thư viện,phòng đa chức năng và phòng thực hành tin học được sắp xếp cùng ở dãy C. Nơi để xe của các thầy cô giáo được xếp ở góc trái của ngôi trường, khu để xe của học sinh được sếp dài theo từng lớp ở sau dãy B phòng học. Nơi tiếng cười của mỗi đứa học trò chúng tôi vang lên là ở sân trường, nơi chúng tôi được thả mình vào niềm vui của học trò.Có thể là khu vực trung tâm của ngôi trường nên được xây dựng khá rộng láng xi măng.Cột cờ của trường tôi được đặt ở chính giữa trước dãy A-nơi mà mỗi sáng thứ hai chào cờ thầy trò chúng tôi cùng đánh giá nhận xét kết quả hoạt động trong tuần cũng như triển khai kế hoạch tuần tới.Khuôn viên trường trở nên trong lành hơn trong những ngày nắng hè, tươi mát hơn trong những ngày trời thu là nhờ cây xanh.Cây tùng cứg cáp, dẻo dai qua ngày tháng.Cây phượng như là minh chứng cho chúng tôi vè những kỉ niệm trong sáng, thân thwong của bao bạn bè.Và nhiều loại cây khác nhau được trồng trong khu vực cảu sân truờng nữa.Sau dãy B là nơi mỗi buổi chiều học tập xong, các bạn thi nhau thể hiện mình ở các cuộc chơi thể thao như bóng đá, bòng chuyền và cả cầu lông.Tiếng reo hò cỗ vũ làm tan cái mệt mỏi của bao học trò sau một ngày học cang thẳng. Với quy mô nhà trường khang trang và rộng lớn, thầy cô giáo nhiệt tình với công việc, thân thiện với học sinh.Dùi dắt mỗi học sinh nên người với cả tâm huyết trường tôi đã đạt đựoc rất nhiều thành tích đựoc huyện và tỉnh công nhận.Trường trung học cơ sở thị trấn pleikần là trường xuất sắc dẫn đầu huyện đang cố gắng, nỗ lực chuẩn bị cho việc nhận bằng đạt trường chuẩn quốc gia sau nhiều năm phấn đấu.Ai nấy đều rất phấn khởi và tự hào về chính ngôi trường mà mình đang lớn lên. Trường tôi là thế đó: rất khiêm nhường, thân thiện, thầy cô và bạn bè hoà đồng với nhau và cùng nhau cố gắng phấn đấu không gừng.Tôi yêu quý ngôi trường này biết bao.Tất cả những kỉ niệm dưới ngôi nhà thứ hai này sẽ mãi theo tôi trên suốt cuộc đời.

Trong cuộc đời học sinh, ai cũng có những niềm riêng để tự hào. Những ngôi trường nằm trong kí ức luôn là những cái tên không thể quên trong cuộc đời. Với tôi cái tên “Trường trung học phổ thông Thuận Thành số 1” là một cái tên để tự hào như thế.

Ngôi trường Trung học phổ thông Thuận Thành số 1 vẫn mãi còn đó với tương lai phát triển ngày càng rộng mở. Thầy và trò nhà trường luôn không ngừng thi đua, dạy và học tốt. Ngôi trường ngày càng khẳng định vị thế của mình trong danh sách, bảng xếp hạng trường chuẩn quốc gia, là niềm tự hào của người dân tỉnh Bắc Ninh.

Thu Thủy

Top 10 Những Bài Văn Mẫu Thuyết Minh Về Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9 Chọn Lọc

Thuyết minh về sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9 – Bài làm 1

Là con người nếu như muốn thành công thì ai cũng phải trải qua một quá trình học tập và rèn luyện từ những kiến thức cơ bản đến những kiến thức nâng cao hơn, từ những kiến thức đơn giản cho đến những kiến thức phức tạp. Đó là lý do vì sao chúng ta có tới 12 năm đèn sách trên ghế nhà trường. Mỗi một cấp học khối lượng kiến thức học sinh thu nạp vào lại tăng dần. Và nếu không qua lớp dưới thì không thể lên được lớp trên. Đối với những người học văn thì sách giáo khoa Ngữ Văn là một trong những quyển sách vô cùng quan trọng. Riêng với học sinh lớp 9 thì cuốn sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9 là một cuốn sách đặc biệt.

Cuốn sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9 có bìa in khá đơn giản nhưng không sơ sài. Cuốn sách này có khung hình chữ nhật, từng trang được in chữ đẹp đẽ, đóng gáy cứng cáp. Bìa cuốn sách có màu nền là màu hồng phấn, bên trên có ghi dòng chữ in hoa đậm màu đen: BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO. Ngay phía bên dưới là dòng chữ Ngữ văn màu đỏ nâu và số 9 khá to có màu trắng nằm ngay bên cạnh. Giữa bìa sách có cành giấc lá xanh um, những bông hoa vàng đang chúm chím nụ và còn có cả một quả gấc đỏ kéo cành rủ xuống. Ở phía dưới cùng của bìa sách là dòng chữ đen NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM. Bên cạnh đó còn có tem và logo của nhà xuất bản. Ở mặt sau của bìa sách giới thiệu những cuốn sách giáo khoa cùng bộ với cuốn sách Ngữ Văn lớp 9 này.

Nhờ có sách giáo khoa Ngữ Văn 9 mà học sinh tiếp nhận thêm được biết bao nhiêu nguồn tri thức mới, giúp cho cánh cửa tương lai được rộng mở hơn. Đây chính là nền tảng kiến thức cơ bản và quan trọng để học sinh có thể tiếp thu được những bài học sau này. Nhờ có sách giáo khoa mà khối lượng kiến thức đồ sộ được hệ thống lại giúp học sinh dễ học, dễ hiểu, dễ nhớ. Với mỗi người học văn cuốn sách giáo khoa trở thành cuốn cẩm nang không thể thiếu và là tài liệu ôn tập đầy đủ cho mọi kì thi. Nhờ có cuốn sách giáo khoa này mà các học sinh trở nên yêu thích môn học này hơn.

Với những lợi ích mà cuốn sách giáo khoa Ngữ Văn 9 mang lại chúng ta cần có một thái độ trân trọng với nó. Đầu tiên là bọc bìa sách cho gọn gàng, sạch sẽ. Trong quá trình sử dụng sách cần tránh để sách bị ướt, cong mép, rách,… Không vẽ bậy lên trang sách và tránh dây bẩn lên sách. Có thể dán nhãn vở lên bìa sách để tránh cho sách không bị thất lạc. Bên cạnh đó, cách để trân trọng cuốn sách và trân trọng những người làm ra cuốn sách này đó chính là học thật tốt môn Ngữ Văn.

Cầm cuốn sách Ngữ Văn 9 trên tay, chúng ta cần có sự nâng niu, gìn giữ. Học tập tốt kiến thức trong sách giáo khoa sẽ giúp cho học sinh vượt qua kì thi chuyển cấp quan trọng sắp tới.

Thuyết minh về sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9 – Bài làm 2

Học tập là một quá trình lâu dài mà phải đi từ cơ bản đến nâng cao, từ đơn giản đến phức tạp. Để phù hợp cho quá trình này, bộ sách giáo khoa do Bô giáo dục phát hành là bộ đầy đủ và rất quan trọng cho quá trình học ở tất cả các cấp bậc mà thiết yếu cho người học, đặc biệt là ở những môn học quan trọng và chính thức. Môn ngữ văn là một môn như vậy và quyển sách giáo khoa ngữ văn vô cùng quan trọng cho người học văn. Đối với lớp 9, ở cuối cấp chuẩn bị cho kì thi chuyển cấp thì kiến thức ở đây còn quan trọng bội phần.

Bìa của cuốn sách được in khá đơn giản nhưng không sơ sài. Cuốn sách giáo khoa ngữ văn 9 với khung hình chữ nhật, vừa vặn, gáp sách thẳng, được đóng đẹp đẽ, cứng cáp. Nền cuốn sách có màu hồng phấn. Bên trên cùng của bìa ghi dòng chữ in hoa đậm màu đen: “BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO”, xuống bên dưới một chút là dòng chữ màu đỏ nâu: “Ngữ văn” và số 9 màu trắng to ngay bên cạnh. Ở ngay giữa bìa là một cành lá xanh, nhú ra những chùm hoa vàng chum chím nụ và một quả gấc đỏ nậng trĩu kéo cành rủ xuống. Bên dưới cùng bìa sách là lô gô và dòng chữ đen: “NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM”. Bìa sau cuốn sách in tên những cuốn sách giáo khoa cùng một bộ với hai hàng chữ màu đen.

Cuốn sách như một ngọn đèn hải đăng soi sáng những cánh cửa dẫn đến tương lai của bao thế hệ học trò. Là nền tảng kiến thức cơ bản vô cùng quan trọng và chung nhất của toàn bộ học sinh trong một chương trình. Có được cuốn sách, việc học tập và ôn luyện như có hệ thống sẵn sàng từ lâu, rút ngắn được rất nhiều thời gian tự mày mò tìm kiếm. Cuốn sách đã trở thành cuốn cẩm nang không thể thiếu trong cặp mỗi học sinh học văn và là tài liệu ôn tập đầy đủ và tin cậy cho mọi kì thi cam go nhất. Đặc biệt, cuốn sách còn khiến cho rất nhiều học sinh trở nên yêu thích môn văn hơn và việc học môn văn trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết.

