Xu Hướng 2/2024 # Tôi Viết Bài Thơ Sao Đỏ # Top 2 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Tôi Viết Bài Thơ Sao Đỏ được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ngày ấy tôi vừa ở bộ đội về quê, tham gia công tác thông tin văn hoá xã. Những lần từ nhà lên huyện họp, ngắm nhìn phong cảnh mảnh đất Sao Đỏ đang chuyển mình, bỗng dâng lên một niềm tin. Những năm ấy tôi cũng mới tập làm thơ, viết báo. Nung nấu nhiều ngày và tôi viết bài thơ về quê hương.

Cần nói thêm rằng: Sao Đỏ có một vị trí mang yếu tố phong thủy rõ rệt. Cơ quan đầu não của huyện tựa vào dãy núi vững chắc, thế núi cao dần.  Huyện lỵ vươn dài về phía tây, nơi có lưu vực sông Lục Đầu lịch sử. Đặc biệt, toàn bộ những cánh cửa các phòng làm việc của cơ quan huyện, đều nhìn về phương nam. Ở nơi ấy có bao nhiêu người thân yêu đang sống và chiến đấu… Một ý thơ bỗng trỗi dậy, thật tự nhiên: Dựa lưng vào dãy Côn Sơn Đầu vươn Kiếp Bạc, sóng nguồn Lục Giang Mắt tìm con gió phương nam Sao Đỏ ơi, mảnh đất ngàn yêu thân…

Thế nhưng đất Sao Đỏ trước đó hơn chục năm, rất hoang sơ, nếu không nói là hoang dã. Sỏi đá bơ vơ, đường còm cõi, gồ ghề, đêm là thế giới côn trùng rên rỉ. Thảng hoặc con cầy hương, con chồn chạy vụt qua đường từ khe núi xuống.

Nhưng bấy giờ, tức là năm 1973, Sao Đỏ đã có những đổi thay. Tuy chiến tranh nhưng khắp nẻo đường đều có mạng lưới dây truyền thanh, có treo loa công cộng, suốt ngày đêm vang lên những bản tin về sản xuất, chiến đấu và ca nhạc làm rung động lòng người. Đây đó là những nhà bưu điện, hiệu sách, cửa hàng bách hoá, hiệu thuốc nằm san sát theo hai bên đường phố, mà thực ra là đường 18 đi qua…

Trên lưng chừng Ba Đèo đã thấp thoáng  có mấy ngôi nhà lợp ngói đỏ, vẳng ra tiếng hát ru con… Trong tiếng hát ru của người mẹ trẻ có chồng đi đánh Mỹ, thả lòng mình trong đó, làm cho mảnh đất có thêm sức sống,  có hồn.

Từ cái thực ấy đã tạo cho tôi cảm hứng. Tôi miên man nghĩ tới ngày mai, trên mảnh đất này sẽ có nhiều biến đổi, khi đất nước hoà bình: Ngày mai em đến Côn Sơn Điện lừng khe suối, vui đường thông reo Ngày mai Sao Đỏ đẹp nhiều Núi nhường ống khói sớm chiều vờn mây

Tôi cũng linh cảm rằng, một vùng đất có nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng như Côn Sơn, Kiếp Bạc sẽ là mảnh đất có tiềm năng, thu hút sự chú ý của cả nước vào đây. Trong dòng liên tưởng lãng mạn ấy, tôi hạ bút: Một thành phố của tương lai Đã nghe náo nức bao thai nhân hình.

Bài thơ viết tháng 7 – 1973, nghĩa là khi ấy đất nước đang còn trong chiến tranh, cuộc sống vô cùng gian khổ. Nhưng tôi cứ tin, rằng cái mảnh đất quê hương này sẽ trở thành một thành phố.

Bài thơ đã in ra và phổ biến rộng rãi, được tuyển trong tập thơ “Hải Hưng 1965-1975”, có nhiều nhà thơ Trung ương và địa phương đóng góp tác phẩm.

Sau bốn chục năm bài thơ ra đời, đất Sao Đỏ miền núi ấy đã trở thành phường trung tâm của thị xã Chí Linh.

Bây giờ đọc lại bài thơ, thấy ngôn từ còn thô mộc, xù xì, không có gì là chau chuốt, nhưng tôi vẫn thấy bồi hồi.

KHÚC HÀ LINH (Báo Hải Dương điện tử)

Thế mà 12 năm sau, cảnh Sao Đỏ đã thay đổi. Đường 18 đã xanh bóng cây xà cừ, phi lao, bạch đàn, là kết quả thực hiện lời kêu gọi “Tết trồng cây của Hồ Chủ tịch”. Nông trường, lâm trường và một số cơ quan, trường học đã về đây xây dựng. Phía Lục Đầu Giang người ta đang thi công Nhà máy thuỷ tinh trong thời chống Mỹ, cứu nước.Ngày ấy tôi vừa ở bộ đội về quê, tham gia công tác thông tin văn hoá xã. Những lần từ nhà lên huyện họp, ngắm nhìn phong cảnh mảnh đất Sao Đỏ đang chuyển mình, bỗng dâng lên một niềm tin.Những năm ấy tôi cũng mới tập làm thơ, viết báo. Nung nấu nhiều ngày và tôi viết bài thơ về quê hương.Cần nói thêm rằng: Sao Đỏ có một vị trí mang yếu tố phong thủy rõ rệt. Cơ quan đầu não của huyện tựa vào dãy núi vững chắc, thế núi cao dần. Huyện lỵ vươn dài về phía tây, nơi có lưu vực sông Lục Đầu lịch sử. Đặc biệt, toàn bộ những cánh cửa các phòng làm việc của cơ quan huyện, đều nhìn về phương nam. Ở nơi ấy có bao nhiêu người thân yêu đang sống và chiến đấu…Một ý thơ bỗng trỗi dậy, thật tự nhiên:Thế nhưng đất Sao Đỏ trước đó hơn chục năm, rất hoang sơ, nếu không nói là hoang dã. Sỏi đá bơ vơ, đường còm cõi, gồ ghề, đêm là thế giới côn trùng rên rỉ. Thảng hoặc con cầy hương, con chồn chạy vụt qua đường từ khe núi xuống.Nhưng bấy giờ, tức là năm 1973, Sao Đỏ đã có những đổi thay. Tuy chiến tranh nhưng khắp nẻo đường đều có mạng lưới dây truyền thanh, có treo loa công cộng, suốt ngày đêm vang lên những bản tin về sản xuất, chiến đấu và ca nhạc làm rung động lòng người. Đây đó là những nhà bưu điện, hiệu sách, cửa hàng bách hoá, hiệu thuốc nằm san sát theo hai bên đường phố, mà thực ra là đường 18 đi qua…Trên lưng chừng Ba Đèo đã thấp thoáng có mấy ngôi nhà lợp ngói đỏ, vẳng ra tiếng hát ru con… Trong tiếng hát ru của người mẹ trẻ có chồng đi đánh Mỹ, thả lòng mình trong đó, làm cho mảnh đất có thêm sức sống, có hồn.Từ cái thực ấy đã tạo cho tôi cảm hứng. Tôi miên man nghĩ tới ngày mai, trên mảnh đất này sẽ có nhiều biến đổi, khi đất nước hoà bình:Tôi cũng linh cảm rằng, một vùng đất có nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng như Côn Sơn, Kiếp Bạc sẽ là mảnh đất có tiềm năng, thu hút sự chú ý của cả nước vào đây. Trong dòng liên tưởng lãng mạn ấy, tôi hạ bút:Bài thơ viết tháng 7 – 1973, nghĩa là khi ấy đất nước đang còn trong chiến tranh, cuộc sống vô cùng gian khổ. Nhưng tôi cứ tin, rằng cái mảnh đất quê hương này sẽ trở thành một thành phố.Bài thơ đã in ra và phổ biến rộng rãi, được tuyển trong tập thơ “Hải Hưng 1965-1975”, có nhiều nhà thơ Trung ương và địa phương đóng góp tác phẩm.Sau bốn chục năm bài thơ ra đời, đất Sao Đỏ miền núi ấy đã trở thành phường trung tâm của thị xã Chí Linh.Bây giờ đọc lại bài thơ, thấy ngôn từ còn thô mộc, xù xì, không có gì là chau chuốt, nhưng tôi vẫn thấy bồi hồi.

