Xu Hướng 12/2022 # Tìm Hiểu Một Số Mô / 2023 # Top 19 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Tìm Hiểu Một Số Mô / 2023 # Top 19 View

Bạn đang xem bài viết Tìm Hiểu Một Số Mô / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Truyện cổ tích là một trong những thể loại văn học dân gian quan trọng, được phổ biến rộng rãi ở tất cả các dân tộc trên thế giới.Trong truyện cổ tích Nhật Bản, người việc thể hiện một cảnh rõ nét những con người trên xứ sở anh đào phổ biến mang đậm sắc thái dân tộc Nhật Bản.

1. Mô-típ dì ghẻ – con chồng: Quan hệ giữa mẹ ghẻ – con chồng là một trong những quan hệ gia đình được phản ánh, đề cập khá nhiều trong truyện cổ tích Nhật Bản. Đây là mô-típ truyện cổ tích về nhân vật bất hạnh, của người con riêng. Dì ghẻ – con chồng là một mối quan hệ không hòa thuận và đầy mâu thuẫn. Dì ghẻ thường không thương yêu  con riêng của chồng và gây ra nhiều chuyện bất lợi cho con chồng. Mâu thuẫn này được nâng lên thành mâu thuẫn có tính xã hội, mâu thuẫn giữa thiện và ác. Cuối cùng giải quyết mâu thuẫn theo quan niệm dân gian: cái ác bị trừng trị, cái thiện được che chở, có một cuộc sống hạnh phúc. Nội dung của các truyện xoay quanh số phận của, những đứa con tội nghiệp bị mẹ ghẻ hành hạ, đối xử tàn ác không biết trông cậy vào đâu. Trong truyện Cô gái và chậu hoa, người mẹ kế với trái tim lạnh lùng, tàn nhẫn đã đuổi cô gái Chậu Hoa tội nghiệp ra khỏi nhà, đẩy cô vào cuộc sống lang thang, khốn khổ, cuối cùng sau những đớn đau, tủi cực, Chậu Hoa đã tìm được hạnh phúc bên người chồng giàu có và hết mực thương yêu cô. Trong truyện Tình nghĩa chị em thì người mẹ kế hết lần này đến lần khác tìm cách hãm hại con chồng, tội ác của dì ngày càng lớn, đến mức âm mưu giết chết Ôxuki, nhưng nhờ có đứa em tốt bụng (con riêng của người mẹ kế) mà Ôxuki đã ba lần được cứu sống, thoát khỏi bàn tay độc ác của mụ ta và may mắn được một lãnh chúa cảm thông hoàn cảnh cưu mang và sống một cuộc đời hạnh phúc. Hầu hết các truyện đều nói lên sự cay nghiệt của người mẹ ghẻ đối với con riêng của chồng.

2. Mô-típ sự kết hôn:

Đến tuổi trưởng thành, ước mơ lấy vợ lấy chồng, có được hạnh phúc lứa đôi êm ấm là khát khao muôn đời của con người và điều này được gửi gắm qua truyện cổ tích. Trong truyện cổ tích Nhật Bản mô-típ kết hôn xuất hiện khá nhiều, đó là những cuộc hôn nhân giữa những người khác nhau về thân phận và địa vị. Một chàng trai nghèo làm nghề đốt than nhem nhuốc cưới nàng công chúa Tamatsu xinh đẹp, con gái của Thiên Hoàng (truyện Nàng công chúa Tamatsu). Chàng ăn mày trẻ tuổi Sankuke kết hôn với con gái lãnh chúa Choja (Cuộc đời một người hành khất). Một chàng trai tí hon nhưng có những hoài bão ước mơ thật lớn lao, chàng đã dũng cảm bảo vệ tiểu thư Naru khỏi nanh vuốt của con quỷ đỏ khổng lồ, kết thúc câu chuyện là lễ cưới của chàng với tiểu thư Naru – con của lãnh chúa Samurai Sanjo hùng mạnh (Isum Boshi, anh chàng Samurai tý hon). Sau bao nhiêu đớn đau, khổ cực khi bị người mẹ kế đuổi ra khỏi nhà, cô gái Chậu Hoa được cứu thoát chết bởi con trai lãnh chúa, sự chăm chỉ, dịu dàng của cô đã làm lay động trái tim chàng trai, hai người kết hôn và sống hạnh phúc mãi mãi (Cô gái và chậu hoa)…Đặc biệt trong truyện cổ tích Nhật Bản mô-típ người lấy thần tiên rất phổ biến, đó là những cuộc hôn nhân giữa người trần gian và thần tiên (truyện Bức hình của người đẹp, Bà chúa tuyết, Urashima Taro, Hiko Boshi và Ôri Himê, Nữ thần nhà trời…). Truyện Bà chúa tuyết kể về cuộc hôn nhân giữa một chàng trai người trần với bà chúa tuyết, bà chúa tuyết băng giá, lạnh lùng đã bị sự trẻ trung của Minokichi thu hút đến mức từ bỏ tất cả để trở thành người vợ hiền của chàng. Hiko Boshi và Ôri Himê là một truyện kể về cuộc hôn nhân của người trần gian với thần tiên. Một chàng trai nghèo tên Hiko Boshi một lần đi qua hồ nước và thấy một cô gái đẹp đang tắm, chàng đã lén giấu chiếc áo thiên đình của nàng và lấy nàng làm vợ. Cuộc sống trôi đi êm ả cho đến khi Ôri Himê tìm thấy chiếc áo thiên đình của mình thì nàng bay về trời. Trong truyện cổ tích Nhật Bản chúng ta còn bắt gặp cuộc hôn nhân của chàng trai người trần với công chúa thủy cung, đó là Urasima Taro truyện cổ tích cùng tên Urasima Taro, là một chàng trai hiền lành, tốt bụng, một lần do sự tình cờ chàng đã cứu sống một con rùa thoát khỏi sự hành hạ của lũ trẻ nghịch ngợm, phần thưởng cho sự cứu mạng ấy là một cuộc sống tuyệt vời bên công chúa thủy cung. Tuy vậy, dù được sống một cuộc sống lý tưởng, vượt xa những ước mơ huyền hoặc nhất của chàng trước kia, nhưng chỉ ít lâu sau chàng bắt đầu nhớ quê hương, nhớ mẹ già và nhớ ngôi nhà nhỏ của chàng, nỗi nhớ nhung tăng theo năm tháng, và khi đứng trước hai sự lựa chọn, chàng đẽ quyết định rời bỏ cuộc sống trong mơ ấy và trở về với cuộc sống vốn có của mình.

Sở dĩ có những cuộc hôn nhân giữa những con người khác nhau về thân phận, địa vị, giữa những người trần gian và thần tiên là bởi tác giả dân gian muốn khẳng định quyền được yêu, quyền được hạnh phúc của mỗi con người. Trong tình yêu mọi đối tượng đều bình đẳng. Mô-típ  người lấy tiên còn nổi lên tình yêu đam mê đối với cuộc sống trần gian, cuộc sống của con người trần tục. Đó là mô-típ truyện đề cao cuộc sống bình dị, tuy vất vả nhưng có thực và hấp dẫn con người. Có thể nói rằng đó cũng là sự kết tinh lòng yêu đời tha thiết của con người mà tạo thành.

3. Mô-típ sự trừng phạt:

Mô-típ trừng phạt là mô-típ phổ biến trong truyện cổ tích bởi qua đó dân gian thể hiện quan niệm về thiệc – ác, thể hiện khát khao được sống trong một xã hội công bằng, văn minh. Các truyện thuộc mô-típ này mang tính giáo dục cao, đem đến cho người đọc những bài học quý giá, khuyên răn con người sống ở đời phải thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, không nên tham lam, gian ác vì “ở hiền gặp lành”,  “hại nhân nhân hại” và “gieo gió gặp bão” …

4. Mô-típ sự tha thứ:

Nhằm làm nổi bật phẩm chất cao đẹp, lý tưởng của nhân vật chính diện, tác giả dân gian đã để cho nhân vật chính diện tha thứ cho nhân vật phản diện. Chàng câu cá Ichiemon mặc dù rất bực bội vì quỷ nước Kappa đã lén uống hết rượu của mình mà không xin phép, nhưng với tấm lòng nhân hậu và độ lượng, anh quyết định bỏ qua tội lỗi của nó (Chàng câu cá Ichiemon). Tương tự, với tấm lòng khoan dung, trước những lời cầu xin tha thứ chân thành của quỷ nước Kappa, Jutaro sau khi bắt nó hứa không hãm hại con người nữa, đã tha thứ cho nó (Thuốc mỡ của quỷ nước). Mặc dù người làm vườn tỏ ra tham lam và bất kính với mình, nhưng sư trưởng của ngôi đền vẫn tỏ ra khoan dung, độ lượng, đọc bài kinh để giải thoát cho người làm vườn khỏi sự trừng phạt (Cây anh đào của đền Ankokuji). Sau 20 năm ròng bỏ sức lực ra tìm kiếm Đức Phật sống để cầu xin sự tha thứ vì những tội lỗi mình đã gây ra trong quá khứ, khi đã già yếu và kiệt sức, Emonsaburo đã gặp được Đức Phật trong một giọng nói ấm áp, đầy tình thương. Nhà sư – Phật sống đã mang đến cho Emonsaburo đang hấp hối sự tha thứ của Đức Phật, để ông có thể nhẹ nhàng, thanh thản đi sang thế giới bên kia. Câu chuyện như muốn nói rằng: “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại” – mọi sự hối hận đều không bao giờ bị coi là muộn (Sự tích chùa Ishiteji). Truyện Con cáo và ông lão, cũng là một motif về sự tha thứ. Ông lão lương thiện đã khoan dung, tha chết cho tội lỗi của một con cáo, sự rộng lòng ấy đã khiến ông trở nên giàu có nhờ sự giúp đỡ của con cáo. Còn truyện Giấc mơ thì kể về sự khoan dung, độ lượng của một người vợ khi biết được chồng mình chết như thế nào từ người tình của anh, người vợ tha thứ để mong rằng người chồng của mình ở thế giới bên kia có được sự thanh thản…

Mô-típ tha thứ được người Nhật Bản sử dụng nhằm mục đích đề cao sự khoan dung, nhân ái của con người. Hướng con người tới chân-thiện-mĩ.