Sách giáo khoa lớp 9 đem lại cho chúng ta không ít lợi ích, chính vì vậy, ta cần thể hiện thái độ trận trọng đối với nó. Chúng ta cần bọc quyển sách gọn gàng sạch sẽ, khi dùng sách tránh để bị ướt, cong mép. Không vẽ bậy lên trang sách, không để sách bị rách, bị vẩy mực. Nên dán nhãn vở và ghi tên cẩn thận để đảm bảo sách không bị thất lạc. Ngoài việc giữ gìn cho sách cẩn thận, thì học tốt môn ngữ văn cũng là một cách để thể hiện lòng biết ơn đối với người làm sách. Chúng ta cần học bài đầy đủ, nhớ những kiến thức trọng tâm cần thiết, chú ý gạch chân phần quan trọng để học tốt hơn.

Để tạo ra được một cuốn sách giáo khoa là công sức của rất nhiều người trong một thời gian dài và cuốn sách giáo khoa ngữ văn 9 là một cuốn sách tốt với lượng kiến thức đầy đủ và bổ ích rất hữu ích cho công việc học văn lớp 9 và ôn tập cho kì thi chuyển cấp quan trọng.

Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 nói riêng và sách giáo khoa nói chung là một đồ dùng không thể thiếu đối với mỗi học sinh và giáo viên. Bởi đây là phương tiện để giáo viên truyền đạt kiến thức và giúp học sinh thu nhận những kiến thức bổ ích đó. Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 bao gồm nhiều tác phẩm truyện và thơ đặc sắc, giúp học sinh có cái nhìn toàn vẹn hơn về nền văn học Việt Nam và nước ngoài.

Cuốn sách có hai tập, thuộc bản quyền của Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam – Bộ Giáo dục và Đào tạo, do nhiều giáo sư có tên tuổi biên soạn. Đó là ông Nguyễn Khắc Phi làm tổng chủ biên, Nguyễn Văn Long làm chủ biên phần Văn, Nguyễn Minh Thuyết làm chủ biên phần Tiếng Việt và thầy giáo Trần Đình Sử làm chủ biên phần Tập Làm Văn cùng một số giáo sư khác như Lê A, Diệp Quang Ban, Lê Quang Hưng, Lê Xuân Thại… Chịu trách nhiệm về phần xuất bản do Chủ tịch Hội đồng Thành viên Mạc Văn Thiện, Tổng Giám đốc chúng tôi Vũ Văn Hùng, phó Tổng Giám đốc kiêm Tổng biên tập TS. Phan Xuân Thành. Về phần biên tập có các tên tuổi như Kim Chung, Ngọc Khanh, Nguyễn Trí Sơn, Nguyễn Kim Toàn, Trần Tiểu Lâm… Tính đến năm 2024, sách đã tái bản lần thứ mười hai. Quyển sách có tất cả 212 không kể hai trang bìa.

Cuốn sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9 tuy không dày, không quá nhiều đơn vị kiến thức nhưng cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, cần thiết trong từng phân mục. Mỗi học sinh cần giữ gìn, bảo vệ, để ở nơi thoáng mát như trên giá sách để sách luôn mới, không bị nhàu nát.

Ngày nay có nhiều loại sách tham khảo ra đời để hỗ trợ cho chúng ta trong học tập. Nhưng cuốn sách Giáo khoa ngữ văn lớp 9 nói riêng và Sách giáo khoa nói chung luôn là tài liệu quan trọng nhất trên còn đường tiếp cận tri thức.

Thuyết minh về sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9 – Bài làm 4

Mỗi chúng ta khi cắp sách đến trường đều trang bị cho mình những đồ dùng học tập cần thiết nhất như cặp sách, bút chì, thước kẻ…Trong đó phải kể đến người bạn gần gũi và thân thiết nhất đó chính là những quyển sách giáo khoa trong đó em ấn tượng nhất là quyển Ngữ Văn 9.

Sách như ngọn đèn bất diệt của trí tuệ con người. Bởi sách cung cấp cho chúng ta biết bao nhiêu tri thức. Là nền tảng kiến thức cơ bản vô cùng quan trọng và chung nhất của toàn bộ học sinh trong một chương trình. Riêng cuốn sách Ngữ Văn 9 giúp ta tiếp cận, tìm hiểu, thấy được giá trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm nổi tiếng trong nước và nước ngoài. Các tác phẩm trong chương trình giúp ta biết được tinh thần bất khuất kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ của dân tộc ta, đồng cảm với số phận của người phụ nữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Những kiến thức về Tiếng Việt thì giúp chúng ta trau dồi khả năng sử dụng ngôn từ giúp nâng hiệu quả giao tiếp hằng ngày. Đặc biệt, cuốn sách còn khiến cho rất nhiều học sinh trở nên yêu thích môn văn hơn và việc học môn văn trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Sách có vai trò to lớn như thế nên chúng ta cần có cách bảo quản hợp lí. Khi học nên nhẹ nhàng dở từng trang sách tránh để sách bị rách, bị quăn mép, không được vẽ bậy, tô màu nên hình vẽ trong sách. Khi không học thì cất gọn gàng trên giá nên dùng tranh hoặc bìa cứng bọc sách có dán nhãn vở ghi tên đầy đủ.

Học văn chính là học cách làm người chính vì vậy mỗi chúng ta cần có niềm đam mê, yêu thích môn văn. Và quyển sách giáo khoa Ngữ Văn 9 chính là những mắt xích liên kết cung cấp tri thức giúp chúng ta chuyển cấp dễ dàng hơn.

Bài văn mẫu Thuyết minh về sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9

Trên chặng đường học tập, ngữ văn là môn học không thể thiếu đối với chúng ta. Nó giúp ta phát triển khả năng đọc viết, giao tiếp một cách toàn diện. Và một phần không thể thiếu khi học ngữ văn chính là SGK. Nội dung chương trình trong sách giáo khoa các lớp như một mắt xích, mỗi năm gắn kết chặt chẽ với nhau, và SGK lớp 9 tập một là phần rất quan trọng trong quá trình học ngữ văn.

– Miêu tả khái quát về Quyển SGK Ngữ văn 9 Tập 1

SGK Ngữ văn 9 tập 1 do nhà xuất bản giáo dục phát hành dưới sự cho phép của bộ giáo dục và đào tạo. Cầm cuốn sách trên tay, ta có thể thấy nổi bật dòng chữ ngữ văn 9 tập 1 trên nền màu hồng nhạt. Phía góc trên của cuốn sách là dòng chữ màu đen: Bộ giáo dục và đào tạo…

– Nội dung cơ bản của cuốn SGK

SGK lớp 9 tập 1 đem lại cho chúng ta không ít lợi ích, chính vì vậy, ta cần thể hiện thái độ trận trọng đối với nó. Chúng ta cần bọc quyển sách gọn gàng sạch sẽ, không vẽ bậy lên trang sách. Ngoài việc giữ gìn cho sách cẩn thận, thì học tốt môn ngữ văn cũng là một cách để thể hiện lòng biết ơn đối với người làm sách. Chúng ta cần học bài đầy đủ, nhớ những kiến thức trọng tâm cần thiết, chú ý gạch chân phần quan trọng để học tốt hơn…

Cuốn sách SGK lớp 8 tập 1 là tài sản của tri thức nhân loại, thấm đượm mồ hôi công sống của biết bao vị giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo cho nhưng học sinh học tập nên người. Cuốn sách như một ngọn đèn hải đăng soi sáng những cánh cửa dẫn đến tương lai của bao thế hệ học trò.

Thu Thủy

Top 10 Bài Văn Mẫu Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá Việt Nam Lớp 9 Chọn Lọc

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam – Bài làm 1

Nhắc đến Việt Nam, có lẽ mỗi người sẽ có những điều ấn tượng khác nhau nhưng khi nhắc đến chiếc nón lá thì chắc chắn tất cả đều nghĩ ngay đến hình ảnh người con gái Việt Nam hiền hậu. Nón lá chính là một nét đẹp cổ truyền, là vật dụng không thể thiếu đối với người phụ nữ Việt.

Không thể khẳng định được chính xác chiếc nón lá được ra đời từ khi nào. Chỉ biết rằng từ thời xa xưa, hình ảnh nón lá đã đi vào trong thơ ca cổ với những câu thơ như:

Dáng tròn vành vạnh vốn không hư Che chở bao la khắp bốn bờ

Thông qua một số tài liệu cho thấy nón lá có mặt ở nước ta vào thế kỉ thứ XIII đời nhà Trần, cách đây khoảng 3000 năm. Tuy nhiên, thông tin này không có căn cứ chính xác bởi mỗi tài liệu lại có một ghi chép khác nhau. Nhưng nhìn chung, tổng hợp lại từ nhiều tài liệu thì chúng ta có thể khẳng định một điều rằng nón lá đã có ở Việt Nam từ rất lâu đời.

Việt Nam ta có rất nhiều loại nón khác nhau vậy nên người Việt dùng chính tên nguyên liệu làm ra nón để đặt tên cho nón chẳng hạn như nón lá, nón rơm, nón dừa, nón đệm,… Như vậy là với tên gọi nón lá, chúng ta có thể hiểu rằng lá chính là nguyên liệu chính làm nên những chiếc nón này. Và đó là một nguyên liệu quen thuộc, gần gũi với người Việt Nam.

