Xu Hướng 2/2023 # Top 6 Bài Văn Mẫu Cảm Nhận Về Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Ánh Trăng Lớp 9 Chọn Lọc # Top 10 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Top 6 Bài Văn Mẫu Cảm Nhận Về Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Ánh Trăng Lớp 9 Chọn Lọc # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Top 6 Bài Văn Mẫu Cảm Nhận Về Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Ánh Trăng Lớp 9 Chọn Lọc được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cảm nhận về khổ thơ cuối bài thơ Ánh trăng lớp 9 – Bài làm 1

Bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy là một trong những bài thơ vô cùng ấn tượng. Nội dung bài thơ nói về hình ảnh ánh trăng và tình nghĩ của con người. Con người vốn quen thuộc với ánh trăng, coi ánh trăng là bạn, là người tri kỉ và ngỡ rằng sẽ không thể nào quên được. Nhưng rồi cuộc sống thay đổi, người ta cũng thay đổi theo và rồi ánh trăng trong phút chốc đã đi vào quên lãng. Ánh điện, cửa nhà sáng choang khiến người ta không còn cần tới ánh sáng của ánh trăng nữa. Khổ thơ cuối của bài thơ chứa đựng một triết lí sâu xa, nó khiến cho người đọc nhớ về lẽ sống ân nghĩa, thủy chung:

Trăng cứ tròn vành vạnh Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc Đủ cho ta giật mình

Hình ảnh ánh trăng tròn đã là một hình ảnh đẹp. Vậy mà tác giả còn kết hợp tình từ tròn với từ láy vành vạnh khiến cho vẻ đẹp ấy được tuyệt đối hóa. Đó là hình ảnh trăng trong sáng, tròn đầy, ổn định, viên mãn. Không chỉ dừng lại ở đó, hình ảnh thơ mang một ý nghĩa khái quát: sự tròn đầy, bất diệt của vầng trăng biểu tượng cho quá khứ vẹn nguyên, nghĩa tình, thủy chung, nhân hậu ngày nào. Từ cứ khiến cho âm điệu câu thơ vừa tha thiết, vừa vút cao. Nó giúp khẳng định cho lòng thủy chung của vầng trăng. Kết cấu của hai câu thơ đầu có sự đối lập trong lời thơ, ý thơ khiến cho ý thơ trở nên nổi bật hơn. Cho dù con người có hờ hững, vô tình nhưng vầng trăng vẫn vậy mộc mạc, giản dị và thủy chung.

Ở hai câu thơ cuối cùng hình ảnh vầng trăng đã chuyển thành ánh trăng. Đúng là chỉ có ánh trăng, thứ ánh sáng huyền ảo đó mới có sức mạnh làm thức tỉnh tâm hồn con người sau bao nhiêu ngày tháng vô cảm. Ánh trăng đã soi rọi vào quá khứ, vào những ngày tháng mà con người vẫn còn gắn bó với trăng để từ đó đánh thức lương tâm con người. Trăng không trách mắng bằng những lời nói mà trăng chỉ im lặng, một cái im lặng đáng sợ hơn cả lời nói. Đó trước hết là một hình ảnh thực bởi chúng ta biết rằng trăng không thể nào nói chuyện. Cái sự im lặng ấy biểu thị cho sự nghiêm khắc của quá khứ. Nhưng nó khiến cho con người giật mình bởi trăng vẫn vị tha và bao dung con người khi mà trăng vẫn luôn soi sáng dù con người không cần.

Hai chữ giật mình trong khổ thơ như thể hiện một sự ăn năn, sám hối của tác giả. Đó là một cái giật mình đầy tính nhân văn. Cái kết cấu đối lập ở hai câu thơ cuối mang một ý nghĩa nhắc nhở nghiêm khắc rằng đừng quên quá khứ mà hãy sống thủy chung với quá khứ. Thông qua hình ảnh ánh trăng, nhà thơ Nguyễn Duy đã làm một cuộc tư vấn tâm hồn để nhắc nhở con người về lẽ sống nghĩa tình, thủy chung. Nội dung bài thơ là những trải nghiệm cá nhân của chính tác giả nhưng nó gần gũi với đời thường vậy nên nó có sức ngấm rất sâu trong lòng người đọc.

Bài thơ tuy ngắn gọn, đơn giản nhưng lại mang một triết lý sâu sắc. Khổ thơ cuối bài cùng với những khổ thơ khác trong bài thơ đã xây dựng thành công hình ảnh quen thuộc mang ý nghĩa biểu tượng: ánh trăng. Hình ảnh ấy gợi nhắc con người về lẽ sống thủy chung, nhắc con người ghi nhớ quá khứ, gắn bó với quá khứ. Có như vậy thì tương lai mới trở nên tươi đẹp.

Nguyễn Duy là nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông dung dị, hồn nhiên mà thiết tha, sâu lắng, ít nhiều mang màu sắc triết lí. “Ánh trăng” là bài thơ tiêu biểu của ông. Đến với khổ thơ cuối bài thơ là những suy nghĩ của nhà thơ về vầng trăng.

“Ánh trăng” được Nguyễn Duy viết năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh – ba năm sau khi đất nước hòa bình, thống nhất, không phải ai cũng còn nhớ những kỉ niệm nghĩa tình, những gian khổ trong quá khứ. Bài thơ được viết ra như một lời tự nhắc, một lần giật mình trước sự vô tình, lãng quên dễ có ấy, nhắc nhở mỗi người về lẽ sống ân nghĩa, thủy chung, đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Nếu như những khổ thơ đầu của bài thơ là quá khứ về vầng trăng,là cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa con người và vầng trăng xưa thì khổ thơ kết là những suy ngẫm của tác giả về vầng trăng và ý nghĩa biểu tượng của vầng trăng:

“Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình”.

Kết cấu “cứ… kể chi” cho thấy sự đối lập giữa người với trăng. Trăng vẫn “tròn vành vạnh” – một vẻ đẹp vẹn nguyên chẳng thể phai mờ tượng trưng cho vẻ đẹp nghĩa tình của quá khứ đầy đặn, thủy chung, nhân hậu, bao dung. Trăng vẫn như xưa chỉ có con người đã thay đổi. Trăng vẫn vẹn trọn nghĩa tình, chỉ có con người đã thành kẻ vô tình.

Trước sự thay đổi của con người, trăng chỉ “im phăng phắc” không nói một lời nào. Thái độ ấy là sự nghiêm khắc nhắc nhở, là sự trách móc trong lặng im khiến con người phải “giật mình”. Giật mình là hành động thức tỉnh để nhìn nhận lại chính mình, là sự ăn năn, hối hận vì sự vô tình, bội bạc không nên có ở mình. Giật mình để thay đổi thái độ sống – sống ân nghĩa thủy chung. Cái giật mình ấy vô cùng cần thiết, giật mình để tìm lại chính mình. Trong dòng thác vận động của cuộc sống, những cái giật mình như vậy đáng quý biết bao. Nó níu giữ con người khỏi bị trôi trượt trước những lo toan, bộn bề hằng ngày. Nó bảo vệ con người trước những cám dỗ tầm thường của cuộc sống và trên hết, nó hướng con người đến những giá trị cao đẹp của cuộc đời. Trong cái “ta giật mình” có cái tôi của nhà thơ và cái tôi của tất cả mọi người. Phải chăng Nguyễn Du muốn lay động tất cả những ai còn đang ngủ quên trong cuộc sống đầy đủ, ấm no mà lãng quên quá khứ thì hãy thức tỉnh giật mình để nhận ra chính mình.

Đoạn thơ rất thành công khi sử dụng những nghệ thuật đặc sắc. Đó là thể thơ năm chữ, giọng điệu tâm tình, nhỏ nhẹ mà sâu lắng. Hình ảnh thơ quen thuộc mà giàu sức gợi. Đoạn thơ nêu lên những suy ngẫm về vầng trăng và ý nghĩa biểu tượng của vầng trăng, góp phần thể hiện tư tưởng toàn bài: nhắc nhở mỗi người về lẽ sống ân tình, thủy chung, đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc. “Ánh trăng” không chỉ là câu chuyện của một người, của nhà thơ mà là câu chuyện của cả thế hệ – thế hệ đã từng trải qua những năm tháng chiến tranh gian khổ, từng sống gắn bó với thiên nhiên, nhân dân nghĩa tình giờ sống trong hòa bình. Bài thơ có ý nghĩa với mọi thời đại, là tấm gương trăng để soi lòng.

Đoạn thơ nói riêng và “Ánh trăng” nói chung hấp dẫn người đọc bởi câu chuyện thấm thía những lẽ sống đối nhân xửa thế ở đời. “Ánh trăng” đã bật tung cửa sổ lương tâm của mỗi người, soi rọi vào những góc tối trong tâm hồn mỗi người để có những cái “giật mình” đáng quý.

Cảm nhận về khổ thơ cuối bài thơ Ánh trăng lớp 9 – Bài làm 3

Nguyễn Duy là một gương mặt tiêu biểu cho lớp nhà thơ trẻ thời chống Mỹ giai đoạn sau với phong cách thơ mang màu sắc triết lí mà thấm đẫm cái hồn của ca dao, dân ca. Bài thơ “Ánh trăng” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông sáng tác năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh, 3 ngày sau khi đất nước được giải phóng. Khổ thơ cuối bài thơ để lại ấn tượng sâu sắc vì mang một triết lí sâu xa, gợi nhắc con người về lẽ sống ân nghĩa, thủy chung.

“Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình”

Tính từ “tròn” kết hợp với từ láy “vành vạnh” cực tả, tuyệt đối hoá vẻ đẹp của trăng: sáng trong, viên mãn, ổn định, tròn đầy. Hình ảnh thơ không chỉ dừng lại ở đó mà còn có ý nghĩa khái quát: Sự tròn đầy, bất diệt của vầng trăng biểu tượng cho quá khứ vẹn nguyên, nghĩa tình, thủy chung, nhân hậu ngày nào. Đây chính là hình ảnh biểu tượng của trăng. Từ “cứ” khiến cho âm điệu câu thơ vừa tha thiết, vừa vút cao, rắn rỏi trong sự khẳng định về lòng thủy chung của vầng trăng. Hai câu thơ đầu có kết cấu đối lập trong lời thơ, ý thơ làm nổi bật ý thơ. Vầng trăng trước sau vẫn vậy, mộc mạc, giản dị và thủy chung mặc cho con người hờ hững, vô tình.

Hai câu thơ sau, ý thơ đã có sự thay đổi, hình ảnh “vầng trăng” chuyển thành “ánh trăng”. Bởi vì chỉ có ánh trăng, thứ ánh sáng huyền ảo đó mới có sức mạnh làm thức tỉnh tâm hồn con người sau bao nhiêu ngày tháng vô cảm. Chỉ có ánh trăng mới đủ ánh sáng để soi rọi vào quá khứ, những ngày tháng sống gắn bó với vầng trăng, từ đó đánh thức lương tâm con người. Từ ánh trăng đất trời vào thơ Nguyễn Duy đã trở thành ánh sáng tươi đẹp để xua đi nỗi tối tăm trong tâm hồn nhân thế. Nhưng không phải trăng nhắc nhở bằng lời nói mà bằng sự im lặng. “Trăng im phăng phắc” trước hết là hình ảnh tả thực. Trăng không như sao, sao có lúc mọc lúc sa, trăng không như mây, lúc tan lúc tụ, trăng không như mưa lúc tạnh lúc rơi, trăng không như gió khi ngừng khi thổi. Trăng im lặng mà sáng soi. Sự im lặng của ánh trăng biểu tượng cho sự nghiêm khắc của quá khứ. Sự im lặng đó khiến cho người ta giật mình. Giật mình vì trăng nghĩa tình, bao dung mà lại có lúc vô tình, lạnh nhạt, dửng dưng trước trăng, trước quá khứ.

Nguyễn Duy, con người của gốc lúa, bờ tre hiền hậu, của những nắng nỏ trời xanh và những lời hát ru trọn kiếp người, không chỉ tha thiết gắn bó với những điều bình dị trong đời sống, say sưa với văn học dân gian mà còn là con người luôn trăn trở về lẽ sống. Chính vì vậy cái giật mình ở đây là một sự ăn năn, sám hối. Cái giật mình ấy đầy tính nhân văn. Kết cấu đối lập ở hai câu thơ cuối mang ý nghĩa nhắc nhở nghiêm khắc: Hãy đừng quên quá khứ, hãy sống thủy chung với quá khứ. Mượn hình ảnh ánh trăng, Nguyễn Duy đã làm một cuộc tự vấn tâm hồn để nhắc nhở con người về lẽ sống nghĩa tình, thủy chung. Ra đi từ những trải nghiệm cá nhân nên bài thơ có sức ngấm rất sâu trong lòng độc giả.

Bài thơ ngắn gọn, đơn sơ như dáng dấp của một câu chuyện mang nhiều ý nghĩa triết lí. Khổ thơ nói riêng và bài thơ nói chung qua việc xây dựng thành công hình ảnh quen thuộc “ánh trăng” mang ý nghĩa biểu tượng, đã gợi nhắc con người về lẽ sống thủy chung, nhắc con người luôn ghi tạc một điều: người nào bắn súng lục vào quá khứ thì tương lai sẽ bắn anh ta bằng đại bác.

Những bài văn mẫu Cảm nhận về khổ thơ cuối bài thơ Ánh trăng lớp 9

Khổ thơ cuối bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy là triết lí mang hàm ý độc đáo, sâu sắc của bài thơ. Đúng vậy,nghệ thuật ẩn dụ “trăng cứ tròn vành vạnh” tượng trưng cho 1 quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên không thể phai mờ. Phép nhân hóa “trăng im phăng phắc” cho thấy trăng là 1 người bạn, 1 nhân chứng nghĩa tình mà hết sức nghiêm khắc. Trăng ko một lời trách cứ, bao dung, độ lượng. Tấm lòng bao dung, độ lượng mà nghiêm khắc ấy đã nhắc nhở nhà thơ và tất cả chúng ta ko bao h lãng quên quá khứ. Con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưnng quá khứ thì luôn tròn đầy, thủy chung và bất diệt. Ở trong câu thơ cuối, nhà thơ sử dụng tối đa nghệ thuật đối lập: cái tròn vành vạnh của vầng trăng đối lập vs sự bạc bẽo, vô tình của cong người; cái im phăng phắc của vầng trăng đối lập vs sự giật mình của con người. Cái giật mình nhìn lại thức tỉnh của con người thật đáng quý. Giật mình để nhìn lại chính mình, để cố gắng sống tốt hơn. Cái giật mình của ăn năn tự trách, giật mình để nhắc nhở bản thân ko đc lãng quên quá khứ nghĩa tình. Hình ảnh vầng trăng cuối bài thơ đột ngột bừng sáng thành ánh trăng vô cùng độc đáo, sâu sắc. Ánh tăng là tia sáng tỏa ra từ vầng trăng. Ánh trăng có khả năng soi rọi đến những góc khuất tăm tối nhất của tâm hồn con người, ánh trăng khiếm con người bừng tỉnh nhận ra sai lầm của mình. Trăng cảm hóa con người và nhắc nhở con người phải luôn luôn nhớ về quá khứ, trân trọng quá khứ. Ánh trăng nói riêng và bài thơ nói chung nhắc nhở chúng ta phải sống đúng đạo lí dân tộc: Uống nc nhớ nguồn. *Mục đích của nghệ thuật là tác động đến tâm hồn của con người, làm thay đổi con người và xã hội theo hướng tích cực. Bài thơ “Ánh trăng” vs đặc sắc riêng biệt về nghệ thuật và nội dung đã hoàn thành nhân vật đó. Bài thơ hàm chứa trong đó bao nhiêu triết lí về cuộc sống và cả sự thức tỉnh đến toàn xã hội chúng ta.

