Xu Hướng 11/2022 # Thương Vợ Một Bài Thơ Trữ Tình Của Cụ Tú Xương / 2023 # Top 20 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Thương Vợ Một Bài Thơ Trữ Tình Của Cụ Tú Xương / 2023 # Top 20 View

Bạn đang xem bài viết Thương Vợ Một Bài Thơ Trữ Tình Của Cụ Tú Xương / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Xin giới thiệu đôi lời cảm nhận về bài thơ ” Thương vợ” của Cụ Tú

Tú Xương là nhà thơ hiện thực trào phúng xuất sắc của nền văn học Việt cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX đồng thời cũng là tác giả của những vần thơ trữ tình đằm thắm , thiết tha .“Thương vợ” là một sáng tác tiêu biểu cho bút pháp trữ tình trong thơ Tú Xương.Bài thơ đã khắc họa chân dung bà Tú vất vả đảm đang , giàu đức hi sinh và bộc lộ sự cảm thông , lòng yêu thương trân trọng ngợi ca người vợ của nhà thơ .

Bài thơ như sau :

Quanh năm buôn bán ởNuôi đủ năm con với một chồngLặn lội thân cò khi quãng vắngEo xèo mặt nước buổi đò đôngMột duyên hai nợ âu đành phậnNăm nắng mười mưa dám quản công

Có chồng hờ hững cũng như không!

Trong thơ trung đại Việt , các nhà thơ -nhà nho ít khi viết về cuộc sống tình cảm đời tư của mình , càng hiếm khi viết về người vợ . Thơ văn xưa coi trọng mục đích giáo huấn , dùng văn thơ để dạy đời , tỏ chí “văn dĩ tải đạo” , “thi dĩ ngôn chí” , với những đề tài phổ biến như : chí làm trai , nợ công danh , chí kinh bang tế thế hoặc những ưu tư về thời cuộc …Cũng trong xã hội xưa , vị thế của người phụ nữ ít được coi trọng , thậm chí còn bị coi rẻ .Nhưng Tú Xương thì khác . Ông có nhiều bài thơ viết về vợ với những câu đầy thương mến , hóm hỉnh :“Có một cô lái , nuôi một thầy đồ ,Quần áo rách rưới , ăn uống xô bồ”

Đây là lời đáp của bà Tú khi được ông Tú hỏi về câu đối vừa mới viết :

” Thưa rằng hay thực là hay ,Không hay sao lại đỗ ngay tú tài ,Xưa nay em vẫn chịu ngài”Trong một loạt bài thơ Tú Xương viết về vợ , “Thương vợ” được coi là tác phẩm tiêu biểu hơn cả . Bài thơ thể hiện cả hai mặt trong thơ Tú Xương , vừa ân tình vừa hóm hỉnh .” Thương vợ” được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật nhưng ngôn ngữ rất sinh động tự nhiên , mang đậm sắc thái dân gian , mang nét riêng độc đáo của thơ Tú Xương .

Hai câu mở đề :

Quanh năm buôn bán ở mom sông ,Nuôi đủ năm con với một chồng .Câu thơ mở đầu cất lên thật tự nhiên , dường như không chút gọt giũa mà nói được bao điều về hình ảnh và công việc làm ăn của bà Tú .Từ “quanh năm” diễn tả sự triền miên về thời gian , từ ngày này sang ngày khác , tháng này qua tháng khác và năm nào cũng vậy , bất kể mưa nắng , sớm trưa . Trong khoảng thời gian không ngơi nghỉ đó , bà Tú phải miệt mài với công việc “buôn bán” . Đó chỉ là kiểu buôn thúng bán mẹt , lời lãi chẳng được bao nhiêu ở chốn đầu sông cuối bãi .Hai từ “mom sông” cụ thể hóa không gian làm việc của vợ ông Tú , đó là nơi có thế đất hiểm trở , là doi đất nhô ra , ba bề là nước , khá chênh vênh nguy hiểm .Tú Xương đã quan sát , thấu hiểu cho nỗi vất vả của người vợ . Bởi vậy , ẩn sau mỗi lời thơ nôm na bình dị là một niềm cảm thông , thương mến sâu lắng . Với người vợ , một lời cảm thông như vậy của chồng cũng đủ để bù đắp cho bao nỗi đắng cay .Câu thơ thứ hai nêu lên căn nguyên sự vất vả của bà Tú . Bà phải gánh trên vai một trách nhiệm nặng nề ” nuôi đủ năm con với một chồng” . Phải chăm sóc , nuôi nấng một đàn con đông đảo năm đứa đã đủ cực nhọc lắm rồi .Vậy mà bà còn phải nuôi thêm cả đức ông chồng . Ai cũng biết ông Tú tài cao nhưng phận thấp , thành ra ông chí khí uất . Tám lần ông đi thi chỉ mong bia đá bảng vàng nhưng rút cục đi không lại trở về không bởi thơ văn ông quá sắc sảo . Ông lại phải hằng ngày chứng kiến bao cảnh trái tai gai mắt ” con khinh bố”, “vợ chửi chồng” , bao điều lố lắng của xã hội dở ta dở tây đương thời . Tú Xương luôn day dứt về sự đời ô trọc . Cảnh chung niềm riêng khiến ông Tú rất kĩ tính , khó tính . Ấy vậy mà bà Tú vẫn ” nuôi đủ” . Công lao to lớn của bà nằm ở hai chữ “nuôi đủ” này . Bà Tú thắt lưng buộc bụng , tần tảo quanh năm không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu về vật chất của một đại gia đình đông đảo mà bà còn phải sống lựa , chăm lo cho nhu cầu tinh thần vốn cao sang , tài tử của ông Tú . Sự đảm đang , khéo léo của bà thể hiện ở việc lựa ông Tú mà sống , khéo chiều sự khó tính khó nết của ông sao cho trong ấm ngoài êm .Hai câu thơ đầu đã đặc tả sự nhẫn nại , đảm đang của bà Tú trước gánh nặng gia đình . Qua đó nhà thơ gián tiếp bày tỏ sự biết ơn đối với người vợ tần tảo của mình .

