Xu Hướng 2/2024 # Thơ Lục Bát: Cuộc Đời Công Nhân # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Thơ Lục Bát: Cuộc Đời Công Nhân được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

THƠ LỤC BÁT: CUỘC ĐỜI CÔNG NHÂN

Tác giả: Nguyễn MâyCông nhân là thế này đâyTô mì lót dạ qua ngày là xongĐôi khi cũng thấy xót lòngNhưng thôi mặc kệ cũng không hề gì!

Ai trong hoàn cảnh cu liMới hay thấu hiểu những gì buồn vuiThời gian vẫn cứ lặng trôiTuổi xuân gửi lại về nơi trốn nào!

Thân em như kiếp con con tằm” kiếm ăn được mấy đêm nằm nhả tơ”Cả đời chẳng dám ước mơNgày làm vất vả mong chờ đến lương!

Nhận tiền mà thấy thảm thươngSố tiền ít ỏi biết nhường chia sao?Rưng rưng dòng lệ trực tràoThương cha mẹ lắm biết sao bây giờ!

Ở quê mẹ cũng đang chờChút tiền con vẫn hằng mơ gửi vềNgười ơi! Em nói người ngheTiền lương gửi mẹ đã về đến nơi!

Tết này em lại lẻ loiTiền đâu? Mua vé để rồi về quê!!!!!Thật vất vả bởi còn túng thiếuPhận công nhân ai hiểu ai hayDầm mưa dãi nắng đêm ngàyThức khuya dậy sớm hao gầy tả tơi

Mở mắt dậy khi trời chưa sángTrăng mùng mười ló rạng đầu nonNgoài sân sương ướt vẫn cònGà kia chưa gáy cú con chưa về

Mặc quần áo rồi thì vội vãQuán ven đường lót dạ đơn sơBánh mì cháo trắng hoặc ngôĂn gì cũng được miễn no được rồi

Gian nan nhất tiết trời nắng hạMồ hôi rơi tầm tã đêm ngàyThế nhưng cũng vẫn hăng sayBán hàng phục vụ bác này chị kia

Tối nuốt vội đôi thìa cơm nhãLấy sức bởi vất vả suốt ngàyNgẫm đời sao lắm đắng cayBuồn cho số phận kiếp này công nhân.Đời công nhân vất vả lắm ai ơiĐổi chén cơm bằng nụ cười héo hắtCũng có khi phải trả bằng nước mắtNhịn bao lời mà se thắt con tim

Đời công nhân chỉ biết sống lặng imSáng tinh mơ lo tìm đồ lót dạKhi gói mì tôm cùng ly nước lãChiều ổ bánh mì vội vã tăng ca

Đời công nhân cơm mắm muối dưa càCó kẻ phải..xa mẹ cha già yếuBởi kiếp nghèo với bộn bề túng thiếuCũng có người chữ hiếu chẳng trả xong

Đời công nhân như con nước giữa dòngCứ nổi trôi bềnh bồng không lối thoátNghĩ tương lai mà ngậm ngùi chua sótCũng phận đời sao chẳng được như ai

Đời công nhân gian khổ cứ miệt màiChẳng biết đâu chữ ngày mai tương sángNên những khi lệ đêm trường lai láng Thấy đời mình như một áng mây đen.

Ngày 2024-11-03 Tác giả: Sưu Tầm

Cùng Thể Loại

CHÙM THƠ GÁNH HÀNG RONG

BÀI THƠ: QUẨY HÀNG RONGChẳng ngại lo gì quẩy gánh rongGian truân khó nh

Xem Like

Thơ Về Cuộc Đời Bất Công, Bạc Bẽo Đau Lòng, Xót Xa

Thơ về cuộc đời bất công, những bài thơ tâm trạng cho bạn chia sẻ. Người ta nói cuộc sống luôn công bằng lấy đi cái này thì sẽ cho người ta cái khác tuy nhiên thực tế không hẳn là vậy.

Trong cuộc sống vẫn có rất nhiều sự ngang trái và đầy rãy những bất công.Vì tranh nhau quyền chức, ham lợi ham tiền mà người ta sẵn sàng vứt đi tình cảm, bán đứng anh em bạn bè. Vì sự thiệt hơn của bản thân người ta có thể sẵn sàng đổi trắng thay đen, bán rẻ lương tâm và đạo đức.