Cảm nhận về khổ thơ cuối bài thơ Ánh trăng lớp 9 – Bài làm 5

Khổ thơ cuối cùng mang tính hàm súc độc đáo và đạt tới chiều sâu tư tưởng và triết lí. “Trăng tròn vành vạnh” là vẻ đẹp của trăng vẫn viên mãn, tròn đầy và không hề bị suy suyển dù cho trải qua biết bao thăng trầm. Trăng chỉ im lặng phăng phắc, trăng không nói gì cả, trăng chỉ nhìn, nhưng cái nhìn đó đủ khiến cho con người giật mình. Ánh trăng như một tấm gương để cho con người soi mình qua đó, để con người nhận ra mình để thức tỉnh lương tri. Con người có thể chối bỏ, có thể lãng quên bất cứ điều gì trong tâm hồn anh ta . Nhưng dù gì đi nũa thì những giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc cũng luôn vậy bọc và che chở cho con người.

“Ánh trăng” đã đi vào lòng người đọc bao thế hệ như một lời nhắc nhở đối với mỗi người: Nếu ai đã lỡ quên đi, đã lỡ đánh mất những giá trị tinh thần qúy giá thì hãy thức tỉnh và tìm lại những giá trị đó. còn ai chưa biết coi trọng những giá trị ấy thì hãy nâng niu những kí ức quý giá của mình ngay từ bây giờ, đừng để quá muộn. Bài thơ không chỉ hay về mắt nội dung mà cón có những nét đột phá trong nghệ thuật. Thể thơ năm chữ được vận dụng sáng tạo, các chữ đầu dòng thơ không viết hoa thể hiện những cảm xúc liền mạch của nhà thơ. Nhịp thơ biến ảo rất nhanh, giọng điệu tâm tình dã gấy ấn tượng mạnh trong lòng người đọc.

“Ánh trăng” của Nguyễn Duy – bài thơ ngắn gọn, đơn sơ như dáng dấp một câu chuyện ngụ ngôn ít lời mà giàu hàm nghĩa. Vầng trăng thật sự như một tấm gương soi để người ta thấy được những gương mặt thực của mình, để tìm lại cái đẹp tinh khôi mà chúng ta đôi khi để mất. Đặc biệt là khổ thơ cuối mang tính hàm nghĩa độc đáo, đưa tới chiều sâu tư tưởng triết lý:

Bài văn mẫu Cảm nhận về khổ thơ cuối bài thơ Ánh trăng lớp 9 “Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình

Quá khứ khi xưa hiện về nguyên vẹn. Trăng- hay quá khứ nghĩa tình vẫn tràn đầy, viên mãn, thuỷ chung. “Trăng cứ tròn vành vạnh”. Trăng vẫn đẹp, quá khứ vẫn toả sáng đầy ắp yêu thương dẫu con người đã lãng quên. Trăng “im phăng phắc”, một cái lặng lẽ đến đáng sợ. Trăng không hề trách móc con người quá vô tâm như một sự khoan dung, độ lượng. “Vầng trăng” dửng dưng không có một tiếng động nhưng lương tâm con người lại đang bộn bề trăm mối. “Ánh trăng” hay chính là quan toà lương tâm đang đánh thức một hồn người. Cái “giật mình” của người lính phải chăng là sự thức tỉnh lương tâm của con người? Chỉ im lặng thôi “vầng trăng” đã thức tỉnh, đánh thức con người sau một cơn mê dài đầy u tối.Chỉ với một “vầng trăng” – “vầng trăng” của Nguyễn Duy cũng có thể làm được những điều tưởng chừng như không thể. “Ánh trăng” là cội nguồn quê hương, là nghĩa tình bè bạn, là quan toà lương tâm, là sự thức tỉnh của con người. Trăng vẫn đẹp, quá khứ vẫn còn và con người vẫn còn cơ hội sửa chữa sai lầm. Thành công của Nguyễn Duy chính là đã mượn cái “giật mình” của nhân vật trữ tình trong bài thơ để qua đó rung lên một hồi chuông cảnh tỉnh, nhắc nhở mọi người, nhất là thế hệ của ông, không được phép lãng quên quá khứ, cần sống có trách nhiệm với quá khứ, coi quá khứ là điểm tựa cho hiện tại, lấy quá khứ để soi vào hiện tại. Thủy chung với vầng trăng cũng chính là thủy chung với quá khứ của mỗi con người.Đó là tiếng lòng của một người cũng là tiếng lòng của bao người, bởi dù cho lời thơ cuối cùng khép lại thì dư âm của nó vẫn còn ngân lên, tạo một sức am ảnh thật lớn đối với người đọc.

ánh trăng im phăng phắc

Mỗi con người chúng ta có thể đến một lúc nào đó sẽ lãng quên quá khứ, sẽ vô tình với mọi người nhưng rồi sự khoan dung và độ lượng của quê hương sẽ tha thứ tất cả. “Ánh trăng” của Nguyễn Duy sẽ mãi mãi soi sáng để đưa con người hướng tới tương lai tươi đẹp. Đạo lí sống thuỷ chung, nghĩa tình với quá khứ, với quê hương sẽ đưa lối mỗi chúng ta đến với cuộc đời hạnh phúc ở tương lai.

Thu Thuỷ

Top 9 Bài Văn Mẫu Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm Lớp 10 Chọn Lọc

Cảm nhận bài thơ Nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm lớp 10 – Bài làm 1

Nền văn học trung đại của nước ta có nhiều tác giả tài năng cùng với các tác phẩm đặc sắc. Nhắc đến văn học trung đại không thể không nhắc đến Nguyễn Bỉnh Khiêm với bài thơ Nhàn. Bài thơ được ông viết khi đã về quê ở ẩn. Mặc dù tựa đề bài thơ là Nhàn nhưng đó không phải là nhàn cư vi bất thiện mà thái độ sống, triết lí sống của tác giả.

Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh rất đời thường:

Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Trước mắt người đọc hiện lên hình ảnh một người nông dân tay cày, tay cuốc. Ngoài việc ruộng vườn, thú vui của họ là ngồi câu cá. Đó là một cuộc sống đầy thư thái, ung dung không vương chút bụi trần. Cuộc sống cứ thơ thẩn với những niềm vui của riêng mình, không quan tâm đến những thú vui của người khác.

Sang đến hai câu thơ tiếp theo nhân vật trữ tình hiện lên với triết lý nhàn:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao

Hai câu thơ có sự đối lập giữa nơi vắng vẻ và chốn lao xao, giữa ta và người, giữa khôn và dại. Cảm nhận ban đầu ta nghĩ tác giả như đang đi ngược lại với đời sống, ngược lại với người đời. Tác giả có dại thật không khi chọn cuộc sống ở một nơi thôn quê vắng vẻ? Đọc những câu thơ tiếp theo ta biết chắc chắn câu trả lời là không. Những người chọn cuộc sống ở chốn lao xao cho rằng mình là người nhưng thực tế, nơi đó là nơi có quá nhiều cạm bẫy. Những con người tham lam thường tìm cách dìm người khác xuống để nâng mình lên. Tác giả chọn cho mình cuộc sống an nhàn, tránh xa danh lợi để giữ cho mình khí chất thanh cao. Đó là cuộc sống hòa mình vào thiên nhiên, giản dị đời thường với:

Thu ăn măng trúc đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Cuộc sống nơi thôn quê thứ gì cũng sẵn. Mùa nào thức đấy. Mùa thu có măng trúc, mùa đông có giá. Cuộc sống gắn liền với hồ sen, với ao. Con người khi không phải lo lắng đến địa vị, danh vọng, không phải lo lắng đến cơm áo gạo tiền thì khi ấy mới thật sự là cuộc sống đáng mơ ước. Cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm thật đáng ngưỡng mộ.

Từ cuộc sống nhàn của mình, tác giả đã đúc kết ra một triết lý sống:

Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Công danh, phú quý chỉ là áng phù vân trôi nổi. Có được nó dễ dàng thì cũng nhanh chóng mất đi. Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, phú quý chỉ như một giấc chiêm bao mà thôi. Thời điểm tác giả viết bài thơ này là lúc mà chế độ phong biến bắt đầu khủng hoảng. Tác giả chọn cuộc sống nhàn tức là chọn cuộc sống không màng đến vinh hoa phú quý. Tác giả đang tự tìm kiếm sự thanh thản trong tâm hồn của mình, không để dục vọng làm vẩn đục tâm hồn.

Qua bài thơ này, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Triết lý sống của tác giả cũng là triết lý sống mà thế hệ sau nên theo đuổi.

Nền văn học trung đại đồ sộ đã mang đến cho chúng ta nhiều áng thơ hay, mang giá trị lớn lao. Trong số đó, không thể không nhắc đến bài thơ “Nhàn” của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ đề cao triết lí sống thanh cao của những vị danh nhơ đương thời:

“Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chỗ lao xao

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp

Nhìn xem phú quí, tựa chiêm bao”

Câu thơ đầu mở ra những hình ảnh quen thuộc: “mai, cuốc, cần câu” đều là những công cụ gắn liền với thôn dã, làm hiện lên nhân vật trữ tình với tư thế của một lão nông biết đến ruộng vườn, nhất định không phải tư thế đạo mạo của một bậc đại nho. Câu thơ ngắt nhịp thoải mái, sử dụng lặp lại từ “một” khiến lời thơ vang lên như một tiếng sấm rạch ròi, chứng tỏ nhà thơ đón lấy cuộc sống hết sức vui sướng, niềm vui vì được làm điều mình thích. “Thơ thẩn” là trạng thái ung dung, nhàn nhã, thoải mái, tác giả cảm thấy tự tin vì sự lựa chọn của mình. “Ai” là đại từ phiếm chỉ, khẳng định người khác có thú vui riêng và tác giả cũng vậy. Hai câu đầu khẳng định nhàn không phải là lánh đời mà là sự lựa chọn cho mình có một không gian sống mà mình thấy thích thú, tự do tự tại.

Hai câu đầu là lối sống tự do tự tại, hòa mình vào cuộc sống chung thì hai câu sau là sự lí giải sâu sắc về sự lựa chọn ấy:

“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao”

“Ta” là nhà thơ, “người” là ai, chắc chắn không phải là thiên hạ mà là những kẻ ham công danh lợi lộc. Hai câu thơ có thể hiểu nơi vắng vẻ không phải là nơi lánh đời mà là nơi bản thân mình cảm thấy thích thú, sống thoải mái khác hẳn với chốn quan trường. Chốn thiên nhiên nơi đây là nơi thích hợp nhất để Nguyễn Bỉnh Khiêm tránh xa thói đời ô tạp, để giữ cho tâm hồn mình luôn trong sáng và thanh sạch hơn. Bẳng cách nói ngược “dại” mà thực chất là “khôn”, còn “khôn” nhưng thực chất lại là “dại”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sáng suốt lựa chọn lối sống đối lập với bao người, thoái khỏi chốn lợi danh, ganh đua để sống an nhiên và tự tại. Cách nói nhún nhường, khiêm tốn của bậc đại nho là lối ứng xửa minh triết của một bậc chân nho:

“Dụng chi tắc hành

Xa chi tắc tàng”

(Dùng thì sẽ ắt nên công,

Nếu mà từ khước, hư không chẳng còn)

Nhàn là trở về với cuộc sống tự nhiên, thoát khỏi vòng ganh đua lợi lộc, thói tục, không bị vướng vào tiền tài, địa vị và giữ cho tâm hồn mình luôn khoáng đạt bởi:

“Thu ăn măng trúc đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”

Mùa nào thì gắn với sự vật ấy, đều có sẵn trong tự nhiên không phải vất vả kiếm tìm. Đây là hình ảnh của cuộc sống tự cung tự cấp nhưng vẫn hết sức đủ đầy và vui vẻ. Phải chăng tác giả đã đan xen vào đó triết lí vô vi của đạo giáo : Không làm gì can thiệp vào quy luật của tự nhiên mà để chúng tự phát triển, đề nghị con người có lối sống thuần theo tự nhiên hay sao? Thức ăn có sẵn trong tự nhiên tuy đạm bạc nhưng không phải là món ăn khoái khẩu, nhưng lại là cái nhàn thanh cao chứ không phải cái nhàn tục của hạng người phú quý, biếng nhác. Vì vậy câu thơ nghe nhẹ bẫng mà thanh thản, lâng lâng một niềm vui, cái nhẹ tênh của một cuộc sống không cần gắng gượng.

Tuy nhiên đến với cuộc sống nhàn phần nào cũng bởi đời ô trọc mà thôi. Có vẻ nhà thơ nhàn mà chưa thực sự nhàn, vẫn nhắc đến chuyện công danh:

“Rượu đến cội cây ta vẫn uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Hai câu thơ sử dụng điển Thuần Phong Vũ, thể hiện một cái nhìn bi quan về công danh khi thấy chúng chỉ tựa như một giấc chiêm bao, là áng phù vân, không có giá trị đích thực, không có ý nghĩa. Bởi vậy từ đó thi gia muốn nói con người coi thường phú quý, đứng cao hơn phú quý và không làm nô lệ cho nó. Với cái nhìn như thế, tác giả đã hoàn toàn quay lưng vào công danh, lấy nhàn làm chân lí sống. Vần thơ của cụ Nguyễn có sức cảnh tình với con người cần phải sáng suốt trước lợi lộc trước mắt.

Tóm lại, “Nhàn” đề cao một nhân cách sống, một lối sống thanh cao, tránh xa lợi lộc tầm thường, hướng đến lối sống thiện tâm. Tuy nhiên, đặt trong hoàn cảnh thời đại mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đang sống, đó không phải là một giải pháp tốt để có thể cải tạo và thay đổi xã hội.

Cảm nhận bài thơ Nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm lớp 10 – Bài làm 3

Trong văn học trung đại, có nhiều bài thơ hay và ý nghĩa của các thi sĩ đương thời. Trong đó bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những bài thơ tiêu biểu, thể hiện vẻ đẹp tâm hồn nhân cách của tác giả, tôn cao triết lí sống.

Bài thơ Nhàn được sáng tác trong hoàn cảnh tác giả về quê ở ẩn. Chữ “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm không hề tâm thường như trong câu “nhàn cư vi bất thiện” mà là thái động sống, một triết lí sống của tác giả được bộc lộ rõ ràng. Bài thơ mang bốn triết lí sâu sắc gói gọn trong chữ “nhàn” được phân chia bố cục chặt chẽ. Mở đầu bài thơ tác giả viết:

Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Hai câu mở tạo ấn tượng đầu tiên với điệp ngữ “một” được lặp lại ba lần trong một dòng thơ mang tính chất liệt kê các sự vật quen thuộc: “mai”, “cuốc”, “cần câu” những vật dụng rất đỗi quen thuộc mang bóng dáng nhà nông chân chất vừa mang bóng dáng của một tao nhân mặc khách. Chỉ cần vậy thôi, ta đã cảm nhận được đây là một cuộc sống thư thái an nhàn của nhân vật trữ tình. Kết hợp với điệp ngữ “một” là từ láy “thơ thẩn” miêu tả được tráng thái của tác giả. Với dáng người ung dung, thoải mái, trạng thái tâm hồn thanh nhàn an nhiên không vướng bận chút bụi trần. Câu thơ như một lời thách thức của tác giả đối với người đời, mặc dù ai vui thú nào, ta đây vẫn vui thú an nhàn, vui cuộc sống thôn quê. Từ lời thách thức ấy toát lên sự ung dung trong phong thái, thanh thản trong tâm hồn, vui thu điền viên.