Phân tích Hai câu thực :

Lăn lội thân cò khi quãng vắng ,Eo sèo mặt nước buổi đò đông . Hai câu thơ đã cụ thể hơn tính chất , đặc thù công việc của bà Tú . Cách đảo ngữ ” lặn lội thân cò” , ” eo sèo mặt nước” tô đậm chân dung cực nhọc ,

lam lũ , bươn chải của bà .Nhà thơ mượn hình ảnh ẩn dụ “thân cò” trong ca dao để ví von với thân phận , cuộc đời người vợ của mình . Con cò trong ca dao cực khổ , bất hạnh vô cùng :” Cái cò lặn lội bờ sông -Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”“Cái cò đi đón cơn mưa – Tối tăm mù mịt ai đưa cò về”” Cái cò mà đi ăn đêm – Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”Nhà thơ đã đồng nhất thân phận bà Tú với thân phận của những người lao động vất vả , lam lũ . Thân cò còn gợi dáng vẻ bé nhỏ , gầy gò , đáng thương tội nghiệp của người vợ ông Tú .Bà Tú bé nhỏ yếu ớt thế mà phải một mình thân gái dặm trường , đi làm qua những nơi ” quãng vắng” . Khi khỏe thì không sao nhưng khi trái gió rở trời , sảy chân bất kì thì không biết bà Tú sẽ gặp nguy hiểm chừng nào . Thế mới thâm thía câu ‘Buôn có bạn , bán có phường” . Câu thơ mang sức nặng của tấm lòng thương cảm mà ông Tú dành cho vợ .Bà Tú không chỉ dấn thân những chỗ đồng không mông quạnh mà còn phải chen chân trên những chuyến đò đông , phải chịu những tiếng “eo sèo”, những lời qua tiếng lại cò kè mặc cả , có lườm nguyt chê bôi xô bồ . Đò đông gợi ra sự hiểm nguy , xô đẩy , chen chúc . vậy là ” cô gái nhà dòng” vì lấy ông Tú mà buộc phải nhắm mắt đưa chân quên đi lời mẹ dặn ” Sông sâu chớ lội đò đầy chớ qua” , phải lăn lộn giữa chốn đời phàm tục để kiếm miếng cơm manh áo nuôi gia đình .Hai câu thơ chú trọng vào việc miêu tả nỗi vất vả , sự đảm đang của bà Tú . Ẩn sau câu chữ vẫn là tấm lòng nhà thơ với cái nhìn thương cảm , ái ngại , biết ơn , trân trọng .Từ đó tác giả gieo hai câu luận :Một duyên hai nợ âu đành phận ,Năm nắng mười mưa dám quản công .Nhàthơ dùng nghệ thuật đối, các khẩu ngữ và những thành ngữ dân gian ” một duyên hai nợ”, “năm nắng mười mưa”, ” âu đành” , “dám quản” để bộc lộ nỗi lòng ấy .Duyên và nợ là hai khái niệm đối lập nhau . Theo cách hiểu dân gian, duyên là điều tốt đẹp, là sự hòa hợp tự nhiên, còn nợ là gánh nặng, là trách nhiệm mà con người ta bị vướng mắc phải . Duyên là sự may mứn , còn nợ là sự rủi ro. Ở đây, khi lấy ông Tú, may mắn bà Tú chỉ hưởng có một mà rủi ro lại gấp đôi, tức là sung sướng thì ít ỏi mà khổ cực thì lại nhiều .Dù vậy, bà coi đó là cái phận, cái định mệnh mà ông trời đã áp đặt sẵn cho mình. Vì thế, bà cam chịu, chấp nhận, không kêu ca mà âm thầm chịu đựng . Bà sẵn sàng vượt qua ” năm nắng mười mưa” – những nỗi khó khăn tăng cấp chồng chất, bà đâu “dámquản công”, tự nguyện gánh vác trách nhiệm chăm lo gia đình .Hai câu thơ như một tiếng thở dài của bà Tú . Dù vất vả trăm điều nhưng bà vẫn âm thầm chịu đựng, vượt lên . Phải chăng đó cũng chính là đức hi sinh – vẻ dẹp truyền thống của người phụ nữ Việt ?Và hai câu kếtCha mẹ thói đời ăn ở bạcCó chồng hờ hững cũng như không !Hai câu thơ vẫn là lời Tú Xương nhập thân vào bà Tú để chửi , để rủa chính thói đời bạc bẽo , trách cứ sự vô tích sự của mình .Thói đời là những nếp cư xử, hành động xấu chung mà người đời hay mắc phải. Thói đời mà Tú Xương muốn nói đến ở đây là tư tưởng trọng nam khinh nữ, là thói vô tâm của các đấng ông chồng với vợ . Thói xấu ấy cũng đã thấm vào người ông Tú , khiến ông ăn ở bạc với vợ , sống thiếu trách nhiệm, đổ mọi gánh nặng lên đôi vai người vợ . Như vậy , ông Tú không chỉ chửi chung thói đời mà còn chửi chính bản thân mình .Đây là lời chửi mang đặc trưng riêng của Tú Xương . Nhà thơ dùng lời ăn tiếng nói của dân gian ” cha mẹ” – một cách chửi có gọng điệu chanh chuaHai câu luận là lời ông Tú nhập thân vào bà Tú để than thở giùm vợ.