5. Mô-típ sự đền ơn:

Là một dân tộc có tinh thần đề cao ân nghĩa nên đây cũng là một mô-típ phổ biến trong truyện cổ tích Nhật Bản. Để chuộc lại lỗi lầm của mình và để cảm tạ lòng tốt của chàng câu cá Ichiemon (đã lén uống rượu của Ichiemon và được chàng tha thứ), con quỷ nước Kappa đã giúp anh bất cứ khi nào đi câu cũng được nhiều cá như mong muốn, điều ấy giúp cuộc sống của Ichiemon ngày càng sung túc hơn (truyện Chàng câu cá Ichiemon). Để đền ơn cho sự đối xử tử tế với mình của Jinbei (điều mà trước đây chưa ai từng làm), con yêu tinh đã nhiều lần giúp chàng khỏi túng thiếu, hoạn nạn, thậm chí giúp chàng trở nên giàu có nhất, hạnh phúc nhất (Con yêu tinh mũi dài thích rượu)…Trong truyện cổ tích Nhật Bản, nhân vật mang ơn đã phải cố gắng rất nhiều và trải qua những thử thách cam go, có khi hy sinh cả mạng sống của mình để trả ơn (VD: Truyện Những con cua của đền Kanimanji, Con cáo và ông lão, Con chim sẻ bị cắt lưỡi, Chiếc nón lá tặng cho Jizo …). Để trả ơn cho sự tốt bụng của cô gái đã cứu sống mình thoát khỏi lũ trẻ nghịch ngợm, khi cô gái lâm vào tình cảnh bị nguy hiểm bởi sự đe dọa của một con rắn, những con cua đã hy sinh cả mạng sống của mình để giết chết con rắn, bảo vệ an toàn cho ân nhân của mình (Những con cua của đền Kanimanji). Một con cáo ăn trộm đậu của một ông lão, sau khi cầu xin và nhận được sự tha thứ của ông lão, con cáo đã chấp nhận hy sinh cả mạng sống của mình để giúp đỡ ông lão (Con cáo và ông lão). Một con chim sẻ bị một cành cây đè gãy cánh, có một ông lão nhân từ bắt gặp đưa chim về nhà chữa vết thương và chăm sóc cho nó bình phục. Nhớ ơn ông lão chim đã tặng cho ông nhiều của cải quý giá (Con chim sẻ bị cắt lưỡi). Để đền ơn cho đôi vợ chồng già nghèo khổ nhưng tốt bụng, luôn giúp đỡ, xẻ chia với người khác, 6 pho tượng Jizo đã đem đến cho họ những quà tặng trong năm mới, kể từ đó họ sống hạnh phúc, no đủ mãi mãi (Chiếc nón lá tặng cho Jizo)…

Có thể thấy rằng trong truyện cổ tích Nhật Bản mô-típ đền ơn rất đậm nét, sở dĩ như vậy là do nhân vật trong truyện cổ tích Nhật Bản rất trọng tín nghĩa, đã mang ơn ai thì thế nào cũng phải tìm cách trả ơn, kể cả phải đổi bằng chính tính mạng của mình.

6. Mô-típ  sự hối hận:

7. Mô-típ sự thông thái:

Người Nhật Bản rất coi trọng sự, thông thái, vì thế mô-típ ca ngợi sự thông thái xuất hiện nhiều trong truyện cổ tích Nhật Bản (VD: Hai anh em, Một cuộc thi tài, Núi của những người già, Những con Tanuki ở chùa Shojoji, Chữa bệnh tắt mắt…). Truyện Hai anh em là một truyện cổ tích điển hình đề cao giá trị của sự thông thái. Gia tài kếch xù của người cha cuối cùng không thuộc về người em mải mê buôn bán kiếm lời, mà thuộc về người anh, vì người anh sau khi lang thang tới nhiều vùng miền khác nhau của đất nước, tiêu hết số tiền mà người cha đã đưa, anh đã tiếp xúc với nhiều người và học được nhiều điều hay trong thế giới này. Anh trở thành một người khác trước với nhiều hiểu biết phong phú, nhất là sự từng trải đã khiến cho anh có khả năng làm điều tốt và tránh khỏi những điều xấu. Anh đã chứng minh được cho người cha thấy kiến thức của anh là vô giá. Và người cha đã tin tưởng, ký thác toàn bộ sản nghiệp cho anh. Sự thông thái còn được ca ngợi trong truyện Núi của những người già, một bà lão với sự thông minh, dày dạn kinh nghiệm sống đã giúp đất nước 3 lần thoát khỏi chiến tranh, đã khẳng định cho lãnh chúa biết thế nào là sự cần thiết trong học hỏi kinh nghiệm của người già, và không phải người già là vô dụng và không gánh vác được công việc. Lãnh chúa đã thức tỉnh, hiểu được giá trị của những người già, quyết định hủy bỏ điều luật tàn ác đối với người già áp dụng trước đó. Tương tự vậy, Một cuộc thi tài cũng là câu chuyện đề cao trí tuệ. Truyện khẳng định một nhà nghệ sĩ tài năng thường dùng nhiều thời gian để ngẫm nghĩ hơn là làm những công việc chân tay tầm thường. Sau cuộc thách đố để so tài cao thấp, anh thợ Seishichi sau khi đã tiêu tốn hết thời gian vào rượu chè say sưa đã dùng một mẹo nhỏ để chiến thắng anh thợ Heishiro – người mà ngày đêm dành hết thời gian và công sức của mình để hy vọng tạo ra được một kiệt tác nghệ thuật vĩ đại nhất hòng chiến thắng trong cuộc thi. Truyện Những con Tanuki ở chùa Shojoji là truyện ca ngợi sự thông minh trong xử sự của nhà sư đã quy phục được những con Tanuki chuyên bày trò phá phách chùa, đây là điều mà các nhà sư trước đó không làm được, sự ngoan cố và phá phách của chúng đã khiến họ không chịu đựng được và phải bỏ đi. Cũng xu hướng đề cao tri thức, người thầy lang thông minh trong truyện Chữa bệnh tắt mắt đã tỏ ra xuất sắc hơn người khi chỉ bằng một mẹo nhỏ chế biến thành công thuốc chữa thói hay ăn trộm của đứa con trai một bà lão – một căn bệnh lạ lùng nhất mà ông từng chứng kiến trong cuộc đời làm thấy thuốc của mình. Câu chuyện như muốn khẳng định có tri thức thì làm được tất cả, người có trí tuệ sẽ thành công trong cuộc sống, sẽ giải quyết được tất cả mọi vấn đề cho dù vấn đề đó có khó đến đâu đi chăng nữa.

8. Mô-típ sự dũng cảm:

Qua khảo sát chúng tôi thấy rằng kiểu nhân vật tiêu biểu, phổ biến trong truyện cổ tích Nhật là những nhân vật bình dị mà dũng cảm, mạnh mẽ và dám đương đầu. Trong truyện Kintaro, một lần vào rừng sâu gặp gấu dữ tợn – trong khi tất cả các con vật đều run lên sợ hãi – thì Kintaro đã bình tĩnh một mình giao chiến với gấu, bằng sức mạnh kỳ lạ, Kintaro đã nâng con gấu khổng lồ lên quá đầu, gấu vô vọng đầu hàng và trở thành một người bạn tốt của Kintaro; Mặc dù chỉ lớn hơn một ngón tay út, nhưng anh chàng tí hon Issum Boshi là một chàng trai có nhiều hoài bão và dũng cảm, trái tim chàng luôn hướng về mục đích trở thành một samurai vĩ đại. Tuy đã nghe nhiều tin đồn về một lũ quỷ ghê gớm thường đến vào ban đêm và bắt cóc những cô gái trẻ nhưng Issum Boshi cũng tình nguyện cùng bảy người khỏe nhất đi theo bảo vệ tiểu thư Naru khi nàng đi thăm đền Kiyomizu. Và khi đối diện trước con quỷ đỏ khổng lồ, gớm giếc với cái sừng gồ ghề, những cái vuốt dài và những cái răng nanh nhọn hoắt, trong lúc tất cả mọi người đều hoảng hốt bỏ chạy thừa sống thiếu chết, thì Issum Boshi đã ở lại và bảo vệ an toàn mạng sống cho tiểu thư Naru đang sợ chết khiếp. Sự dũng cảm ấy được đền đáp bằng một lễ cưới linh đình và một cuộc sống hạnh phúc với tiểu thư Naru (Issum Boshi – anh chàng Samurai tí hon); Với lòng can đảm hơn người, chú bé Momotaro đã quyết tâm lên đường diệt bọn yêu tinh độc ác ở đảo “Yêu tinh”, chúng đã quấy phá hoành hành bấy lâu nay, gây hại và làm đảo lộn cuộc sống của con người nhưng con người không làm gì được chúng. Trên đường đi, bằng sự dũng cảm, mạnh mẽ, tự tin của mình, chú bé đã thu phục được một con chó hoang, một con khỉ và một con đại bàng cùng nhập cuộc. Họ đã hợp sức đánh bại lũ quỷ, khiến cho lũ quỷ hoàn toàn đầu hàng và hết sức cảm phục sức mạnh vĩ đại của họ (Chú bé trái đào Momotaro).