Tâm Sự: Vì Sao Tôi Ăn Chay?

Ăn chay, hai từ đó giờ đây đã không chỉ giới hạn trong những người tu Phật giáo nữa rồi. Trong dòng chảy xô bồ thời hiện đại, có ngày càng nhiều bạn trẻ chọn cho mình lối sống chay tịnh, giản đơn.

Trước băn khoăn, thắc mắc của những người xung quanh, một người ăn chay đã viết một bài thơ kể về lý do đằng sau quyết định của mình.

Nhớ có lần anh hỏi Vì sao em ăn chay? Em trả lời rất nhẹ: Vì đời như mây bay…

Và có lần em hỏi Vì sao anh ăn chay? Anh mỉm cười khẽ bảo: Vì ta kiếp lưu đày…

Nhớ có lần bạn hỏi Vì sao tôi ăn chay? Hoan hỷ thưa cùng bạn: Vì lương tâm hôm nay…

Và có lần mẹ hỏi Vì sao con ăn chay? Con khẽ hôn trán mẹ: Vì an bình ngày mai…

Nếu Ông Trời có hỏi: Vì sao ngươi ăn chay? Xin dâng lời khấn nguyện: Cho đất dừng thiên tai…

Nếu như những khái niệm như “vì đời như mây bay”, “vì ta kiếp lưu đày” còn khá mơ hồ, xa lạ với những người bình thường không tu luyện, thì có lẽ ăn chay vì “lương tâm”, “an bình” và “cho đất dừng thiên tai” lại đã thân thuộc với rất nhiều người.

Nói về “lương tâm”, mục đích ban đầu của việc ăn chay có lẽ xuất phát từ lòng từ bi, trắc ẩn. Người có tâm từ bi không nỡ giết hại, gây đau khổ cho các loài vật chỉ để bồi bổ cho cơ thể mình hoặc thoả mãn vị giác. Tập ăn chay, dưới một góc nhìn nào đó cũng là đang nuôi dưỡng tâm từ bi.

Còn nói về “cho đất dừng thiên tai”, ngày 23/8 vừa qua, CNN vừa xuất bản một bài báo với tiêu đề “Rừng Amazon cháy là do thế giới đang tiêu thụ quá nhiều thịt”. Theo đó, rừng Amazon, “Lá phổi của hành tinh”, nơi cung cấp 20% oxy cho bầu khí quyển chung của Trái Đất, đang bị thiêu rụi vì người ta muốn đốt rừng để chăn nuôi gia súc. Việt Nam ta nhập khẩu hàng nghìn tấn thịt bò, gia súc, gia cầm từ Brazil.

Tài khoản Facebook Nông Sản Hạnh Phúc để lại lời nhắn gửi: “Bạn mến thương, khi những ngọn lửa vẫn đang tiếp tục cháy ngoài kia, ở xa mà lại là thật gần với chúng ta. Chúng ta có thể thay đổi từ những điều nhỏ bé nhất để có thể đem lại chút mát dịu, tươi lành cho cuộc đời.

Từ một bữa cơm chay không thịt.

Từ việc giảm đi những nhu cầu tiêu dùng không cần thiết. Từ việc gieo một cây xanh.

Chúng ta chỉ như một cọng cỏ, hạt cát nhỏ bé nhưng chúng ta vẫn có thể tạo những ảnh hưởng nhất định đến thế giới này với mỗi suy nghĩ, hành động nhỏ bé nhất đó”.

Để khích lệ mọi người xung quanh hướng đến lối sống giản dị, chay tịnh, Facebooker này cũng chia sẻ ảnh chụp những món ăn chay đẹp dịu dàng như một bức tranh.

Thật là tuyệt vời phải không các bạn?

Bạn đang đọc bài viết: “Tâm sự: Vì sao tôi ăn chay?” tại chuyên mục Đời Sống của Đại Kỷ Nguyên. Để cập nhật thêm nhiều bài viết hay, quý độc giả vui lòng truy cập Fanpage chính thức của chúng tôi: chúng tôi Mọi ý kiến phản hồi và tin bài cộng tác xin gửi về hòm thư: [email protected] Xin chân thành cảm ơn!