Đến với hai câu thực tiếp theo đã khái quát chân dung nhân vật trữ tình và triết lí “nhàn” của thi nhân:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao

Ở đây ta thấy rõ được sự đối lập giữa các sự vật trong hai câu thơ “nơi vắng vẻ” là chốn thôn quê thanh bình, an nhàn vô âu vô lo, ở đó tâm hồn con người hòa nhập với thiên nhiên, còn “chốn lao xao” là nơi quan trường với những đua tranh ghen ghét của danh lợi, ồn áo phiền não. Phải chăng tác giả “dại” nên tìm nơi thôn quê, còn người đời “khôn” tìm đến chốn quan trường, nhưng thật chất ngược lại, xét trong câu thơ, “dại” có nghĩa là khôn, “khôn” có nghĩa là dại. Lối nói ngược mang ý nghĩa mỉa mai: người khôn mà chọn chốn lao xao đầy rẫy những tham lam, dục vọng, luôn phải suy nghĩ đắn đo, và như thế liệu có sung sướng? Phép đối hai câu thơ thực mang nghĩ mỉa mai chế giễu lũ người kia chỉ biết lao đầu vào tham vọng, vào vòng danh lợi. còn tác giả, ông phủ nhận vòng danh lợi ấy bằng cách thể hiện quan điểm, khí chất thanh cao trong sạch. “Nhàn” ở đây chính là cuộc sống thanh cao, tránh xa vòng danh lợi.

Không những tác giả chọn cuộc sống thanh cao, tránh xa tham vọng, tác giả còn hết mình hòa nhập với thiên nhiên, Đến với hai câu luận đã gợi mở cho người đọc về cuộc sống bình dị, giản đơn của nhân vật trữ tình:

Thu ăn măng trúc đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Ai cũng biết măng, tre, trúc, giá là đồ ăn dân dã từ thiên nhiên rất dễ tìm thấy, gắn liền với cuộc sống của nhà nghèo nơi thôn dã đậm đà vị quê. Những thức ăn ấy trở nên quen thuộc mỗi ngày trong đời sống sinh hoạt, thu ăn măng trúc trên rừng, mùa đông về ăn giá. Đặc biệt câu thơ: “xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” đã phác họa hình ảnh quen thuộc ở làng quê, lối sinh hoạt dân dã. Khi trở về với thiên nhiên, với làng xóm, Nguyễn Bỉnh Khiêm thực sự hòa mình với thôn quê thuần hậu. Cuộc sống thanh đạm, mang lại thú vui an nhàn, thảnh thơi mùa nào thức đấy, đó là một cuộc sống được nhiều người ngưỡng mộ mà chẳng mấy ai có được. chính cảnh sinh hoạt đời thường ấy đã thể hiện sự đồng điệu nhịp bước của thiên nhiên và của con người. Hẳn phải sống hết mình, sống hòa hợp với thiên nhiên mới có sự đồng điều kì diệu như vậy.

Từ những thứ sinh hoạt đời thường ở những câu thơ trên thì đến với hai câu kết, tác giả đúc kết tinh thần, triết lí sống cao đẹp:

Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Trong câu thơ, tác giả có sử dụng điển tích “cội cây” ý muốn nói rằng phú quý công danh là thứ phù phiếm ,chỉ là áng phù vân trôi nổi có rồi lại mất nhử một giấc mơ mà thôi. Đó là một thái độ rất đáng trọng bởi Nguyễn Bỉnh Khiêm sống trong thời đại mà chế độ phong kiến bắt đầu khủng hoảng, nền tảng đạo đức nho giáo bị phá vỡ, rạn nứt, đó là thời đại mà con người lấy tiền làm thước đo cho mọi giá trị khác. Vậy, “nhàn” ở đây là coi thường vinh hoa phú quý. Và ta hiểu rằng “nhàn” ở đây là một triết lí sống chứ không phải quan niệm nhân sinh, không phải là cứu cánh mà chỉ là một phương thức tư duy. Bản chất chữ “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải nhân tâm mà là nhân thân. Nhân mà vẫn phải âu lo việc nước. Nhàn là tìm kiếm sự thanh thản trong tâm hồn chứ không phải là lười nhác, suy cho cùng cũng là giữ gìn danh tiếng của mình, giữ tròn thanh giá của mình trong thời loạn, là lạc đạo vọng bần giữ những phần tử gian xảo tranh đua danh lợi. Nhàn là không để dục vọng xấu xa làm mờ ám lương tâm, làm vẩn đục tâm hồn, không tham dự vào vòng danh lợi, còn lòng ái quốc sẽ không bao giờ nguội lạnh.

Bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa triết lí và trữ tình thể hiện vẻ đẹp tâm hồn nhân cách ẩn sĩ Nguyễn bỉnh Khiêm, là một tâm hồn yêu thiên nhiên, hòa mình cùng thiên nhiên, phủ nhận danh lợi. Bài thơ mang một triết lí sống đẹp đẽ đáng nể, làm gương cho bao thế hệ mai sau.

Cảm nhận bài thơ Nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm lớp 10 – Bài làm 4

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) sống gần trọn một thế kỉ đầy biến động của chế độ phong kiến Việt Nam: Lê – Mạc xưng hùng, Trịnh – Nguyễn phân tranh. Trong những chấn động làm rạn nứt những quan hệ nền tảng của chế độ phong kiến, ông vừa vạch trần những thế lực đen tối làm đảo lộn cuộc sống nhân dân, vừa bảo vệ trung thành cho những giá trị đạo lí tốt đẹp qua những bài thơ giàu chất triết lí về nhân tình thế thái, bằng thái độ thâm trầm của bậc đại nho. Nhàn là bài thơ Nôm nổi tiếng của nhà thơ nêu lên quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra cái tầm thường xấu xa của cuộc sống bon chen vì danh lợi.

Nhà thơ đã nhiều lần đứng trên lập trường đạo đức nho giáo để bộc lộ quan niệm sống của mình. Những suy ngẫm ấy gắn kết với quan niệm đạo lí của nhân dân, thể hiện một nhân sinh quan lành mạnh giữa thế cuộc đảo điên. Nhàn là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại, lánh đời thoát tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trong sạch. Hành trình hường nhà của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong quy luật ấy, tìm về với nhân dân, đối lập với bọn người tầm thường bằng cách nói ngụ ý vừa ngông ngạo, vừa thâm thúy.

Cuộc sống nhàn tản hiện lên với bao điều thú vị.

“Một mai, một cuốc, một cần câu,

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Ngay trước mắt người đọc sẽ hiện lên một Nguyễn Bỉnh Khiêm thật dân dã trong cái bận rộn giống như một lão nông thực thụ. Nhưng đó là cả một cách chọn lựa thú hưởng nhàn cao quý của nhà nho tìm về cuộc sống “ngư, tiều, canh, mục” như một cách đối lập dứt khoát với các loại vui thú khá, nhằm khẳng định ý nghĩa thanh cao tuyệt đối từ cuộc sống đậm chất dân quê này! Dáng vẻ thơ được phác họa trong câu thơ độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản của nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật sự. Thực ra, sự hiện diện của mai, cuốc, cần câu chỉ là một cách tô điểm cho cái thơ thẩn khác đời của nhà thơ mà thôi. Những vật dụng lao động quen thuộc của người bình dân trở thành hiện thân của cuộc sống không vướng bận lo toan tục lụy. Đằng sau những liệt kê của nhà thơ, ta nhận ra những suy nghĩ của ông không tách rời quan điểm thân dân của một con người chọn cuộc đời ẩn sĩ làm lẽ sống của riêng mình. Trạng Trình đã nhìn thấy từ cuộc sống của nhân dân chứa đựng những vẻ đẹp cao cả, một triết lí nhân sinh vững bền.

Đó cũng là cơ sở giúp nhà thơ khẳng định một thái độ sống khác người đầy bản lĩnh.

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,

Người khôn người đến chốn lao xao”

Hai câu thực là một cách phân biệt rõ ràng giữa nhà thơ với những ai, những vui thú nào về ranh giới nhận thức cũng như chỗ đứng giữa cuộc đời. Phép đối cực chuẩn đã tạo thành hai đối cực: một bên là nhà thơ xưng ta một cách ngạo nghề, một bên là người, một bên là dại của ta, một bên là khôn của người, một nơi vắng vẻ với một chốn lao xao. Đằng sau những đối cực ấy là những ngụ ý tạo thành phản đề khẳng định cho thái độ sống của Nguyễn Bĩnh Khiêm. Bản thân nhà thơ nhiều lần đã định nghĩa dại – khôn bằng cách nói ngược này. Bởi vì người đời lấy lẽ dại – khôn để tính toán, tranh giành thiệt hơn, cho nên thực chất dại – khôn là thói thực dạng ích kỉ làm tầm thường con người, cuốn con người vào dục vọng thấp hèn. Mượn cách nói ấy, nhà thơ chứng tỏ được một chỗ đứng cao hơn và đối lập với bọn người mờ mắt vì bụi phù hoa giữa chốn lao xao. Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chủ động trong việc tìm nơi vắng vẻ – không vướng bụi trần. Nhưng không giống lối nói ngược của Khuất Nguyên thuở xưa “Người đời tỉnh cả, một minh ta say” đầy u uất, Trạng Trình đã cười cợt vào thói đời bằng cái nhếch môi lặng lẽ mà sâu cay, phê phán vào cả một xã hội chạy theo danh lợi, bằng tư thế của một bậc chính nhân quân tử không bận tâm những trò khôn – dại. Cũng vì thế, nhà thơ mới cảm nhận được tất cả vẻ đẹp của cuộc sống nhàn tản:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Khác hẳn với lối hưởng thụ vật chất đắm mình trong vinh hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi của một thiên nhiên hào phóng bằng một tấm lòng hòa hợp với tự nhiên. Tận hưởng lộc từ thiên nhiên bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, nhà thơ cũng được hấp thụ tinh khí đất trời để gột rửa bao lo toan vướng bận riêng tư. Cuộc sống ấy mang dấu ấn lánh đời thoát nét gần gũi với triết lí “vô vi” của đạo Lão. “Thoát tục” của đạo Phật. Nhưng gạt sang một bên những triết lí siêu hình, ta nhận ra con người nghệ sĩ đích thực của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hòa hợp với tự nhiên một cách sang trọng bằng tất cả cái hồn nhiên trong sạch của lòng mình. Không những thế, những hình ảnh măng trúc, giá, hồ sen còn mang ý nghĩa biểu tượng gắn kết với phẩm chất thanh cao của người quân tử, sống không hổ thẹn với lòng mình. Hòa hợp với thiên nhiên là một Tuyết Giang Phu Tử đang sống đúng với thiên lương của mình. Quan niệm về chữ Nhàn của nhà thơ được phát triển trọn vẹn bằng sự khẳng định:

“Rượu đến cội cây, ta sẽ uống,

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”

Mượn điển tích một cách rất tự nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói lên thái độ sống dứt khoát đoạn tuyệt với công danh phú quý. Quan niệm ấy vốn dĩ gần với đạo Lão – Trang, có phần yếm thế tiêu cực, nhưng đặt trong thời đại nhà thơ đang sống lại bộc lộ ý nghĩa tích cực. Cuộc sống của những kẻ chạy theo công danh phú quý vốn dĩ ông căm ghét và lên án trong rất nhiều bài thơ về nhân tình thế thái của mình:

“Ơ thể mới hay người bạc ác,

Giàu thì tìm đến, khó thì lui”

(Thói đời)

Phú quý đi với chức quyền đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là cuộc sống của bọn người bạc ác thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà sống. Bọn chúng là bầy chuột lớn gây hại nhân dân mà ông vô cùng căm ghét và lên án trong bài thơ ”Tăng thử” (Ghét chuột) của mình. Bởi thế, có thể hiểu thái độ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao cũng là cách nhà thơ chọn lựa con đường sống gần gũi, chia sẻ với nhân dân. Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao của người bình dân đáng quý đáng trọng vì đem lại sự thanh thản cũng như giữ cho nhàn cách không bị hoen ố vẩn đục trong xã hội chạy theo thế lực kim tiền. Cội nguồn triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn liền với quan niệm sống lành vững tốt đẹp của nhân dân.

Bài thơ “Nhàn” bao quát toàn bộ triết lí, tình cảm, trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bộc lộ trọn vẹn một nhân cách của bậc đại ẩn tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống của nhân dân để đối lập một cách triệt để với cả một xã hội phong kiến trên con đường suy vong thối nát. Bài thơ là kinh nghiệm sống, bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính.

Cảm nhận bài thơ Nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm lớp 10 – Bài làm 5

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là người có học vấn uyên thâm. Ông là một nhà thơ lớn đã có những đóng góp rất nhiều cho nền văn học nước nhà. Khi ông mất đã để lại hai tập thơ nổi tiếng đó là: “Bạch Vân am thi tập” và “Bạch Vân Quốc ngữ thi”. Trong đó, bài thơ để lại ấn tượng nhất đó chính là bài thơ “Nhàn” được trích từ tập “Bạch Vân Quốc ngữ thi”. Bài thơ đã ca ngợi niềm vui trong cảnh sống thanh nhàn đồng thời qua đó ta có thể thấy được triết lí sống và nhân cách tốt đẹp của nhà thơ.

Ngay đầu bài thơ, tác giả giới thiệu cho người đọc về hoàn cảnh, cuộc sống của mình ở Bạch Vân Am.

Một mai một cuốc , một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

“Mai” để đào đất, “cuốc” để xới đất, “cần câu” – đây đều là những vật dụng rất quen thuộc với đời sống nhà nông. Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn là một quan lớn triều Mạc, được phong tới tước Trình Quốc công, vậy mà bây giờ qua về cuộc sống dân dã, tự cung tự cấp. Bên cạnh đó tác giả còn dùng biện pháp điệp số từ “một” thêm vào những công cụ trên. Cách đếm rất rành rọt cho thấy tất cả mọi thứ đã được thi nhân chuẩn bị sẵn sàng chu đáo cho cuộc sống nông điền này. Đến với cuộc sống mới với sự ung dung, thanh thản. Đồng thời từ ” thơ thẩn” trong câu thơ thứ hai càng nhấn mạnh, khắc họa rõ nét hơn dáng vẻ, tư thế của 1 người đang ngồi ung dung chậm rãi và khoan thai. Đặt hình ảnh ấy vào cuộc đời của tác giả ta có thể thấy được lúc nhàn rỗi nhất của ông chính là lúc ông cáo ông về ở ẩn . Và từ ” vui thứ nào” cũng 1 lần nữa nói lên đề tài của bài thơ là về cảnh nhàn dẫu cho ai có bon chen vòng danh lợi nhưng tác giả vẫn muốn chọn cho mình sống nhàn không màng lợi danh. Thức ăn cuộc sống hằng ngày của nhà thơ vô cùng đạm bạc, sinh hoạt dân dã theo mùa: “thu ăn măng trúc”, “đông ăn giá” Trước mắt người đọc hiện ra là một bức tranh tứ bình về cảnh sinh hoạt với 4 mùa xuân – hạ – thu – đông, có mùi vị, có hương sắc, có nước trong, có hương thơm thanh quý. Cuộc sống tuy đạm bạc, giàn dị nhưng lại vô cùng thanh cao. Cuộc sống này gợi cho ta nhớ cuộc sống của Nguyễn Trãi ở Côn Sơn qua bài thơ “Côn Sơn ca”. Có thể tóm tắt nội dung “Côn Sơn ca” của Nguyễn Trãi bằng một chữ “nhàn”. Chữ ấy hơn một trăm năm sau lại trở thành một phương châm, một lẽ sống, một thi đề của một lớp nhà nho mà Nguyễn Bỉnh Khiêm là một đại diện tiêu biểu. Hai nhà thơ sống cách nhau gần hai thế kỉ nhưng lại có một hoàn cảnh, một quãng đời, một tấm lòng, một lẽ nhân sinh rất gần nhau.