Top những bài thơ về cuộc đời bất công hay nhất

Tác giả: Lá Mùa Thu 94 & Tuyến Patin

Lực bất đành tâm lại chửi thềCũng vì xã hội lắm nhiêu khêNgười ăn chẳng hết rồi đem vứtKẻ kiếm không ra lại nhặt vềNgó cảnh bất công mà nẫu ruộtTrông phường vô lí thấy đau mềThà đui chẳng biết thời cũng kệ

Bốn Phương Chìm Nổi

Tác giả: Việt Dương Nhân

Tác giả: Tuyền Linh – Dulan

Có những bức xúc chẳng nói ra đây đượcBởi vô tình thành quy luật của đất trời (?)Có những thiệt thòi chẳng ai chịu nhìn thấyKể cả Ông Trời cũng ngoảnh mặt ngó lơNgày Phụ Nữ – ôi tôn vinh người Phụ NữMép môi nào đưa đẩy… ôi, khéo đẩy đưaTrong sâu thẳm ngàn… ngàn lần Phụ Nữ chịuGánh nặng không tên…đàn ông vẫn chưa vừa (*)Họ thiệt thòi trong bản năng và bản ngã (**)Thực tế rõ ràng, ai được, mất hơn ai ?Trời sinh ra, mỗi người riêng một bản thể (***)Ông trời già đặt để thật quá là sai….!Luật công bằng từ đâu, chẳng bao giờ thấy ?Chỉ thấy sờ sờ những tình huống bất côngNgười Phụ Nữ cũng đầu đen và máu đỏSao luôn luôn phải lép vế với người chồng ?Này em hỡi, kiếp sau đừng làm Phụ Nữ !Để anh không còn là một kẻ bất côngLúc em muốn mà anh vô tình không biếtEm sẽ thiệt thòi, chăn chiếu lại trống không…!

Xót Xa

Tác giả: Nguyễn Quang Long

Ông trời sao quá nỡ bất công?Nỡ gieo cay đắng xót thương lòngĐời bao ngang trái nghe đau đớnXa cách muôn trùng mọi ước mongThắt chặt đời này trong bóng tốiLàm sao thoát khỏi kiếp long đong?Làm sao thoát khỏi đời ngang trái?Giúp phận cơ hàn thỏa ước mong.

Tác giả: Sâm Nguyễn

Lực bất đành tâm lại chửi thềCũng vì xã hội lắm nhiêu khêNgười ăn chẳng hết rồi đem vứtKẻ kiếm không ra lại nhặt vềNgó cảnh bất công mà nẫu ruộtTrông phường vô lí thấy đau mềThà đui chẳng biết thời cũng kệMồn một thế kia… chối vãi lề.

Giận Dữ

Tác giả: Xóm Đồng

Rừng xanh hoang dãCủa chúng taXưa thong thả rong chơi

Rừng bị trói buộtBởi nhóm ngườiMuốn ngắm phải trả giá hời mới được

Bất công

Đất cát là của chungGiờ “xã hội hoá” cắt nghĩa bần cùngRơi vào tay tham nhũng

Biển cũng của chúng taLà lãnh thổ của dân Việt hàng nghìn năm trướcBây giờ ai chiếm hữu?

Bực mình trào dâng

Chiều hôm nayBỏ 5 ngày ăn cho trẻ em vui chơi chẳng ra hồn

Tức giận cồn cào do bị xin đểu

Nhớ năm trướcBỏ 1 tháng ăn trưa đu dây lên đỉnhVọng cảnh nghẹn nuốt bọt trào

#Những bài thơ về cuộc đời bất công đau lòng, xót xa Thói Đời Điêu Ngoa Răn Ta Suy Ngẫm

Tác giả: Nguyễn Khắc Thiện

Chùm thơ về cuộc đời bạc bẽo, bất công khiến bạn bùi ngùi

Cuộc đời là thế, đôi lúc bất công, bạc bẽo đến xót xa. Người với người dối lừa nhau, dẫm đạp lên nhau để sống. Chr vì đồng tiền hay chút danh vọng, họ có thể bất chấp đi tất cả, không ngoại trừ tình anh em ruột thịt.

Chia sẻ cùng chùm thơ về cuộc đời bạc bẽo, bất công sau đây bạn sẽ cảm nhận rõ hơn về vấn đề đó.

Thói đời

Cách Làm Thơ Lục Bát

Bạn đang quan tâm tới cách để có thể tự học & làm thơ lục bát. Chỉ cần đọc hết bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thể thơ lục bát nổi tiếng của Việt Nam. Cách gieo vần, có những luật thanh như thế nào? Từ đó tự mình có thể sáng tác ra những đoạn thơ, gieo vần với từng con chữ…

Thơ Lục Bát Là Gì?