Your browser does not support the video tag. Please upgrade to lastest version

Tôi Viết Bài Thơ “Dặn Con”

Tản văn

Cuối năm 1990,“Mái nhà tôi chụm giữa dốc Bồ Hòn”, được UBND thị xã Hồng Gai bồi thường và cho di chuyển để mở rộng diện tích, tôi được mua một ô đất cạnh đường 18 (A) ở cuối phố Hạ Long, cách bến phà Hòn Gai 350 mét, cũng là nơi tôi ở hiện nay. Bà xã tôi lại nghỉ chữa bệnh, nên có mở trước cửa nhà ống mới xây, một quán nước, để có việc làm cho vui và thêm thu nhập. Vì trên đường huyết mạch của cả tỉnh, nên ngày nào cái quán nước của bà xã tôi (và cháu gái ngồi thay những ngày chủ nhật) cũng có dăm ba vị hành khất qua lại xin tiền. Điều ấy là bình thường. Tôi có dặn vợ con rằng, bất cứ người nào đã chìa tay ra xin tiền thì nhất thiết phải cho người ta để người ta không tủi thân, cũng chỉ từ 200 đến 500 đồng một lần mà thôi. Mình cố bớt ra một chút để giúp người khác. Lúc đó còn tiêu tiền trăm, nên 500 đồng đã là sang rồi.

Ngày 13-11-1991, tôi ngồi quán để tiếp mấy bạn thơ qua chơi, thì có một người hành khất đến, người này nói tiếng miền Trung, trạc 60 tuổi, quần áo bạc cũ nhưng không vá và cũng không đến nỗi “hôi hám úa tàn” như nhiều người hành khất khác. Tôi tặng ông 500 đồng và mời ông chén nước trà Thái như thường lệ. Các bạn tôi cũng tặng ông, người 200, người 500 đồng. Tôi mời đến lần thứ hai, thứ ba, ông mới uống chén trà. Bỗng ông hỏi tôi, rằng ông từ xa đến lần đầu, chưa biết thị xã này thế nào. Ông nhờ tôi chỉ cho ông chỗ nào có đông người và có lòng hảo tâm thì mách ông, để ông tìm đến cho nhanh hơn. Tôi nói ở đây, chỗ nào cũng có người hảo tâm, nhưng đông người thì ở những chỗ này, chỗ này… Ông bảo cho ông xin mảnh giấy và mượn cái bút để ghi. Tôi xé luôn 1 trang trong sổ nhận hàng của bà vợ tôi và đưa ông cái bút đã kẹp sẵn trong sổ. Ông ghi theo lời tôi và điều tôi rất kinh ngạc là ông ghi bằng chữ Hán, nét chữ khá đẹp và hào phóng. Tôi sợ quá, vì biết ông này có thể là bậc thầy mình. Bởi cả làng tôi chỉ có 1 người biết chữ Hán, đã bị đấu tố trong Cải cách ruộng đất. Tôi mời ông vào hẳn trong nhà uống nước, ông từ chối, tôi bèn rót ra 1 chén rượu trắng mời ông. Rụt rè mãi ông mới uống và uống, cũng như chén trà, ông uống cũng không cạn hết, tôi biết đây là phong thái của con nhà nòi rồi. Ông cảm ơn cả bà xã tôi, chào cả quán, rồi đi. Tôi xin tiễn ông một đoạn đường, chừng dăm chục mét, đến chỗ khuất, là gốc cây xà cừ phải 2 người ôm, cạnh nhà tù cũ của Pháp, tôi dúi cho ông tờ 5.000 đồng mà không nói gì. Ông nhìn tôi một lúc rồi cho tiền vào túi cũng không nói gì. Bỗng ông cúi xuống vái tôi một vái và thế là tôi bật khóc… “Ai biết cơ trời vần xoay…”. Câu thơ ấy đã đến với tôi ngay lúc ấy, là câu thơ xuất hiện sớm nhất. Tôi lặng lẽ về nhà, các bạn tôi thấy tôi đi, cũng đã đi ra bến phà cả rồi.

Tôi lên gác ghi luôn bài thơ đó, dường như đã có sẵn ở trong lòng mình, chỉ chừng non 10 phút là xong. Cho đến bây giờ, bài thơ vẫn “nguyên xi” như bản thảo ban đầu, không hề chữa một chữ nào. Bài thơ được biết đến rộng rãi là khi nó được chọn là 1 trong 100 bài thơ hay của thế kỉ XX và lại được Đài Truyền hình Việt Nam truyền hình trực tiếp trong Ngày thơ Việt Nam, tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Thăng Long – Hà Nội. Vài năm gần đây, bài thơ đã được chọn làm đề thi giỏi văn lớp 9 của nhiều tỉnh thành trong cả nước. Theo yêu cầu của Bảo tàng tỉnh Hải Dương, bài thơ đã được tác giả chép tay để trưng bày. Và từ dịp Tết Bính Thân đến nay, bài thơ được giới thiệu và phát nhiều lần trong chương trình Gala Tử Tế của Đài Truyền hình Việt Nam.

Trần Nhuận MinhTuần Báo Văn Nghệ chúng tôi số 396

DẶN CON

Chẳng ai muốn làm hành khấtTội trời đày ở nhân gianCon không được cười giễu họDù họ hôi hám úa tàn

Nhà mình sát đường, họ đếnCó cho thì có là baoCon không bao giờ được hỏiQuê hương họ ở nơi nào

Con chó nhà mình rất hưCứ thấy ăn mày là cắnCon phải răn dạy nó điNếu không thì con đem bán

Mình tạm gọi là no ấmAi biết cơ trời vần xoayLòng tốt gửi vào thiên hạBiết đâu nuôi bố sau này…

Cửa Lục Thủy, 13-11-1991

Viết Về Mẹ, Viết Về Người Phụ Nữ Tôi Yêu

Kính gửi: BTC cuộc thi “Viết về mẹ, viết về người phụ nữ tôi yêu”

Có thể có những bài chưa hay nhưng đó là những suy nghĩ, những tâm tư, lòng tự hào và những hành động của những người mẹ, người phụ nữ với những phẩm chất tốt đẹp. Ban giám khảo, ban tổ chức hội thi của trường trân trọng cảm ơn các đồng chí và xin kính trình Ban tổ chức cuộc thi cấp trên.

Xin trân trọng cảm ơn! BTC, BGK cuộc thi Trần Thị Thanh Bình

Th­¬ng nhí mïa ®”ng

Con đường ngày nào em vẫn đi qua

Hai bên bờ tím màu hoa thương nhớ

Lục bình trôi như tình yêu một thuở

Hoa vẫn tím đôi bờ sao anh đã xa em?