Những chiếc nón lá có dạng hình chóp, vành rộng, tròn, phẳng như cái mâm. Phần vành ngoài của chiếc nón lá có đường viền quanh giúp cho chiếc nón lá trông có hình dáng giống như cái chiêng. Ở giữa lòng của chiếc nón lá còn đính một vòng nhỏ đan bằng giang vừa đủ ôm khít đầu của người đội. Cùng là nón lá nhưng cũng có nhiều loại với nhiều kích thước khác nhau. Chẳng hạn như chiếc nón ba tầm là chiếc nón có vành rộng nhất. Chiếc nón đấu lại là chiếc nón nhỏ nhất và dĩ nhiên là đường viền thành vòng quanh của nó cũng là thấp nhất. Rồi thì chiếc nón Nghệ, chúng rộng trên 80cm và sâu 10cm.

Mặc dù nguyên liệu làm ra nón lá giản đơn, dễ kiếm nhưng để làm ra một chiếc nón lá cần nhiều vật dụng hơn và cũng mất rất nhiều thời gian và công sức. Nó đòi hỏi người làm phải có kĩ thuật, tay nghề thì mới có thể làm ra những chiếc nón lá đẹp. Những vật dụng để tạo nên một chiếc nón lá là lá, chỉ, khung nón,… Lá để làm nên nón thường là lá kè, có sứa nhỏ, mọc ở những vùng đồi núi hoặc có thể dùng lá cọ, rơm, tre, lá hồ, lá cối. Trong khi đó sợi chỉ dùng để khâu nón không phải sợi chỉ chúng ta dùng để khâu quần áo mà là sợi dây rất dai lấy từ bẹ cây móc. Thường thì những chiếc nón có thêm một cái dây đeo giúp giữ nón được chắc chắn ở trên đầu. Có loại nón có đây đeo bằng vải, có loại dùng vải voan, vải nhung. Phần khung nón thì thường được làm bằng loại tre cật Tây Ninh. Khung và bộ vành với 16 chiếc vòng lớn nhỏ được chuốt nhỏ nhắn, tròn và khéo. Những chiếc lá muốn dùng để đan nón phải được mang đi là bằng cách dùng một miếng sắt được đốt nóng, đặt lá lên dùng nắm giẻ vuốt cho thẳng. Trong khi là phải chú ý đến nhiệt độ, không được để nóng quá cũng không được để nguội quá. Lá sau khi là xong thì xếp lên khung và khâu lại cẩn thận, tỉ mỉ. Để làm ra một chiếc nón lá không đơn giản và phải đòi hỏi một thời gian khá dài cũng như yêu cầu cẩn thận trong từng công đoạn. Đến cuối cùng sau khi đã hoàn thành chiếc nón lá, người thợ phải quét lên bề mặt của nón một lớp dầu bóng để nón không bị mốc. Trước đây những chiếc nón lá thường chỉ được làm đơn sơ như vậy nhưng giờ đây, người thợ còn khéo léo thêu thêm những họa tiết đẹp mắt.

Nón lá có nhiều loại, có thể kể đến như nón quai thao, nón Huế, nón Ba Đồn,… Mỗi loại nón có một nét đẹp riêng đặc trưng cho từng vùng miền của đất nước. Sự xuất hiện của chiếc nón lá đã giúp người dân Việt Nam che mưa, che nắng. Hiện nay, nón lá không còn được sử dụng nhiều như trước nhưng ở nông thôn và đặc biệt là ở Huế, hình ảnh nón lá vẫn vô cùng quen thuộc. Đi Huế du lịch, người ta thường mua nón về làm quà, chẳng thế mà có câu thơ:

Ai ra xứ Huế mộng mơ Mua về chiếc nón bài thơ làm quà.

Du khách nước ngoài sang Việt Nam cũng rất thích đội nón lá lên đầu. Có thể thấy cuộc sống dù hiện đại đến đâu, có bao nhiêu vật dụng thay thế chiếc nón lá, tốt hơn chiếc nón lá đi chăng nữa thì nón lá vẫn không thể thiếu trong đời sống người Việt.

Nghĩ đến Việt Nam, mọi người sẽ nghĩ đến những nét đẹp văn hoá khác nhau. Nón lá Việt Nam là một trong những nét đẹp cổ truyền, biểu tượng cho văn hoá của người dân Việt Nam.

Về lịch sử nguồn gốc của nón lá có lẽ khó có thể chắc chắn được nón lá ra đời vào thời kì nào. Bởi từ xa xưa trong những câu thơ dân gian hình ảnh nón lá đã xuất hiện:

“Dáng tròn vành vạnh vốn không hư, Che chở bao la khắp bốn bờ…”

(Thơ cổ )

Cũng có nhiều tài liệu ghi chép, nón lá xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỉ thứ XIII đời nhà Trần, cách đây khoảng 3000 năm. Nhưng theo nhiều thống kê lại có những ghi chép khác. Như vậy có thể khẳng định, nón lá có mặt ở Việt Nam từ rất lâu đời.

Theo thông thường, chiếc nón khi ra đời sẽ được đạt tên theo vật liệu tạo ra nó. Như nón lá, nón rơm, nón đệm, nón dừa,… Chất liệu làm nên chiếc nón lá rất phong phú nhưng lại rất gần gũi với người dân Việt Nam.

Nón lá có dáng hình chóp, vành rộng, tròn, phẳng như cái mâm. Ở vành ngoài cùng có đường viền quanh làm cho nón có hình dáng giống như cái chiêng. Giữa lòng có đính một vòng nhỏ đan bằng giang vừa đủ ôm khít đầu người đội. Mỗi loại nón lại có kích thước rộng tròn khác nhau. Nón ba tầm có vành rộng nhất. Nón đấu là loại nhỏ nhất và đường viền thành vòng quang cũng thấp nhất. Hay nón Nghệ, rộng trên 80 cm, sâu 10 cm.

Để tạo nên được một chiếc nón hoàn hảo cần rất nhiều vật dụng cũng như công sức và thời gian. Vật dụng làm nón gồm: lá, chỉ, khung nón,… Lá thì lấy từ hai loại cây giống như lá kè, có sứa nhỏ, mọc ở những vùng đồi núi hoặc có thể dùng lá cọ, rơm, tre, lá cối, lá hồ. Sợi chỉ dùng để khâu nón là sợi dây rất dai lấy từ bẹ cây móc. Mỗi chiếc nón có hoặc không có dây đeo làm bằng vài mềm hoặc nhung, lụa để giữ trên cổ. Khung nón làm bằng tre, loại tre cật Tây Ninh, khung hình chóp. Khung và bộ vành vơi 16 chiếc vòng lớn nhỏ được chuốt nhỏ nhắn, tròn và khéo, cân xứng nghệ thuật và nhẹ nhàng. Sau khi chọn được vật liệu tốt, người thợ phải mang tàu lá nón đi là bằng cách dùng một miếng sắt được đốt nóng, đặt lá lên dùng nắm giẻ vuốt cho thẳng. Lửa phải vừa độ, không nóng quá, không nguội quá. Tiếp đó, xếp lá nón lên khung và khâu lại cẩn thận, tỉ mỉ. Thời gian làm nên chiếc lá rất lâu vì phải cẩn thận từng khâu. Hoàn thành xong chiếc lá, người thợ sẽ quét lên đó một lớp dầu bóng để chiếc nón không bị mốc và bền lâu. Người thợ sau khi làm xong thường sẽ trang trí lên nón những bài thơ hoặc những hình vẽ thêu chỉ đẹp mắt.

Nón lá đi vào đời sống nhân dân ta lâu đời bởi vậy được phân chia thành nhiều loại. Nổi tiếng trong đó phải kể đến nón quai thao, nón Huế, nón Ba Đồn,… Mỗi loại mang một vẻ đẹp của vùng miền trên đất nước Việt Nam.

Từ khi có mặt, nón lá đã gắn liền với con người đất Việt bao thế kỉ qua. Chiếc nón theo chân người nông dân ra đồng, giúp những bác nông che nắng, che mưa. Chiếc nón theo tay những nghệ sĩ đi vào thơ ca:

“Ai ra xứ Huế mộng mơ Mua về chiếc nón bài thơ làm quà”

Chiếc nón còn gắn liền với những người dân lao động, trở thành chiếc mũ đội đầu giản dị. Hơn thế, tà áo dài của người phụ nữ Việt cùng chiếc nón đã trở thành nét đẹp văn hoá vô cùng tự hào của con người đất Việt.

Xã hội dù có thay đổi. Cuộc sống có ngày một phát triển. Những nền văn hoá có thể giao thoa nhưng chiếc nón lá không bao giờ mất đi. Nó đã là một biểu tượng của cuộc sống, văn hoá và con người Việt Nam.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam – Bài làm 3

“Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”

Chiếc nón lá mộc mạc, giản dị, đơn sơ là một người bạn gần gũi trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân Việt Nam. Nón lá từ lâu đã là một nét đẹp truyền thống, trở thành biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam, đi vào nhiều bài ca dao và thơ ca, nhạc họa.

Chiếc nón lá có lịch sử rất lâu đời, gắn với quá trình phát triển của dân tộc. Hình ảnh của nón lá đã xuất hiện trên trống đồng Ngọc Lũ và thạp đồng Đào Thịch từ khoảng 2500-3000 năm TCN. Người Việt cổ từ xưa đã biết lấy lá buộc lại làm vật che mưa, che nắng. Nón từ xưa đã được sử dụng rất rộng rãi và phổ biến.