Nếu như hai câu thơ đề và luận đã cho ta thấy được cuộc sống hiện tại của nhà thơ thì ai câu thơ thực lại cho ta thấy được vẻ đẹp trong nhân cách của nhà thơ. Điều đó được thể hiện qua quan điểm của ông về quan điểm sống.

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người dến chốn lao xao

Tác giả tự nhận mình là người “dại” bởi đã tìm tới “nơi vắng vẻ” trái hẳn với mọi người thông thường thích tìm tới chỗ “lao xao”. Chỗ “lao xao” mà nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn nhắc tới ở đây chính là chốn quan trường, đường danh huyên náo. Nơi con người chen chúc xô đẩy, vì giành giật những lợi danh mà không từ thủ đoạn hãm hại lẫn nhau, nhiều nguy hiểm khôn lường. Tác giả tự nhận mình là “dại” nhưng thực chất đó chính là cách nói ngược với giọng nói mỉa mai. Ông tự nguyện làm người “dại”, mặc kệ những ai cho mình “khôn”. Họ cứ lao mình bất chấp hiểm nguy vì những thứ danh lợi phù phiếm còn riêng tác giả vừa tỉnh táo vừa thông tuệ. “Dại” ở đây lại hóa thành “khôn” còn “khôn” ở đây lại hóa thành “dại”. Cái khôn của người thanh cao là quay lưng lại với danh lợi, tìm sự thư thái cho tâm hồn, sống ung dung hòa nhập với thiên nhiên. Nhưng có nhiều người nghĩ lối sống của nhà thơ là lối sống xa đời và vô trách? Thật sự có phải như vậy không? Điều đó là không đúng. Nếu như đặt mình trong hoàn cảnh của Nguyễn Bỉnh Khiêm ta có thể hiểu được điều này. Do Nguyễn Bỉnh Khiêm có hoài bão muốn giúp vua làm cho trăm dân ấm no hạnh phúc nhưng triều đình lúc đó đang đấu đá tranh giành quyền lực không màng tới cuộc sống của dân chúng. Nhân dân đói khổ lầm than, cơ cực. Còn tất cả các ước mơ hoài bão của ông mong sẽ giúp dân không được xét tới .Vậy nên Nguyễn Bỉnh Khiêm quyết rời bỏ ” chốn lao xao ” là điều đáng trân trọng, là việc làm rất đúng đắn.

Hai câu thơ kết:

Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.

Nhà thơ đã rất taì tình khi sử dụng điển tích, điển cố với giọng điệu thơ nhẹ nhàng nhưng lại vô cùng thâm thúy. Tác giả nhận thức được công danh, của cải, phú quý chỉ là giấc mộng phù phiếm. Tư tưởng này của ông đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng của Lão Trang, ở cái vô vi của nó. Ở trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của cuộc đời ông thì quan niệm sống ấy là tích cực, là cách chống lại chế độ đương thời. Cảm nhận quy luật của cuộc đời một cách tỉnh táo, uyên thâm để chọn cho mình một lẽ sống nhàn.

Bài thơ là những trải lòng của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm về chiêm nghiệm cuộc sống, về triết lí “nhàn” – triết lí sống tìm yên vui, lạc thú cho bản thân tránh những sự đấu tranh, giành giật danh lợi phù phiếm xa hoa. Bài thơ cho người đọc cảm nhận được một nhân cách đẹp, một trí tuệ thông tuệ khiến cho người khác phải ngưỡng mộ.

Bài văn mẫu Cảm nhận bài thơ Nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm lớp 10

Có thể nói rằng với Nhàn là bài thơ được sáng tác trong thời gian Nguyễn Bỉnh Khiêm về quê ở ẩn. Chữ “nhàn” của ông đã thể hiện được thái độ sống, một triết lí sống vô cùng rõ ràng. Và triết lí ấy được gói gọn chỉ trong một chữ “nhàn”.

Mở đầu bài thơ tác giả viết một câu kể như sau:

Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Ta có thể thấy được ngay hai câu thơ mở đầu tạo ấn tượng đầu tiên với điệp ngữ “một” được lặp lại ba lần ở trong một câu thơ. Nó không chỉ mang tính chất liệt kê các sự vật quen thuộc đó chính là hình ảnh “mai”, “cuốc”, “cần câu” mà còn là những vật dụng rất đỗi quen thuộc mang bóng dáng nhà nông vô cùng chân chất vừa mang bóng dáng của một “Tao nhân mặc khách ngâm nga” vậy. Đó chính là một hình dáng ung dung thoải mái, thêm vào đó là một trạng thái tâm hồn thanh nhàn an nhiên không vướng bận chút bụi trần.

Có thể nhận thấy được câu thơ như một lời thách thức của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với người đời, và cho dù ai vui thú nào đi chăng nữa thì ta đây vẫn vui thú an nhàn, vui cuộc sống thôn quê nhất. Cũng chính từ những lời thách thức đó dường như cũng đã toát lên được phong thái thật thanh thản trong tâm hồn và thật vui thú điền viên của một lão nông già.

Khi đọc đến với hai câu thực tiếp theo đã khái quát chân dung nhân vật trữ tình và triết lí “nhàn” của thi nhân đã thể hiện qua câu:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao

Không khó khi nhận thấy được sự đối lập giữa các nhân vật trong hai câu thơ thể hiện đó chính là “nơi vắng vẻ” và chốn quê thật thanh bình vô cùng an nhàn, vô lo vô nghĩ. Thực sự đó chính là tâm hồn của con người luôn luôn hòa nhập cùng với thiên nhiên. Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm thì “chốn lao xao” cũng được ám chỉ đến nơi quan trường với những vòng danh lợi, ghen ghét và sự đố kỵ nữa. Và phải chăng tác giả “dại” cho nên ông mới tìm nơi thôn quê, còn người đời “khôn” tìm đến chốn quan trường.

Nhưng xét trong vần thơ này lại hoàn toàn ngược lại, “dại” có nghĩa là khôn, và từ “khôn” có nghĩa là dại. Bạn có thể nhận thấy được chính lối nói ngược mang ý nghĩa mỉa mai: người khôn mà chọn chốn lao xao đầy rẫy những tham lam, dục vọng, luôn luôn phải suy nghĩ đắn đo, khiến cuộc sống luôn vội vã. Hai câu thực như mang nghĩa mỉa mai chế giễu lũ người kia chỉ biết lao đầu vào tham vọng, chính vào vòng danh lợi. Còn đối với tác giả thì ông dường như cũng đã phủ nhận vòng danh lợi ấy bằng cách thể hiện quan điểm, khí chất thanh cao trong sạch.

Qua 4 câu thơ ta cũng thấy rõ rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã lựa chọn cuộc sống thanh cao, hòa nhập với thiên nhiên và tránh xa tham vọng. Khi đọc đến hai câu luận cũng đã gợi mở cho người đọc về một cuộc sống vô cùng bình dị của nhân vật trữ tình.

Thu ăn măng trúc đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Măng, tre, trúc, giá được xem chính là đồ ăn dân dã từ xa xưa mà con người ta vẫn thường ăn. Nó gắn liền với cuộc sống thôn quê chất phác và hết sức quen thuộc trong đời sống. Còn với câu thơ:

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Câu thơ khiến ta nhớ về những hình ảnh quen thuộc ở làng quê, về cái lối sinh hoạt dân dã. Khi trở về với thiên nhiên trở về với làng xóm. Tác giả thực sự hòa mình với thôn quê thuần hậu, người đọc có thể nhận thấy được cuộc sống thanh đạm, một cuộc sống dường như cũng đã mang lại thú vui an nhàn, thảnh thơi mùa nào thức đấy. Thực sự đó là một cuộc sống được nhiều người ngưỡng mộ mà chẳng mấy ai có được. Chỉ là một cảnh sinh hoạt đời thường đơn giản nhưng nó lại thể hiện sự đồng điệu nhịp bước của thiên nhiên, đồng điệu với con người.

Cũng chính từ những thứ sinh hoạt đời thường này tác giả đã đến với hai câu kết, với sự đúc kết tinh thần, triết lí sống cao đẹp nhất:

Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Điển tích “cội cây” xuất hiện như mang được ngụ ý muốn nói rằng phú quý công danh là thứ phù phiếm và đồng thời cũng chỉ là áng phù vân trôi nổi có rồi lại mất như một giấc mơ mà thôi. Và qua đây ta có thể nhận thấy đây cũng chính là một thái độ rất đáng trọng bởi tác giả đã sống trong thời đại mà chế độ phong kiến bắt đầu khủng hoảng. Trong xã hội đó khi nền tảng đạo đức nho giáo bị phá vỡ, rạn nứt và thực sự đó là thời đại mà con người lấy tiền làm thước đo cho mọi giá trị khác.

Tóm lại, Nhàn đã thể hiện rõ sự kết hợp hài hòa giữa triết lí và trữ tình thể hiện vẻ đẹp tâm hồn nhân cách ẩn sĩ Nguyễn bỉnh Khiêm. Đồng thời tác phẩm cũng thể hiện rõ một tâm hồn yêu thiên nhiên, hòa mình cùng thiên nhiên, phủ nhận danh lợi, làm gương cho bao thế hệ mai sau nữa.

Cảm nhận bài thơ Nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm lớp 10 – Bài làm 7

Nguyễn Bỉnh Khiêm không những là một ông quan thanh liêm và có học vấn uyên thâm, nhưng vì sống trong cảnh quan trường có nhiều bất công cho nên ông đã cáo quan về ở ẩn. Ông lựa chọn một nơi an nhàn, thảnh thơi nơi thôn quê và bài thơ “Nhàn” là một bài thơ viết về những tháng ngày tác giả ở ẩn. Thông qua bài thơ nhàn thì đã thể hiện được tiếng lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm về một cuộc sống nhiều niềm vui có biết bao nhiêu an nhàn và thanh thản nơi đồng quê.

Bài thơ Nhàn đã thể hiện được một tâm hồn tràn ngập niềm vui và sự thanh tịnh trong tâm hồn tác giả, với những cảm xúc thanh nhàn chính là tinh thần chủ đạo của bài thơ.

Một mai một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Nguyễn Bỉnh Khiêm thật tài tình khi đã sử dụng điệp từ “một” để có thể vẽ lên trước mắt người đọc một khung cảnh bình dị, đơn sơ nơi quê nghèo. Tác giả cho dù là một mình nhưng không hề đơn độc một chút nào. Ông sử dụng hai câu thơ toát lên sự thanh tịnh của tâm hồn và êm đềm của thiên nhiên ở vùng quê Bắc Bộ mới đẹp làm sao. Hình ảnh cuốc và cần câu đã gợi lại cho chúng ta một sự mộc mạc, một sự chất phác của một lão nông tri điền vui thú điền viên. Thực sự đây cũng là mong ước của biết bao nhiêu người ở thời kỳ phong kiến ngày xưa thế nhưng không phải ai cũng có thể bỏ được chốn quan trường. Từ “thơ thẩn” đã gợi được một cuộc sống cứ đủng đỉnh, ung dung tự tại. Ông đã rời chốn quan trường về với thôn quê.

Đọc đến hai câu thơ thực tiếp theo trong bài thơ Nhàn dường như lại càng khắc họa rõ nét hơn chân dung của một lão nông Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao

Với câu thơ này chúng ta có thể xem là tuyên ngôn sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong những năm tháng sau khi cáo quan về ở ẩn. Ở đây Nguyễn Bỉnh Khiêm lại tự nhận mình “dại” khi tìm nơi vắng vẻ đến sống. Thế nhưng đây là cái dại này cũng đã khiến nhiều người ghen tỵ và ngưỡng mộ. Tác giả thật rất khéo léo trong việc dùng từ ngữ độc đáo, đồng thời cũng đã lại lột tả được hết phong thái của ông. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cho rằng những người chọn chốn quan trường là những người “khôn”. Đây chính là một cách khen rất tinh tế, khen mà chê, cũng có thể là khen mình và chê người. Thêm vào đó người đọc nhận thấy được tứ thơ ở hai câu này dường như hoàn toàn đối lập nhau từ ngôn ngữ đến dụng ý khái niệm về “dại” -“khôn”, “vắng vẻ” – “lao xao”. Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm về nơi vắng vẻ để ở liệu đây có phải là trốn tránh trách nhiệm với nước hay không? Với thời thế như vậy thì ông tìm đến nơi vắng vẻ, tránh xa vòng danh lợi chốn quan trường thì khi đó con người mới sống thật là chính mình được. Thực sự có thể nhận thấy được đây là một cốt cách thanh cao, một tâm hồn đáng ngưỡng mộ.

Hai câu thơ luận cũng đã khiến cho người đọc về cuộc sống bình dị, giản đơn và thanh cao của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Thu ăn măng trúc đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Chỉ sử dụng một cặp câu đã lột tả hết tất cả cuộc sống sinh hoạt và thức ăn hằng ngày của “lão nông nghèo”. Cứ mùa nào đều tương ứng với thức ăn đấy, tuy những món ăn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không có sơn hào hải vị nhưng những thức ăn có sẵn này dường như lại đậm đà hương vị quê nhà. Tất cả như đã khiến tác giả an phận và hài lòng.

Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Bài thơ khép lại bởi hai câu thơ triết lý này cũng đã đúc rút được về quan điểm, cách nhìn nhận của Nguyễn Bỉnh Khiêm về cuộc sống về vinh hoa. Đối với ông thì vinh hoa, phú quý như một giấc chiêm bao đến rồi đi.

Với 8 câu thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khiến người đọc ngưỡng mộ và khâm phục cốt cách, khâm phục tinh thần và phong thái của một vị quan không màng danh lợi, chi mong yên ổn khi về già.