nanh nọc , gay gắt , quyết liệt , lôi cả gốc rễ tông giống của vấn đề ra mà chửi . Đó chính là biểu hiện của cá tính sắc sảo Tú Xương .Câu thơ cuối cùng là một lời rủa . Nhà thơ thay vợ mà rủa rằng có chồng mà chồng hờ hững thì còn tệ hơn cả không có chồng . Có thể hiểu câu đó nghĩa là ông chồng mà sống vô tích sự , vô trách nhiệm với gia đình thì ông ta sống cũng như chết rồi .Hai câu thơ cuối là một cách chuộc lỗi đặc biệt của nhà thơ với vợ . Lời thơ giản dị pha lẫn nụ cười trào phúng mà vẫn chân chất , thấm thía tấm lòng thương vợ đáng quy trọng .Thương vợ là bài thơ ngắn gọn , súc tích , có ngôn ngữ giản dị , giọng thơ ân tình , hóm hỉnh đã khắc họa chân dung bà Tú – người vợ tảo tần đảm đang , chịu thương chịu khó , giàu đức hi sinh vì chồng con , mang vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam .Tác phẩm cũng bộc lộ sự cảm thông , trân trọng biết ơn người vợ thật sâu sắc của nhà thơ Tú Xương .Đây là bài thơ tiêu biểu cho bút pháp trữ tình trong thơ Tú Xương

Theo DĐKT.

Phân Tích Bài Thơ ” Thương Vợ” Của Tú Xương / 2023

Đề bài: Phân tích bài thơ ” Thương vợ” của Tú Xương.

Tú Xương là nhà thơ trào phúng bậc thầy trong nền văn học Việt Nam. Ngoài những bài thơ trào phúng sắc nhọn, lấy tiếng cười làm vũ khí chế giễu và đả kích sâu cay bộ mặt xấu xa, đồi bại của cái xã hội thực dân nửa phong kiến, ông còn có một số bài thơ trữ tình, chứa chất bao nỗi niềm của một nhà nho nghèo về tình người và tình đời sâu nặng.

“Thương vợ” là bài thơ cảm động nhất trong những bài thơ trữ tình của Tú Xương. Nó là một bài thơ tâm sự, đồng thời cũng là một bài thơ thế sự. Bài thơ chứa chan tình thương yêu nồng hậu của nhà thơ đối với người vợ hiền thảo.