Đi khắp đất nước Việt Nam xinh đẹp, đâu đầu ta cũng có thể bắt gặp hình ảnh chiếc nón. Chiếc nón nhìn đơn giản là thế nhưng để tạo ra một chiếc nón đẹp đòi hỏi bàn tay công phu, khéo léo của người làm. Làm nón phải tỉ mỉ từ khâu đầu tiên là chọn lá, phơi lá. Nón lá thường được làm từ lá cọ. Lá không được quá non cũng như quá già. Trước khi đưa vào làm nón, lá phải được phơi nắng cho thật khô, thật mềm và giữ được lâu. Sau đó lá sẽ được mang đi sấy trắng. Những chiếc lá trắng nhất được dùng để làm những chiếc nón tinh xảo nhất, giá bán thường cao hơn những chiếc khác. Ngoài lá nón, vành nón cũng là bộ phận hết sức quan trọng của chiếc nón. Vành nón chính là xương sống của nón. Vành nón được làm từ những thanh lứa khô và dẻo. Dưới bàn tay khéo léo của con người, những thanh lứa ấy được vót thật tròn và mịn. Sau đó được uốn thành những vòng tròn có đường kính to, nhỏ khác nhau. Các vành nón được xếp lên khuôn nón. Một chiếc nón có 16 vòng tất cả, vòng to nhất có đường kính khoảng 50cm, những vòng tiếp theo càng lên đỉnh càng nhỏ dần, vòng nhỏ nhất chỉ bằng đồng xu. Vành nón phải đều tăm tắp, không được méo mó, xộc xệch thì mới tạo ra được những chiếc nón đẹp. Sau công đoạn xếp vành lên khuôn là công đoạn xếp lá. Người thợ thủ công lấy từng chiếc lá, làm cho phẳng rồi xếp ngay ngắn lên khung nón. Mỗi chiếc nón gồm có 2 lớp lá, có một lớp mo lang ở giữa. Sau khi đã có một bộ khung hoàn hảo, cuối cùng là bước khâu nón bằng kim và cước mỏng như sợi chỉ. Những đường kim mũi chỉ lên xuống nhịp nhàng sẽ gắn chặt lá nón và vành lại với nhau. Công đoạn này đỏi hỏi người làm phải thật tỉ mỉ để khâu nón cho đẹp cũng như không bị mũi kim đâm vào tay. Chiếc nón hoàn thành xong được quét một lớp dầu bóng để thêm bền và tăng tính thẩm mĩ. Quai nón được buộc đối xứng ở hai bên. Quai nón thường làm từ nhung, lụa hay chỉ với những màu sắc: cam, đỏ, hồng, tím…

Nón đã trở thành môt người bạn hết sức gần gũi hằng ngày. Nón không chỉ che nắng, che mưa mà còn giúp xua đi cái nắng hè oi bức. Nón là vật bất li thân với các bà, các chị. Nón theo người nông dân ra đồng. Những cô thiếu nữ mặc áo dài trắng đội nón lá bước đi trên phố làm bao ánh mắt phải ngước nhìn chính là vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Nón còn có ý nghĩa đặc biệt trong đời sống tinh thần của người dân Việt. Nón đi vào những câu ca dao, điệu hò, nón trở thành đạo cụ để biểu diễn nghệ thuật. Những màn múa nón duyên dáng trên sân khấu luôn khiến người xem không thể rời mắt. Trong những đám cưới truyền thống, nón là vật mà mẹ chồng trao cho con dâu, luôn chứa đựng biết bao tình cảm.

Nón cũng có nhiều loại. Có thể kể đến nón ngựa hay nón Gò Găng ở Bình Định, nón quai thao gắn với những câu hò của liền anh, liền chị trong ngày hội, nón bài thơ nổi tiếng của Huế là loại nón trắng và mỏng, có in một vài câu thơ trên nón, nón thúng tròn bầu giống cái thúng, ta vẫn hay gọi là “nón thúng quai thao”. Tuy nhiên, thông dụng hơn cả vẫn là nón hình chóp. Giá một chiếc nón trên thị trường hiện nay khoảng từ vài chục đến vài trăm nghìn đồng.

Trải qua bao năm tháng, ở nước ta hiện nay vẫn còn một số làng nghề làm nón nổi tiếng như: làng Chuông (Hà Tây), làng Đồng Di (Phú Vang), Dạ Lê (Hương Thủy), đặc biệt là làng nón Phủ Cam (Huế). Những làng nghề này ngoài sản xuất ra những chiếc nón công phu còn là nơi thu hút khách du lịch đến thăm và trải nghiệm thử những công đoạn làm nón.

Từ lâu, nón đã không chỉ là một người bạn gần gũi mà còn trở thành một nét đẹp trong văn hóa của người Việt Nam. Nhìn thấy hình ảnh chiếc nón lá, ta như thấy cả tâm hồn của người Việt, những con người chất phác, hiền lành, đôn hậu:

“Ôi nón bài thơ của xứ nhà Có bàn tay nhỏ nở như hoa Có thành phố cổ giàu mưa nắng Bóng nón đi về thêm thiết tha”

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam – Bài làm 4

Cùng với tà áo dài thướt tha, duyên dáng thì chiếc nón lá cũng đã trở thành trang phục truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Chiếc nón lá đơn sơ, mộc mạc đã góp phần làm tôn thêm vẻ đẹp hiền dịu, thang khiết của những người phụ nữ Việt Nam đậm chất Á Đông. Chiếc nón lá gắn liền với lịch sử dân tộc, cùng với hình ảnh tươi đẹp đôn hậu của dân tộc vươn ra đến tận năm châu.

Chiếc nón lá đầu tiên được in trên họa tiết của trống đồng, hay những mái đình mái chùa cổ kính. Chiếc nón lá trên những tượng hay chạm khắc đấy từ ngàn đời nay đã đi cùng năm tháng và gắn bó với những nét đẹp của văn hóa dân tộc, để cùng với tà áo dài làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam.

Chiếc nón lá có hình chóp, phần dưới to và tròn còn phần trên nhọn dần lên. Chiếc nón lá được làm bằng lá cọ, người dân phải đi lấy rồi sau đó quét lên một lớp dầu cho bóng và bền lớp vỏ nón. Xung quanh chiếc nón được quấn bởi các vòng tre nhỏ, được tuốt kĩ càng, trau chuốt để cố định hình dạng cho chiếc nón. Bên trong nón ở hai bên có quai nón được thêu bằng những đường chỉ đỏ để buộc dây nón. Ngoài ra để làm cho chiếc nón thêm đẹp, sáng tạo và màu sắc thì người thợ làm nón có thể in lên đó hình ảnh những bông hoa hồng, hoa sen, hay những cô gái Việt Nam thướt tha trong ta áo dài truyền thống. Chiếc nón lá đơn sơ bình dị như vẻ đẹp tâm hồn mộc mạc của người phụ nữ Việt Nam. Chiếc nón lá có rất nhiều kiểu dáng và mẫu mã khác nhau, có nón bài thơ, nón quai thao, nón lá…Trải qua quá trình phát triển của dân tộc thì những mẫu mã, thiết kế tinh sảo, sáng tạo của chiếc nón càng được tăng thêm. Tuy nhiên vẫn phải tuân theo những quy định làm nón truyền thống. Có lẽ với mỗi người dân Việt Nam thì hình ảnh chiếc nón lá truyền thống đã in đậm vào tâm trí chúng ta, chưa bao giờ mất đi, hơn nữa chiếc nón lá cũng sống dậy cái hồn thiêng một thuở để rồi bất tử cùng thơ ca, nhạc họa.

Nón có rất nhiều loại, nón quai thao, nón bài thơ, nón lá…mỗi loại mang những hình dáng nhất định, cấu tạo khác nhau nhưng đều rất công phu và kĩ lượng. Chiếc nón lá từ xưa đã gắn với hình ảnh những người nông dân dãi nắng dầm sương nhờ nó để che nắng, che mưa. Ngoài ra chiếc nón lá cũng được dùng để trang trí gợi nên một không gian cổ xưa, những nét cổ truyền trong nhịp sống dân tộc. Chiếc nón lá cùng với tà áo dài đã trở thành biểu tượng của người dân đất Việt. Có lẽ với du khách nước ngoài thì hình ảnh chiếc nón lá đã rất quen thuộc, nó là món đồ lưu niệm ý nghĩa, thiêng liêng để họ giành tặng cho người thân của mình. Như vậy chiếc nón lá đơn sơ, mộc mạc rất đúng với nét đẹp mộc mạc, bình dị của người dân Việt Nam sau lũy tre làng. Mang trên mình những nét đẹp truyền thống, cổ điển rất Việt Nam, rất Á Đông chiếc nón lá chưa bao giờ và không bao giờ mất đi trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc.

Để giữ cho chiếc nón bền và đẹp thì khi sử dụng chúng ta cần lưu ý một số điều sau. Không được dùng nón để quạt, để ngồi như vậy sẽ làm mép nón bị méo, bị gãy. Hơn nữa chiếc nón là một vật dụng thân thiết và gần gũi như vẻ đẹp mộc mạc của người dân Việt Nam nên chúng ta không nên dùng nó để kê hay ngồi như vậy chẳng phải đã làm mất đi vẻ đẹp quý báu của truyền thống dân tộc hay sao.