Hàng phi lao vẫn đứng đó lặng im

Không ca hát như mùa đông thuở trước

Vui cùng em trong tình yêu hẹn ước

Cây đợi chờ người như em đang đợi anh

Gió trở chiều nay lạnh lòng em

Màu hoa tím trên con đường vắng

Nơi em vẫn đi qua, nơi em từng ao ước

Có một ngày anh sẽ nắm tay em

Có một tình yêu không thể gọi tên

Là tình yêu em giành cho anh đó

Gọi thầm tên anh tỏng thẳm sâu thương nhớ

Lục bình ơi! Hoa tím mãi một màu

Lưu Thị Dung

C¤ NHËN §IÓM M×NH Tặng Nguyệt – Giáo viên dạy Sử

Lịch sử 4000 năm dựng xây đất nước

Cứ âm vang trong mỗi con người

Bao chiến thắng của cha ông một thủa

Ta tự hào non nước Việt Nam ơi…

Cô giảng bài lịch sử chiều nay

Bằng tất cả nhiệt tình, trái tim người Việt

Bằng tất cả lòng yêu nghề và rất nhiều hiểu biết

Các em thì lại rất dửng dưng

Cô hiểu được nỗi buồn của các bậc phụ huynh

Khi điểm sử các kỳ thi vẫn là môn thấp nhất

Khi con cháu Lạc Hồng lại ít hiểu về Tổ Quốc

Ai sẽ dựng xây, ai trấn ải biên thùy?

Chẳng lẽ lời Người dạy bảo năm xưa

Lại không đúng trước thời mở cửa

Những trăn trở băn khoăn dồn về hàng điểm sử

Cô nhận điểm mình trong bài giảng chiều nay.

C¤ GI¶NG BµI LÞCH Sö QU£ H¦¥NG

Kính tặng các thầy cô dạy Lịch sử tỉnh Bắc Ninh

Cô giảng bài lịch sử sáng nay

Về mảnh đất và con người Kinh Bắc

Trong dòng chảy 4000 năm dựng nước

Thật tự hào về mảnh đất quê hương…

Có một Luy Lâu sầm uất tự bao giờ?

Trai làng Gióng anh hùng cũng quê hương mình cả

Cô không giảng làm sao em biết được

Những vương triều thành quách nguy nga…

Em nhớ về ngày giỗ tổ Hùng Vương

Luôn thao thức bao trái tim người Việt

Nhưng thủy tổ của Vua Hùng dựng nước

Lại ở làng Á Lữ Bắc Ninh ta

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng các tướng lĩnh của Bà

Những Trương Hống, Trương Hát, Tuy Ông…dưới cờ Lí Bí

Em tự hào về lịch sử tỉnh Bắc Ninh

Mỗi tên xã, tên làng, mỗi dòng sông đều lưu danh bao chiến tích

Bãi mía, bờ dâu, dáng hình Tổ quốc…

Có chỗ nào không thấm máu, mồ hôi?

Em tự hào người Kinh Bắc quê em

Pháp chạy, Nhật hàng những anh hùng hào kiệt

Bao lãnh tụ kính yêu của Đảng

Đã hóa thành trang sử Việt Nam ta.

Trang sử Bắc Ninh. Trang sử Việt Nam

Cho em lớn lên giữa lòng quê hương đất nước

Ôi những buổi ngày xưa oanh liệt

Em tự hào non nước Việt Nam ơi!

Nguyễn Kim Hiệp

Bố nói với con về nghề của mẹ

Sớm nắng chiều mưa mẹ tần tảo đến trường

Đêm khuya vắng vẫn còn bên giáo án

Lúc con buồn mẹ bồng bế được đâu

Bố nói với con về nghề của bố

Nhiều gian nan lắm nỗi nhọc nhằn

Trang giáo án chứa chất đầy sức lực

Nói gì đây và viết gì đây…?

Bố nói với con về nghề bố, mẹ

Nghề giáo viên nghề gieo cấy vun trồng

Luôn suy nghĩ về học sinh yêu dấu

Đầy trăn trở trước những học trò lười…

Bố nói với con về nghề bố, mẹ

Sống giản đơn trước trôi chảy cuộc đời

Muốn mua sắm cũng phải cân nhắc kỹ

Bởi đồng lương nhà giáo còn nghèo

Nhưng con ơi đó là nghề cao quý

Đem đến cho con tri thức làm người

Dẫu có nghèo con phải luôn tự hào hãnh diện

Bởi bố, mẹ là người giáo viên nhân dân

Nguyễn Tiến Khuề

Giáo viên Toán

Nãi víi em

Mình đã chọn nghề phấn trắng bảng đen

Cuộc sống hằng ngày dẫu đói – no cơm áo

Vẫn ánh đèn khuya gian khó nhọc nhằn

Mình đã chọn nghề nuôi ước mơ xanh

Hãy dệt cho mình những nghĩ suy trong sáng

Danh vọng cao sang tiền tài giàu có

Không có gìn giữ làm sao không hoen ố tâm hồn

Lớp học trò trong giấy trắng thân thương

Nhân cách đó muôn đời chân lý

Để trọn đời mình sánh bước bên nhau

Nguyễn Loan

Ngµy mai tõ gi· m¸i tr­êng

(Tặng Cô Phạm Loan- Giáo viên về hưu)

Ngày mai từ giã mái trường

Cô về vui trọn yêu thương buổi đầu

Một đời biển cạn, sông sâu

Bắc bao nhiêu nhịp, bao cầu người qua

Một đời vun đắp cho hoa

Cây bao nhiêu quả, bao nhiêu là …cô ơi?

Ngày mai thôi cũng xa rồi

Thì danh ở lại với người hư danh

Chẳng ham phú quý đã đành

Ham chi bổng lộc trên cành phù dung

Cô về vui với ruộng đồng

Với con với cháu cho lòng thảnh thơi

Tuổi đời đã sắp sáu mươi

Dăm ba câu chuyện bên cơi trầu vàng

Vui trong tình nghĩa xóm làng

Có anh có chị, họ hàng bà con

Thung dung kể chuyện tuổi son

Chuyện trường, chuyện lớp cô ơi còn nhớ chăng?

Tiễn đưa, lòng những bâng khuâng

Nói sao cho hết tấm lòng của cháu con..