9. Mô-típ sự khỏe mạnh:

Nhân vật được mô tả như những con người có sức khỏe phi thường cũng là mô-típ dễ bắt gặp trong truyện cổ tích Nhật Bản. Trong truyện Kintaro, Kintaro được mô tả như sau: “Ngay khi còn ẵm ngửa, nó đã khỏe không thể tưởng tượng được. Khi đứa bé biết bò, nó đã thật sự có sức khỏe của một người đàn ông trưởng thành”. Cậu bé Kintaro thường chơi và đua tài với các bạn bè thú rừng, “thỉnh thoảng chúng đấu vật, nhưng tất nhiên là Kitaro luôn luôn chiến thắng”. “Khi mùa đông đến, tất cả các con vật đều chui vào hang và run cầm cập. Nhưng thời tiết băng giá dường như không ảnh hưởng tới thân thể Kintaro. Chú có thể chạy băng qua rừng hoặc té nước thỏa thích và vui vẻ ở sông. Trong những cơn bão tuyết mùa đông, chú có thể đứng ngoài trời cả đêm để giữ cho cái nhà của mẹ chú khỏi bay đi”. Và chỉ bằng sức mình, cậu bé Kintaro đã nhổ một cây cổ thụ bắc ngang qua hẻm núi tạo thành một cái cầu hoàn hảo. Gặp gấu khổng lồ, hung dữ, Kintaro đã dũng cảm giao chiến và “với sức mạnh kỳ lạ, nó nâng con vật khổng lồ lên quá đầu. Con gấu cào chân một cách vô vọng ở trên không”. Hành động của Kintaro khiến cho các bác thợ săn và những người hái củi từ mấy dặm xung quanh trầm trồ, thán phục, trở về làng với câu chuyện không thể tin được mà họ vừa chứng kiến: “Một thằng nhóc mặc một chiếc áo đỏ thêu vàng, với chiếc rìu trên vai, đã giơ cao một con gấu khổng lồ lên khỏi mặt đất và bắt nó phải hàng phục”. Kintaro đã lớn lên “cao lớn và khỏe mạnh không ai sánh nổi. Khi chú trở thành một chàng trai thật sự, chú đã nổi danh vĩnh viễn, trở thành một Samurai dũng cảm và vô địch”.

10. Mô-típ về trời:

Các nhân vật về trời là những nhân vật vốn là người trời xuống trần gian thực hiện một sứ mệnh nào đó hoặc vì một lý do khách quan (mất áo, mất cánh) không thể quay về trời được, sau khi hoàn thành sứ mệnh hoặc tìm thấy bộ áo, bộ cánh, nhân vật bay về trời. Motif về trời xuất hiện trong các truyện: Nữ thần nhà trời, Công chúa Kaguya, Hiko Boshi và Ôri Himê… Vốn là một nữ thần nhà trời xuống trần gian tắm, bị mất chiếc áo khoác thần tiên, sau khi tìm thấy áo, nàng bay về trời (Nữ thần nhà trời). Sống hạnh phúc với cha mẹ nuôi nơi trần thế, dù thâm tâm không muốn nhưng đến hạn cô cũng phải quay về trời trong niềm tiếc thương vô hạn của cha mẹ nuôi (Công chúa Kaguya). Hoàn cảnh thần kỳ cũng là yếu tố tạo nên sự gặp gỡ lạ thường với người phàm trần với tiên nữ như sự gặp gỡ của chàng trai và nàng tiên trong truyện Hiko Boshi và Ôri Himê, Ôri Himê vốn là một công chúa trên thiên đình, một hôm xuống trần gian tắm và bị Hiro Boshi lấy trộm mất áo thiên đình, ở lại kết hôn cùng Hiro Boshi, khi tìm thấy áo, cô bay về trời.  Có thể nói, bộ áo cánh của nàng tiên bị chàng trai giấu đi đã trở thành cầu nối cho hạnh phúc, đồng thời nó cũng là nguyên nhân tạo nên sự xa cách, chia ly giữa hai người. Dù là người trên trời hay trần gian, dù tự nguyện kết hôn hay do hoàn cảnh đưa đẩy thì giữa chàng trai và nàng tiên khi sống với nhau đều rất yêu nhau và có khoảng thời gian sống rất hạnh phúc.

Qua tìm hiểu chúng tôi thấy rằng cuộc hôn nhân giữa những người trần tục và thần tiên thường không lâu bền, bởi sau một thời gian quên lãng tất cả để sống trong hạnh phúc thì nhân vật bắt đầu buồn nhớ quê hương, làng xóm, người thân… nếu là tiên trên trời thì khi tìm thấy bộ cánh (bộ áo) họ sẽ bay về trời, còn nếu là người trần gian thì họ nhất định từ bỏ cuộc sống thần tiên để quay về. Có thể thấy rằng, đi đến một thế giới khác, khám phá nó và chinh phục nó, đó chính là khát vọng chung của con người ở mọi dân tộc. Nhưng không ai có thể quên hẳn cuộc sống nơi mình đã sinh ra để trú ngụ ở một thế giới khác dù nó có hấp dẫn đến đâu. Đó chính là lòng yêu đời, yêu mảnh đất quê hương và sự gắn bó đã trở thành máu thịt với cuộc sống thực trong tầm tay họ. Đó là một tinh thần thực tế rất bình dân ở người Nhật, đồng thời đó cũng là tình cảm chung của những nghệ sĩ dân gian sáng tạo truyện cổ tích.

11. Mô-típ diệt yêu quái:

Yêu quái được miêu tả trong các truyện cổ tích Nhật Bản chủ yếu là những con quỷ, chúng thường xuyên quấy nhiễu cuộc sống con người, gây bất lợi cho cuộc sống của họ. Để thu phục và tiêu diệt bọn quỷ không phải bất cứ nhân vật nào cũng đảm nhiệm được, gánh vác trọng trách lớn lao ấy phải là những nhân vật gan dạ, khỏe mạnh, dũng cảm. Những nhân vật ra tay tiêu diệt bọn quỷ độc ác trong truyện cổ tích Nhật Bản rất đặc biệt, đó là chú bé tí hon trong truyện Chú bé trái đào Momotaro, đó là Isum Boshi, anh chàng samurai tí hon… Với vóc hình nhỏ bé nhưng khát vọng, ước mơ của họ thật lớn lao. Hành động tiêu diệt quỷ của Isum Boshi trong truyện Isum Boshi, anh chàng samurai tí hon gắn liền với việc nghĩa cao cả đó là cứu người – cứu tiểu thư Naru xinh đẹp (câu chuyện thuộc mô-típ diệt yêu quái – cứu người đẹp). Còn hành động tiêu diệt lũ quỷ của Momotaro là hành động xả thân vì cộng đồng, Momotaro đã tiêu diệt bọn quỷ, cứu mọi người thoát khỏi cảnh bị bọn quỷ độc ác cướp của và ăn thịt (Chú bé trái đào Momotaro)…

Cả hai truyện đều xuất hiện mô-típ diệt yêu quái nhưng cả hai đều nhấn mạnh vào sự thông minh, ca ngợi trí tuệ, nhân vật đã dùng mẹo để đưa lũ quỷ vào bẫy, khiến cho bọn chúng phải quy hàng. Điều này một lần nữa cho thấy người Nhật Bản rất coi trọng sự thông minh, thông thái.

12. Mô-típ người câm:

Mô-típ người câm tuy không phổ biến nhưng cũng thấy xuất hiện trong truyện cổ tích Nhật Bản. Truyện Nữ thần nhà trời kể về một nữ thần trên trời xuống trần gian tắm, để áo tiên trên bờ thì bị một chàng trai lấy trộm áo, khi biết chiếc áo đã vào tay một lãnh chúa, để lấy lại áo nàng đã phải giả câm, tìm cách đột nhập vào nhà lãnh chúa, chờ cơ hội và khi lấy lại được áo, nàng bay về trời. Đây là mô-típ nhân vật giả câm để tìm cách đoạt lại những thứ mà mình bị mất (chiếc áo tiên). Còn truyện Bức hình người đẹp là mô-típ nhân vật do bị tước đoạt hạnh phúc nên giả câm, và chỉ hết câm khi tìm lại được hạnh phúc của mình: từ khi người vợ xinh đẹp của Hyuroku bị bắt về hoàng cung của lãnh chúa, nàng chẳng nói chằng cười, khiến lãnh chúa rất buồn… cho đến một hôm khi nghe tiếng rao của chồng, người phụ nữ xinh đẹp đã cười nói vui vẻ như chưa từng bị câm trước đó… cái nút được tháo gỡ, nhân vật hết câm khi được đoàn tụ với chồng của mình và kẻ gian ác phải trả giá cho hành động sai trái.