Cùng với sự phát triển đất nước, có rất nhiều những loại vật dụng hiện đại, tiện ích khác như ô, mũ..để giúp con người che nắng che mưa nhưng chiếc nón lá vẫn là một đồ vật không thể thiếu trong đời sống tâm hồn người Việt. Nó chưa đựng những gì thiêng liêng, cao quý của tâm hồn người Việt, lỗi sống người Việt chứ không chỉ là những giá trị sử dụng khác.

Chiếc nón lá bình dị, đơn sơ đã trở thành nét đẹp duyên dáng, âu yếm trong lòng người Việt Nam ta xưa và nay vẫn vậy. Không bao giờ, để cho những sự xâm lăng về văn hóa xâm chiếm đi những gì bất di bất dịch của hồn người một thưở. Chiếc nón lá như người bạn luôn gắn bó với người nông dân Việt không quản nắng mưa, những màu phai của nón cũng giống như những tần tảo sớm hôm của cuộc đời con người Việt Nam.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam – Bài làm 5

Nón lá là hình ảnh bình dị, thân quen gắn liền với tà áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Từ xưa đến nay, nhắc đến Việt Nam du khách nước ngoài vẫn thường trầm trồ khen ngơị hình ảnh chiếc nón lá – tượng trưng cho sự thanh tao của người phụ nữ Việt. Nón lá đã đi vào ca dao, dân ca và làm nên văn hóa tinh thần lâu đời của Việt Nam.

Bạn có còn nhớ trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm, chiếc nón lá hiện lên rất tự nhiên, gần gũi:

Sao anh không về thăm quê em Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên Bàn tay xây lá, tay xuyên nón Mười sáu vành, mười sáu trăng lên

Như vậy mới thấy được rằng nón lá là biểu tượng cho sự dịu dàng, bình dị, thân thiện của người phụ nữ Việt từ ngàn đời nay.

Chiếc nón lá ra đời từ rất lâu, khoảng 2500-3000 năm TCN. Lịch sử hình thành và lưu giữ cho đến ngày nay đã chứng tỏ được sự bền vững của sản phẩm này. Chiếc nón lá hiện diện trong cuộc sống hằng ngày của người dân việt, đặc biệt là người phụ nữ; hiện diện trong những lời kể của bà, của mẹ và hiện diện trong các cuộc thi gìn giữ nét đẹp văn hóa.

Để làm được chiếc nón lá đẹp thì người làm cần phải tinh tế, tỉ mỉ từ khâu lựa chọn nguyên liệu, cách phơi lá, cách khâu từng đường kim mũi chỉ. Người ta vẫn bảo làm ra một chiếc nón lá cần cả một tấm lòng là vì vậy.

Nón lá có thể được làm từ lá dừa hoặc lá cọ. Mỗi loại lá lại mang đến sự khác nhau cho sản phẩm. Thường thì những sản phẩm nón làm từ lá dừa có nguồn gốc từ Nam Bộ, vì đây là nơi trồng dừa nhiều. Tuy nhiên làm từ lá dừa sẽ không đẹp và tinh tế như lá cọ. Lá cọ có độ mềm mại, chắc chắn hơn. Khi lựa chọn lá cũng phải chọn những chiếc lá có màu xanh, bóng bẩy, có nổi gân để tạo nên điểm nhấn cho sản phẩm. Quá trình phơi cho lá mềm để dễ làm cũng cần từ 2-4 tiếng, lá vừa mềm vừa phẳng.

Khâu làm vành nón là khâu vô cùng quan trọng để tạo khung chắc chắn cho sản phẩm. Người dùng cần phải lựa chọn nan tre có độ mềm và dẻo dai. Khi chuốt tre thì cần phải chuốt tỉ mỉ để đến khi nào có thể uốn cong mà không sợ gãy. Sau đó người dùng sẽ uốn theo những đường kính từ nhỏ đến lớn tạo thành khung cho nón lá sao cho tạo thành một hình chóp vừa vặn.

Khi đã tạo khung và chuẩn bị lá xong đến giai đoạn chằm nón. Đây là giai đoạn giữ cho khung và lá bám chặt vào nhau. Thường thì người làm sẽ chằm bằng sợi nilong mỏng nhưng có độ dai, màu trắng trong suốt.

Lúc chiếc nón đã được khâu xong thì người dùng bắt đầu quết dầu làm bóng và phơi khô để dầu bám chặt vào nón, tạo độ bền khi đi nắng mưa.

Đi dọc miền đất nước, không nơi nào chúng ta thấy sự hiện diện của chiếc nón lá. Nó là người bạn của những người phụ nữ khi trời nắng hoặc trời mưa. Không chỉ có công dụng che nắng, che mưa mà nón lá còn xuất hiện trong các tiết mục nghệ thuật, đi đến các nước bạn trên thế giới. Nét đẹp văn hóa của nón lá chính là nét đẹp cần được bảo tồn và gìn giữ. Nhắc đến nón lá, chắc chắn chúng ta sẽ nghĩ ngay đến tà áo dài Việt Nam, bởi rằng đây là hai thứ luôn đi liền với nhau, tạo nên nét đặc trung riêng của người phụ nữ Việt Nam từ ngàn đời nay.

Để giữ chiếc nón lá bền với thời gian thì người dùng cần phải khéo léo, bôi dầu thường xuyên để tránh làm hỏng hóc, sờn nón.

Chiếc nón lá Việt Nam là sản phẩm của người Việt, làm tôn thêm vẻ đẹp của người phụ nữ, và khẳng định sự tồn tại lâu đời của sản phẩm này.

Những bài văn mẫu thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam

Nhắc đến người con gái Việt Nam, người ta thường nghĩ ngay tới hình ảnh người con gái với áo dài và nón lá. Chiếc nón lá vừa là hình ảnh quen thuộc, gần gũi với người phụ nữ vừa là một biểu tượng văn hóa của một nét đẹp nghìn năm văn hiến.

Thật vậy, ở bất cứ đâu trên đất nước Việt Nam chúng ta đều rất dễ bắt gặp hình ảnh những chiếc nón lá mộc mạc, đơn sơ nhưng nó lại ẩn chứa một vẻ đẹp thuần hậu. Không chỉ đơn thuần là vật dụng che mưa che nắng của người phụ nữ chân quê, mà nó còn là món quà tinh thần ý nghĩa của Việt Nam. Bạn bè quốc tế đến thăm hay khách du lịch đến Việt Nam thì đều được tặng những chiếc nón lá như là một kỉ niệm đẹp và để tỏ lòng mến khách của người Việt.

Nón lá xuất hiện từ khoảng 2500-3000 TCN và được lưu truyền cho đến tận ngày nay. Đối với người phụ nữ Việt thì nón lá là một vật dụng quan trọng trong cuộc sống của họ. Trước hết, nón là dùng để che mưa che nắng. Các bà, các mẹ, các chị từ xa xưa đã đội nón lá đi làm đồng, đi chợ và cả đi chơi hội nữa. Ngày tiễn con gái về nhà chồng, bà mẹ cũng thường trao cho con chiếc nón lá với bao lời nhắn gửi yêu thương.

Không chỉ có tính sử dụng trong thực tế, chiếc nón lá còn hướng tới mục đích làm đẹp, làm duyên cho người phụ nữ Việt. Dưới vành nón lá trắng phau, đôi mắt đen láy, nụ cười chúm chím, lúm đồng tiền, những sợi tóc mai hay cái gáy trắng ngần của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng, e thẹn, vừa kín đáo lại vừa quyến rũ, mê đắm.

Từ trong đời sống thường ngày, chiếc nón lá còn đi vào thơ ca, nhạc họa, gợi nguồn cảm hứng cho nhạc, cho thơ. Đã có không ít những bài hát về chiếc nón lá: “Một chiều làng quê trên đường đê lối nhỏ đi về, nụ cười đưa duyên em thẹn thùng trong nón lá che nghiêng” hay “Một người con gái, đứng nghiêng nghiêng vành nón lá. Đường chiều bờ đê, lối xưa kỉ niệm thiết tha”…. Chiếc nón lá còn gợi nhớ dáng mẹ tảo tần trong thơ: “Quê hương là cầu tre nhỏ/Mẹ về nón lá nghiêng che”. Thế rồi, trong những năm tháng chiến tranh loạn lạc, lúc tiễn người yêu ra chiến trường, cô gái thường đội nón lá với quai tím thủy chung. Chỉ như vậy thôi cũng đã hơn mọi lời thề non, hẹn biển. Chỉ như vậy thôi cũng đã đủ làm yên lòng người ra trận.

Có thể thấy rằng, xuyên suốt từ bao đời nay, từ trong thực tế cho đến những làn điệu dân ca, những lời thơ, câu văn đều có bóng dáng hình ảnh chiếc nón lá gắn liền với người con gái Việt Nam dịu dàng, duyên dáng. Ngày nay, để tạo ra chiếc nón lá thì người thợ làm nón cần phải có đôi tay khéo léo, có cả tâm tình mới có thể tạo nên được những chiếc nón xinh xăn và thiết kế tỉ mỉ đến như vậy. Nón lá thường được đan bằng các loại lá cây khác nhau như lá cọ, rơm, tre, lá dừa, lá hồ, lá du quy diệp chuyên làm nón v.v. Mỗi một chiếc nón thường sẽ có quai đeo làm bằng vải mềm hoặc lụa. Những người thổi được hồn vào những chiếc nón, làm nên những chiếc nón đẹp tinh tế là những người thực sự có đôi bàn tay khéo léo và có tâm tình chan chứa.