Cảm nhận bài thơ Nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm lớp 10 – Bài làm 8

“Một mai một quốc một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Với cách sử dụng số đếm:” một” rất linh hoạt, nhịp thơ ngắt nhịp đều đặn 2/2/3 kết hợp với hình ảnh những dụng cụ lao động nơi làng quê: mai, cuộc, cần câu cho ta thấy những công cụ cần thiết của cuộc sống thôn quê . Chính những cái mộc mạc chân chất của những vật liệu lao động thô sơ ấy cho ta thấy được một cuộc sống giản dị không lo toan vướng bận của một danh sĩ ẩn cư nơi ruộng vườn, ngày ngày vui thú với cảnh nông thôn.Không những thế nhwungx câu thơ tiếp theo tiếp tục cho ta thấy được cái bình dị trong cuộc sống thôn quê qua những bữa ăn thường ngày của ông:

“Thu ăn măng trúc đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”

Món ăn của ông là những thức có sẵn ở ruộng vườn, mùa nào thức nấy: măng, trúc, giá,…. những món rất giản dị đời thường. Cuộc sống sinh hoạt của cụ giống như một người nông dân thực thụ, cũng tắm hồ, tắm ao. Hai câu thơ vẽ nên cảnh sinh hoạt bốn mùa của tác giả, mùa nào cũng thong dong, thảnh thơi. Qua đó ta thấy được một cách sống thanh cao, nhẹ nhàng, tránh xa những lo toan đời thường.Ngoài thể hiện cuộc sống đời thường tác giả còn thể hiện triết lí sống, nhân cách của ông:

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao “

Tìm nơi “vắng vẻ” không phải là xa lánh cuộc đời mà tìm nơi mình thích thú được sống thoải mái, hoà nhập với thiên nhiên, lánh xa chốn quan trường, lợi lộc để tìm chốn thanh cao.”Chốn lao xao” là chốn vụ lợi, chạy theo vinh hoa, lợi ích vật chất, giành giật hãm hại lẫn nhau. Rõ ràng Nguyễn Bỉnh Khiêm cho cách sống nhàn nhã là xa lánh không quan tâm tới danh lợi. Tác giả mượn lời nói của đòi thường để diễn đạt quan niệm sống của mình mặc người đời cho là khôn hay dại. Đó cũng chính là quan niệm của Nho sĩ thời loạn vẫn tìm về nơi yên tĩnh để ở ẩn.Nghệ thuật đối: “ta” đối với “người”, “dại” đối với “khôn”, “nơi vắng vẻ” đối với “chốn lao xao” tạo sự so sánh giữa hai cách sống, qua đó khẳng định triết lí sống của tác giả. Không những thế hình ảnh thơ cuối như lần nữa khẳng định triết lí sống của tác giả:

“Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Trong hơi men nồng nàn cùng sự bình yên của làng quê nhà thơ nhận ra phú quý quả thật chỉ là một giấc chiêm bao. Nó cũng sẽ mau chóng tan thành mây khói.

Bài thơ thể hiện được quan niệm của nhà thơ về cuộc đời, đồng thời ta thấy được cuộc sống an nhàn của nhà thơ nơi thôn dã. Đó là một cuộc sống vô cùng giản dị và bình an, đạm bạc nhưng lại rất thanh cao. Nguyên Bỉnh Khiêm đẫ thể hiện lên một tâm hồn một nhân cách sống rất bình dị đời thường, một cốt cách cao đẹp.

Trong rất nhiều đóng góp của cho nền văn hóa dân tộc, đóng góp lớn lao cho sự nghiệp giáo dục được nhiều nhà khoa học đánh giá cao. Tất cả thành tựu giáo dục ở thời Mạc, không thể không nhắc tới công lao của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông chính là những tượng đàio thơ ca tiêu biểu của Việt Nam. Trong những tác phẩm nổi tiếng của ông có bài thơ “Nhàn” như một lời phê phán, một lời oán trách nhẹ nhàng trước cuộc sống đầy bon chen, ích kỉ. Đồng thời, nêu cao tinh thần lạc quan, khí tiết thanh cao của một người coi danh lợi.

Những bài văn mẫu Cảm nhận bài thơ Nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm lớp 10

Tác phẩm được sáng tác trong hoàn cảnh ông chán ghét cảnh quan trường và trở về ở ẩn tại làng quê. Đây cũng chính là cách xử thế quen thuộc của ông cũng như các nhà nho cùng thời trước bất bình của hiện thực chốn qaun trường bị đồng tiền làm mờ mắt và thể hiện khí thế thanh cao trong sạch muốn tìm thú vui nơi thuên nhiên, cây cỏ. Nhà thơ sáng tác bài thơ này để thể hiện quan điểm và dại khôn ở đời

Những câu thơ đàu tiên hiện lên với bao điều thú vị nơi thôn quê bình dị:

” Một mai , một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Nhịp thơ 2/2/3 thể hiện được lối sống thanh nhàn.” Mai, cuốc” đều là những dụng cụ củ nông dân dùng để đào xới đất. Tác giả đã sử dụng biện phát liệt kê để chỉ hàng loạt các dụng cụ bình dị, tái hiện lên hình ảnh của một người nông dân thực thụ với những thú vui hòa mình cũng với thiên nhiên, câu cỏ. Câu cá một hoạt động thanh nhàn của mọi nho sĩ khi về quê ở ẩn. Dáng vẻ thơ được phác họa trong câu thơ độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản của nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật sự. Điệp từ”một” cho thấy mọi thế đã đầy đủ sẵn sàng và chu đáo tác giả chọn cách sống hoàn toàn đối lập với những kẻ tham danh vọng, sống một lối sống xô bồ nơi quan trường. Từ láy ” thơ thẩn” hiện lên với một sự thư thái nghỉ ngơi mông lung, không còn vướng bận đến việc triều chính mà tự do tự tại nơi chốn thiên nhiên giản dị. “Ai” ở để ám chỉ người đời, những kẻ sống bon chen, tìm kiến tham vọng. Những kẻ này sẽ mãi chẳng thể kiếm được niềm vui sự thảnh thơi của chính bản thân mình.

Câu thơ tiếp theo tác giả dùng cách nói ngược để nói về sự khôn dại ở đời:

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người dến chốn lao sao”

Câu thơ thể hiện được quan niệm khôn dại ở đời. Nhà thơ dùng cách nói ngược để nói về sự khôn dại ở đời. Đằng sau câu thơ ấy chính là ngụ ý ám chỉ cuộc sống thực tại đúng nghĩa. Tác gủa đã sử dụn Vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Bỉnh khiêmg nghệ thuật đối lập giữa “ta” với “người”, “vắng vẻ” với “lao xao” để phản ánh sự thực giữa một nơi là quan trường bon chen mưu lợi , một nơi lag nông thôn bình dị chất phát. Dại – khôn còn là cách nói ám chỉ những kẻ ngu ngốc sống vùi mình vì danh lợi, bì đồng tiền làm mờ mắt mà đánh mất đi nhân tích. ” Nơi vắng vẻ” là nơi ít người không ai cầu cạnh ta, ta không cần cạnh ai, nơi yên tĩnh hoàn hợp vơi thiên nhiên. Ở đây tác giả ẩn dụ chỉ ;;ối sông thanh bạch không màng danh lợi, hòa hợp bới thiên nhiên. “Chốn lao xao” là nơi ồn ào, nơi có cuộc sống sang trọng quền thế con người sống bon chen, đua danh lợi sống thủ đoạn trái ngược hoàn toàn với cuộc sống vắng vẻ. Chính ra cách lựa chọn của nhà thơ khi về với chốn bình yên quê nhà mới chính là khôn, sống đúng với bản thân yên bình mới thấy cuộc sống vui tươi thoải mái nhất.

Nhà thơ cảm nhận được rất rõ tất cả vẻ đẹp của cuộc sống nhàn tản:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

“Măng, giá” đều là nhưng món ăn thôn quê có sẵn trong tự nhiên, thanh sạch chứ khong khắc khổ hết sức quen thuộc với con người nông dân. Mùa xuân tắm hồ sen, mùa hạ tăm ao. Cuộc sống hiện lên vô cùng giản dị. Nghệ thuật liệt kê, đan xen bốn mùa xuân- hạ- thu- đông trôi qua hết sức nhàn hạ thoảnh mái và hiện lên một cuộc sống lạc quan không hề vướng bận đến miếng cơm manh áo, một tinh thần lạc quan trước cuộc sống thanh tao. Nhà thơ chìm đắm trong thiên nhiên, ăn uống rất thanh cao đạm bạc mùa nào thức ấy có gì ăn nấy không cầu kì cao lương mỹ vị.

“Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”

Tác giả mượn điển tích Thuần Vu Phần uống rượu say, nằm ngủ quên dưới cây hòe mộng thấy mình giàu sang mơ quan trường để ám chỉ danh lợi phú quý chỉ là giấc mơ chiêm bao, thể hiện rõ được thái độ coi thường danh vọng, tiền bạc phú quý chỉ như một giấc mơ dưới gốc cây hòe thoảng qua không có ý nghĩa gì. Tìm rượi để uống cho say để mơ, say để bừng tỉnh chí tuệ, khẳng định lẽ sống đẹp của mình ” coi thường phú quý danh lợi” chân trọng cái tồn tại vĩnh hằng cuat thiên nhiên và nhân cách sống. Trong câu thơ còn có chút sự hờn trách, bất lực trước sự đời, đâu đâu cũng là cuộc sống hư danh.

Tác phẩm đã thể hiện được quan niệm sống của tác giả rời xa phú quý để giữ cốt cách thanh cao, không màng phú quý để được sống hòa hợp với thiên nhiên, cây một lối sống không vướng bận, không bon chen. Nghệ thuật thơ đối lập, nói ngược đã góp phần làm nên thành công trong tác phẩm.

Bài thơ ” nhàn” đã thể hiện được quan niệm cũng nhơ cách sống của tác giả. Cho thấy một vẻ đẹp cuộc sống đạm bạc mà bình dị mag thanh cao. Vet đẹp tâm hồn con người mới đáng quý.

Thu Thủy

Top 10 Bài Văn Mẫu Thuyết Minh Về Ngôi Trường Của Em Lớp 9 Chọn Lọc

Thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9 – Bài làm 1

Nhắc đến hai tiếng ngôi trường, trong tôi lại không khỏi bồi hồi, xúc động nhớ về những năm tháng học tập dưới mái trường thân yêu này, trường THCS Lý Tự Trọng. Đây là ngôi trường cấp 2 có bề dày lịch sử hàng chục năm và là một trong những trường điểm của thành phố.

Những năm trước đây, trường nằm chung khuôn viên với trường cấp 1 nên học sinh 2 cấp cùng học chung một trường. Tuy nhiên, bắt đầu từ năm tôi vào học lớp 6, trường đã tách riêng. Trường của tôi được xây dựng trên một mảnh đất rất rộng, mặt trước của trường giáp với con đường đôi đẹp nhất thành phố. Lúc mới hoàn thiện, trường còn chưa có cổng, tôi vẫn nhớ cánh cổng tạm làm bằng thân cây tre ọp ẹp. Bây giờ, trường đã có cổng sắt, có biển hiệu vô cùng khang trang. Những cái cây xanh trồng trong sân trường sau 4 năm học cũng đã lớn lên nhiều. Chúng trở thành người bạn của học sinh trường tôi trong những giờ ra chơi. Sân trường giờ đây đã được đổ bê tông rất sạch sẽ. Chúng tôi có thể thoải mái chạy nhảy mà không còn lo bụi như trước nữa.

Trường học của tôi có tất cả 30 phòng học, chia làm 3 tầng. Mỗi lớp sở hữu một phòng học riêng. Ngoài ra, trường còn có phòng chức năng như phòng thí nghiệm môn Vật lý, môn Hóa học, phòng Tin học, phòng học Tiếng Anh,… Các phòng học chức năng đều được trang bị máy móc hiện đại, đầy đủ đồ dùng thí nghiệm phục vụ cho việc học của mỗi học sinh. Ở tất cả các lớp học, sàn đều được lát gạch hoa, có cửa sổ đón ánh sáng, có trang bị cả quạt trần và quạt treo tường. Ngoài ra, mỗi lớp còn tự trang trí để lớp học của mình thêm đẹp hơn. Lớp tôi có một chiếc tủ sách ở cuối lớp với rất nhiều đầu sách hay.

Để được là học sinh của trường, chúng tôi phải trải qua một kì thi với các môn Toán, Ngữ Văn, Tiếng Anh. Sau đó, chúng tôi được chia lớp dựa trên số điểm mà mình đã đạt được. Dạy chúng tôi là những người thầy, người cô có chuyên môn cao. Hầu hết các thầy cô giáo trong trường đều có bằng cao học. Có những thầy cô giáo đã được phong tặng danh hiệu nhà giáo ưu tú. Chúng tôi luôn cảm thấy vinh dự và tự hào vì được là học trò của những người thầy, người cô như vậy. Họ luôn yêu quý và dạy dỗ chúng tôi như thể đang dạy cho con của mình. Bao nhiêu năm qua trường tôi vẫn luôn dẫn đầu về thành tích học sinh giỏi.

Bên cạnh phong trào thi đua dạy tốt học tốt, trường tôi còn thường xuyên tổ chức những phong trào hoạt động tình nguyện quyên góp cho các bạn học sinh vùng gặp khó khăn. Tôi lúc nào cũng hào hứng với các phong trào như vậy. Trường của tôi đã được Tỉnh tặng bằng khen cho những hoạt động ngoại khóa này. Bên cạnh đó, đội bóng đá của trường tôi cũng đang là đương kim vô địch giải bóng đá thiếu niên nhi đồng toàn thành phố.

Tôi đã gắn bó với ngôi trường của mình năm nay là năm thứ 4 rồi. Biết là nay mai sẽ phải xa rời mái trường này để bước lên bậc học cao hơn. Nhưng với tôi nơi này sẽ là nơi lưu giữ nhiều kỉ niệm đẹp nhất của tuổi học trò. Sẽ nhớ mãi không quên ngôi trường mang tên người anh hùng Lý Tự Trọng.

Có lẽ với mỗi người khi đã đang và sẽ đi qua những năm tháng tuổi học sinh thì sẽ còn ghi dấu mãi mãi hình ảnh ngôi trường mà mình đã gắn bó bao lâu. Không biết tự bao giờ, ngôi trường nhỏ bé, thân thuộc đã trở thành ngôi nhà thứ hai bởi nơi đó có thầy cô nhiệt tình, tận tụy với học sinh; có bạn bè yêu quý, sẻ chia cùng nhau như chị em trong gia đình. Với tôi, ngôi trường cấp hai Trần Huy Liệu là thế đó, là một miền cứ ức tươi đẹp mà khi đi đến nơi đâu cũng luôn luôn hướng về với tình cảm thương mến.

Dọc theo quốc lộ 10 về phía Tây Nam, ta sẽ bắt gặp hình ảnh ngôi trường Trần Huy Liệu nằm cách mặt đường chính khoảng 10m. Trường nằm ở thị trấn Gôi, huyện Vụ Bản- nơi cách trung tâm thành phố Nam Định khoảng 15km. Tiền thân của ngôi trường là trường năng khiếu Vụ Bản, được thành lập năm 1993 tại cầu Chuối, Vụ Bản. Đến năm 1997, trường được xây mới và chuyển về địa điểm như hiện tại. Từ ngày 22/8/1997, trường vinh dự được mang tên giáo sư, viện sĩ sử học của quê hương “Thiên Bản lục kỳ”- Trần Huy Liệu.