14. Mô-típ người tí hon:

Motif người tí hon được thấy qua các truyện: Chú bé trái đào Momotaro, Isum Boshi, anh chàng samurai tí hon, Công chúa Kaguya, Cái áo tàng hình của quỷ Tengu, Vì sao nước biển lại mặn. Đó là một chú bé nhỏ đúng bằng một quả đào, từ trong quả đào nhảy ra trong truyện Chú bé trái đào Momotaro. Đó là một chú bé không lớn hơn một ngón tay út trong truyện Isum Boshi, anh chàng samurai tí hon. Đó là một cô bé tí hon chỉ cao độ 3 centimet chui ra từ ống tre trong truyện Công chúa Kaguya. Đó là cậu bé tí teo nhưng hết sức thông minh và tinh nghịch đã dùng mẹo chiếm được chiếc áo tàng hình của quỷ Tengu và bày ra nhiều trò nghịch phá mọi người xung quanh trong truyện Cái áo tàng hình của quỷ Tengu. Đó là đám người tí hon sống trong hang núi mà đối với họ một người vóc dáng bình thường trở thành một người khổng lồ (Vì sao nước biển lại mặn). Với vóc hình nhỏ bé nhưng ở họ đều chứa đựng những khát khao lớn lao và có những đóng góp to lớn cho cộng đồng. Đó cũng là ước mơ chinh phục những điều lớn lao được tác giả dân gian gửi gắm qua truyện cổ tích.

LÊ THỊ QUỲNH HẢO

(Khoa Đông phương – Đại học Đà Lạt)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Eiichi Aoki, Nhật Bản, đất nước và con người, Nxb văn học, Hà Nội, 2006.

2. Félician Challaye, Truyện cổ Nhật Bản, Nxb Trẻ, Tp. HCM, 2004.

3. Nhật Chiêu, Truyện cười Nhật Bản, Nxb Mũi cà Mau, 1987.

4. Nguyễn Văn Dân: Phương pháp nghiên cứu văn học, Nxb KHXH, Hà Nội, 2004.

5. Chu Xuân Diên, Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học, Trường Đại học Tổng hợp, Tp. HCM, 1987.

6. Dương Ngọc Dũng, Chuyên luận Nhật Bản học, Nxb Tổng hợp, Tp HCM, 2008

7. Nguyễn Bích Hà, Tuyển tập truyện cổ tích Nhật Bản, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1999.

8. Hà Văn Lưỡng, Sự tiếp nhận văn học Nhật Bản ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 2 (96), 2009.

9. Bùi Văn Ngân, Ngược dòng lịch sử, tìm hiểu cội nguồn, bản lĩnh, bản sắc dân tộc Nhật qua thư tịch và truyện cổ dân gian, Tạp chí Văn học số 1, 1999, tr. 4-6.

11. Bùi Mạnh Nhị, Phân tích tác phẩm văn học dân gian, Sở Giáo dục An Giang, 1988.

12. Lê Hồng Phong, “Về sự vận động của văn học dân gian”, Văn học Việt Nam thế kỷ XX (nhiều tác giả), Nxb Văn hóa Dân tộc, 2002.

13. Lê Phong, “Truyện cổ Tây Nguyên và truyện cổ Đông Nam Á – một số motif chung”, Lang Bian, (36), 2002.

14. Lê Phong, “Về nhân vật tôn giáo trong truyện cổ tích”, Tạp chí Văn học, (1), 1993.

15. Đặng Đức Siêu, Tinh hoa văn hóa phương Đông, Nxb Giáo dục, 2007

16. Lại Văn Toàn (Chủ tịch Ban biên tập), Văn học Nhật Bản, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998.

Tìm Hiểu Mẫu Sim Số Đẹp Dành Cho Khách Hàng Tại Phú Thọ / 2023

Hầu hết, khi đã sở hữu một chiếc điện thoại thông minh, hiện đại thì khách hàng cũng không ngần ngại sắm cho mình một chiếc sim số đẹp tương xứng. Mà thậm chí sim số đẹp tỉnh thành còn được đầu tư và mất công tìm mua nhiều hơn so với điện thoại.

kho sim so dep phu tho

Sim số đẹp Phú Thọ hay điện thoại đắt tiền?

Trong thời buổi công nghiệp hóa, hiện đại hóa như hiện nay thì điện thoại được xem là công cụ hữu ích không chỉ phục vụ đời sông giao tiếp, liên lạc mà còn là công cụ chủ yếu trong công việc.

Top 10 loại sim số đẹp khách hàng tại Phú Thọ hay chọn mua

Sim Thần Tài

Sim Tứ Quý

Sim Tam Hoa

Sim Lộc Phát

Sim Ngũ Quý

Sim Số Lặp

Sim Đầu Số Cổ

Sim Ông Địa

Sim Số Tiến

Sim số Đảo

Mỗi loại sim số đẹp lại các mức giá khác nhau, đa dạng mang đến cho khách hàng nhiều sự lựa chọn, phù hợp với nhu cầu và sở thích của từng đối tượng khách hàng khác nhau.

Điện thoại di động

Sim số đẹp

-  Liên tục thay đổi, ra đời các loại điện thoại mới, hiện đại, cao cấp hơn.

-  Giá cả giao động, không cố định.

-  Liên tục mất giá

-  Chỉ thể hiện phong độ trước người đối diện

-  Sản xuất dây chuyền nên dễ đụng hàng

-  Để quyết định đưa ra đầu số mới cần sự quyết định của tập đoàn mạng Viễn Thông Việt Nam

 -  Có mức giá cả chung tùy thuộc từng loại sim

 -  Giá trị tỷ lệ thuận với thời gian

-  Thể hiện đẳng cấp chỉ qua một cuộc gọi thậm chí không cần gặp mặt

-  Mỗi sim số đẹp chỉ có một chủ sở hữu

Cách chọn mua sim số đẹp trực tiếp tại Phú Thọ

Để chọn mua sim số đẹp Phú Thọ giá rẻ quý khách nên tìm hiểu kỹ về:

Các nhà mạng và đầu số của sim điện thoại

Phong thủy, âm dương ngũ hành, ý nghĩa các con số

Bạn thuộc mệnh gì, hợp với những con số nào, sắp xếp làm sao để hợp tuổi và gặp may mắn trong cuộc sống?

Tùy thuộc nhu cầu và phạm vi hoạt động của sim số để chọn loại sim có mức giá cả phù hợp.

Địa chỉ bán sim uy tín, chất lượng, giá cả hợp lý mà đảm bảo an toàn, thực hiện giao dịch nhanh chóng, chính xác.

1. Muasim.com.vn gợi ý bạn cách chọn số như sau

Nếu là chủ doanh nghiệp, cần liên lạc nhiều với đối tác làm ăn thì nên chọn các loại sim số đẹp dễ nhớ, dễ ấn tượng: Sim tam hoa, sim tứ quý, sim ngũ quý, sim lục quý, sim số lặp, sim số kép, sim taxi,…

Nếu muốn tạo sự độc đáo cho riêng mình nhưng không khoa trương thì quý khách có thể lựa chọn mua sim thần tài , sim lộc phát, sim gánh đảo,…

sim phong thủy,…

Để thay đổi vận mệnh, gặp nhiều may mắn, thành công trong cuộc sống hay thể hiện bản thân có thể tìm sim năm sinh, sim hợp tuổi, sim hợp mệnh ,…

Ngoài ra sim số cũng được phân chia theo giá cả để tiện cho khách hàng chọn số. Có nhiều loại sim số đẹp giá rẻ nhưng lại hợp tuổi với khách hàng, nhưng cũng có những loại sim số giá không hề mềm nhưng vẫn được nhiều khách hàng tìm mua và mong muốn được sở hữu.

2. Khách hàng tại Phú Thọ chọn mua sim online

Để không tốn nhiều thời gian, công sức mà lại đảm bảo chất lượng và độ chính xác khi mua sim số đẹp Phú Thọ quý khách có thể truy cập muasim.com.vn. Quý khách sẽ cảm thấy thoải mái bởi những dịch vụ tốt nhất từ chúng tôi:

muasim.com.vn website bán sim số đẹp uy tín

Kho sim số đẹp đa dạng, phong phú

Chất lượng sim tốt, được đăng ký chính chủ.

Được thỏa sức chọn sim trong hệ thống kho sim số đẹp Phú Thọ không giới hạn

Website bán sim với tốc độ cao, chất lượng tốt, liên tục được nâng cấp và bổ sung các loại sim số mới cho khách hàng toải mái lựa chọn

Giá cả đảm bảo cạnh tranh so với các trang web bán sim khác, phù hợp với đa dạng các đối tượng khách hàng

Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, nhiệt tình tư vấn khách hàng cách chọn sim, làm hài lòng nhiều khách hàng khó tính.

Dịch vụ giao sim qua đường chuyển phát nhanh đảm bảo an toàn, chính xác, nhanh chóng nhận được sim và còn chọn sim, giao dịch, thanh toán ngay tại nhà.

Tất cả đều thuận tiện cho khách hàng vì vậy không nên bỏ lỡ địa chỉ bán sim hấp dẫn này.

Mục tiêu đem lại cảm giác thoải mái và sự hài lòng tuyệt đối cho khách hàng thông qua sim số đẹp rẻ là phương châm bán hàng của chúng tôi nên quý khách hàng có thể hoàn toàn yên tâm. 

Chúc quý khách hàng đang sinh sống và làm việc tại Phú Thọ chọn và sở hữu cho mình được nhưng số sim đẹp như ý!