Là một biểu tượng của người phụ nữ Việt, chiếc nón lá gắn liền với cả đời sống vật chất và tinh thần của chúng ta. Đi khắp miền đất nước, hình ảnh chiếc nón lá vẫn luôn là hình ảnh chúng ta dễ bắt gặp hơn cả. Đó vừa là nét đẹp bình dị, mộc mạc, duyên dáng của người phụ nữ Việt, vừa là một biểu tượng văn hóa của một đất nước trọng tình trọng nghĩa của nước Nam ta. Biểu tượng ấy đã góp phần làm nên một vẻ đẹp rất Việt Nam.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam – Bài làm 7

Chiếc nón lá Việt Nam là một công cụ che nắng, che mưa, làm quạt, khi còn để che giấu gương mặt, nụ cười hay tạo thêm nét duyên dáng cho người phụ nữ Việt Nam.

Vật liệu để làm nên cái nón là lá cọ, chỉ tơ, móc, tre làm khung. Nón lá có cấu tạo đơn giản nhưng cũng đòi hỏi một sự khéo léo của người thợ. Nón có hình chóp đều, thành được bao bọc bởi những chiếc vành uốn quanh thành nhiều lớp. Vành nón làm bằng tre, vót tròn như bộ khung nâng đỡ cái hình hài duyên dáng của nón. Ở phần đáy nón có một chiếc vành uốn quanh, cứng cáp hơn những chiếc vanh nón ở trên. Vanh nón, vành nón cứng hay giòn sẽ quyết định đến độ cứng cáp, bền lâu của chiếc nón.

Nhưng bộ phận quan trọng nhất của chiếc nón lại là hai lớp lá cọ – vật liệu chính để hình thành nên một chiếc nón. Lá cọ phải là lá non, phơi thật trắng. Lót giữa hai lớp lá cọ là lớp mo nang làm cốt, được phơi khô, lấy từ mo tre, mo nứa. Tất cả các vật liệu làm nên nón đều phải không thấm nước, dễ róc nước để chống chịu với những cơn mưa vùi dập, những ngày nắng oi ả thất thường.

Để tăng thêm nét duyên dáng, đồng thời giữ chặt nón vào đầu người đeo, người ta làm ra chiếc quai bằng lụa mềm gắn cùng hai chiếc nhôi đính vào mặt trong của chiếc nón. Nhôi nón được đan bằng những sợi chỉ tơ bền, đẹp. Người ta cũng có thể trang trí những hoa văn đậm nét dân tộc vào bên trong chiếc nón hoặc quét một lớp quang dầu thông bóng bẩy lên mặt ngoài chiếc nón.

Quy trình làm nón không khó lắm: trước hết, phơi lá nón (lá cọ non) ra trời nắng cho thật trắng, để rải trên nền đất cho mềm, rồi rẽ cho lá rộng bản. Sau đó, là lá trên một vật nung nóng cho phẳng. Vanh nón được vuốt tròn đều đặn. Việc cuối cùng là thắt và khâu khi lá đã đặt lên lớp vành khuôn. Sợi móc len theo mũi kim qua 16 lớp vòng bằng cột tre để hoàn chỉnh sản phẩm. Nón khâu xong có thể hơ trên hơi lửa cho thêm trắng và tránh bị mốc. Quy trình làm nón là vậy. Nói là: không khó lắm, nhưng thực ra đó là những tinh hoa, những đúc kết bao đời nay của nghệ thuật làm nón.

Chiếc nón lá rất gần gũi với đời sống sinh hoạt của người dân Việt Nam. Nó che mưa, che nắng, là một món quà kỷ niệm đầy ý vị độc đáo, sâu sắc. Nó làm thêm phần duyên dáng cho các thiếu nữ Việt Nam trong các dịp hội hè. Còn gì đẹp hơn một người thiếu nữ mặc chiếc áo dài thướt tha, đội chiếc nón lá, bước đi uyển chuyển trong bài múa nón.

Ở Việt Nam, có nhiều vùng nổi tiếng về nghề làm nón: nón làng Chuông (Hà Tây cũ) vừa bền vừa đẹp; ở Huế có nón bài thơ thanh mảnh nhẹ nhàng; nón Quảng Bình, Nam Định cũng có những nét đẹp riêng.

Chiếc nón đã thực sự trở thành một biểu tượng sinh động của người phụ nữ Việt dịu dàng, nết na, duyên dáng: anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang.

Ngày nay, trong cuộc sống hiện đại, chiếc nón đã không còn vị trí, vai trò như trước. Những chiếc mũ xinh xinh, những bộ quần áo mưa sang trọng đã thay dần chiếc nón bình dị xưa. Nhưng trong ý thức mỗi người dân Việt, hình ảnh chiếc nón cùng những nỗi nhọc nhằn, những mũi chỉ khâu tinh tế sẽ mãi mãi trường tồn vĩnh cửu. Nó mãi mãi là một nét đẹp trong nền văn hoá độc đáo của đất nước Việt Nam tươi đẹp.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam – Bài làm 8

Sao anh không về thăm quê em Ngắm em chăm nón buổi đầu tiên Bàn tay xây lá, tay xuyên nón

Cứ mỗi lần nghe ai nhắc đến nón lá là tôi lại nhớ đến “Bài thơ đan nón” của Nguyễn Khoa Điềm. Trong bài thơ chứa đựng sự dịu dàng, bình dị, thân thiện của người phụ nữ Việt.

Mười sáu vành, mười sáu trăng lên

Chiếc nón lá ra đời từ 2500 – 3000 năm trước công nguyên. Mỗi chiếc nón lá là biểu tượng lịch sử hình thành và lưu giữ cho đến ngày nay, đã chứng tỏ được sự bền vững của sản phẩm này. Chiếc nón lá hiện diện trong cuộc sống hàng ngày của người dân Việt, đặc biệt là người phụ nữ, hiện diện trong các cuộc thi gìn giữ nét đẹp văn hóa.

Đi dọc mọi miền đất nước, không nơi nào không có nón lá. Không chỉ che mưa, che nắng mà nón còn xuất hiện trong các tiết mục nghệ thuật, được đến các nước bạn trên thế giới. Nét đẹp văn hóa của nón lá chính là nét đẹp cần được bảo vệ, giữ gìn. Nhắc đến nón lá chắc chắn phải nhắc đến áo dài Việt Nam, đây là hai thứ luôn đi liền với nhau, tạo nên nét đặc trưng riêng của người phụ nữ Việt Nam từ ngàn đời.

Để giữ chiếc nón lá bền với thời gian thì người dùng phải khéo léo bôi dầu thường xuyên, tránh làm hỏng hóc, sờn nón.

Chiếc nón lá Việt Nam là sản phẩm của người Việt Nam làm tôn thêm vẻ đẹp của người phụ nữ và khẳng định sự tồn tại lâu đời của sản phẩm này.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam – Bài làm 9

Hình ảnh chiếc nón lá luôn quen thuộc, gần gũi với người phụ nữ Việt Nam từ xưa tới nay, khi nhắc tới chiếc nón lá người ta thường nhớ ngay đến những tà áo dài thướt tha, tới những lời ăn tiếng nói dịu dàng, đậm phong tục tập quán của người Việt Nam, dù đi đâu thì hình ảnh chiếc nón lá vẫn luôn đậm sâu trong trái tim mỗi người, hình ảnh mộc mạc, chân chất lại rất nhiều ý nghĩa, và chiếc nón lá còn là một trong những món quà ý nghĩa mà người dân Việt Nam dành tặng bàn bè Quốc Tế để thể hiển sự thân thiết, yêu mến.

Chiếc nón xuất hiện từ rất lâu rồi, chiếc nón lá luôn là người bạn đồng hành che mưa, che nắng, luôn ở bên những bước hành trang chúng ta đi. Để tạo ra một chiếc nón thì cần sự cầu kỳ, tỉ mỉ, kỳ công của người làm nón, muốn chiếc nón đẹp thì ngay từ khâu chọn nguyên liệu, rồi khâu từng đường kim mũi chỉ người thợ đã đặt hết tâm tình vào đó để tạo ra những chiếc nón đẹp. Ngoài việc che nắng che mưa thì chiếc nón còn là một phụ kiện làm đẹp rất tuyệt vời, trong những ngày hội dân ca, những ngày hội làng, hay ngày kết hôn của các đôi vợ chồng mẹ chồng trao nón cho con dâu, chiếc nón đều có mặt và tạo nên nét duyên dáng của phụ nữ Việt Nam, chiếc nón thay cho bao nhiêu lời nhắn gửi yêu thương, trong thơ văn chiếc nón là cảm hứng của rất nhiều nhà văn, nhà thơ…

“Quê hương là cầu tre nhỏ/Mẹ về nón lá nghiêng tre”, qua hình ảnh nón lá trong câu thơ là hình ảnh người mẹ tần tảo, chịu thương chịu khó. Thời chiếc tranh các cô gái thường đội nón quai màu tím tiễn người yêu ra chiến trường thể hiện sự chung thủy, sắc son, như thay một lời hẹn ước sẽ đợi người yêu chiến thắng trở về, thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam

Các loại lá như lá cọ, lá du quy diệp, lá cối, lá rơm, lá tre, lá dứa… đều có thể làm nón được, ở mỗi vùng miền khác nhau thì kiểu dáng của chiếc nón cũng khác nhau, người miền Bắc có nón quai thao khi dự các lễ hội, ở Huế thì có nón bài thơ, ở Bình Định có nón Gò Găng, quai nón thường được làm bằng nhung, lục, hay the, với những màu sắc đẹp và tươi tắn, làm nổi bật thêm vẻ đẹp của chiếc nón, làm tăng lên độ duyên dáng của người phụ nữ khi đội nón, hình ảnh chiếc nón giống như người phụ nữ Việt Nam, không chỉ đẹp ở từng chi tiết mà còn thể hiện ở phần dáng nón, những người thợ khâu nón đã làm nên những chiếc nón đẹp, từng đường kim mũi chỉ được người thợ gửi gắm những hình ảnh mang nét đặc trưng truyền thống của dân tộc Việt Nam

Nón lá là biểu tượng của phụ nữ Việt Nam, là hình ảnh bình dị thân quen với tà áo dài truyền thông của người phụ nữ Việt Nam, chiếc nón là được phổ biến trên khắp đất nước và là nét đặc trưng văn hóa riêng của đất nước Việt Nam, khi bạn bè nước ngoài đến Việt Nam đều muốn trong hành lý của mình mang về có món quà là chiếc nón lá Việt Nam, chúng ta đã quảng bá được vẻ đẹp của đất nước của con người thông qua hình ảnh những cô gái mặc áo dài thướt tha đội nón lá.

Nón lá là một biểu tượng gắn liền với hình ảnh người con gái Việt Nam. Từ thời xa xưa nón lá đã là một dụng cụ vô cùng thân thiết với con người chúng ta. Hình ảnh một cô gái Việt Nam thướt tha trong chiếc áo dài truyền thống trên đầu đội chiếc nón lá màu trắng tinh khôi, đã trở thành hình ảnh vô cùng quen thuộc với các bạn bè du khách năm Châu trên toàn thế giới khi nhớ về dân tộc ta.

Bài văn mẫu thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam

Trong một bài thơ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã viết về chiếc nón lá như thế này:

“Sao anh không về thăm quê em Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên

Qua những câu thơ giản dị, mộc mạc nhưng cũng vô cùng lãng mạn, trữ tình ta thấy chiếc nón lá trở thành biểu tượng thiêng liêng thể hiện sự dịu dàng, tha thướt của người cô gái Việt.

Bàn tay xây lá, tay xuyên nón

Theo như các tài liệu ghi chép lại thì nón lá của Việt Nam ra đời từ khá lâu từ khoảng 3000 năm TCN. Sự hình thành và gìn giữ chiếc nón lá từ thời đó cho đến nay thể hiện vai trò và tầm quan trọng của kỷ vật thiêng liêng này. Chiếc nón lá không chỉ xuất hiện trong cuộc sống thường nhật của người phụ nữ nước ta, mà nó còn xuất hiện trong thơ ca, trong những bức tranh, như lời ca dao của ông cha ta để lại. Nón lá như một nét văn hóa riêng biệt của dân tộc ta không giống với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.

Mười sáu vành, mười sáu trăng lên”

Nón lá nước ta có hai loại: Một là nón 3 tầm, là loại nón hình tròn vành to, rộng thường được các liền anh, liền chị khi hát trao duyên đội trên đầu hoặc khoác ở tay, loại nón này thường được đi kèm với trang phục áo dài tứ thân, áo mớ ba mớ bảy…. thể hiện sự dịu dàng, nhẹ nhàng của người phụ nữ.

Loại nón lá thứ hai là nón chóp: Loại nón giống hình tam giác có chóp nhọn ở trên rộng vành, chiếc nón này được sử dụng phổ thông hơn. Và các trang phục đi kèm với nó cũng thoải mái, phóng khoáng hơn.

Nón chóp có thể mặc với áo dài tân thời, có thể mặc áo bà ba, hay mặc áo lụa, quần xa tanh… Nón chóp giúp các cô gái che nắng che mưa, giúp các bà các mẹ bớt cảm thấy oi bức trong những ngày hè nóng nực…

Hình ảnh chiếc nón lá đã gắn liền với cuộc sống của người dân như một nét văn hóa giả dị, mộc mạc.

Để làm được một chiếc nón lá cũng rất kỳ công. Nón lá thường được làm từ lá dừa, hoặc lá cọ. Nhưng nón lá thường làm từ lá có sẽ bền đẹp hơn bởi lá cọ có độ bóng và dẻo dai hơn.

Sau khi lựa chọn những chiếc lá cọ to đẹp, xanh mướt người nghệ nhân phải phơi lá khoảng 4 tiếng đồng hồ để lá héo bớt đi rồi chọn. Khi lá mềm đi rồi người nghệ nhân bắt đầu lấy kim khâu làm vành nón, tạo khung nón. Sau đó tỉ mỉ ngồi khâu từng chiếc lá cọ vào chiếc khung đã được định hình sẵn. Khi làm khung cho nón lá người ta thường chọn những loại tre không già quá và cũng không non quá bởi tre già thường giòn dễ gãy, còn non qua thì không có độ dẻo dai. Nên loại tre có độ tuổi vừa tầm là tốt nhất. Khung của nón lá chính là những hình tròn xếp từ to nhất tới nhỏ nhất tạo ra hình chóp.

Sau khi làm khung nón, là tới giai đoạn chằm nón. Khâu này vô cùng quan trọng vì nó giúp cho khung nón và lá nón bám chặt không bị bung rời. Người làm nón thường chằm nón bằng những sợi nilông mỏng dai, có màu trong suốt trông rất đẹp mắt.

Khi chiếc nón đã được hình thành khâu lại hoàn chỉnh thì người làm nón lá sẽ bôi một lớp dầu bám vào bề mặt ngoài của nón lá để tạo độ bóng, và để tráng gương cho chiếc nón khi đi mưa không bị nước mưa thấm qua những khe hở của lá cọ mà làm ướt tóc, ướt đầu.

Chiếc nón của nước ta là một biểu tượng đẹp gắn liền với người phụ nữ đoan trang, thùy mị. Dù qua bao nhiêu thời gian chiếc nón lá vẫn giữ nguyên giá trị của mình trong cuộc sống của con người .

Thu Thủy

Top 7 Bài Văn Mẫu Kể Về Gia Đình Em Lớp 3 Chọn Lọc

Kể về gia đình em lớp 3 – Bài làm 1

Gia đình em gồm có 4 người, bố mẹ, em và em trai của em. Đối với em gia đình lúc nào cũng là chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất. Ở nơi ấy em nhận được rất nhiều tình thương yêu.

Bố của em năm nay 34 tuổi, hiện đang quản lý một công ty riêng nên công việc của bố khá bận rộn. Tuy nhiên, buổi sáng bố luôn là người đưa em đến trường và đón em về vào buổi chiều. Mẹ em bằng tuổi bố, mẹ làm cho một công ty khác nhưng cũng hỗ trợ được bố rất nhiều trong công việc. Mẹ là người phụ nữ xinh đẹp, hiền dịu và là người giữ lửa cho gia đình. Em trai của em năm nay mới 4 tuổi thôi. Mẹ sẽ là người đưa đón em trai em đi học mỗi ngày. Cậu bé nghịch ngợm nhưng lại rất đáng yêu. Lúc nào cậu bé cũng mang lại nguồn vui cho gia đình em. Em thích nhất những ngày cuối tuần bố mẹ dẫn hai chị em em ra ngoài chơi. Chúng em được đi sở thú, đi công viên, đi đến những khu vui chơi có rất nhiều trò chơi. Những lúc như vậy em thấy gia đình em thật hạnh phúc biết bao.

Em biết ở ngoài kia có rất nhiều bạn nhỏ kém may mắn khi gia đình không được trọn vẹn tiếng cười. Em ước mong sao tất cả các bạn nhỏ đều có được một gia đình hạnh phúc như gia đình em.

Gia đình mình không như nhà nhiều bạn chỉ có 4 người mà có tới 6 người, bao gồm ông bà nội của mình, bố mẹ mình, anh trai và mình. Ông bà nội tớ đều đã ngoài sáu mươi tuổi rồi, hai người vẫn còn khỏe và minh mẫn lắm. Ông có một bộ râu trắng dài, mỗi khi rảnh, ông thích nhất là chơi cờ cùng những ông lão trong khu phố, cùng họ uống trà, nói chuyện, y hệt như một lão nhân thời xưa vậy. Còn bà tớ rất thích ra công viên gần nhà tập dưỡng sinh vào mỗi buổi chiều cho cơ thể dẻo dai. Những lúc khác, bà đều trồng rau hoặc chăm sóc những cây hoa trong vườn. Còn bố tớ là một giáo viên cấp 3, chỉ khi nào có tiết dạy bố mới đến trường thôi, còn lại bố đều ở nhà đọc sách hoặc soạn giáo án. Bố mình vẫn còn trẻ lắm dù rằng bố đã đồng hành với nghề thầy giáo này hơn hai mươi năm rồi. Mình rất thích được nghe bố giảng bài, vô cùng dễ hiểu và dễ nhớ. Còn mẹ tớ lại là một nhân viên ngân hàng, công việc của mẹ ấy vậy nhưng lại cần sự cẩn thận tỉ mỉ vô cùng cao. Mỗi ngày tớ đều thấy mẹ ngồi làm sổ sách chi chít những con số, khi ấy tớ thương mẹ lắm. Còn anh trai tớ, năm nay anh đã vào cấp 3. Anh lớn hơn tớ nhiều lắm, cả vóc người cũng cao lớn nữa, trông chẳng thua kém gì bố cả. Anh rất yêu thương và chiều chuộng tớ. Tớ rất yêu gia đình mình.