Giê häc v¾ng c”

Giờ học, vắng cô

Nắng nhạt, gió lùa ngoài khung cửa

Mây cũng chẳng buồn gió vào trang vở

Con chữ nằm im lìm chẳng biết nói năng

Phấn trắng nằm trên bục giảng bâng khuâng

Lớp học, giờ rộng hơn

Dẫu vẫn ghế, vẫn bàn, vẫn đủ 43 gương mặt quen thân cũ

Cô không đến…

Dãy hành lang toàn gió

Mây lang thang theo gió đi tìm hoài

Phấn với bảng nằm im lìm nhớ ai?

Có phải chúng đi tìm giọng nói

Trong lời bình mỗi giờ văn hay?

Có phải chúng đi tìm bàn tay

Nhẹ nhàng lật trang giáo án!

Mềm mại theo từng hàng phấn trắng

Có phải chúng đi tìm hình dáng?

Dịu dàng mải miết, đam mê?

Cho đến tận bây giờ

Sau nửa đời lận đận buôn ba

Nửa đời em gắn bó với nghề

Bỗng giật mình nhớ lại

Kí ức về cô – buổi ấy

Chợt thấy mình non dại, hanh hao…

Nguyễn Tiến Phương

Sáng ra tới lớp ân cần

Lời hay, ý đẹp, trau vần như xưa

Khuya về cô vẫn say sưa

Bên trang giáo án song thưa trăng ngần

Gió đem hoa bưởi thêm gần

Cô dâng cả trí, sức, tình đợi trông

Đêm tàn ai có biết không?

Mình cô thao thức bên song miệt mài

Trang văn ngắn kéo đêm dài

Trăng kia cảnh ấy thức hoài cùng cô

Thế rồi than thản vào mơ

Nhớ cô em trải đơn sơ tâm mình

Mong sao đời mãi chung tình

Giấc mơ cô gửi chúng mình luôn mang.

Nguyễn Thị Thuyên

Nãi víi em trong ngµy 20/11

Tặng Hoàng Vân

Tuổi thơ em chịu nhiều gian khổ

Bố mất đi chỉ còn mẹ một mình

Khuya sớm học mong thành người có ích

Cho mẹ già chỗ dựa ngày mai

Thân một mình chiu chắt cho em

Hạt lúa củ khoai mẹ trồng từ cát

Mẹ hao gầy theo từng năm tháng

Nhưng vẫn hân hoan khi hàng giấy khen con có đủ mười lần

Không hiểu vì sao em mắc phải lỗi lầm?

Theo bè bạn đánh nhau với những người bạn gái

Cô và mẹ bỗng vỡ òa trong tâm khảm

Ơi em học sinh ngoan ơi con gái của mẹ hiền

Nhớ nghe em hãy làm lại từ đầu

Nghe lời mẹ học hành chăm chỉ

Nghe thầy cô tích lũy nhiều kiến thức

Để mai này hiếu, nghĩa vẹn tình em

Có một chiều 20/11 nói cùng em.

Minh Toan bµi gi¶ng s¸ng nay

Bài giảng sáng nay có ánh mắt em thơ

Chan chứa niềm tin tràn đầy hy vọng

Bước ngập ngừng … tôi dưng dưng cảm xúc

Biết nói gì trước ánh mắt các em ?

Kìa bảng đen , phấn trắng yêu thương

Trang giáo án gió thu vào nằm trộn

Và ánh mắt kia vẫn ngời lên bục giảng

Nhìn về tôi tha thiết yêu thương

Bài giảng hôm nay cô dành cho các em

Câu ca dao , cánh cò trên đồng lúa

Có câu hát ru dịu dàng của mẹ

Và của bà , của chị , cả của … cô

Ca dao – dân ca câu hát đợi chờ

Tình nghĩa mẹ cha , tình yêu chung thuỷ

Cả lời ru và cánh cò bay lả

Sẽ đi vào mơ ước của em thơ.

Nguyễn Đức Trai

Em đi từ tinh sương

Khi con còn đang ngủ

Nồi cơm reo trân lửa

Xoong bột đằm trên tay

Em về vào chiều hôm

Mồ hôi đầm vai áo

Phút ngỉ cho con bú

Là khi con ngủ rồi…

Ngọn đèn trong sương rơi

Em nhặt từng hạt đỗ

Em chọn từng mầm khoai…

Cánh đồng làng nước dềnh lên trắng xóa

Sau bước chân em

Cho mầu xnah trở về

Đồng làng mùa lũ lụt

Trần Văn Trung

Làn môi nhỏ ngậm đầy dòng suối ngọt

Mỗi bước con đi mẹ chăm bẵm sớm hôm

Dáng mẹ còng theo mỗi ngày con lớn

Mắt mẹ quầng những vấp ngã đầu đời

Giáo án khuya con thao thức bao đêm

Sương lạnh buốt khi mỗi mùa đông tới

Ánh mắt nhỏ sao mà yêu đến vậy!

Sự ngây thơ trong trắng tuổi học trò.

Sân trường lặng trời chiều đổ xuống

Mắt con nhoà ướt đẫm những bờ vai

Làm sao để mỗi buổi sớm mai?

Mẹ rạng ngời tiếng trống trường hạnh phúc.

Ngô Thị Yến

Nãi víi häc trß nghÌo

Nhà mình nghèo chẳng có lỗi gì đâu

Đừng mặc cảm, tự ti mà yếu đuối

Bao tháng ngày mẹ cha luôn rong ruổi

Dốc sức mình cho em dệt ước mơ

Dẫu cuộc sống chẳng thể là thơ

Nhưng hạnh phúc trong đợi chờ, hi vọng

Mỗi hạt thóc quê nhà đầy vị mặn

Nuôi chí em những năm tháng học đường

Em phải gắng kiên cường hơn chút nữa

Để tự mình đứng vững trước trần gian

Đừng than phiền hay suy yếu niềm tin

Vật chất tuy nghèo nhưng tri thức giàu sang

Đường học vốn thênh thang em bước tiếp

Biển kiến thức em kiên trì chiếm lĩnh

Đỉnh vinh quang tỏa sáng phía cuối đường.