Liên hệ mua sim số đẹp tại Phú Thọ

Quý khách liên hệ với hotline 0977.158.158 / 0978.158.158 hoặc truy cập địa chỉ: https://muasim.com.vn 

Ngay khi nhận đơn hàng với đầy đủ các thông tin, chúng tôi lập tức liên hệ quý khách để xác nhận và tư vấn. Quý khách có thể đặt mua trực tiếp tại:  https://www.facebook.com/muasim.com.vn/ – Kiot Số 1 Lĩnh Nam -Hoàng Mai – Hà Nội (đối diện chợ Mai Động) Văn phòng tại TP.HCM – Đường Võ Văn Tần – Phường 5 – Quận 3 – Sài Gòn – Đường Bình Giã Kiot Số 1 Lĩnh Nam -Hoàng Mai – Hà Nội (đối diện chợ Mai Động) Văn phòng tại TP.HCM – Phường 13 – Quận Tân Bình – Hồ Chí Minh

Ngay sau khi nhân viên hỗ trợ của chúng tôi xác nhận đơn hàng. Tính từ khi chúng tôi chuyển sim cho quý khách, quý khách sẽ nhận được sim sau 1-3 ngày.

Quý khách có thể thanh toán trực tiếp cho nhân viên chuyển phát nhanh và giao hàng của chúng tôi khi giao sim tới tay quý khách. Hoặc quý khách có thể chuyển khoản và nhận sim số đẹp tại Hải Phòng qua đường chuyển phát nhanh của chúng tôi. 

Vô cùng nhanh chóng, vô cùng tiện lợi. Chúng tôi sẵn sàng phục vụ quý khách 24/24, 7 ngày trong tuần!

Quý khách ở bất kỳ đâu trên địa bàn Hải Phòng, chúng tôi sẵn sàng giao sim tận nơi cho quý khách!

chúng tôi là đơn vị uy tín chuyên cung cấp và buôn bán sim sim đẹp giá rẻ, chất lượng cho tất cả các khách hàng từ các quận, huyện trên địa bàn Phú Thọ. như: Huyện Phù Ninh –  Huyện Lâm Thao – Huyện Đoan Hùng – Huyện Thanh Ba – Huyện Hạ Hòa – Huyện Thanh Thủy – Huyện Tam Nông – Huyện Cẩm Khê – Huyện Yên Lập – Huyện Tân Sơn – Huyện Thanh Sơn – Thành phố Việt Trì

Tìm Hiểu Thơ Haiku Nhật Bản / 2023

Tượng thiền sư Matsuo Basho ở Hiraizumi, Iwate – Ảnh: internet

Bashô, bậc thầy Haiku, không vẽ tiếng gió, nhưng người đọc cảm thấy hồi hộp và lo sợ cho chiếc lá cuối cùng ấy.

Căn cứ vào đặc điểm này, Tagor đưa ra nhận xét về Haiku rất chính xác: “Nhà thơ chỉ giới thiệu đề tài, rồi bước tránh sang bên”(1).

Ở đây, ta thấy nhà thơ Haiku (Haijin) rất tôn trọng người đọc. Trên con đường thơ, các Haijin nhường lối cho người đọc, không lấn chiếm không làm nghẽn đường. Người đọc đi cùng nhà thơ và vẫn còn đi tiếp khi nhà thơ dừng lại. Nhưng muốn thế, người đọc không có quyền thụ động. Nhà thơ không nói hộ ta tất cả. Cuộc nói chuyện hết lời cạn ý nào mà chẳng chán. Trò chuyện với thơ lại càng không thể để cho niềm chán ngán ấy nổi dậy.

Tagor còn giải thích thêm rằng: “Lý do khiến nhà thơ rút lui nhanh chóng thế vì người đọc Nhật có quyền năng tinh thần về tưởng tượng rất lớn”.(2)

Lời nhận xét của thi hào Ấn Độ ấy có thể làm nản lòng những người đọc không phải là Nhật Bản. Thực ra thì khả năng đó không phải là đặc quyền của người đọc Nhật. Bất kỳ ai yêu thơ đều có thể đọc Haiku, và sau một thời gian tìm hiểu đều có thể cảm nhận Haiku như đã cảm nhận nhiều thể thơ khác. Hơn nữa, thơ ca không chỉ nói riêng với dân tộc mình. “Người phát” là Nhật nhưng “người nhận” có thể là người thuộc bất kỳ dân tộc nào. Đã là thơ hay thì phải có quyền năng truyền đi tín hiệu của cái đẹp.

Có người yêu cầu Bashô soạn một bài Haiku về tám cảnh hồ Ômi. Quả là một trò đùa vì có một bài thơ dài vịnh tám cảnh đã kể hết tên ra cùng với trăng thu, tuyết chiều, hoàng hôn, thuyền buồm, bầu trời, mưa đêm, ngỗng trời và tiếng chuông đền Mii. Hãy thử dồn tất cả thứ đó vào một bài Haiku ba câu. Thế mà Bashô đã thoát chiếc bẫy giăng đùa nghịch ấy như sau:

Hồ Ômi tám cảnh Sương mù dấu bảy rồi Còn chuông đền Mii thôi.

Cái một ở đây nói thay cho tất cả, dường như ta thấy cả thế giới trong tiếng chuông đền Mii. Gần gũi với tinh thần này, lssa nhìn vào đôi mắt con chuồn chuồn:

Thăm thẳm núi non Đang hiện hình lấp lánh Trong mắt con chuồn chuồn

Khi nhà thơ Haiku nhìn thấy núi non trong đôi mắt hết sức nhỏ bé của con chuồn chuồn thì nhà thơ cổ điển Anh Uyliơm Blâyk nhìn thấy thế giới trong một hạt cát:

Nhìn thấy thế giới trong một hạt cát Và Thiên đàng trong một bông hoa dại Giữ vô tận trong lòng bàn tay Và vĩnh cửu trong một giờ đồng hồ

Để diễn tả cái toàn thể đó, cái một đó, ta thấy hai bài thơ khác nhau nhiều trong cách thể hiện. Nhà thơ Haiku sau khi nêu lên hình tượng đôi mắt con chuồn chuồn, đã vội vã rút lui. Chỉ có sự gợi ý. Issa để khoảng trống cho người đọc. Người đọc sẽ tự ý lấp đầy khoảng trống theo cách của mình. Còn giọng thơ Tây phương thì phô ý rõ ràng, khai triển và tăng cấp dồn dập: Thế giới – Thiên đàng – Vô tận – Vĩnh cửu.

Đem so với thơ ca Tây phương, ta thấy tính cô đọng hàm súc của Haiku hiện lên rất rõ.

Có khi Haiku cô đọng đến mức chỉ có một chi tiết đếm hoa rơi như trong bài thơ của Shiki:

Một đóa rơi Hai đóa rơi… Hoa trà đang rơi

Không muốn rườm lời, các haijin muốn dùng niềm im lặng, âm thanh âm thầm nhất và ngôn ngữ kết tinh nhất để khơi dậy những cảm thức sâu xa nhất ở người đọc.

Lời đã đành là tinh giản, các haijin còn muốn tinh giản cả cảm xúc (đúng ra là sự bày tỏ cảm xúc) và như thế Tagor gọi là “Sự tinh giản của tâm hồn”. Sự tinh giản ấy đem lại cho Haiku một vẻ đơn sơ hiếm thấy trong thơ ca. Vì vẻ đơn sơ lạ thường của nó, có người không nhận ra Haiku là thơ. Thiếu trang sức, có người tưởng rằng nó không đẹp.

Về điểm này, R.H. Blyth trong bộ sách Haiku vĩ đại của mình có viết:

“Đó là ngón tay chỉ mặt trăng. Nếu nói đó chỉ là ngón tay, và thường không phải là ngón tay lộng lẫy thì đúng thế. Nếu mà bàn tay lộng lẫy và đeo đầy trang sức, e ta quên mất điều mà ngón tay chỉ tới”. (3)

Nghe chim hót, nhà thơ nữ Chigetsu viết:

Tay ngưng việc làm Bên chậu nước Tiếng chim chích vang

Thử so sánh bài này với bài tứ tuyệt “Tức cảnh ngày xuân” của Sư Huyền Quang đời Trần, ta sẽ hiểu hơn về tính đơn sơ của Haiku.

Nhị bát giai nhân thích tú trì, Tử kinh hoa lạ chuyển hoàng ly Khả liên vô hạn thường xuân ý Tận tại đình châm bất ngữ thì.

(Đường kim bỗng chậm lại trên tay cô nàng đẹp mười sáu xuân xanh Mấy chú oanh vàng thỏ thẻ trong lùm tử kinh hoa rộ, Thương quá đi bao nỗi lòng thương xuân vô hạn Đang trút cả vào giây phút ngừng kim và im phắc

(Bản dịch văn xuôi của giáo sư Đặng Thai Mai)

Cả hai bài thơ đều diễn tả cô gái ngừng tay làm việc nghe chim hót mùa xuân (chim chích uguisu trong Haiku là chim của mùa xuân). Trong bài Haiku, ta thấy cô gái chỉ là cô gái. Không biết cô đẹp hay xấu, tuổi bao nhiêu và đang làm gì. Còn trong bài tứ tuyệt thì các chi tiết ấy hiện lên rất rõ (đẹp, tuổi đôi tám, đang thêu thùa). Con chim chích của Haiku chỉ hót chứ không phải hót trong lùm hoa tử kinh. Bài Haiku cũng không bộc lộ cảm xúc như hai câu cuối trong bài tứ tuyệt.

So sánh để thấy tính đơn sơ của Haiku là một đặc điểm chứ không phải rút ra sự hơn kém nào. Vì mỗi thể thơ của mỗi dân tộc có đặc trưng và phong cách riêng. Mỗi bản sắc có cái đẹp của nó. Bài tứ tuyệt của Huyền Quang là bức tranh tuyệt đẹp của mùa xuân, của tuổi xuân. Bài Haiku không có màu sắc ấy.