Kể về gia đình em lớp 3 – Bài làm 3

Gia đình em có tất cả 4 người, gồm bố, mẹ, em và em gái của em. Bố em năm nay bốn mươi tuổi nhưng trông bố còn trẻ và đẹp trai lắm. Công việc của bố là làm nhân viên tại một công ty lớn, mỗi ngày đều về nhà lúc 5 giờ chiều. Có những hôm phải tăng ca, bố đều về rất muộn nên em thương bố lắm. Mẹ em là một người phụ nữ xinh đẹp dù rằng đã gần bốn mươi. Mẹ là một bác sĩ, vậy nên mỗi khi trong nhà ai bị bệnh là chẳng cần phải ra ngoài khám làm gì cả. Không chỉ vậy đâu, mẹ em còn rất đảm đang nữa, món nào mẹ nấu cũng đều ngon cả, nhà em ai cũng thích. Em năm nay đang học lớp 3 tại trường Tiểu học gần nhà, còn em gái em thì mới học mẫu giáo năm ngoái thôi. Bé con ấy đáng yêu và dễ thương lắm, lúc nào cũng cười thật tươi, thật vui vẻ khiến ai cũng thích cả. Gia đình em lúc nào cũng hòa thuận vui vẻ, mỗi ngày thưởng thức những món ăn ngon mẹ làm, căn nhà nhỏ luôn tràn ngập tiếng cười hạnh phúc. Em rất yêu gia đình mình.

Kể về gia đình em lớp 3 – Bài làm 4

Mỗi người sinh ra đều có gia đình của mình. Đó là nơi là chúng ta cất tiếng khóc chào đời, nơi có cha mẹ, anh chị em luôn đồng hành cùng chúng ta trên mỗi bước đường đời. Gia đình chính là nơi niềm tin và tình yêu thương được đặt trọn vẹn.

Gia đình em có 6 người gồm ba mẹ và 4 chị em em. Em có hai chị và một anh trai. Chị cả em đã ra trường và đi làm. Chị hai của em đang học đại học Ngoại thương năm thứ 2. Anh ba của em học lớp 10. Và em năm nay học lớp 2. Gia đình đông anh chị em rất vui và hạnh phúc. Em là con út nên được ba mẹ và anh chị yêu chiều.

Ba em làm kỹ sư điện trong một công ty nên phải đi lên miền núi thường xuyên. Mẹ em làm giáo viên nên đi dạy suốt, nhưng em rất vui vì là học trò của mẹ, được mẹ chỉ bảo rất nhiều.

Mỗi lần mẹ em đi chợ về, anh ba bao giờ cũng phần quà bánh cho em nhiều hơn. Chị cả thì một năm về được có một lần vào dịp Tết. Bởi vậy em rất nhớ và mong chị về thường xuyên. Chị hai thì vài tháng mới về một lần. Ở nhà chơi với em chỉ còn anh ba. Nhưng anh cũng đi học suốt nên em chới với mấy bạn hàng xóm.

Ba em thường xuyên đi công tác xa nhà, cũng ít về thăm nhà. Gia đình bao giờ cũng chỉ có 3 mẹ con quây quần bên mâm cơm. Mỗi lần có ba về là không khí gia đình rộn ràng, vui tươi hơn hẳn. Đặc biệt khi gia đình em có đủ 6 người thì lúc đó mới thực sự hạnh phúc và vui vẻ đến vô cùng. Tiếng cười của gia đình em dường như lan sang cả nhà hàng xóm bên cạnh. Nhưng cả nhà em đều không quan tâm vì ai cũng thấy niềm vui được sum vầy là điều thực sự nên trân trọng.

Mặc dù gia đình em ít khi mới được đông đủ nhưng tình yêu mọi người giành cho nhau vẫn luôn đong đầy và thật hạnh phúc. Ai cũng ý thức được điều này và trân trọng tình cảm này hơn.

Những bài văn kể về gia đình em lớp 3

Gia đình là nơi cho em tình yêu thương của ông bà, cha mẹ. Dù đi đâu xa, em cũng nhớ về mái ấm thân thương của mình.

Gia đình em gồm bốn người, đó là ba mẹ, em và bé Na. Người trụ cột chính trong nhà đó là ba. Ba tên là Lâm, 36 tuổi. Ba là nhân viên ở công ty Uchiyama. Ba có thân hình cao to. Ở nhà, ba rất vui tính nhưng đôi lúc cũng thật nghiêm khắc khi em làm sai điều gì đó. Ba rất thương em và bé Na. Người tiếp theo đó là mẹ. Mẹ em tên là Huyền, cùng tuổi với ba. Mẹ làm giám đốc công ty sắt thép Nam Vy. Hằng ngày, mẹ đi làm vất vả để kiếm tiền lo cho chị em em. Mẹ luôn đem lại cho gia đình những bữa cơm ngon và ấm cúng. Mỗi buổi tối, mẹ đều dành thời gian hướng dẫn bài cho em. Người tiếp đến là em.

Gia đình là một mái ấm thân yêu của em. Em yêu gia đình của mình. Em sẽ học thật giỏi để không phụ lòng cha mẹ đã dạy dỗ em nên người.

Kể về gia đình em lớp 3 – Bài làm 6

Hằng tuần, cứ đến tiết sinh hoạt là cô giáo lại cho chúng em tham gia những hoạt động bổ ích. Và tuần vừa rồi, cô cho chúng em giới thiệu về gia đình mình với người bạn cùng bàn. Ngồi cạnh em là An- bạn ấy là học sinh mới của lớp. Em kể với An về gia đình mình: “An à, nhà mình cóbốn người, đó là bố mẹ mình, chị gái mình và mình. Bố mình năm nay đã bốn mươi tuổi, mẹ mình thì ba mươi sáu tuổi và bố mẹ mình đều giáo viên cấp ba. Chị gái mình mười tám tuổi, vừa rồi chị ấy đã xuất sắc trở thành sinh viên của trường đại học Y Hà Nội đấy, chị chính là một tấm gương mà bố mẹ luôn nhắc mình phải noi theo. Tất cả mọi người trong gia đình mình ai ai cũng đều sống có trách nhiệm và luôn hòa thuận, vui vẻ. Hằng ngày, gia đình mình luôn quầy quần bên mâm cơm về kể cho nhau nghe về những gì đã diễn ra xung quanh bản thân trong ngày. Nếu mình có những chuyện gì khó khăn thì bố mẹ và cả chị gái mình sẽ động viên, sẻ chia và đưa ra những lời khuyên bổ ích cho mình hay mỗi khi mình có niềm vui thì cả nhà cũng như vui lây. Và bố mẹ thì luôn dạy chị em mình những điều hay lẽ phải trong cuộc sống, hướng chị em mình tới mọi điều tốt đẹp, thánh thiện của cuộc sống. Mọi người luôn quan tâm và yêu thương lẫn nhau nên mình cảm thấy vôcùng hạnh phúc khi được sống trong mái ấm như vậy.” Nghe em kể vậy, An liền trầm trồ khen ngợi gia đình em và bạn ấy tiếp tục kể cho em nghe về gia đình của bạn ấy.

Gia đình của em có ba người: bố em, mẹ em và em. Bố em năm nay đã ngoài bốn mươi tuổi. Bố em là chủ một xưởng gỗ có tiếng trong tỉnh. Bố chính là trụ cột của gia đình em. Bố làm việc rất say mê. Có những lúc mải mê với số liệu, sổ sách bố quên luôn đã đến giờ cơm trưa. Bố em luôn dẫn em ra xưởng tham quan, nói cho em về những loại gỗ khác nhau. Bố hay dạy em học bài vào mỗi tối. Mẹ em năm nay đã ở tuổi ba mươi chín. Mẹ em là một nội trợ. Ngày ngày mẹ ở nhà lo cơm nước, chăm sóc gia đình. Mẹ nấu ăn ngon lắm. Mẹ em rất khéo tay nữa. Tối nào mẹ cũng ôm em vào lòng, kể em nghe những câu chuyện ngày xưa. Em là cô học sinh lớp Ba, là con một trong nhà nên luôn được bố mẹ cưng chiều. Bố mẹ rất quan tâm, lo lắng cho em. Bố mẹ hay cho em đi chơi để thư giãn sau mỗi kì học căng thẳng. Em rất thích những giây phút gia đình em vui vẻ bên nhau, tiếng cười tiếng nói rộn vang. Em trân trọng những khoảnh khắc hạnh phúc ấy. Em rất yêu quý gia đình em. Em sẽ cố gắng học tập thật tốt để bố mẹ vui lòng.

Thu Thủy

Cập nhật thông tin chi tiết về Top 7 Bài Văn Mẫu Thuyết Minh Về Biển Nha Trang Lớp 9 Chọn Lọc trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!