Được sinh ra từ cái nôi của mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng và hiếu học, suốt 20 năm qua trường luôn kiên trì, bền bỉ vươn lên để ngày một trưởng thành. Ban đầu, trường chỉ có 13 cán bộ giáo viên và 150 em học sinh thì đến nay trường đã có một tập thể sư phạm 50 cán bộ giáo viên, 16 lớp với hơn 600 học sinh cùng nhau đoàn kết, nỗ lực làm nên những trang vàng truyền thống của nhà trường. Từ những khó khăn về cơ sở vật chất thì đến nay trường đã được xây dựng khang trang, sạch đẹp. Trường gồm 45 phòng học hiện đại được trang bị đầy đủ các phương tiện giảng dạy như bảng, máy tính, máy chiếu. Các phòng bộ môn cũng được chú trọng đầu tư các mẫu vật thí nghiệm để học sinh có cơ hội quan sát và học tập hiệu quả hơn. Phía sau dãy nhà học sinh là sân cát khá rộng để học sinh có thể tham gia các hoạt động ngoại kháo đầy sôi nổi. Vì là ngôi trường chất lượng cao của huyện nên lượng học sinh từ xa về học rất đông. Trường cũng đã chú trọng, quan tâm đến các em, xây dựng nhà bếp và khu nhà ăn khang trang và hợp vệ sinh, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các em học tập. Các phòng nội trú rộng rãi, thoáng mát được quản lí nghiêm bởi thầy quản sinh.

Một học sinh cũ, nay đã là một cô giáo mới, về trực tiếp giảng dạy tại trường đã nhận xét rằng: ” Có thể khẳng định: đây là một môi trường lí tưởng để học sinh học tập tốt, rèn luyện tốt”. “Mái trường là mái ấm tình thương của chúng em, là cái nôi nuôi dưỡng nhân tài cho quê hương đất nước”. Đã từ lâu, Trường THCS Trần Huy Liệu được biết đến là cái nôi bồi dưỡng học sinh giỏi, với đội ngũ thầy, cô giáo tâm huyết và giàu kinh nghiệm, được các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân trong huyện tin tưởng. Tuy có tuổi đời rất trẻ song đã có bề dầy thành tích: hàng chục Bằng khen của UBND tỉnh, Công đoàn Giáo dục Việt Nam, Bộ trưởng bộ GD-ĐT, Thủ tướng Chính phủ, TƯ Đoàn TNCS HCM… Hàng năm: 98% đến 100% học sinh lớp 9 đỗ vào PTTH, có 28- 45 em đỗ vào các trường chuyên của Nam Định, Ninh Bình, Đại học Quốc Gia Hà Nội. Để đạt được kết quả trên, Ban giám hiệu Trường THCS Trần Huy Liệu đã có nhiều giải pháp để động viên, khích lệ phong trào dạy và học. Cùng với quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên có phẩm chất đạo đức, nhiệt tình, tâm huyết với sự nghiệp trồng người, Ban giám hiệu nhà trường còn đặc biệt quan tâm đến hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ giáo viên, như thực hiện nghiêm túc chế độ dự giờ, sinh hoạt chuyên môn; đồng thời, chú trong đổi mới phương pháp dạy học và thường xuyên kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm khơi dậy sự hứng thú, tinh thần chủ động sáng tạo trong học tập của học sinh. Ngoài ra, nhà trường còn phối hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh để thống nhất phương pháp giáo dục, cũng như công tác quản lý học sinh.

Nhiều thế hệ học sinh đã trưởng thành từ mái trường Trần Huy Liệu. Hàng năm, dịp 20/11, các em kéo về thăm trường -thăm “mái ấm”, “cái nôi xưa” với những tình cảm chân thành, với sự gắn bó thân thiết. Và các em về với cả sự quan tâm, chăm sóc: Hàng trăm xuất quà, học bổng được dành tặng cho các em học sinh nghèo vượt khó với những lời dặn dò của người anh, người chị đã động viên, khích lệ, giáo dục các em thật thiết thực.

Thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9 – Bài làm 3

“Ngôi trường” hai tiếng gần gũi giản dị, thiêng liêng, chứa đựng bao kỉ niệm gắn bó về một thời áo trắng, hồn nhiên thơ ngây. Ngôi trường như là ngôi nhà thứ hai của em.

Thật tự hào khi ngôi trường em mang tên một anh hùng dân tộc lịch sử. Trường THCS Chu Văn An được thành lập năm 1908 . Sau hòa bình lập lại, trường được tách riêng vào năm 1956. Từ năm đó đến nay, có những thời kỳ gián đoạn do chiến tranh phá hoại, do nhiệm vụ chính trị, xã hội của đất nước, trường ổn định từ năm 1964 đến nay.

Ngôi trường nằm trên con đường quốc lộ với nhiều phương tiện xe cộ đi lại. Hai bên cổng trường là cây cối um tùm, cành lá xum xuê nên những bạn học sinh khi đến trường có thể nghỉ ngơi, nghỉ giải lao dưới bóng mát mà không sợ nắng. Cổng trường được sơn màu xanh, với bảng hiệu ghi tên trường, luôn mở rộng chào đón các bạn học sinh, đưa các bạn trở về với thế giới của những tri thức. Hai bên cánh cổng còn được lát gạch đỏ trông rất sang trọng. Bước vào sân trường được đổ bê tông phẳng lì, cây cối to, cao che bóng má cho cả một khoảng trời trong sân trường. Vào mỗi giờ ra chơi, các bạn thường ra gốc cây tham gia những trò chơi, ngồi nghỉ giải lao, hóng mát sau những giờ học căng thẳng. Trên cành cây những chú chim ca hót líu lo tạo nên những bản nhạc không lời nghe thật vui tai. Ngôi trường với những dãy nhà cao to, khang trang, cao đẹp được sơn màu vàng. Mỗi khi có ánh nắng chiếu vào, ngôi trường càng trở nên lung linh, kì diệu hơn. Trường có rất cả 30 phòng học với những phòng học bộ môn như Vật lý, Hóa học,… với những máy móc, đồ thí nghiệm để học sinh được học tập khoa học. Các lớp học đều được lát nền đá hoa, mùa hè đi vào mát rượi. Mỗi phòng học rộng khoảng 40 mét vuông, được nhà trường trang bị đầy đủ những thiết bị cần thiết phục vụ cho việc dạy và học. Trong mỗi lớp học các bạn học sinh còn khéo léo trồng những cây xanh đem đến không khí trong lành, thoải mái, dễ chịu. Bên cạnh đó, nhà trường còn xây dựng nhà đa năng để học sinh tham gia những hoạt động thể dục thể thao, văn nghệ.

Được học tập dưới mái trường, chúng em luôn cảm nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô bạn bè. Đội ngũ giáo viên với chuyên môn cao, có kinh nghiệm cao trong nghề. Đặc biệt các giáo viên luôn tâm huyết với nghề, luôn yêu thương học sinh. Truyền thống ấy còn được viết lên bằng những cái tên ưu tú, những nhà giáo, những thế hệ học trò. Nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, giám đốc sở giáo dục đào tạo, vụ trưởng, phó giáo sư tiến sĩ…Học sinh có truyền thống chăm ngoan, học giỏi, luôn không ngừng tu dưỡng đạo đức. Ở đây ta bắt gặp những tình thầy trò thật đẹp. Chúng em luôn tôn trọng những thầy cô giáo, những người đã tiếp thêm cho chúng em sức mạnh và niềm tin, như những người lái đò chèo lái cho bao thế hệ học sinh sang sông một cách an toàn. Mai này bài giảng của thầy cô giúp chúng em trở thành những người có ích cho gia đình, xã hội. Ngoài ra, nhà trường còn tổ chức cho học sinh nhiều buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp như tiếng anh, hội chợ,… giúp học sinh phát triển năng lực toàn diện trở nên năng động hơn. Những hoạt động ngoại giờ của nhà trường giúp học sinh có thêm những phút giây thoải mái cũng như những kinh nghiệm thực tế quý báu. Trường có bề dày lịch sử cao về truyền thống học tập, với tỉ lệ đỗ vào các trường cấp ba đứng đầy Tỉnh, cùng với học sinh giỏi chiếm tỉ lệ cao.

Ngôi trường gắn bó biết bao nhiêu kỉ niệm, ngôi trường gắn bó biết bao kỉ niệm về tuổi học trò về thời áo trắng, chắp cánh cho biết bao thế hệ học sinh bay cao, bay xa. Dù có đi đâu xa thì ngôi trường vẫn luôn in đậm trong tâm trí bao thế hệ học sinh: ” Thời gian trôi qua nhanh chỉ còn lại những kỉ niệm”.

Thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9 – Bài làm 4

“Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Ngôi trường là mái nhà thứ hai, nơi lưu giữ bao kỉ niệm của thời áo trắng biết bao mơ mộng. Chính nơi này đã vun đắp nên tình thầy trò, tình bạn và cả những mối tình học trò hồn nhiên, trong sáng. Thời gian thật nhanh, chỉ còn một năm nữa tôi đã là học sinh cuối cấp, sắp phải tạm biệt mái trường này.

Thật tự hào khi được học tập trong một ngôi trường mang tên một vị trạng nguyên trẻ tuổi nhất lịch sử, trạng nguyên Nguyễn Hiền. Trường được thành lập từ năm 1971, chỉ vài năm nữa là kỉ niệm tròn 50 năm thành lập.

Ngôi trường nằm đồ sộ trên con đường râm mát, rợp bóng cây xanh. Vì vậy mỗi ngày đi bộ đến trường không còn là vất vả mà ngược lại tôi có cơ hội được tận hưởng cái không khí trong lành, dễ chịu. Từ ngoài bước vào là cánh cổng xanh thân thuộc, cánh cổng đã mở ra cho mỗi chúng tôi một thế giới thật diệu kì.Trường có khuôn viên rộng lớn gồm nhiều dãy phòng học, nhà đa năng và sân trường. Bước vào là sân trường rộng khoảng 300 mét vuông trồng đầy những cây phượng, cây bàng tán rộng. Trên sân trường, vào mỗi giờ ra chơi, những nhóm học sinh rủ nhau nhảy dây, đá cầu. Hiện ra trước mắt là khu nhà A gồm phòng làm việc của thầy cô ban giám hiệu, phòng giáo viên và cả phòng truyền thống. Trường tôi có bốn khối, mỗi khối năm lớp. Hai dãy B, C hai bên là 20 lớp học, ngoài ra còn có những phòng thực hành bộ môn. Các lớp khối 6,7 ở dãy B, còn các lớp khối 8,9 sẽ ở dãy nhà C. Mỗi phòng học rộng khoảng 40 mét vuông, được nhà trường trang bị đầy đủ những thiết bị cần thiết phục vụ cho việc dạy và học. Để giúp cho không khí trong lớp được trong lành, mát mẻ, các bạn học sinh còn tự tay thiết kế những chậu cây xanh nho nhỏ treo bên cửa sổ. Các phòng thực hành bộ môn như lý, hóa, sinh có đầy đủ các thiết bị cho thí nghiệm để học sinh có cơ hội được quan sát trực tiếp. Đằng sau trường là nhà đa năng để học sinh tập luyện những môn thể thao trong nhà. Trước nhà đa năng có sân cát rộng để đá bóng. Tại đây đã diễn ra bao trận đá bóng đẹp mắt và kịch tính.

Đội ngũ giáo viên của trường là những người luôn có ý thức tự giác và học hỏi, chuyên môn tốt. Đặc biệt ở các thầy cô là nhiệt huyết với nghề và tấm lòng yêu thương học sinh. Những giáo viên lớn tuổi có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm, còn những giáo viên trẻ có sự năng động, sáng tạo, luôn muốn làm mới mình. Học sinh có truyền thống chăm ngoan, học giỏi, luôn không ngừng tu dưỡng đạo đức. Ở đây ta bắt gặp những tình thầy trò thật đẹp. Trường còn thường xuyên tổ chức các buổi ngoại khóa để học sinh có thêm những kiến thức mà còn để thể hiện những tài năng của bản thân. Những buổi ngoại khóa tiếng Anh, trường còn mời cả những thầy cô giáo nước ngoài để học sinh có cơ hội được nói chuyện trực tiếp với người bản địa, nâng cao kĩ năng nghe và nói tiếng Anh. Trường còn tổ chức những buổi tìm hiểu về những ngày lễ lớn của dân tộc với mục đích giúp học sinh có kiến thức toàn diện hơn không chỉ là trong sách vở.

Trải qua gần năm mươi năm xây dưng và phát triển, ngôi trường có một bề dày thành tích thật vẻ vang và đáng tự hào. Trường luôn đứng đầu cả huyện về phần trăm học sinh đỗ vào các trường cấp ba, mà phần lớn là những ngôi trường chất lượng của tỉnh. Trường vinh dự được nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì. Đây là sự ghi nhận xứng đáng cho sự nỗ lực, cố gắng không ngừng của nhà trường. Từ mái trường này đã đào tạo nên biết bao những người tài giỏi, thành đạt cho đất nước.

Mỗi chúng ta, rồi đây sẽ khôn lớn, trưởng thành, sẽ rời xa mái trường nhưng kỉ niệm về một thời học sinh dưới mái trường này sẽ mãi là những hồi ức thật đẹp. Nơi đây đã chắp cánh cho biết bao những ước mơ thật đẹp được bay cao, bay ra.

Thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9 – Bài làm 5

Trường của em mang tên người chiến sĩ Cách mạng Trần Đăng Ninh. Đó là ngồi trường cấp Hai mà em đang theo học: ” Trường Trung Học Cơ Sở Trần Đăng Ninh”.

Trường em nằm trên đường Đông Mạc, phường Hạ Long thành phố Nam Định. Trường được ra đời năm 1950 với tên gọi là: “Trường THCS Nguyễn Khuyến” . Đến năm 1960 trường đổi tên thành: ” Trường THCS Trần Đăng Ninh” và mang nhiều trọng trách trong việc nuôi dạy thế hệ học sinh nên người.

Trước năm 2012 trường toạ lạc tại số 59 đường Nguyễn Du với khuôn viên trường nhỏ. Để phục vụ cho số lượng học sinh và học tập được tiện nghi, năm 2012 cùng với kỉ niệm 45 năm thành lập trường, ngôi trường được chuyển rời ra khu mới tại đường Đông Mạc, phường Hạ Long. Khuôn viên mới rộng lớn hơn rất nhiều. Ngôi trường khang trang hơn với 3 khu nhà học xây hình chữ U. Mỗi khu nhà đều có bốn tầng học. Dãy nhà A là các phòng cho cán bộ công nhân viên chức trong trường, có phòng chờ giáo viên, phòng hiệu trưởng, hiệu phó, thư viện,… Dãy nhà C là các phòng thi nghiệm thực hành cho các bạn học sinh. Và dãy giữa là bốn tầng học được phân chia theo từng khối. Khối 6 tầng một và tiến lên trên là các khối cao theo thứ tự.

Nơi tiếng cười của mỗi đứa học trò vang lên đầy thích thú với nhiều hoạt động bổ ích là ở sân trường, nơi được thả mình vào niềm vui của học trò. Sân trường được xây dựng khá rộng láng xi măng và lát gạch đỏ sạch sẽ, mùa mưa không sợ sân trơn. Khuôn viên trường trở nên trong lành hơn trong những ngày nắng hè, tươi mát hơn trong những ngày trời thu là nhờ cây xanh.Cây tùng cứng cáp, dẻo dai qua ngày tháng.Cây phượng đỏ rực hoa mùa hè đến. Và những cây cọ tầm thấp ở bồn cây hai bên sân trường khiến ngôi trường thê, xanh.