Sáu câu thơ đầu nói lên hình ảnh bà Tú trong gia đình là một người vợ rất đảm đang, chịu thương chịu khó. Nếu bà vợ của Nguyễn Khuyến là một phụ nữ “hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn vấy quai cồng, tất tảchân nam đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc” (câu đối của Nguyễn Khuyến) thì bà Tú lại là một người đàn bà:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng”

“Quanh năm buôn bán” là cảnh làm ăn đầu tắt mặt tối, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác , không được một ngày nghỉ ngơi. Bà Tú “buôn bán ở mom sông”, nơi mỏm đất nhô ra, ba bề bao bọc sông nước, nơi làm ăn là cái thế đất chênh vênh. Hai chữ “mom sông” gợi tả một cuộc đời nhiều mưa nắng, một cảnh đời lắm cay cực, phải vật lộn kiếm sống, mới “nuôi đủ năm con với một chồng”.

Một gánh gia đình đè nặng lên đôi vai người mẹ, người vợ. Thông thường người ta chỉ đếm mớ rau, con cá, đếm tiền bạc,… chứ ai con, “đếm” chồng(!) Câu thơ tự trào ẩn chứa nỗi niềm chua chát về một gia cảnh gặp nhiều khó khăn: đông con, người chồng đang phải “ăn lương vợ”,

Có thể nói, hai câu thơ trong phần đề, Tú Xương ghi lại một cách chân thực hình ảnh người vợ tần tảo, đảm đang của mình.

Phần thực, tô đậm thêm chân dung bà Tú, mỗi sáng mỗi tối đi đi về về “lặn lội” làm ăn như “thân Cò” nơi “quãng vắng”. Ngôn ngữ thơ tăng cấp, tô đậm thêm nỗi cực nhọc của người vợ. Câu chữ như những nét vẽ, gam màu nối tiếp nhau, bổ trợ và gia tăng; đã “lặn lội” Lại “thân cờ”, rồi còn “khi quãng vắng”. Nỗi cực nhọc kiếm sông ở “mom sông” tưởng như không thể nào nói hết được! Hình ảnh “con cò” cái cò trong ca dao cổ: “Con cò lặn lội bờ sông…”, “Con cò đi đón cơn mưa…”, “Cái cò, cái vạc, cái nông,..” được tái hiện trong thơ Tú Xương qua hình ảnh “thân cò” lầm lũi, đã đem đến cho người đọc bao liên tưởng cảm động về bà Tú, cũng như thân phận vất vả, cực khổ, của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ:

“Lặn lội thân cò nơi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

“Thương vợ'” là bài thơ trữ tình đặc sắc của Tú Xương nói về người vợ của mình

“Eo sèo” là từ láy tượng thanh chi sự làm rầy rà bằng lời đòi, gọi liên tiếp dai đẳng: gợi tả cảnh tranh mua tranh bán, cảnh cãi vã nơi “mặt nước” lúc “đò đông”. Một cuộc đời “lặn lội”, một cảnh sống làm ăn “eo sèo”. Nghệ thuật đối đặc sắc đã làm nổi bật cảnh kiếm ăn nhiều cơ cực. Bát cơm, manh áo mà bà Tú kiếm được “nuôi đủ năm con với một chồng'” phải. “lặn lội” trong mưa nắng, phải giành giật “eo sèo”, phải trả giá bao mồ hồi, nước mắt giữa thời buổi khổ khăn! Tiếp theo là hai câu luận, Tú Xương vận dụng rất sáng tạo hai thành ngữ: “một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa”, đối xứng nhau hài hòa, màu sắc dân gian đậm đà trong cảm nhận và ngôn ngữ biểu đạt:

“Một duyên hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa dám quản công.”

“Duyên” là duyên số, duyên phận, là cái “nợ” đời mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng .”Nắng”, “mưa” tượng trưng cho mọi vất vả, khổ cực.Các số từ trong câu thơ tăng dần lên: “tnột…hai…năm..mười…làm nổi rõ đức hi sinh thầm lặng của bà Tú, một người phụ nữ chịu thương, chịu khó vì sự ấm no, hạnh phúc của chồng con và gia đình. “Âu đành phận”,… “dám quản công”… giọng thơ nhiều xót xa, thương cảm, thương mình, thương gia cảnh nhiều éo le.

Tóm lại, sáu câu thơ đầu bằng tấm lòng biết ơn và cảm phục, Tú Xương đã phác họa một vài nét rất chân thực và cảm động về hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo của mình với bao đức tính đáng quý: đảm đang, tần tảo, chịu thương chịu khó, thầm lăng hi sinh cho hạnh phúc gia đình. Tú Xương thể hiện một tài năng điêu luyện trong sử dụng ngôn ngữ và sáng tạo hình ảnh. Các từ láy, các số từ, phép đôi, thành ngữ và hình ảnh “thân Cò”… đã tạo nên ấn tượng và sức hấp dẫn văn chương.

Hai câu kết, Tú Xương sử dụng từ ngữ thông tục, lấy tiếng chửi nơi “mom sông” lúc “buổi đò đông” đưa vào thơ rất tự nhiên, bình dị. Ông tự trách mình:

Có chồng hờ hững cũng như không!”