Đơn sơ như vậy, Haiku không phải là thơ quí tộc. Có thể nói Haiku mang dáng dấp người nhà nghèo, chỉ giàu sang cái sang giàu của thiên nhiên, cái sang giàu mà ngay cả người ăn xin cũng có thể có:

Người ăn xin hạnh phúc Có cả đất và trời Làm áo xiêm mùa hạ Kikaku

Ngay cả các thiên thần mà Swedenborg kể trong “Thiên đàng và địa ngục”, thật tình mà nói, không mặc áo xiêm nào. Thì Haiku cũng “trần truồng” như thế.

Sự trần truồng của Haiku lấy đất và trời làm áo xiêm cho mình. Thế mà trái tim của Haiku vẫn ngời ánh sáng.

Tâm tôi ngời ánh sáng Vầng trăng hẳn tưởng lầm Đây là ánh trăng trong Myôê

Đây là sự giàu sang tột bực mà chỉ có tâm hồn con người mới đạt tới, chỉ có Haiku mới thể hiện rõ ràng hơn cả.

Cố gắng nhìn thấy vẻ đẹp trong những sự vật bình thường của đời sống là một trong những nguyên lý thẩm mỹ căn bản của Haiku.

Trong Haiku, nhất là Haiku của Bashô ta thấy nguyên lý ấy được phản ánh qua các cảm thức mà người Nhật gọi là Sabi wabi và Karumi.

SABI

Đây là đặc tính mà Bashô lưu ý nhất trong Haiku, là cảm thức về sự tịch mịch sâu xa vô hạn của sự vật, nhìn thấy sự vật tự bộc lộ một cách kỳ diệu. Sabi nghĩa là cô đơn nhưng là “niềm cô đơn huy hoàng”. Đây là một cảm thức hùng vĩ chứ không phải là nỗi cô đơn cá nhân. Sabi không dính gì đến tính bi lụy cá nhân.

Cảm thức Sabi được thể hiện sâu thẳm nhất trong bài Haiku nổi tiếng sau đây của Bashô:

Cánh quạ ô Trên cành héo hắt Chiều thu.

Ở đây, sự vật tự bộc lộ đến mức trở thành chính tâm trạng. Có một bức tranh do chính Bashô vẽ trình bày một con quạ đậu trên cây mùa thu xơ xác tiêu điều. Bài thơ được xem như là kiệt tác của Haiku. Với nó, Bashô được xem như là đã “sáng tạo” ra Haiku. Nghĩa là nói đến Haiku, người ta hình dung nó theo dáng dấp tinh thần của bài thơ nầy, theo cảm thức sabi (sabishisa) của nó.

Cảm thức này cũng thể hiện rõ trong một bài thơ của Ransetsu:

Nửa đêm thăm thẳm Dòng sông Ngân Dời đổi chỗ nằm

Nửa đêm thức giấc và nhìn lên trời, nhà thơ thấy Ngân Hà không còn ở chỗ cũ mà đã dời sang hướng khác. Nhà thơ dưới đất và sông Ngân trên trời, cả hai đều chìm sâu vào cái thăm thẳm của đêm khuya.

Tuy nhiên, Sabi vẫn là vẻ đẹp có chất văn chương. Đề tài con quạ trên cành không đặc biệt mới đối với thơ ca và hội họa. Hình ảnh sông Ngân vẫn còn mang vẻ “quí phái”.

WABI

Cảm thức Wabi mới thật sự liên can đến sự vật bình thường. Wabi cũng có nghĩa là cô đơn nhưng nó ám chỉ đến điều kiện sống, đến tình cảnh trong khi Sabi gần gũi với cảm xúc thẩm mỹ.

Đấy là sự nhận thức bất ngờ về cái “như thế” của sự vật, những sự vật bình thường nhất.

Cảm thức Wabi này có thể nhìn thấy qua một bài thơ về con ốc của Issa:

Trên cổng bụi cây Nằm thay cho ổ khóa Con ốc nhỏ này.

Nhà giàu đóng cổng bằng then khóa chắc chắn, còn cổng nhà thi sĩ đã được con ốc nhỏ nhắn “khóa” hộ. Thực ra thì nhà thơ bỏ ngõ cho con ốc. Cuộc sống nghèo nàn đơn sơ ở đây hiện ra như một niềm giao cảm của con người với vạn vật. Hình ảnh con ốc tự nhiên đối lập với ổ khóa phiền tạp gợi ra nhiều ý nghĩa triết lý về cuộc sống.

Cảm thức Wabi này cũng có thể dùng để diễn tả linh hồn của trà đạo. Trong trường hợp ấy, gọi là Wabi-cha.

KARUMI

Từ này bắt nguồn từ chữ Karushi nghĩa là nhẹ nhàng thanh thoát. Từ này được Bashô nhắc đến nhiều lần trong các tiểu luận về thơ ca của ông. Karumi dung hợp tính chân phương trong phong cách và sự tinh tế của nội dung.

Hoa đào như áng mây xa Chuông đền Uênô vang vọng Hay đền Asakusa: Bashô

Ta cùng ngồi với Bashô trong ngôi lều của ông ở Fubagawa vào buổi chiều mùa xuân. Những áng mây do hoa đào làm thành bềnh bồng mờ ảo ở cả hai nơi Uênô và Asakusa. Rồi tiếng chuông vọng đến. Có cần gì biết nó phát xuất từ ngôi đền nào? Hoa thì mờ ảo như mây, tiếng chuông thì mơ hồ trong gió Haiku cố gắng diễn tả cái không rõ cái không thể diễn tả.

Có thể thấy điều đó đậm nét hơn trong bài thơ sau đây:

Khi nhìn kỹ Tôi thấy nazuna nở hoa Bên hàng giậu! Bashô

Nazuna là loài hoa tím nhỏ khó nhận ra. Nó rất thường bị bỏ quên trong cát bụi. Đã vậy, nó không hề được ai nâng lên như đóa hoa nào xưa kia đức Phật đã nâng lên trước mắt mọi người. Mà đóa hoa vàng ấy cũng chỉ được một đệ tử nhận ra bằng nụ cười im lặng (Thế Tôn niêm hoa, Ca Diếp vi tiếu).

Bashô không chỉ có cái nhìn của đôi mắt mở to trước thực tại, nhìn kỹ, cái nhìn “Lại đây xem lại cho gần”, nhìn với một ý thức thường trực mà còn biểu lộ một niềm ngạc nhiên hân hoan trước sự vật.

So sánh thái độ của Bashô với nhà thơ Anh Tennyxơn trong bài “Bông boa trong kẽ tường”, ta thấy thực khác nhau. Trước tiên, Tennyxơn hái bông hoa trong kẽ tường, cả mình hoa lẫn rễ, rồi giữ trong bàn tay mà triết lý:

Bông hoa nhỏ ơi – nếu như tôi hiểu ra Em là gì, rễ và toàn thân, tất cả trong tất cả Thì tôi sẽ biết Thượng đế cũng như con người là gì.

Với cái nhìn kề cận nhưng khiêm tốn, nhà thơ phương Đông đạt được tri kiến thực thụ. Còn nhà thơ phương Tây lấy sự chiếm hữu làm trọng đã đánh mất vẻ đẹp của hoa. Cảm thức chiếm hữu ấy đưa đến sự khảo sát thô bạo. Bashô chỉ thốt lên tiếng kêu ngạc nhiên hân hoan ở cuối bài (Kana – a!), còn Tennyxơn thì tìm cách “giải quyết” vấn đề mà rốt cuộc chỉ làm cho bông hoa bị đánh vồng lên như một trái cầu.

Không chỉ nhìn hoa, có khi người Nhật còn lắng nghe tiếng hoa nở. Bên một hồ sen, họ sẽ ngồi chờ búp nở. Cuối cùng một âm thanh nhẹ sẽ bật lên đúng vào khoảnh khắc cánh hoa tách ra và hoa mở mắt nhìn cuộc sống. Hành động lắng nghe trở thành một kinh nghiệm tâm linh mà trong đó mỗi âm thanh đều có ý nghĩa. Để ngăn hoa nở quá sớm, người làm vườn sẽ quấn chặt một mạng nhện quanh búp sen. Khi khách sắp tụ tập bên hồ, mạng nhện sẽ được cắt đứt để sửa soạn cho hoa lên tiếng.

Nhưng nghe hay không nghe, hoa vẫn lên tiếng khi búp sen tự mở cánh ra:

Đã ra khơi Ngư phủ – Bên bờ biển Anh túc nở hoa tươi Kyôrai

Không còn nhìn hoa, không còn nghe hoa. Chỉ còn một mình hoa, chỉ còn tịch mịch của sự vật. Nhưng vẫn có sự liên hệ thầm lặng giữa hoa và người. Hoa thì nở, ngư phủ thì ra khơi.

*

Nằm trên Thái Bình Dương, Nhật Bản ở gần lục địa đủ để tiếp thu văn hóa Á châu, nhưng cũng ở xa đủ để tránh xâm lăng, kể cả xâm lăng văn hóa. Vì vậy đối với văn minh Trung Quốc, Nhật Bản xưa nay vừa hấp thụ vừa chối bỏ nó. Haiku xét về cội rễ không chịu ảnh hưởng của văn chương Trung Quốc.

Nói thế không có nghĩa là nó không mang dấu vết gì từ văn hóa lục địa.