Trường được coi nhận là một trong những trường cấp Hai đứng đầu của Thành phố cũng như của Tỉnh. Hàng năm trường đào tạo nhiều lứa học sinh giỏi với nhiều giải thưởng cao trong mọi kì thi của thành phố, tỉnh và toàn quốc. Nhiều bạn được giải Nhất, Nhì hay Huy chương Vàng, bằng khen trong các kì thi Hùng biện, Olympic,IOE,… Trường cũng nhiều lần được chứng nhận là trường giỏi của Tỉnh và hai lần nhận Huy chương lao động của nhà nước. Nhiều giáo viên trong trường cũng được trao thưởng và vinh danh là giáo viên giỏi của Tỉnh. Đặc biệt, trường là nơi có đào tạo được nhiều tốp học sinh thi đỗ vào các trường công lập nhiều nhất thành phố đặc biệt số lượng đỗ vào trường chuyên của Tỉnh : Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong rất lớn. Gần 50 năm thành lập đến nay trường đã tạo nên một bề dày thành tích đầy tự hào.

Trường không chỉ có một bề dày thành tích ngưỡng mộ mà bên cạnh đó nhà trường luôn thường xuyên tổ chức những hoạt động ngoài giờ đầy bổ ích. Giờ ra chơi, nhà trường tổ chức những hoạt động thể thao mang tính tập thể giúp các bạn học sinh có thêm tinh thần sau những giờ học căng thẳng như: kéo co, nhảy bao bố tiếp sức,… Những ngày lễ kỉ niệm nhà trường phát động những cuộc thi văn nghệ chào mừng như 20-11, 8-3,… Từ năm 2012 năm nào, đến mùa xuân trường cũng tổ chức Hội chợ cho các bạn học sinh tự do sáng tạo những gian hàng của mình, giúp các bạn thêm gần gũi cũng như có những kinh nghiệm thực tế. Ngoài ra năm nào trường cũng tổ chức đêm Dạ hội ngoại ngữ dành cho các bạn khổi ngoại ngữ Anh, Nga , Pháp của trường thể hiện những tài năng của mình. Những hoạt động ngoại giờ của nhà trường giúp học sinh có thêm những phút giây thoải mái cũng như những kinh nghiệm thực tế quý báu.

Trường Trần Đăng Ninh của em đã và đang tiếp tục phấn đấu trong mọi công tác dạy và học, phấn đấu xây dựng giữ vững là trường tốp đầu của thành phố cũng như của tỉnh Nam Định. Và thế hệ học trò chúng em sẽ không ngừng nỗ lực học tập mang lại những thành tích vẻ vang cho trường.

Bài văn mẫu thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9

Ngôi trường em đang theo học là trường Trung học cơ sở Nguyễn Lương Bằng, ngôi trường thân yêu ấy đã gắn bó với em suốt bốn năm qua, xây đắp cho em những ước mơ tương lai, đầy hi vọng. Trong em, nơi đây nhiều ngôi nhà thứ hai của mình vậy, thật thân thương và đẹp đẽ.

Sân trường rộng với nhiều loại cây xanh như cây phượng, cây bằng lăng, cây bàng,… được trồng rộng khắp, toả bóng mát vào mùa hè, tạo bầu không khí trong lành. Dưới mỗi gốc cây có đặt các ghế đá cho mọi người ngồi hóng mát và thư giãn trong giờ ra chơi sau những giờ học tập mệt mỏi, đặc biệt là những ngày thời tiết oi bức. Nhiều loại hoa được trồng và chăm sóc chu đáo góp phần xây dựng trường học xanh – sạch – đẹp.

Trước đây, trường có hơn 1400 giáo viên và học sinh. Theo thời gian, số lượng cán bộ giáo viên và học sinh ngày càng tăng. Thầy cô cán bộ giáo viên trong nhà trường đều tâm huyết với nghề, có chất lượng giảng dạy và giáo dục cao, tận tụy với công việc, tất cả vì tương lai của học sinh, luôn ân cần, chỉ bảo cho chúng em từ những khó khăn trong cuộc sống đến những vướng mắc trong học tập. Luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Học sinh trường trung học cơ sở Nguyễn Lương Bằng có truyền thống hiếu học, tương thân thương ái, đoàn kết giúp đỡ nhau trong học tập, phấn đấu vươn lên vượt qua những khó khăn của nghịch cảnh, tham gia nhiều cuộc thi và gặt hái được các kết quả tốt. Nhiều sáng kiến kinh nghiệm khoa học đầy sáng tạo được vận dụng vào thực tiễn, văn hoá ứng xử của học sinh được thực hiện nghiêm túc góp phần xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.

Dù mới thành lập song trường đạt nhiều thành tích nổi bật, nhiều hoạt động xã hội, hoạt động ngoại khoá được tổ chức giúp chúng em có điều kiện để phát triển toàn diện, thư giãn sau những giờ học đầy căng thẳng, mệt mỏi. Nhiều hoạt động tham quan các danh lam thắng cảnh, viện bảo tàng góp phần giúp chúng em có thêm nhiều hiểu biết, thu thập được nhiều thông tin bổ ích. Nhân các ngày lễ lớn, nhiều hoạt động văn nghệ, ca hát, hội khỏe Phù Đổng giúp chúng em có điều kiện phát huy năng khiếu, thể hiện tài năng của mình. Đặc biệt, nhà trường tạo nhiều điều kiện để chúng em được tiếp xúc ngôn ngữ thứ hai trong trường học như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật vô cùng hiệu quả và đầy lí thú.

Ngôi trường Nguyễn Lương Bằng đầy xinh đẹp và tự hào của chúng em đang ngày một phát triển và sẽ chất lượng hơn nữa trong thời gian sắp tới. Chúng em, những học sinh dưới mái trường xanh đang ngày ngày miệt mài, cố gắng thật nhiều để mang lại những thành tích xuất sắc cho nhà trường.

Ngôi trường yêu dấu đã cùng em lớn lên và trưởng thành, sau này, dẫu có đi xa, em vẫn luôn mãi nhớ về mái trường cùng thầy cô bè bạn, nơi lưu giữ những kí ức tuyệt vời với những năm tháng chẳng thể nào quên của tuổi học trò. Thật cảm ơn thật nhiều công lao to lớn như biển cả của thầy cô, chẳng quản gian nan trong sự nghiệp trồng người chèo lái con thuyền đưa chúng em đến những bến bờ tri thức.

Thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9 – Bài làm 7

Ngôi trường của tôi với tên gọi của người anh hùng dân tộc Võ Thị Sáu. Trường thành lập năm 1998 đến nay đã có hàng chục năm phát triển, trường nằm khang trang tại một khu đất rộng, xung quanh là những bồn hoa xinh đẹp. Có rất nhiều những kỷ niệm gắn bó với ngôi trường mà tôi cắp sách đi học mỗi ngày.

Nhìn từ trường ra phía trước đó chính là khoảng trống rộng rãi, khu vực trung tâm nên có nhiều bóng mát, ghế đá được đặt rất nhiều. Đây là khu vực chính để chúng tôi vui đùa trong giờ giải lao với nhiều trò chơi như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông giúp thư giãn, giải trí để bước vào tiết học mới. Nhắc đến không gian của trường phải nói đến hàng cây bóng mát mà trường đã trong nhiều năm trước, nổi bật nhất là cây phượng, mỗi mùa hè nở rộ màu sắc rất đẹp, đây là thời gian mà chúng tôi phải tạm chia tay nhau trong lưu luyến.

Ngôi trường Võ Thị Sáu không lớn, không nhiều học sinh nhưng mỗi năm đều tham gia đầy đủ các hội thi về học tập cũng như thể thao đạt nhiều thành tích cao. Các thầy cô và học sinh đang nỗ lực hết sức để giúp trường Võ Thị Sáu nhận bằng đạt trường chuẩn quốc gia trong thời gian không xa.

Trường của tôi là như vậy đó, dù chỉ là một ngôi trường bình thường như hàng ngàn ngôi trường trong đất nước này nhưng với tôi nó có vị trí đặc biệt quan trọng và mỗi khi nhớ về đều là những kỷ niệm mãi không quên.

Thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9 – Bài làm 8

Dù đi đâu về đâu tôi vẫn nhớ về nhiều kỉ niệm học sinh dưới mái trường xưa, những kỉ niệm thân thương buồn vui lẫn lộn và không thể xóa nhòa trong kí ức của mỗi học trò. Ngôi trường trung học cơ sở Quang Trung một thời tôi đã gắn bó.

Ngôi trường thành lập từ năm 1990, với gần 30 năm dạy học, trường đã đào tạo hàng ngàn học sinh và nằm trong số các ngôi trường xuất sắc ở huyện. Trường nằm trên con đường lớn của xã, nhìn từ xa đã thấy ngôi trường nổi bật với tường vàng, mái ngói đỏ. Trường nằm ở một khuôn viên rộng, có khuôn viên, chỗ để xe và sinh hoạt ngoài trời. Sau cánh cổng trường ấy có biết bao nhiêu điều thú vị.

Sau cánh cổng trường đó là bác bảo vệ hiền lành, trách nhiệm đã làm việc ở trường hơn 10 năm. Mặc dù đã lớn tuổi nhưng bác vẫn cần cù và trách nhiệm. Bước vào trường hiện ra trước mắt gồm có ba dãy phòng, mỗi dãy có hai lầu. Dãy A thuộc về ban giám hiệu, thầy cô thuộc tổ chuyên môn, phòng truyền thống đội. Dãy B khu học của học sinh. Dãy C dành cho sinh hoạt hoặc tổ chức ngoại khóa. Kế bên dãy B là nơi diễn ra các buổi họp, gần bên là phòng thực hành của các môn như Hóa – Sinh. Từng phòng được thiết kế với bàn học, quạt và điện chiếu sáng. Trang thiết bị của trường đầy đủ.

Trong trường không thể thiếu thư viện, phòng thực hành tin học. Hai phòng này sát bên nhau phục vụ việc học tập, nghiên cứu của học sinh các khối lớp. Nơi để xe của thầy cô nằm ở góc trái của ngôi trường, khu để xe học sinh thì sau dãy B phòng học. Tất cả đều sắp xếp hợp lý, khoa học nhằm đảm bảo thời gian di chuyển ngắn nhất cho giáo viên và học sinh.

Phía trước trường có khoảng đất rộng đó chính là khuôn viên và dành cho các buổi chào cờ đầu tuần. Khuôn viên gồm có cột cờ và nhiều các loại hoa trang trí. Trong trường cũng có nhiều cây xanh lâu năm như cây bàng, cây phượng… tạo bóng mát và nơi vui đùa, nghỉ ngơi của học sinh trong giờ giải lao.

Phía sau trường còn có một khoảng đất rộng, đó là nơi tập luyện thể dục thể thao rèn luyện sức khỏe với các môn bóng đá, bóng chuyền, cầu lông. Nhiều cuộc thi về thể thao được tổ chức nhằm rèn luyện sức khỏe cho giáo viên và học sinh trong trường. Trường chúng tôi từng vinh dự đạt nhiều giải cao trong bóng đá ở huyện và tỉnh.

Trường trung học cơ sở Quang Trung sau thời gian dài phấn đấu vừa giành được danh hiệu trường chuẩn quốc gia. Học sinh và giáo viên trong trường ai cũng đều tự hào và phấn khích.

Ai cũng phải lớn lên và rời xa trường cũ nhưng những kỷ niệm gắn bó với ngôi trường chắc chắn sẽ không thể phai nhòa. Thầy cô, bạn bè của trường Quang Trung đã là một phần trong tuổi thơ tôi.

Thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9 – Bài làm 9

Dù bạn là ai, dù bạn ở nơi đâu, hay dù bạn đã đi xa nhưng kỉ niệm về một thời học sinh duới mái trường thân yêu- ngôi nhà thứ hai sẽ không phai nhạt trong kí ức của mỗi đứa học trò.Thật may mắn cho tôi đã được gắn bó với ngôi trường mang tên Trường trung học cơ sở thị trấn pliekần. Một thời cắp sách đến trường-đó là thời đẹp nhất, ngây thơ, trong sáng nhất với những kỉ niệm về thầy cô và bạn bè. được thành lập từ năm 2000.Trải qua chín năm hoạt động dạy học và học tập cố gắng của hơn tám tram học sinh và gần một trăm thầy cô giáo trường tôi đã xuất sắc là ngôi trường đứng đầu huyện.Nằm trên con đường hai bà trưng.Từ xa xa trên con đường đi học, có thể nhìn thấy trường tôi với tường vàng, mái ngói đỏ son. trường tôi nằm ở một khuôn viên rông, thoáng đãng. Từ ngoài bước vào là cánh cổng kéo dài chào đón chúc tôi mỗi ngày, mở ra cho chúng tôi một thế giới kì diệu. Ngày ngày bên cánh cổng thân yêu đó là hình dáng của bác bảo vệ hiền lành, cởi mở đã gắn bó với trường tôi từ khi thành lập đến nay. Hoạt động thường ngày ở cổng trường trong giờ hành chính là của các bạn đội cờ đỏ.Theo vào,hiện ra trước mắt là ba dãy phòng, mỗi dãy hai lầu. Dãy A là nơi làm việc của ban giám hiệu nhà trường, của các thầy cô ở từng tổ chuyên môn,phòng truyền thống đội.Trường tôi có hai mươi chín lớp.Dãy B khu học chính của hai mươi tư lớp. Thêm bên dãy C là ba phòng học của năm lớp còn lại ,được sắp xếp học chéo buổi sáng chiều. Kéo dài ở dãy B là phòng hội trường ở lầu trên-nơi diễn ra các buổi họp cũng như chuyên đề của nhà trường.Lầu dưới là phòng thực hành với đầy đủ các thiết bị thực hành của các tổ chuyên môn:Hoá-sinh, lý-công nghệ mới được đua vào hoạt động.Kéo dài ở dãy C là khu vực đang được xây dựng chuẩn bị được đưa vào hoạt động để làm phòng học cho các lớp bồi dưỡng và phụ đạo.Mỗi phòng học của từng lớp được xây dựng rỗng rãi với đầy đủ các thiết bị quạt và điện sáng.Thư viện,phòng đa chức năng và phòng thực hành tin học được sắp xếp cùng ở dãy C. Nơi để xe của các thầy cô giáo được xếp ở góc trái của ngôi trường, khu để xe của học sinh được sếp dài theo từng lớp ở sau dãy B phòng học. Nơi tiếng cười của mỗi đứa học trò chúng tôi vang lên là ở sân trường, nơi chúng tôi được thả mình vào niềm vui của học trò.Có thể là khu vực trung tâm của ngôi trường nên được xây dựng khá rộng láng xi măng.Cột cờ của trường tôi được đặt ở chính giữa trước dãy A-nơi mà mỗi sáng thứ hai chào cờ thầy trò chúng tôi cùng đánh giá nhận xét kết quả hoạt động trong tuần cũng như triển khai kế hoạch tuần tới.Khuôn viên trường trở nên trong lành hơn trong những ngày nắng hè, tươi mát hơn trong những ngày trời thu là nhờ cây xanh.Cây tùng cứg cáp, dẻo dai qua ngày tháng.Cây phượng như là minh chứng cho chúng tôi vè những kỉ niệm trong sáng, thân thwong của bao bạn bè.Và nhiều loại cây khác nhau được trồng trong khu vực cảu sân truờng nữa.Sau dãy B là nơi mỗi buổi chiều học tập xong, các bạn thi nhau thể hiện mình ở các cuộc chơi thể thao như bóng đá, bòng chuyền và cả cầu lông.Tiếng reo hò cỗ vũ làm tan cái mệt mỏi của bao học trò sau một ngày học cang thẳng. Với quy mô nhà trường khang trang và rộng lớn, thầy cô giáo nhiệt tình với công việc, thân thiện với học sinh.Dùi dắt mỗi học sinh nên người với cả tâm huyết trường tôi đã đạt đựoc rất nhiều thành tích đựoc huyện và tỉnh công nhận.Trường trung học cơ sở thị trấn pleikần là trường xuất sắc dẫn đầu huyện đang cố gắng, nỗ lực chuẩn bị cho việc nhận bằng đạt trường chuẩn quốc gia sau nhiều năm phấn đấu.Ai nấy đều rất phấn khởi và tự hào về chính ngôi trường mà mình đang lớn lên. Trường tôi là thế đó: rất khiêm nhường, thân thiện, thầy cô và bạn bè hoà đồng với nhau và cùng nhau cố gắng phấn đấu không gừng.Tôi yêu quý ngôi trường này biết bao.Tất cả những kỉ niệm dưới ngôi nhà thứ hai này sẽ mãi theo tôi trên suốt cuộc đời.