Trách mình “ăn lương vợ”, mà “ăn ở bạc”. Vai trò nggười chồng, người cha chẳng giúp ích được gì, vô tích sự, thậm chí còn “hờ hững” với vợ con. Lời tự trách sao mà chua xót thế! Ta đã biết, Tú Xương có văn tài, nhưng công danh dở dang, thi cử lận đận. Sống giữa một xã hội “dở Tây, dở ta”, chữ nho mạt vận, lúc mà “Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co”, cho nên nhà thơ tự trách mình đồng thời cũng là trách đời đen bạc. Ông không xu thời để vinh thân phì gia “tối rượu sâm banh, sáng sữa bò”.

Hai câu kết là cả một nỗi niềm tâm sự và thế sự đầy buồn thương, là tiếng nói của một trí thức giàu nhân cách, nặng tình đời, thương vợ con, thương gia cảnh nghèo. Tú Xương thương vợ cũng chính là thương mình vậy: nỗi đau thất thế của nhà thơ khi cảnh đời thay đổi!

Bài thơ “Thương vợ” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú. Ngôn ngữ thơ bình dị như là tiếng nói đời thường nơi “mom sông” của những người buôn bán nhỏ, cách đây một thế kỉ. Các chi tiết nghệ thuật chọn lọc vừa cá thể (bà Tú với “năm con, một chồng”) vừa khái quát sâu sắc (người phụ nữ ngày xưa). Hình tượng thơ hàm súc, gợi cảm: thương vợ, thương mình, buồn về gia cảnh thêm nỗi đau đời. “Thương vợ'” là bài thơ trữ tình đặc sắc của Tú Xương nói về người vợ, người phụ nữ ngày xưa với bao đức tính tốt đẹp, hình ảnh bà Tú được nói đến trong bài thơ rất gần gũi với người mẹ, người chị trong mỗi gia đình Việt Nam.

Tú Xương chiếm một địa vị vẻ vang trong nền văn học Việt Nam. Tên tuổi ông sống mãi với non Côi, sông Vị.

Từ khóa tìm kiếm

phân tích bài thơ thương vợ

phân tích thương vợ

phân tích bài thương vợ

phân tích bài thơ thương vợ của trần tế xương

phân tích bài thơ thương vợ của tú xương

thương vợ tú xương

Tâm Sự Của Tú Xương Qua Bài Thơ “Thương Vợ” / 2023

Tâm sự của Tú Xương qua bài thơ “Thương vợ”

Tâm sự của Tú Xương qua bài thơ “Thương vợ”

Bài làm

Thơ văn Việt nam xưa và nay có những bài thơ thương vợ, khóc vợ rất cảm động. Người ta còn truyền tụng một bài thơ của Tự Đức khóc một bà phi có câu:

“Đập vỡ gương ra tìm thấy

Xếp tàn y lại để dành hơi”.

Nỗi nhớ nhung đau đớn, dữ dội ấy còn được Bùi Hữu Nghĩa, Nguyến Thượng Hiền, Nguyến Khuyến thể hiện cảm động trong bài văn tế, câu đối khóc vợ sau này. Cảm phục, xót thương, tự hào… trước tấm lòng, đức hi sinh của vợ bằng giọng văn vừa có chút tính nghịch, vừa rất cảm động; giữa sự kết hợp giữa trào phúng và trữ tình Tú Xương đã làm “giàu” thêm đề tài viết về bà Tú và kịp góp vào nền văn học Trung đại Việt Nam một bài thơ về tình cảm thương vợ hay và sâu sắc.

“Thương vợ” là một bài thơ vừa cảm động, vừa dí dỏm của Tú Xương. Chỉ hai câu đầu của bài thơ đã nêu bật lên được vai trò trụ cột gia đình của bà:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”.

Ông Tú tỏ lòng thương vợ bắt đầu bằng sự tính công. Đúng hơn là sự biết ơn sâu sắc công lao của bà Tú. Có thời gian cụ thể: “quanh năm”; không gian cụ thể: “mom sông” càng làm nổi bật lên sự lam lũ, vất vả quần quật của bà Tú. Nơi buôn bán để kiếm miếng cơm manh áo của bà Tú là “mom sông”- là một chỗ đất nơi ra ở bờ sông, nơi ít người qua lại, sóng nước gập ghềnh gợi sự cheo leo, chênh vênh, nhiều bất trắc. Thế nhưng “quanh năm” nghĩa là ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác như một vòng tuần hoàn khép kín, dù ngày nắng hay mưa,ốm đau hay khỏe mạnh bà Tú lại quẩy quang gánh ra nơi “mom sông” ấy để buôn bán. Cách nói như là sự xô bồ, cường điệu của chuyện văn chươn, trong trường hợp này chính là sự bày tỏ lòng biết ơn đối với bà Tú về mặt thời gian lao dộng. Và điều cảm động, đáng để khâm phục bà Tú là nhịp độ làm việc không ngừng nghỉ tai một nơi làm ăn, buôn bán khó khăn nhưng không phải chỉ để nuôi thân mà “Nuôi đủ năm con với một chồng’. Đâu còn thấy hình ảnh:

“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu

Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”.