Nguyễn Thị Yến ( Kính tặng các thầy cô trường THPT Lê Văn Thịnh)

Khi tôi về trường mới đã khang trang

Nhà tầng cao, bảng từ xanh chống lóa

Áo trắng học trò sau ô cửa kính

Ngoảnh lại nhìn trường cũ đơn sơ

Khuất xa dần, phía bên kia xóm núi

Để có hôm nay thầy trò hạnh phúc

Đã có một thời vất vả gian nan

Tôi gặp những thầy bên khóe mắt có nếp nhăn

Dáng hao gầy, da sạm màu sương nắng

Trăn trở nghĩ suy tìm đường cho sự nghiệp

Tóc rụng nhiều làm vầng trán thêm cao

Những cô giáo hiền gọi là “nước phát triển sau”

Dẫu kinh nghiệm mỏng manh vẫn tràn đầy nghị lực

Lửa thử vàng gian nan thử sức

“Chiến lược con người” Tổ quốc chờ trông

“Đặc khu kinh tế” nào sẽ là điểm sáng của trường ta

“Mũi nhọn học sinh” nào đã trở thành thành công nhất

Hai mươi mùa xuân trên đường phát triển

Nhưng kiêu hãnh tự hào cùng các lớp đàn anh

Mang một nỗi niềm trăn trở băn khoăn

Trước dự cảm tương lai của một mái trường còn non trẻ

Tôi xin hát bài ca thân yêu tặng

Xin đồng hành đến trước buổi bình minh

50 Trước, Tôi Viết Bài Thơ “Lời Di Chúc Của Bác Hồ”

Tôi sinh ở Hải Dương năm 1944 và sống ở Quảng Ninh từ 1962 đến nay, nhưng những sự kiện lớn nhất của đất nước diễn ra, thì tôi đều có mặt ở Hà Nội, và thậm chí trực tiếp được tham gia tại Hà Nội, do nhiều nguyên nhân khác nhau.

Cuối tháng 8 năm 1969, nhà thơ Yến Lan, biên tập viên thơ Nhà xuất bản Văn học ở Hà Nội, gọi tôi về để chữa tập thơ của tôi gửi Nhà xuất bản, dưới sự hướng dẫn của ông, để ông chọn in trong tập thơ dành cho 5 tác giả về đề tài công nhân. Đêm 2/9, tôi ngồi chờ ở bờ hồ Gươm để xem bắn pháo hoa. Đến hơn 11 g đêm mới báo hoãn, vì có tin sức khỏe Bác Hồ không được tốt. Về Hà Nội,  tôi thường ở tại gia đình một lão thành cách mạng mà tôi quen và rất kính trọng, ở phố Ngô Thời Nhiệm, ông rất quí tôi, coi tôi như con. Sau này tôi có câu thơ “Mái phố trăng vàng Ngô Thời Nhiệm / Tiếng lá sấu rơi làm em giật mình…”.

Vì thế, tôi có mặt trong đoàn người của khu phố đi viếng Bác, tập trung từ 5 giờ sáng tại đường Hoàng Diệu, rồi từ từ tiến vào đường Bắc Sơn, đường Hoàng Văn Thụ và nán lại chờ rất lâu tại cửa phía sau bên phải nhà Quốc hội. Thi hài Bác quàn tại đó. Trời mưa, bữa trưa và chiều, khu phố chỉ phát cho mỗi người một chai nước và 2 cái bánh mì, mà không ai thấy đói, thấy khát. Đến hơn 11 giờ đêm thì đến lượt đoàn chúng tôi – đoàn cuối cùng được vào viếng – sau đó, thì linh cữu Bác được chuyển đi, đồng bào chỉ viếng chỗ Bác đã từng nằm trong những ngày tang lễ.

Sáng sau dự lễ truy điệu Bác tại Quảng trường Ba Đình và chúng tôi, từng nhóm một,  được lần lượt vào thăm nhà sàn Bác Hồ,  cứ thế mà đi liên tục theo dòng người. Tất cả đều làm tôi vô cùng xúc động, không thấy đói, không thấy lạnh vì mưa, cũng không thấy mệt mỏi vì chờ đợi quá lâu và hoàn toàn không ngủ. Lúc đã xong các việc, mọi người trong đoàn tự ý ra về hoặc tham gia các hoạt động tưởng nhớ Bác  ở quanh đó, tùy ý. Tôi ngồi trên bờ hè xây nghiêng bằng gạch chỉ đỏ, trong khu vườn nhà sàn, lấy  quyển lịch túi mỏng và nhỏ, cùng mẩu bút chì trong túi áo, chép luôn  bài thơ, hình như đã có sẵn trong đầu,  chỉ khoảng 10 – 15 phút là xong.  Đoạn kết bài thơ:

Tiểu sử Người không ghi có Huân chương

Cả đất nước Người trao ta làm chủ

Rồi ra đi

Với chiếc áo ka ki đã cũ

Đôi dép cao su

Và mái tóc thương yêu thêm bạc tự  trong tù…

Em ơi, đừng quên

Đó cũng là Lời Di chúc của Bác Hồ

Mà Người không viết trong Di chúc…

Tôi đề đúng thời gian nó được ra đời, 9 g ngày 9 tháng 9 năm 1969 và nhận ra có đến 5 con số 9 liền nhau.

Bài thơ đã nhiều lần đăng báo, tạp chí rồi in sách trong các tập phong trào về toàn dân kính yêu và nhớ ơn Bác Hồ.  Sau đó in trong tập thơ đầu tay của tôi Đấy là tình yêu, Hội Văn nghệ Quảng Ninh xuất bản đầu năm 1971 – cũng là tập sách giành cho 1 tác giả đầu tiên ở Quảng Ninh. Rồi sau đó vài lần in trong các tuyển tập thơ về Bác Hồ, và dăm năm trước đây, in trong bộ sách rất đồ sộ và sang trọng Bác Hồ với Văn nghệ sĩ – Văn nghệ sĩ với Bác Hồ.

Bài thơ  “Lời di chúc Bác Hồ” của Nhà thơ Trần Nhuận Minh đăng trên Báo Sự thật Kôngxômôn Liên Xô, số ra ngày 19/5/1990.

Nhớ lại những kỉ niệm đó, tôi vẫn thấy rất xúc động, thêm một lần nhận chân những giá trị lớn lao của Cách mạng,  mà vì nó, tôi đã sống và sáng tác đến suốt cả cuộc đời mình.

Nhà thơ TRẦN NHUẬN MINH (Quảng Ninh)

Những Bài Thơ Hay Viết Về Cảnh Làng Quê, Quê Hương Tôi

Tổng hợp những bài thơ hay viết về cảnh làng quê, nông thôn nghèo, quê hương của tôi.