Trong cuộc đời học sinh, ai cũng có những niềm riêng để tự hào. Những ngôi trường nằm trong kí ức luôn là những cái tên không thể quên trong cuộc đời. Với tôi cái tên “Trường trung học phổ thông Thuận Thành số 1” là một cái tên để tự hào như thế.

Ngôi trường Trung học phổ thông Thuận Thành số 1 vẫn mãi còn đó với tương lai phát triển ngày càng rộng mở. Thầy và trò nhà trường luôn không ngừng thi đua, dạy và học tốt. Ngôi trường ngày càng khẳng định vị thế của mình trong danh sách, bảng xếp hạng trường chuẩn quốc gia, là niềm tự hào của người dân tỉnh Bắc Ninh.

Thu Thủy

Top 10 Những Bài Văn Mẫu Thuyết Minh Về Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9 Chọn Lọc

Thuyết minh về sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9 – Bài làm 1

Là con người nếu như muốn thành công thì ai cũng phải trải qua một quá trình học tập và rèn luyện từ những kiến thức cơ bản đến những kiến thức nâng cao hơn, từ những kiến thức đơn giản cho đến những kiến thức phức tạp. Đó là lý do vì sao chúng ta có tới 12 năm đèn sách trên ghế nhà trường. Mỗi một cấp học khối lượng kiến thức học sinh thu nạp vào lại tăng dần. Và nếu không qua lớp dưới thì không thể lên được lớp trên. Đối với những người học văn thì sách giáo khoa Ngữ Văn là một trong những quyển sách vô cùng quan trọng. Riêng với học sinh lớp 9 thì cuốn sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9 là một cuốn sách đặc biệt.

Cuốn sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9 có bìa in khá đơn giản nhưng không sơ sài. Cuốn sách này có khung hình chữ nhật, từng trang được in chữ đẹp đẽ, đóng gáy cứng cáp. Bìa cuốn sách có màu nền là màu hồng phấn, bên trên có ghi dòng chữ in hoa đậm màu đen: BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO. Ngay phía bên dưới là dòng chữ Ngữ văn màu đỏ nâu và số 9 khá to có màu trắng nằm ngay bên cạnh. Giữa bìa sách có cành giấc lá xanh um, những bông hoa vàng đang chúm chím nụ và còn có cả một quả gấc đỏ kéo cành rủ xuống. Ở phía dưới cùng của bìa sách là dòng chữ đen NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM. Bên cạnh đó còn có tem và logo của nhà xuất bản. Ở mặt sau của bìa sách giới thiệu những cuốn sách giáo khoa cùng bộ với cuốn sách Ngữ Văn lớp 9 này.

Nhờ có sách giáo khoa Ngữ Văn 9 mà học sinh tiếp nhận thêm được biết bao nhiêu nguồn tri thức mới, giúp cho cánh cửa tương lai được rộng mở hơn. Đây chính là nền tảng kiến thức cơ bản và quan trọng để học sinh có thể tiếp thu được những bài học sau này. Nhờ có sách giáo khoa mà khối lượng kiến thức đồ sộ được hệ thống lại giúp học sinh dễ học, dễ hiểu, dễ nhớ. Với mỗi người học văn cuốn sách giáo khoa trở thành cuốn cẩm nang không thể thiếu và là tài liệu ôn tập đầy đủ cho mọi kì thi. Nhờ có cuốn sách giáo khoa này mà các học sinh trở nên yêu thích môn học này hơn.

Với những lợi ích mà cuốn sách giáo khoa Ngữ Văn 9 mang lại chúng ta cần có một thái độ trân trọng với nó. Đầu tiên là bọc bìa sách cho gọn gàng, sạch sẽ. Trong quá trình sử dụng sách cần tránh để sách bị ướt, cong mép, rách,… Không vẽ bậy lên trang sách và tránh dây bẩn lên sách. Có thể dán nhãn vở lên bìa sách để tránh cho sách không bị thất lạc. Bên cạnh đó, cách để trân trọng cuốn sách và trân trọng những người làm ra cuốn sách này đó chính là học thật tốt môn Ngữ Văn.

Cầm cuốn sách Ngữ Văn 9 trên tay, chúng ta cần có sự nâng niu, gìn giữ. Học tập tốt kiến thức trong sách giáo khoa sẽ giúp cho học sinh vượt qua kì thi chuyển cấp quan trọng sắp tới.

Thuyết minh về sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9 – Bài làm 2

Học tập là một quá trình lâu dài mà phải đi từ cơ bản đến nâng cao, từ đơn giản đến phức tạp. Để phù hợp cho quá trình này, bộ sách giáo khoa do Bô giáo dục phát hành là bộ đầy đủ và rất quan trọng cho quá trình học ở tất cả các cấp bậc mà thiết yếu cho người học, đặc biệt là ở những môn học quan trọng và chính thức. Môn ngữ văn là một môn như vậy và quyển sách giáo khoa ngữ văn vô cùng quan trọng cho người học văn. Đối với lớp 9, ở cuối cấp chuẩn bị cho kì thi chuyển cấp thì kiến thức ở đây còn quan trọng bội phần.

Bìa của cuốn sách được in khá đơn giản nhưng không sơ sài. Cuốn sách giáo khoa ngữ văn 9 với khung hình chữ nhật, vừa vặn, gáp sách thẳng, được đóng đẹp đẽ, cứng cáp. Nền cuốn sách có màu hồng phấn. Bên trên cùng của bìa ghi dòng chữ in hoa đậm màu đen: “BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO”, xuống bên dưới một chút là dòng chữ màu đỏ nâu: “Ngữ văn” và số 9 màu trắng to ngay bên cạnh. Ở ngay giữa bìa là một cành lá xanh, nhú ra những chùm hoa vàng chum chím nụ và một quả gấc đỏ nậng trĩu kéo cành rủ xuống. Bên dưới cùng bìa sách là lô gô và dòng chữ đen: “NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM”. Bìa sau cuốn sách in tên những cuốn sách giáo khoa cùng một bộ với hai hàng chữ màu đen.

Cuốn sách như một ngọn đèn hải đăng soi sáng những cánh cửa dẫn đến tương lai của bao thế hệ học trò. Là nền tảng kiến thức cơ bản vô cùng quan trọng và chung nhất của toàn bộ học sinh trong một chương trình. Có được cuốn sách, việc học tập và ôn luyện như có hệ thống sẵn sàng từ lâu, rút ngắn được rất nhiều thời gian tự mày mò tìm kiếm. Cuốn sách đã trở thành cuốn cẩm nang không thể thiếu trong cặp mỗi học sinh học văn và là tài liệu ôn tập đầy đủ và tin cậy cho mọi kì thi cam go nhất. Đặc biệt, cuốn sách còn khiến cho rất nhiều học sinh trở nên yêu thích môn văn hơn và việc học môn văn trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết.

Sách giáo khoa lớp 9 đem lại cho chúng ta không ít lợi ích, chính vì vậy, ta cần thể hiện thái độ trận trọng đối với nó. Chúng ta cần bọc quyển sách gọn gàng sạch sẽ, khi dùng sách tránh để bị ướt, cong mép. Không vẽ bậy lên trang sách, không để sách bị rách, bị vẩy mực. Nên dán nhãn vở và ghi tên cẩn thận để đảm bảo sách không bị thất lạc. Ngoài việc giữ gìn cho sách cẩn thận, thì học tốt môn ngữ văn cũng là một cách để thể hiện lòng biết ơn đối với người làm sách. Chúng ta cần học bài đầy đủ, nhớ những kiến thức trọng tâm cần thiết, chú ý gạch chân phần quan trọng để học tốt hơn.

Để tạo ra được một cuốn sách giáo khoa là công sức của rất nhiều người trong một thời gian dài và cuốn sách giáo khoa ngữ văn 9 là một cuốn sách tốt với lượng kiến thức đầy đủ và bổ ích rất hữu ích cho công việc học văn lớp 9 và ôn tập cho kì thi chuyển cấp quan trọng.

Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 nói riêng và sách giáo khoa nói chung là một đồ dùng không thể thiếu đối với mỗi học sinh và giáo viên. Bởi đây là phương tiện để giáo viên truyền đạt kiến thức và giúp học sinh thu nhận những kiến thức bổ ích đó. Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 bao gồm nhiều tác phẩm truyện và thơ đặc sắc, giúp học sinh có cái nhìn toàn vẹn hơn về nền văn học Việt Nam và nước ngoài.

Cuốn sách có hai tập, thuộc bản quyền của Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam – Bộ Giáo dục và Đào tạo, do nhiều giáo sư có tên tuổi biên soạn. Đó là ông Nguyễn Khắc Phi làm tổng chủ biên, Nguyễn Văn Long làm chủ biên phần Văn, Nguyễn Minh Thuyết làm chủ biên phần Tiếng Việt và thầy giáo Trần Đình Sử làm chủ biên phần Tập Làm Văn cùng một số giáo sư khác như Lê A, Diệp Quang Ban, Lê Quang Hưng, Lê Xuân Thại… Chịu trách nhiệm về phần xuất bản do Chủ tịch Hội đồng Thành viên Mạc Văn Thiện, Tổng Giám đốc chúng tôi Vũ Văn Hùng, phó Tổng Giám đốc kiêm Tổng biên tập TS. Phan Xuân Thành. Về phần biên tập có các tên tuổi như Kim Chung, Ngọc Khanh, Nguyễn Trí Sơn, Nguyễn Kim Toàn, Trần Tiểu Lâm… Tính đến năm 2017, sách đã tái bản lần thứ mười hai. Quyển sách có tất cả 212 không kể hai trang bìa.

Cuốn sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9 tuy không dày, không quá nhiều đơn vị kiến thức nhưng cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, cần thiết trong từng phân mục. Mỗi học sinh cần giữ gìn, bảo vệ, để ở nơi thoáng mát như trên giá sách để sách luôn mới, không bị nhàu nát.

Ngày nay có nhiều loại sách tham khảo ra đời để hỗ trợ cho chúng ta trong học tập. Nhưng cuốn sách Giáo khoa ngữ văn lớp 9 nói riêng và Sách giáo khoa nói chung luôn là tài liệu quan trọng nhất trên còn đường tiếp cận tri thức.

Thuyết minh về sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9 – Bài làm 4

Mỗi chúng ta khi cắp sách đến trường đều trang bị cho mình những đồ dùng học tập cần thiết nhất như cặp sách, bút chì, thước kẻ…Trong đó phải kể đến người bạn gần gũi và thân thiết nhất đó chính là những quyển sách giáo khoa trong đó em ấn tượng nhất là quyển Ngữ Văn 9.

Sách như ngọn đèn bất diệt của trí tuệ con người. Bởi sách cung cấp cho chúng ta biết bao nhiêu tri thức. Là nền tảng kiến thức cơ bản vô cùng quan trọng và chung nhất của toàn bộ học sinh trong một chương trình. Riêng cuốn sách Ngữ Văn 9 giúp ta tiếp cận, tìm hiểu, thấy được giá trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm nổi tiếng trong nước và nước ngoài. Các tác phẩm trong chương trình giúp ta biết được tinh thần bất khuất kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ của dân tộc ta, đồng cảm với số phận của người phụ nữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Những kiến thức về Tiếng Việt thì giúp chúng ta trau dồi khả năng sử dụng ngôn từ giúp nâng hiệu quả giao tiếp hằng ngày. Đặc biệt, cuốn sách còn khiến cho rất nhiều học sinh trở nên yêu thích môn văn hơn và việc học môn văn trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Sách có vai trò to lớn như thế nên chúng ta cần có cách bảo quản hợp lí. Khi học nên nhẹ nhàng dở từng trang sách tránh để sách bị rách, bị quăn mép, không được vẽ bậy, tô màu nên hình vẽ trong sách. Khi không học thì cất gọn gàng trên giá nên dùng tranh hoặc bìa cứng bọc sách có dán nhãn vở ghi tên đầy đủ.

Học văn chính là học cách làm người chính vì vậy mỗi chúng ta cần có niềm đam mê, yêu thích môn văn. Và quyển sách giáo khoa Ngữ Văn 9 chính là những mắt xích liên kết cung cấp tri thức giúp chúng ta chuyển cấp dễ dàng hơn.

Bài văn mẫu Thuyết minh về sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9

Trên chặng đường học tập, ngữ văn là môn học không thể thiếu đối với chúng ta. Nó giúp ta phát triển khả năng đọc viết, giao tiếp một cách toàn diện. Và một phần không thể thiếu khi học ngữ văn chính là SGK. Nội dung chương trình trong sách giáo khoa các lớp như một mắt xích, mỗi năm gắn kết chặt chẽ với nhau, và SGK lớp 9 tập một là phần rất quan trọng trong quá trình học ngữ văn.

– Miêu tả khái quát về Quyển SGK Ngữ văn 9 Tập 1

SGK Ngữ văn 9 tập 1 do nhà xuất bản giáo dục phát hành dưới sự cho phép của bộ giáo dục và đào tạo. Cầm cuốn sách trên tay, ta có thể thấy nổi bật dòng chữ ngữ văn 9 tập 1 trên nền màu hồng nhạt. Phía góc trên của cuốn sách là dòng chữ màu đen: Bộ giáo dục và đào tạo…

– Nội dung cơ bản của cuốn SGK

SGK lớp 9 tập 1 đem lại cho chúng ta không ít lợi ích, chính vì vậy, ta cần thể hiện thái độ trận trọng đối với nó. Chúng ta cần bọc quyển sách gọn gàng sạch sẽ, không vẽ bậy lên trang sách. Ngoài việc giữ gìn cho sách cẩn thận, thì học tốt môn ngữ văn cũng là một cách để thể hiện lòng biết ơn đối với người làm sách. Chúng ta cần học bài đầy đủ, nhớ những kiến thức trọng tâm cần thiết, chú ý gạch chân phần quan trọng để học tốt hơn…

Cuốn sách SGK lớp 8 tập 1 là tài sản của tri thức nhân loại, thấm đượm mồ hôi công sống của biết bao vị giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo cho nhưng học sinh học tập nên người. Cuốn sách như một ngọn đèn hải đăng soi sáng những cánh cửa dẫn đến tương lai của bao thế hệ học trò.

Thu Thủy

Cập nhật thông tin chi tiết về Top 6 Bài Văn Mẫu Cảm Nhận Về Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Ánh Trăng Lớp 9 Chọn Lọc trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!