Theo tiếng Hán, Lục = 6 (sau âm tiết một câu), Bát = 8 (8 âm tiết một câu). Từ đó ghép lại tại thành thể thơ lục bát.

Thể thơ lục bát (六八) là một thể thơ của Việt Nam, đúng như tên gọi, một cặp câu thơ cơ bản gồm một câu 6 âm tiết và 1 câu 8 âm tiết, phối vần với nhau. Một bài thơ lục bát gồm nhiều câu tạo thành không hạn chế số câu.

Niêm, luật, vần của thể thơ lục bát?

Các tiếng mang thanh huyền và thanh ngang được gọi là thanh bằng; mang thanh sắc, hỏi, ngã, nặng được gọi là thanh trắc. Quy tắc cơ bản của cặp câu lục bát là các tiếng thứ 2, 6, 8 mang thanh bằng, tiếng thứ 4 mang thanh trắc, còn lại có thể tùy ý. Đuôi câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát, đuôi câu bát vần với đuôi câu lục sau. Nếu tiếng thứ sáu của câu bát là thanh ngang (dương bình) thì tiếng thứ 8 phải là thanh huyền (âm bình) và ngược lại.

Vần của thơ lục bát cũng giống như vần trong thơ nói chung, bao gồm hai loại là vần chính (giống nhau phụ âm cuối, khác phụ âm đầu) và vần thông (âm na ná nhau).

Ví dụ câu 3241-3244 trong truyện Kiều:

Ngẫm hay muôn sự tại trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân

Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Các biến thể của thơ lục bát?

Biến thể lục bát rất đa dạng, có thể chia làm ba loại là sai khác về số âm tiết, về niêm luật và về vần hoặc tổ hợp của 2, ba loại trên.

Ví dụ sai khac số âm tiết: Câu thơ của Hồ chủ tịch thừa một tiếng ở câu bát.

Trẻ em như búp trên cành,

Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan.

Ví dụ về sai khác niêm luật: Câu ca dao có âm tiết thứ 2 và thứ 4 sai luật bằng-trắc

Lươn ngắn lại chê trạch dài,

Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm.

Ví dụ về sai khác phối vần: Hình thức phối vần ở đuôi câu sáu và giữa câu 8 khá phổ biến.

Con vua thì được làm vua

Con sãi ở chùa, thì quét lá đa.

Cách làm thơ lục bát, tìm hiểu về cách gieo vần?

Luật thanh

Hai câu lục và câu bát là không thể thiếu để có thể tạo nên một bài thơ lục bát chuẩn chỉnh. Giống thể thơ Đường luật nó rất cần được được tuân hành luật thanh giống như sau: nhất, tam, ngũ bất bàn luận, nhị, tứ, lục phân minh.

Trong các số đó các tiếng thứ một, ba và năm có thể là những tiếng chính còn tiếng thứ hai, bốn, sáu phải làm theo quy tắc. Quy luật: Tại câu lục: ta gieo theo trình tự những tiếng hai – bốn – sáu là Bằng (B) – Trắc (T) – Bằng Tại câu bát: ta gieo theo trình tự các tiếng hai – bốn – sáu – tám là Bằng -Trắc -Bằng -Bằng (BTBB).

Ví dụ:

Tháng ba nhớ người quân nhân  Bằng – Trắc – Bằng Ruột đau như cắt, thương thân chiều buồn Bằng -Trắc -Bằng -Bằng

Quy tắc

 về gieo vần

Mẹo gieo vần của thể thơ này khác hoàn toàn so với những thể thơ khác. Ta rất dễ dàng gieo nhiều vần trong câu chứ không nhất thiết là chỉ được gieo một vần duy nhất.

Đây được cho là một trong những phần linh hoạt của thể thơ này, không trở nên đặt nặng chủ đề gieo vần mà còn làm bài thơ hay hơn và rất dễ nghe hơn.

Ví dụ (những từ in nghiêng hay đậm là vần với nhau):

Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Trong thể thơ biến thể vẫn gieo vần như thế, nhưng trường hợp câu bát của cặp câu có thanh là t-b-t-b thì tiếng thứ sáu câu lục bên trên nó vần với tiếng thứ tư của câu đó.

Hướng dẫn

 ngắt nhịp

Thơ phổ biến được ngắt nhịp chẵn, là nhịp 2/2/2, nhưng thỉnh thoảng để nhấn mạnh nên người đọc đổi thành nhịp lẻ là 3/3.

Mẹo đơn giản để làm thơ lục bát

Bước 1 – Phương pháp Gieo Vần – Chữ: Mẹo Gieo Vần-Chữ cuối của câu trên (tức câu 6) phải vần với chữ thứ sáu của câu dưới (tức câu 8). Cứ mỗi hai câu thì đổi vần, & bao giờ cũng gieo vần bằng (còn gọi là bằng hoặc bình, tức có dấu huyền hoặc không dấu).