Mở đầu nhật ký du hành “Đường lên phương Bắc” (Oku no Hosomichi) Bashô đã trích dẫn Lý Bạch: “Tháng ngày là khách du hành của thiên thu”. Bashô cũng hay nhắc tới những thắng cảnh Trung Quốc nổi tiếng mà ông chưa bao giờ nhìn thấy như sông Chiêng Giang hồ Động Đình. Hay mượn cả hình ảnh người đẹp tiêu biểu Tây Thi để trình bày một cảnh Nhật Bản:

Vịnh Kisagata:

Nàng Tây Thi trong mưa nằm ngủ. Thấm ướt hoa mimôsa.

Bởi vì nàng Tây Thi mắc mưa hay nhíu mày đều đẹp hơn bình thường. Bài này chịu ảnh hưởng của bài “Hồ thượng ẩm” của Tô Đông Pha:

Thủy quang liễm diễm tình phương hảo, Sơn sắc không mông vũ diệu kỳ Dục bả Tây hồ tỉ Tây tử Dạm trang nùng mạt tổng tương nghi.

(Nước lấp lánh nhảy múa – trong thời tiết tươi sáng, mới đẹp làm sao! Cả trong mưa sương, núi non vẫn đẹp diệu kỳ Có thể sánh Tây hồ với nàng Tây Thi Dù trang điểm sơ sài hay trau chuốt đều đáng mê)

Trong “Đường lên phương Bắc” ta còn thấy Bashô nói tới màu sắc của gió:

Trắng hơn đá trắng Của ngôi Đền Đá Là gió mùa thu

Mùa thu trong thi ca Trung Quốc đôi khi được gọi là “mùa thu trắng” (tố thu).

Bashô đôi khi dùng văn liệu Trung Quốc nhưng vẫn giữ được tinh thần của Haiku mà không bao giờ biến nó thành phiên bản của thơ Tống thơ Đường.

*

Đọc Haiku, ta luôn bắt gặp các hình ảnh hoa đào, chim cu, trăng, tuyết, bùn, cỏ… Haiku luôn luôn gắn bó với thiên nhiên. Ở bài Haiku nào, ta cũng gặp những từ chỉ thời tiết và mùa.

Thời tiết và mùa là yếu tố rất quan trọng của thơ Haiku. Ai không từng cảm nghiệm sự thay đổi của tiết? Thậm chí niềm vui nỗi buồn của ta cũng phần nào chịu ảnh hưởng của mùa. Trong sự hình thành tính cách con người cũng như một nền văn hóa, khí hậu là một yếu tố đáng kể. Bầu trời trong sáng của Địa trung hải, sa mạc khô khan Ả Rập, mùa mưa ở Viễn Đông… đều góp phần làm nên phong cách dân cư vùng đó. Theo Watsuji, có thể nói đến “tính cách bão tố” của dân tộc Nhật, tính cách có nhiều mâu thuẫn trong đường lối suy nghĩ và cảm xúc. Hình ảnh cây tre Nhật uốn mình dưới tuyết nói lên tính tổng hợp của khí hậu này thì cũng cho thấy được những nghịch lý trong tâm hồn Nhật Bản.

Để giúp người đọc dễ liên hội với thiên nhiên, với cuộc sống cụ thể nhất chung quanh mình, các Hai jin luôn đưa mùa vào thơ. Hầu như bài Haiku nào cũng chứa đựng một từ là tên mùa hay gợi lên được mùa mà bài thơ đang biểu hiện. Từ ấy gọi là từ mùa: Kigo.

Mùa xuân với tuyết đang tan với chim uguisu là một loại họa mi Nhật và đặc biệt là với hoa anh đào mà khi các Haijin nói hoa, ta có thể hiểu là họ nói hoa đào của mùa Xuân. Mùa hạ với mưa tháng năm, đom đóm bay và những bông hoa anh túc. Mùa thu với gió thu, với dòng sông Ngân, và đặc biệt với trăng thu mà khi các Haijin nói “trăng đêm nay”, ta hiểu là trăng trung thu. Mùa đông với lá rơi, sương mù, mưa đá và những bông hoa trà…

Cách dùng Kigo như thế trở thành quy luật và hầu hết các tuyển tập Haiku đều sắp xếp các bài thơ theo từng mùa.

Nói thế không có nghĩa là thiên nhiên trong Haiku lấn mất con người. Thực ra, hiện tượng thiên nhiên ở đây được dùng để gợi nên tâm trạng và cảm xúc của con người.

Thiên nhiên đi đôi với con người và thậm chí có thể nói họ hòa quyện vào nhau.

Chúng ta than tiếc Mùa xuân ra đi Cùng với những người Ômi Bashô

Nhấn mạnh đến yếu tố mùa, Haiku. Muốn cho thấy con người trong thiên nhiên cũng như thiên nhiên trong con người. Con người là thành phần của thiên nhiên, là thành phần của một Toàn thể.

Haiku không cô lập con người vào chính thân phận của nó, mà gợi cho ta thấy mối tương quan không gì cắt nổi giữa con người và sức sống của vũ trụ.

Ngày đầu năm mới! May sao! May sao! Trời xanh xanh màu! Issa

Con người trong Haiku không chấp nhận thụ động cuộc sinh tồn. Con người không bị ném vứt, không bị kết án vào sinh tồn như các triết lý suy đồi đặc tả. Trái lại, con người trong Haiku mang sức mạnh của vũ trụ trong bản thân mình có thể đi trên vực thẳm như một nhánh hoa tươi:

Cầu treo vực thẳm đời Quanh dây thừng quấn quýt Những nhánh thường xuân tươi Bashô

Bashô cùng người học trò là Etsujin một hôm du hành qua núi Kisô. Bên trái là hẻm núi mà dưới sâu nghìn bộ đang cuồn cuộn một dòng sông chảy siết. Họ dò từng bước một và đến chiếc cầu dây thừng giăng ngang hẻm núi phải vượt qua. Và bài Haiku của Bashô thành hình.

Con người trong Haiku thường xem các thiên thể trên cao là bạn đồng hành của mình và có khi trở nên hùng vĩ đến đáng kinh ngạc:

Tôi đem treo vầng trăng Lên cành thông, và một lúc nào đó Lại gỡ trăng ra nhìn. Hôkushi

(Trên là một bài Haiku biến thể, có hình thức bất thường: 6, 9, 3).

Có thể nói bài Haiku trên viết theo một “thủ pháp kỳ ảo”, kỳ ảo hơn cả các thủ pháp hiện đại. Bài thơ đem lại cho ta một cảm thức huy hoàng chưa từng có. Con người ở đây có một quyền uy thần thoại, mà đấy chính lại là quyền uy của con người. Tựa như một bài ca dao Việt Nam cho thấy con người không biết đặt tình yêu bát ngát của mình ở đâu trong sông núi, bèn đem đặt nó vào trong chính chiếc túi áo của mình!

Thương em chẳng biết để đâu Để trong túi áo lâu lâu lại nhìn.

Haiku bao giờ cũng cố gắng qua một sự việc cụ thể, nhỏ nhoi diễn tả cái tinh diệu của vận động thiên nhiên:

Trên bãi biển triều lui Những gì nhặt lên được Động đậy bồi hồi. Chiyô

Trong bàn tay Chiyô, bàn tay người phụ nữ, không chỉ động đậy các con vật bị sóng hắt lên bờ bãi, mà còn động đậy có lẽ một điều gì đó lớn lao như chính đời sống:

Trong cảnh xuân này Những cành hoa đang mọc Nhánh ngắn, nhánh dài.

Cành hoa xuân trên biểu hiện sự hòa điệu với đời sống, biểu hiện cuộc sống toàn vẹn tự nhiên như nhiên, sống trong từng khoảnh khắc một, sống đầy đủ trong cảm thức toàn bích tuyệt vời.

*

Haiku có nguồn gốc từ thế kỷ mười ba. Đến thế kỷ mười bảy, thì nó phát triển rực rỡ, lên đến đỉnh cao trở thành một nghệ thuật quan trọng của Nhật và cho đến tận bây giờ, nó vẫn không hề lạc hậu, mà còn được xem là một nghệ thuật rất hiện đại. Nó là thứ thơ cổ điển có ảnh hưởng đáng kể đối với thơ ca hiện đại thế giới.

Người đầu tiên thổi vào nó luồng sinh khí thiên tài, người đầu tiên nhặt nó lên và sáng tạo cho nó một vẻ đẹp vinh quang là một thiền sư có dòng máu võ sĩ Samurai: Matsuô Bashô (1644 – 1694). Nhưng sống giữa cảnh Thái Bình của thời Tôkugawa, Bashô không cần chi múa kiếm mà du hành vào nghệ thuật thi ca.

Haiku của Bashô bao giờ cũng “thanh thản bơi trong biển Thiền”, nhưng là cái thanh thản được tìm kiếm ngay giữa cuộc đời của đường đi đầy sự sống hoạt động chứ không phải cuộc đời của Thiền thất âm u. Bashô tin rằng mình sẽ chết trên đường và quả đúng như thế.

Dang dở cuộc hành trình Chỉ còn mộng tôi phiêu lãng Trên những cánh đồng hoang.

Mọi người đều đồng ý rằng bốn bực thầy vĩ đại nhất trong nghệ thuật Haiku là Bashô, Buson, Issa và Shiki. Họ được xem là bốn cột trụ hùng vĩ của đền đài Haiku. Lướt qua họ, ta cũng hiểu được phần nào con đường phát triển của Haiku.

Yôsa Buson (1716 – 1783) sinh sau Bashô một thế kỷ, là người có công đầu đưa Haiku ra khỏi sự suy đồi mà nó rơi phải sau khi mất Bashô. Vốn là một họa sĩ lỗi lạc, Buson còn mang đến cho Haiku mầu sắc lãng mạn mà trong thơ Bashô hãy còn thiếu. Không ai đã thành tựu một lượt hai nghệ thuật thơ ca và hội họa đến mức kỳ tài như Buson.