Những bài thơ miêu tả vẻ đẹp bức tranh làng quê, nông thôn Việt Nam. Dù đi đâu cũng không bao giờ quên được những hình ảnh thanh bình, êm đềm đó. Và làm sao quên được mối tình ngày xanh gắn liền với tình yêu quê hương..

BÀI THƠ: QUÊ HƯƠNG TA GỌI VỀ

Thơ: Hảo Trần

Xa quê hương suốt mấy chục năm rồi

Mãi trong ta nhớ miền quê yêu dấu

Cánh diều tuổi thơ lưng trâu sáo đậu

Nghe quê hương đất mẹ gọi ta về

Chân ngập ngừng lội bước tới triền đê

Đàn bướm nhỏ dập dìu hoa dại tím

Nhớ một thời tuổi thơ nhiều kỷ niệm

Gợi ta về với những giấc mơ xưa

Đồng lúa xanh non ngút ngàn nắng mưa

Đất bạc màu mẹ dày công chăm bón

Khom lưng trên đồng cõng bầu trời trĩu nặng

Úp mặt ruộng sâu góp nhặt hạt thóc rơi

Con biết quê nhà vất vả lắm mẹ ơi

Một nắng hai sương đất cằn đồng hạ

Ướt đẫm giọt mồ hôi đong đầy khoai lúa

Thấm một đời câu muối mặn gừng cay

Quê hương mình bao nỗi nhớ đong đầy

Chiếc áo tơi bốn mùa che mưa nắng

Gió lào thổi cuộc đời thêm gánh nặng

Hạt thóc vàng mẹ đánh đổi thanh xuân

Yêu quê mình ta dạo bước bâng khuâng

Bát nước chè xanh, câu hò ngọt lịm

Giọng nói quê nghe nhọc nhằn thương mến

Ta trở về nghe tiếng gọi quê hương..!

BÀI THƠ: QUÊ HƯƠNG TUỔI THƠ TÔI

Thơ: Bình Minh

Tôi sinh ra nơi miền quê duyên hải

Đất Hải Phòng mê mải cánh buồm nâu

Biển quê tôi rất đẹp và rất giàu

Hoàng hôn đến với một màu tím biếc

Thời gian trôi theo dòng đời hối tiếc

Bên mái trường ta học Viết ngày xưa

Tháng 5 về mùa phượng đỏ đong đưa

Còn nhớ mãi chiều tắm mưa xóm nhỏ

Có nhiều hôm nắng chưa vờn ngọn cỏ

Cùng bạn bè theo gió thả diều quê

Bao năm rồi trong nức nở tái tê

Tìm ký ức đam mê ngày xưa ấy

Thời gian trôi như một dòng sông chẩy

Xa mất rồi ai tìm thấy được chăng

Nơi quê cũ ơi tình sâu nghĩa nặng

Tuổi thơ nào say đắm của ngày xưa …

BÀI THƠ: TÌNH QUÊ

Thơ: Bình Minh

Nhớ không em thuở ấu thơ ngày ấy

Mình bên nhau khi diều giấy bay cao

Tuổi thơ xưa bên nỗi nhớ cồn cào

Còn mãi mãi đi vào trong kỷ niệm

Thời gian trôi những tháng ngày màu nhiệm

Vẩn vơ hoài còn ẩn hiện trong ta

Dù đi đâu anh vẫn nhớ quê nhà

Nhớ tuổi thơ những chiều tà bóng xế

Quê hương ơi tuổi thơ là như thế

Là chiều tà bóng xế thả diều quê

Bên bạn bè và những nỗi đam mê

Anh nhớ mãi câu thề thời thơ dại

Em đùa anh bao giờ mùa hoa cải

Nở hoa vàng ta phải chuyện trầu cau

Tuổi thơ ơi bên kỷ niệm úa nhàu

Còn nhớ mãi một màu tình quê cũ.

CHIỀU QUÊ Thơ: Chử Văn Hòa

Chiều quê hương lúa thơm nồng

Hoàng hôn trải nắng trên sông ráng chiều

Hồn nhiên thả những cánh diều tuổi thơ

Từng đàn bò bước nhởn nhơ

Đủng đà đủng đỉnh bên bờ tre xanh

Môi trường cuộc sống trong lành

Chiều quê là một bức tranh yên bình.

BÀI THƠ: NHỚ LẮM QUÊ HƯƠNG

Thơ: Huyền Thư

Nhớ làm sao, tiếng võng giữa trưa Hè

Tiếng kẽo kẹt, ôi nghe mà thương lắm

Lời ru mãi, ngàn đời sau vẫn ấm

Mái tranh nghèo, sâu đậm…nghĩa tình xưa

Gió thổi về, theo giọt nắng đong đưa

Mây lướt nhẹ, từng cơn mưa…vội vã

Cau lại thắm, vườn trầu thêm xanh lá

Đã đến mùa, ra cấy mạ….đi thôi ‼

Chân lấm bùn, thân ướt đẫm mồ hôi

Hồn thanh thản, cuộc đời…không lo nghĩ

Đêm khuya vắng, tiếng côn trùng non nỉ

Như dặn lòng, bền bỉ…với thời gian

Những hoàng hôn, mờ nhạt khói sương tan

Dừa soi bóng, trăng vàng….in đáy nước

Quê hương đó, bao giờ ta tìm được

Đến bao giờ, dừng chân bước….tha phương.

BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG 1

Thơ: Hoa Chu Van

Đã lâu lắm hôm nay tôi trở lại

Về thăm quê nhớ mãi tuổi ấu thơ

Trên con đường xưa ngày nhỏ mộng mơ

Mà đến nay bây giờ sao nhung nhớ

Gió rung cây rì rào như hơi thở

Nét đẹp quê hương giữ ở trong tim

Bến nước cây đa hồi bé trốn tìm

Tái hiện lại như cuộn phim quá khứ

Nhớ bạn bè xưa cùng bao nét chữ

Ngày ra trường lưu giữ ước mơ xanh

Hè nắng chói chang lưu bút trao dành

Cất giữ mãi giờ đã thành kỷ niệm

Về thăm quê làm lòng ta xao xuyến

Bao nhiêu năm lưu luyến bồi hồi

Mà thời gian lặng lẽ thế cứ trôi

Và tất cả trong tôi còn nhớ mãi

Với quê hương tình yêu dành kết trái

Cho con người mang lại những niềm vui

Bao yêu thương và chia ngọt sẻ bùi

Quê hương đó buồn vui ai cũng nhớ.

BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG 2

Thơ: Hoàng Minh Quân

Ai trong đời không gợi nhớ quê hương?

Bao vấn vương những niềm thương trăn trở

Chốn hoang sơ ấu thơ thời lầm lỡ

Vẫn quay đều trong nhịp thở bụi trần gian.

Quê hương là gì trong cơ cảnh lầm than,

Một bức tranh dệt thêu niềm hy vọng?

Dẫu đi xa vẫn nhớ hoài cô đọng

Dấu can qua cơn bĩ cực trăm bề.

Quê hương nào nuôi lớn những đam mê,

Những nhiêu khê những tái tê hoài niệm?

Để hôm nay vững bài ca chiêm nghiệm..

Nốt thăng trầm cho một phút thăng hoa!

BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG 3

Thơ: Sinh Hoàng

Quê hương mưa nắng hai mùa

Có dòng sông nhỏ hàng dừa xanh xanh

Quê nghèo vách đất mái tranh

Chiếc xuồng ba lá đêm trăng bến ngoài

Ngọt bùi no đủ sắn khoai

Dẽo thơm hạt gạo nuôi ai nên người

Cây lành trái ngọt xanh tươi

Má hồng môi thắm rạng ngời gái quê

Lúa mùa duyên thắm, tình quê dạt dào

Quê hương hai tiếng ngọt ngào

Quê hương yêu dấu khắc vào trong tim.

BÀI THƠ: QUÊ HƯƠNG NHỚ MÃI TIẾNG GÀ TRƯA

Thơ: Giọt Buồn Không Tên

Quê hương ơi tôi nhớ nguời da diết

Bao năm rồi mãi biền biệt trời xa

Vẩn trong tôi một nỗi nhớ quê nhà

Nhớ lời Mẹ ru thiết tha cánh võng

Tiếng gà trưa sao mãi còn lắng đọng

Hàng cau xanh hoài vọng xoã tóc thề

Cơn gió nào nghe dịu mát chiều quê

Đàn trâu béo bên triền đê nhai cỏ

Dưới bến sông rộn ràng bầy trẻ nhỏ

Tiếng cười vui vang khắp ngõ quê làng

Những mái đầu ngụp lặn dưới nắng chang

Nghe xao động mơn man trên sóng nước

Nhà Mẹ nghèo nép mình bên tán đước

Vệt khói lam tỏa mượt mái tranh chiều

Mẹ gầy gò trong dáng nhỏ liu xiu

Ơ kho quẹt bửa cơm chiều ngon lạ

Tôi lớn lên trong tháng ngày vất vã

Nhớ lời ru nghe thương quá tiếng gà

Nhưng vì nghèo đành phiêu bạt nơi xa

Thân trôi nỗi bôn ba nơi xứ lạ

Mãi trong tôi quê hương là tất cả

Vẩn thiết tha một nổi nhớ quê nhà

Nhớ Mẹ già mòn mõi đợi con xa

Dù mắt mẹ giờ chỉ là đêm tối

Quê hương ơi con nợ lời xin lỗi

Con sẽ về đừng giận dỗi Mẹ ơi.!

BÀI THƠ: LÀNG QUÊ TÔI

Thơ: Nguyễn Quang Định

Chiều nhạt nắng làng quê mát rượi

Hàng cây xanh gió thổi rì rào

Trên đồng có một chú trâu

Đang mải cúi đầu… gặm ngọn cỏ xanh.

Mái nhà tranh… bên bờ nương ruộng

Hàng cây che bóng xuống quanh nhà

Thu về muôn tiếng chim ca

Câu hò điệu ví đậm đà tình quê.

Đã lâu lắm chưa về thăm lại

Nhớ xóm làng cùng mái nhà tranh

Nhớ cha nhớ mẹ sinh thành

Bà con bè bạn xung quanh xóm nghèo.

Tôi cứ mãi chạy theo cuộc sống

Lo đi tìm ước mộng tương lai

Cũng mong sẽ tới một ngày

Về quê gặp gỡ bắt tay mọi người.

ĐỒNG DAO QUÊ HƯƠNG

Thơ: Bằng Lăng Tím

Ta tìm về nghe câu hát đồng dao

Con đò nhỏ cắm sào nơi bến đợi

Thu đã mãn thêm một mùa gặt mới

Tình quê hương vời vợi nhớ trong lòng

Cò gọi đàn nghiêng cánh vỗ triền sông

Từng con sóng bềnh bồng xô nhè nhẹ

Bao kỷ niệm môt thời ta thơ bé

Tiếng mẹ yêu khe khẽ hát ru hời

Lũ mục đồng ngày mải miết rong chơi

Đêm đốt lửa sáng trời thi hát hội

Nhạc rộn rã tưng bừng vui suốt tối

Sáo ngân vang ai thổi lúc bổng trầm

Ta tìm về nghe lại khúc thanh âm

Trâu gõ mõ lặng thầm nhai cỏ mật

Hương lúa thoảng thấm tình yêu của đất

Bài đồng dao mãi hát đến bây giờ.

THƠ LỤC BÁT: QUÊ NHÀ

Thơ: Chung Mai

Quê nhà biết mấy thân thương

Bến sông thửa ruộng con đường đã qua

Vui đùa cùng bạn trong ta trải dài…

Đàn trâu lững thững bước ngoài bờ đê

Cỏ non thích thú mải mê gặm hoài

Đống rơm từng sợi vàng dai

Mẹ gà lục cục trống choai bới mồi

Nhiếp con ngơ ngác xem thôi

Diều hâu liệng mãi thấy mồi sà ngay

Trẻ con cũng thích nơi này

Trốn tìm đuổi bắt mê say cả chiều

Mẹ nhìn mấy đứa mắng yêu :

Cởi trần rặm lắm ngứa nhiều đấy nghe

Kẽo cà kẽo kẹt rặng tre gió lùa

Góc vườn khóm mía lá khua xạc xào

Đông về cái lạnh hanh hao

Co ro buốt giá chạm vào ổ rơm

Sắn khoai độn lẫn hạt cơm

Vẫn ngon vẫn dẻo vẫn thơm đến giờ

Ước gì là mãi dại khờ trẻ con

Ước gì ta mãi mãi còn bé thôi .

Cập nhật thông tin chi tiết về Tôi Viết Bài Thơ Sao Đỏ trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!