Ví dụ: hòn, non, mòn, con… Nếu gieo vần mưa với mây thì bị lạc vận. Còn nếu gieo vần không hiệp với nhau thì gọi là cưỡng vận.

Bước 2 – Luật Bằng Trắc: Luật Bằng Trắc-Cách sử dụng mẫu tự & viết tắt giống như sau: B là Bằng, T là Trắc, V là Vần.

Câu 6: B B T T B B Câu 8: B B T T B B T B

Ví dụ: (Kiều)

Ghi chú: Chữ là và đau là yêu vận (tức là vần đặt ở trong câu); chữ nhau và lòng là cước vận (tức là vần đặt ở cuối câu). Chữ thứ 6 của câu 6 (ta) hiệp vận (V) với chữ thứ 6 của câu 8 (là), chữ thứ 8 (nhau) của câu 8 hiệp vận (V) với chữ thứ 6 (dâu) của câu 6, chữ thứ 6 (dâu) của câu 6 hiệp vận (V) với chữ thứ 6 (đau) của câu 8.

Bước 3 – Thanh: Thanh bao gồm Trầm Bình Thanh & Phù Bình Thanh. Trầm Bình Thanh là các tiếng hay chữ có dấu huyền. Ví dụ: là, lòng, phòng… Phù Bình Thanh là những tiếng hay chữ không có dấu. Ví dụ: nhau, đau, mau…

Trong câu 8, hai chữ thứ 6 và thứ 8 luôn luôn ở vần Bằng, nhưng không được có cùng một thanh. Có như thế, âm điệu mới êm ắng và dễ nghe. Nếu chữ thứ 6 thuộc Phù Bình Thanh thì chữ thứ 8 phải thuộc Trầm Bình Thanh, & trái lại.

Ví dụ: Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. (Ghi chú: là thuộc Trầm Bình Thanh, nhau thuộc Phù Bình Thanh). Các điều trông thấy mà cực khổ lòng. (Ghi chú: đau thuộc Phù Bình Thanh, lòng thuộc Trầm Bình Thanh).

Bước 4 – Phá Luật: Phá Luật – nhiều lúc bọn họ gặp người sử dụng thơ like phá luật ở chữ thứ hai câu 6, thay vì vần bằng thì lại đổi ra vần trắc; còn chữ thứ tư thì có khi đổi thành vần bằng thay vì vần trắc như tầm thường lệ. Câu 6 cũng rất được ngắt ra sử dụng hai vế.

Tổng hợp các bài thơ lục bát hay nhất

Hạ Về Nhớ Anh

Chiều nay nhìn phượng đỏ cây Ngoài hiên gió thoảng lắt lay bên thềm Ve ngân bất chợt lặng im Tim nghe giá buốt rũ mềm mi cay

Sao anh không đến chốn này Cho em hờ hững vòng tay dại khờ Anh đừng nhốt gió vào thơ Chua cay em cứ thẫn thờ đan xen

Thơ say đem ủ thành men Ngu ngơ uống cạn đời đen mất rồi Ngoài kia phượng đỏ rực trời Lao xao tim cứ bồi hồi quặn đau (Hoàng Mai)

Biết

Biết anh đã có vợ nhà Biết mình không thể yêu mà vẫn yêu Biết lòng rồi khổ đau nhiều Biết ngang trái đó vẫn liều nhớ nhung

Biết vô duyên thế là cùng Biết có son sắt cũng chung chồng người Biết tình qua phút si mê Biết nhau bởi những hẹn thề vu vơ

Biết sầu rối nhịp đường tơ Biết sau say đắm mộng mơ sẽ tàn Biết mưa có tạnh, trời quang Biết chắc chắn bão lại tràn qua tim

Biết càng yêu, luỵ từng đêm Biết càng nhớ sẽ càng thêm đoạ đày Biết không đi trọn ngày mai Biết trăm năm chỉ ván bài… em thua! (Trường Phi Bảo)

Giấc Mơ Hoa

Đêm qua trong giấc mộng vàng Bóng anh nhẹ lướt nhẹ nhàng giấc say Chúng mình tay lại cầm tay Mắt môi chờ đợi bao ngày dấu yêu

Đan tay đi giữa rừng chiều Heo may lạnh buốt đìu hiu nắng tàn Giật mình nuối giấc mơ tan Ngoài kia nắng đã ươm vàng rồi anh (Hoàng Mai)