Đồng cải nở hoa vàng Phương tây mặt trời lặn Phương đông vầng trăng lên.

Trên cánh đồng vàng rực mùa xuân của con người lao động, ở hai phương trời của hai thiên thể đẹp đẽ… tất cả là mùa xuân phong nhiêu, là tháng ngày bắt đầu vòng quay mới. Yôsa Buson nổi danh là thi sĩ của mùa xuân. Một danh hiệu đẹp đẽ và xứng đáng.

Nhưng có lẽ khuôn mặt đáng yêu nhất của Haiku là Issa, nhà thơ nhân bản hơn cả.

Kobayashi Issa (1763 – 1827) có cuộc đời vô cùng đau buồn. Mẹ mất sớm, năm đứa con của ông đều chết trẻ, và người vợ yêu cũng qua đời trước ông.

Issa không ưa giai cấp thống trị, không bao giờ tỏ ra thân thiện với các lãnh chúa muốn thu nạp ông. Sớm ý thức về sự bất công (trong tuổi trẻ phải xa quê hương vì bà mẹ ghẻ), thơ Issa đầy tình yêu dịu dàng đối với vạn vật:

Trong vườn cánh bướm Đứa bé bò theo, bướm bay… Em bò theo bướm, nó bay…

Sau Issa, trong một thời gian dài, Haiku lại trở nên trầm trệ. Cần một Haijin lỗi lạc mới cứu vãn nổi. Và nhà thơ xuất hiện đúng lúc ấy là Masaoka Shiki (1867-1902). Đối với việc soạn Haiku ông kêu gọi hãy tự nhiên. “Cần hết sức cắt bỏ các trạng từ và động từ!”

Shiki là người đầu tiên đưa khuynh hướng hiện thực (Shasei) vào Haiku. Cho đến nay, Haiku vẫn còn chịu ảnh hưởng của ông.

Đêm; và một lần nữa Trong khi tôi chờ em Gió lạnh thành mưa rền.

Từ Shiki, ta đã bước sang thời hiện đại.

*

Viết Haiku là một công phu tu Iuyện. Quây quần bên nhau, các haijin bàn về phương pháp, về nguyên lý. Họ cũng hay tương thoại quanh một đề tài, sự chọn lọc một hình ảnh.

Nếu cần, một bậc thầy Haiku sẽ phủ định hẳn tinh thần một bài thơ như Bashô đã làm đối với bài thơ về con chuồn chuồn của Kikaku. Trong bài Haiku của mình, người học trò đầu tiên của Bashô đó đã đòi vặt đôi cánh con chuồn chuồn ra để cho nó thành quả ớt nhỏ. Bashô không công nhận đó là Haiku do sự hủy diệt vô ích đời sống, trong khi Haiku và thi ca nói chung phải hiến tặng cho đời sự kỳ diệu bất ngờ. Tại sao không thêm cánh vào quả ớt cho nó thành con chuồn chuồn có phải tuyệt diệu hơn không?

Có trường hợp họ bàn về nghệ thuật soạn bài Haiku từ một sự việc bình thường nhất, nhỏ nhặt nhất như chuyện bị con bọ chét đốt!

Kyôrai (cũng là học trò Bashô) khen rằng Kikaku là một người viết thông minh. Ai từng nghĩ chuyện soạn môt bài thơ về việc bị một con bọ chét đốt kia chứ? Bashô đáp: “Đúng thế! anh ấy đề cập tới những chuyện nhỏ nhặt theo một lối lỗi lạc nhất”.

Bài của Kikaku như sau:

Bị đâm chết! Giấc mơ tôi có thành? Này dấu con bọ chét.

Một hình ảnh có thể gợi lên những ý nghĩa mà chính tác giả cũng không ngờ. Khi Kyôrai viết:

Bên ghềnh đá Có bóng một con người Khách của vầng trăng đó.

Thì bóng người mà anh nghĩ tới là một thi sĩ khác đứng bên vách đá mà anh nhìn thấy vào một đêm đi dạo trong núi dưới trăng. Nhưng Bashô nói: “Sẽ thú vị hơn biết bao nếu bóng người đó không là ai khác mà là chính anh. Anh phải là đề tài của vần thơ trên”.

Thi pháp dễ nhận thấy ở Haiku là một bài Haiku thường trước tiên nêu lên đề tài, rồi sau đó dựa theo liên hội ý tưởng mà cho một đối đề xuất hiện. Đề và đối đề thường tạo lập một tình thế, một kết quả làm nẩy sinh ở người đọc một cảm thức mới mẻ về sự vật.

Tất nhiên, không phải bài Haiku nào cũng theo phương pháp này và quá trình soạn bài Haiku cũng không hề xảy ra theo một trình tự luận lý nào cho dẫu các nhà phê bình có cố công tìm ra nguyên lý.

Tìm Hiểu Bài Thơ “Nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm / 2023

Đề bài: Tìm hiểu về bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

-Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), hiệu Bạch Vân cư sĩ. Là ông quan thanh liêm , chính trực.Là nhà thơ lớn của dt.

– Cuộc đời :

+ Nhỏ: ông được cho theo học người thầy nổi tiếng là Bảng Nhãn Lương Đắc Bằng.

2.Sáng tác

-“Bạch Vân am thi tập” -“Bạch Vân quốc ngữ thi tập”

3.Văn bản a. Xuất xứ: lấy trong Bạch Vân Quốc Ngữ Thi “ b. Bố cục: đề ,thực, luận, kết.

II.Đọc hiểu 1.Hai câu đề

“Một mai một cuốc , một cần câu , Thơ thẩn dầu ai vui thú nào “

– mai, cuốc, cần câu : vật dụng quen thuộc của nhà nông.

-“thơ thẩn”:ung dung, điềm nhiên, thanh thản., trạng thái,thoải mái, không vướng bận,tha hồ dong duỗi, không để điều gì làm ưu tư, phiền muộn.Đó là sự nhàn tản, thư thái ,thảnh thơi, lòng không vướng bận chút cơ mưu, tự dục.

2.Hai câu thực

“Ta dại ta ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao “

– NBK đã tạo nên hệ thống từ ngữ đối lập nhau nhằm bộc lộ rõ thái độ của mình: cho thấy sự khác biệt giữa ông & những người khác đó là cách lựa chọn cho mình một cuộc sống” lánh đục tìm trong”.

Như vậy “Dại ” ở đây thể hiện một lối sống cao đẹp , một tư tưởng , nhân cách thanh cao, k màng danh lợi , k nuôi cơ mưu, không chịu luồn cúi, mua danh , bán tước, tham những điều phù phiếm.Đây là cách nói ngược , dại thực chất là khôn , còn khôn thực ra lại là dại .

” Khôn mà khôn độc là khôn dại Dại vốn hiền lành ấy dại khôn” (Thơ Nôm-94) Mỗi từ , mỗi chữ được NBK sử dụng rất đắt, rất tinh tế, hiệu quả .

Trở về với thiên nhiên, về nơi vắng vẻ là tìm đến cuộc sống bình dị ,thanh tao. Ở đó con người và tn hòa vào nhau.Đó cũng một lần nữa thể hiện sâu sắc hơn vẻ đẹp tâm hồn của NBK

3.Hai câu luận

“Thu ăn măng trúc , đông ăn giá Xuân tắm hồ sen , hạ tắm ao “

Nguyễn Bỉnh Khiêm hòa cùng sinh hoạt của người nông dân. Ta không còn thấy một Trạng Trình,không thấy tư thế cao ngạo , chiễm trệ của một ông quan mà chỉ hiện lên ở đây một lão nông tri điền

Liên hệ với những bài thơ khác của các nhà thơ cùng thời ta thấy được đây là cái nhìn tích cực của một thời đại và cho đến hôm nay nó vẫn còn nguyên giá trị.

* Nhận xét : Quan điểm “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm :

– là không tranh đua,không màng danh lợi, không bon chen, không cơ mưu, tự dục.

– là sống thanh thản, an nhiên, tự tại bởi những thú vui riêng của mình.

Như vậy “nhàn” ở đây không đơn thuần là nhàn hạ về thể xác hay đúng hơn Nguyễn Bỉnh Khiêm không nói về cái nhàn thể xác, là không làm gì mà ông muốn đề cao cái nhàn trong tâm hồn con người, cái thanh thản , an nhiên.

– Bài thơ dựng lên bức chân dung cuộc sống , nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm: xa rời danh lợi , hòa hợp với tự nhiên , giữ gìn cốt cách thanh cao , trong sạch . – Đặt trong hoàn cảnh xã hội phong kiến có những biểu hiện suy vi , quan điểm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang những yếu tố tích cực .

2/Nghệ thuật . – Bài thơ sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt mộc mạc , giản dị , kết hợp chất trữ tình và triết lí sâu xa , phát huy cao độ tác dụng của nghệ thuật đối trong thơ thất ngôn Đường luật.

Từ khóa tìm kiếm:

bài thơ nhàn (42)

giới thiệu bài thơ nhàn (28)

thuyet minh bai tho nhan cua nguyen binh khiem (23)

thuyet minh bai tho nhan (19)

thuyết minh về bài thơ nhàn của nguyễn bỉnh khiêm (17)

thuyet minh bai nhan cua nguyen binh khiem (16)

nhan nguyen binh khiem (14)

bố cục bài nhàn (13)

thuyết minh về bài nhàn (12)

thuyết minh bài nhàn (12)

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Hiểu Một Số Mô / 2023 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!