Mà trái lại đó là loại chồng: “Tiền bạc phó cho con mụ kiếm”, loại chồng “Thưng đấu nhờ lưng một mẹ mày”. Người chồng là trụ cột của gia đình, gánh vác việc nặng nhọc để cưu mang cuộc sống cho vợ con vậy mà ở đây, trong câu thơ này ông Tú cảm thấy mình như một người “thừa”, một kẻ vô dụng và như một “thứ con” đặc biệt để bà Tú pahỉ nuôi riêng. Chế độ xã hội cũ đã sản sinh ra loại ông chồng đoảng, loại ông chồng “dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm” như ông Tú không ít. Toát lên qua hai câu thơ là một niềm htơng cảm của ông Tú dành cho vợ trước đức hi sinh, tần tảo của bà; đồng thời là một lời tự trách mình vì thân làm chồng mà để vợ gánh vác việc gia đình đồng thời còn thấp thoáng niềm tự hào về vợ của mình khi làm lụng vất vả để “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Mặc dù, đó là một ông chồng không phải nhưng bằng lối văn dí dỏm, tình cảm chân thành, nhận ra được sự vất vả của vợ, tỏ ra biết nhận lỗi, biết đền bù lại bằng cái tình, bằng tấm lòng nên người đọc không hề trách mà ngược lại có chút thông cảm đối với “ông chồng’ này.

Tình thương vợ được thể hiện trọn ven trong hai câu thơ 3, 4:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

Hai câu thơ gợi lên cảnh làm ăn vất vả, tội nghiệp cuat bà Tú. Chẳng hay, ông Tú đã đón nhận câu ca dao “Con cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”, từ bào giờ? Qua tiếng ru con cua một bà mẹ láng giềng hay chính trong lời ru của bà cụ Nhuận đã đi vào tiềm thức của tế Xương? Chắc chắn từ “con cò lặn lội bờ sông”, hình ảnh những bà vợ Việt Nam ngàn xưa trong xã hội cũ, ngược xuôi tần tảo, gian nan cực nhọc để nuôi chồng con cũng từ lâu đã đi vào hồn thơ giàu rung động của Tú Xương với bao nhiêu xót xa, thương cảm. Để giờ đây, trong lúc nghĩ đén bà Tú thì con cò ấy bỗng vụt dậy vỗ cacnhs bay vèo thi hứng “Thương vợ” của Tú Xương. Phép đảo ngữ “lặn lội thân cò” càng khắc họa rõ nét nỗi khổ cực, đức hi sin, sự chịu đựng của bà Tú. Hai từ “lặn lội” chen lên đứng đầu câu. Cảnh lặn lội lại càng “lặn lội”. Ca dao nói “con cò”, Tú Xương nói “thân cò”. Ý thơ cổ như xoáy sâu vào sự cực khổ. “Thân cò” gợi thân phận lẻ loi, yếu ớt, cô đơn và nó lại càng cô quạng, lạc lõng hơ khi đi cùng với từ “eo sèo”- một sự mặc cả, nhỏ nhoi, cô đơn, tội nhgiệp. Vì “năm con với một chồng”, vì “miếng cơm manh áo” mà bà Tú phải chen chúc với nhau trên những chuyến đò đưa khách sang sông. Chật hẹp, bấp bênh, mỏng manh, chơi vơi đến quá chừng! Và dường như sông nước càng mênh mông bao nhiêu thì cái độ chơi vơi, mỏng manh, bấp bênh đó lại càng tăng lên bấy nhiêu. Từ đó càng làm nổi bật tấm lòng “thương vợ” của Tú Xương và qua đó ông tỏ ra thấu hiểu hết những vất vả của bà Tú:

“Một duyên, hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công”.

Câu thơ như nói lên ý nghĩ của bà Tú. Cuộc đời như thế là duyên, mà cũng là nợ, duyên một thì nợ hai, thôi đành chịu theo số phận, không giám nề hà, không kể công gì nữa. Nhưng câu thơ còn làm nhứ đến câu ca dao:

“Một duyên, hai nợ, ba tình,

Chiêm bao lẩn khuất bên mình năm canh”.

Ngoài cái duyên, cái nợ còn có cái tình; cái tình nghĩa vợ chồng của bà Tú dành cho chồng mình. Thành ra nói “nợ” mà thực ra là nói “tình”, mà đã là tình thì ai lại kể công. Số từ tăng tiến: “một”, “hai”, “năm”, “mười” càng dồn nén sự chịu đựng của bà Tú, càng làm trào dâng lên nỗi niềm xót thương, cảm thông trước sự hi sinh vất vả, tảo tần của bà Tú.

Bài thơ kết bằng một cấu chửi- một câu chửi yêu:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không”.

Nhìn cuôck đời bà Tú như vậy có chửi cũng là lẽ tất yếu. Nhưng ở đây ai chửi? chửi ai? Và chửi cái gì? Thì cũng chỉ là ông Tú thương xót cho bà Tú mà chửi thay cho bà Tú. Ông Tú đã tự chửi mát mình về cái thói “ăn ở bạc”, cái tội “làm chồng mà hờ hững cùng như không”, làm chồng mà để vợ phải trăm cơ, nghìn cực như thế. Hai câu kết khép lại bài thơ vừa như là một lời chửi, vừa như là một lời than. Nhà thơ tự phán xét chính mình, tự trách mình và tha cho hoàn cảnh của vợ. Câu thơ cũng chỉ ra nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ của bà Tú là do “thói đời” bạc bẽo. “Thói đời” bạc bẽo đã biến ông Tú trở thành kẻ vô tích sự, chính vì thế ông trở thành gánh nặng cho vợ. Lời chửi vừa thể hiện nỗi niềm tâm sự cay đắng ch hoàn cảnh của ông Tú, vừa thể hiện nỗi xót thương, ngậm ngùi của ông Tú đối với vợ.

Bài thơ đã dựng lên hai bức chân dung: ông Tú và bà Tú. Bà Tú hiện lên phía trước, ông Tú khuất lấp phía sau. Vượt lên trên tất cả là tấm lobngf yêu thương, quí trọng và tri ân của ông Tú đối với người vợ tần tảo. Nhà thơ Xuân Diệu đã từng bình phẩm về bài thơ “Thương vợ” rằng: ” Thơ hay, hay ở ý tình; hay ở chữ, tiếng, hay ở sự việc; hay ở nhạc điệu: lặn lộ, eo sèo, thân cò, mặt nước, quãng vắng, đò đông, mỗi chữ đều tình cảm”. Qua đó, tấm lòng yêu thương, trân trọng cũng như những trăn trở, day dắt đã tạo nên nhân cách cao đẹp của Tú Xương, một con người dám sòng phẳng với bản thân, tự nhận ra thiếu sót của mình và không trút bỏ trách nhiệm./.

Nguồn: Tài liệu trực tuyến

Theo chúng tôi

Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Của Tác Giả Tú Xương / 2023

Phân tích bài thơ Thương Vợ – Trong thời kỳ phong kiến người phụ nữ thường chịu nhiều thiệt thòi và không được chú ý nhiều. Một người phụ nữ sống trong thời kỳ phong kiến thường phải đeo nhiều xiềng xích bởi những lễ giáo. Người phụ nữ khi lấy chồng thì phải theo chồng, luôn phải tuân thủ tam tòng tứ đức những điều giáo lễ. Những người phụ nữ phong kiến phải chịu những nỗi đau về tinh thần và thể xác bởi trong quan điểm suy nghĩ của những nhà nho thời xưa luôn chỉ coi trọng người đàn ông và xem thường người phụ nữ. Trong suốt một chiều dài phát triển của nước ta chế độ phong kiến kéo dài đã làm ảnh hưởng rất nhiều tới suy nghĩ và lối sống của những con người trong giai đoạn đó,

Bài thơ “Thương Vợ” của nhà thơ Tú Xương là một trong những bài thơ ít ỏi hiếm hoi được viết để thương vợ, thương số phận của người phụ nữ phong kiến. Trong thơ ca cũng có nhiều tác phẩm xót thương cho thân phận người phụ nữ như Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm… nhưng chưa có bài thơ nào thể hiện nỗi lòng thương vợ như Tú Xương đã viết tặng vợ mình. Trong bài thơ của mình Tú Xương đã xây dựng một người phụ nữ vô cùng đảm đang, chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống. Khi một người phụ nữ chân yếu tay mềm nhưng lại là trụ cột gia đình nuôi đủ năm con và một người chồng mải lo đèn sách. Ngay từ những câu thơ đầu tiên của bài thơ tác giả đã nói lên sự vất vả cực nhọc của bà Tú

Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng

Sự khổ cực vất vả mà bà Tú phải gánh chịu vô cùng rõ ràng, một người vợ phải làm công việc buôn thúng bán bưng suốt ngày làm công việc của mình lo kế sinh nhai của cả gia đình. Từ mon sông gợi lên cho chúng ta về sự chênh vênh, một chút gì đó không an toàn bền vững, một sự so sánh tạo nên việc đặc biệt của một câu thơ vô cùng độc đáo thể hiện được sự vất vả của người phụ nữ. Đáng ra ông Tú mới chính là người trụ cột của gia đình. Ông phải là người lo lắng cho vợ của mình, cho các con của mình nhưng ông lại lo đèn sách công danh nên mọi việc trong ngoài đều một tay bà Tú gánh vác. Người phụ nữ xưa được ví như những hạt mưa khi rơi vào giếng thì hạnh phúc, chẳng may có ra ngoài đồng chịu cuộc sống nắng mưa khổ cực cũng phải ngậm cười chẳng thể nào dám kêu ca, hay phàn nàn gì được. Ông Tú hiểu được nỗi khổ cực của vợ mình nên ông đã viết bài thơ này để chia sẻ với vợ những đau khổ vất vả trong cuộc sống.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Hình ảnh bà Tú được chồng của mình ví như một cánh cò nhỏ bé mong manh, cô đơn một thân một mình lúc thì rạng sáng khi thì sẩm tối. Một mình thân cò gầy guộc với đôi quang gánh của mình buôn thúng bán bưng để lo lắng cho những người thân trong gia đình của mình có một cuộc sống bình thường, no đủ. Mọi kế sinh nhai đều dồn lên đôi vai gầy guộc của người phụ nữ nhỏ bé đó. Dù bà Tú chưa bao giờ kêu than chưa bao giờ dám oán trách chồng của mình. Bà vẫn luôn hài lòng hạnh phúc với cuộc sống hiện tại nhưng tự bản thân ông Tú lại cảm thấy có lỗi với vợ của mình, bởi đáng lẽ ra mọi việc trong gia đình lo toan mưu sinh phải do ông Tú gánh vác, bởi ông chính là người trụ cột, là người chồng người cha nhưng ông Tú lại không làm tròn trách nhiệm của mình nên ông có chút hối lỗi, ăn năn với vợ của mình.

Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công

Trong hai câu thơ này thể hiện được một bức chân dung của người phụ nữ vô cùng đảm đang, chịu thương chịu khó. Một người phụ nữ làm tất cả chỉ vì gia đình thân yêu của mình vì những người thân ruột thịt. Bà Tú luôn mong muốn mang lại hạnh phúc cho gia đình của mình, nên bà có làm gì cũng không bao giờ cảm thấy mệt mỏi, không quản ngại khó khăn mưa nắng. Một sự hy sinh thầm lặng nhưng vô cùng đáng để trân trọng hiểu được nỗi khổ của người phụ nữ đi bên đời mình nên ông Tú đã viết bài thơ “Thương vợ” nhằm nói hộ tiếng lòng của mình, nói lên sự tôn trọng biết ơn của ông Tú dành cho người vợ tào kha. Dù bà Tú chưa bao giờ dám kêu ca, hay phàn nàn gì khi cuộc sống quá nhiều khó khăn nhưng ông Tú vẫn hiểu nỗi vất vả của bà. Và chính ông đã nói ra hộ bà những sự vất vả khó khăn đó, từng lời thơ như một lời than thở dằn rặt của một ông chồng vì mải lo đèn sách nên đã không chăm sóc vợ con chu đáo để vợ của mình phải chịu nhều thiệt thòi

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không

Hai câu thơ kết thể hiện được sự oán trách chính mình của nhà thơ. Một lời tự phê phán của bản thân khi đã để vợ mình phải chịu nhiều vất vả. Nó cũng chính là tiếng chửi của tác giả dành cho những ông chồng vô tâm, không quan tâm tới những người phụ nữ sống quanh mình để cho vợ mình phải vất vả cực nhọc với cuộc sống. Bài thơ “Thương vợ” kết thúc với những câu thơ dí dỏm của tác giả Tú Xương nhưng thể hiện được tâm tư tình cảm của ông dành cho vợ mình. Một người chông luôn quan tâm luôn đồng cảm với vợ như Tú Xương chắc chắn không phải là người chồng hờ hững ăn ở bạc. Nhưng tác giả vẫn tự trách mình để thể hiện rõ thành ý và nỗi lòng của mình dành cho vợ.

Bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương với lời thơ giản dị, chân thành, mộc mạc nhưng lại có sức lay động lớn tới trái tim người đọc. Những lời thơ chính là những lời nhắc nhở của ông dành cho những người chồng ham chơi ham vui không biết quan tâm tới nỗi khổ của người phụ nữ, người vợ sống bên cạnh mình.

Thủy Tiên

Cập nhật thông tin chi tiết về Thương Vợ Một Bài Thơ Trữ Tình Của Cụ Tú Xương / 2023 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!