Bài Quê Hương – Nguyễn Đình Huân Quê hương là một tiếng ve Lời ru của mẹ trưa hè à ơi Dòng sông con nước đầy vơi Quê hương là một góc trời tuổi thơ Quê hương ngày ấy như mơ Tôi là cậu bé dại khờ đáng yêu Quê hương là tiếng sáo diều Là cánh cò trắng chiều chiều chân đê Quê hương là phiên chợ quê Chợ trưa mong mẹ mang về bánh đa Quê hương là một tiếng gà Bình minh gáy sáng ngân nga xóm làng Quê hương là cánh đồng vàng Hương thơm lúa chín mênh mang trời chiều Quê hương là dáng mẹ yêu Áo nâu nón lá liêu siêu đi về Quê hương nhắc tới nhớ ghê Ai đi xa cũng mong về chốn xưa Quê hương là những cơn mưa Quê hương là những hàng dừa ven kinh Quê hương mang nặng nghĩa tình Quê hương tôi đó đẹp xinh tuyệt vời Quê hương ta đó là nơi Chôn rau cắt rốn người ơi nhớ về.

Bài Quê Hương Nỗi Nhớ – Hoàng Thanh Tâm Trở về tìm mái nhà quê Tìm hình bóng mẹ bộn bề nắng mưa Tìm nắng xuyên ngọn cây dừa Tìm hương mạ mới gió lùa thơm tho Tìm đàn trâu với con đò Áo bà ba mẹ câu hò trên sông Nón lá nghiêng nắng nước ròng Miền quê khó nhọc con còng con cua Lục bình tim tím mùa mưa Bồng bềnh một khúc sông khua mái chèo Khói lên cháy bếp nhà nghèo Con gà cục tác con mèo quẫy đuôi Heo gà chạy ngược chạy xuôi Chân bùn tay lấm nụ cười chân quê Cánh cò trắng xóa vọng về Ngân nga vọng cổ bốn bề thiên nhiên Đậm đà ký ức giao duyên Xương cha máu mẹ dịu hiền ca dao Con dù biền biệt phương nào Quê hương một dạ dạt dào khó phai.

Bài Thơ Lục Bát Miền Quê – Đức Trung Tôi thầm nhớ một miền quê Ước mơ thăm lại trở về tuổi thơ Đồng xanh bay lả cánh cò Hương sen tỏa ngát mộng mơ những chiều Vi vu gió thổi sáo diều Bóng ai như bóng mẹ yêu đang chờ? Dòng sông, bến nước, con đò Có người lữ khách bên bờ dừng chân Xa xa vẳng tiếng chuông ngân Bờ tre cuối xóm trong ngần tiếng chim Tuổi thơ thích chạy trốn tìm Cây đa giếng nước còn in trăng thề Xa rồi nhớ mãi miền quê Trong tim luôn nhắc trở về ngày xưa…

Nguồn bài viết: cách làm thơ lục bát

Thơ Lục Bát Biến Thể

* Trong bài “Có một Hoàng Sa trong đất liền” đăng trên báo Đà Nẵng cuối tuần số ra ngày 20-3 vừa qua có câu: “Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn/ Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây”. Về thơ lục bát tôi chỉ biết đến Truyện Kiều của Nguyễn Du nên thấy hai câu này hơi lạ, không biết có phải phạm luật thơ lục bát không? (Phan Phan, Sơn Trà, Đà Nẵng).

* Thơ lục bát có mấy loại biến thể? (Tập thể những người yêu thơ ở Khu du lịch thắng cảnh Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng).

– Hai câu thơ “Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn/ Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây” đã được viết theo thể thơ lục bát biến thể.

Nhà thơ Nguyễn Đình Trọng (Đại diện của website chúng tôi tại thành phố Hồ Chí Minh) trong bài “Biến thể vần bằng, trắc trong thơ Lục Bát?” đăng trên trang này ngày 10-3-2010 đã định nghĩa: Biến thể nghĩa là thể văn có biến đổi đi. Thể này tức cũng là thể lục bát, nhưng thỉnh thoảng có xen vào một ít câu mà cách hiệp vần và luật bằng trắc khác với thể lục bát thông thường.

Theo nhà thơ, có hai cách biến thể trong thơ lục bát như sau: 1- Biến thể vần bằng: Thay đổi cách gieo vần ở câu Bát: Chữ cuối của câu Lục cùng vần với chữ thứ tư của câu Bát thay vì vần với chữ thứ sáu (như luật thông thường). Theo lối biến thể này, các chữ thứ hai và thứ sáu trong câu Bát phải chuyển sang thanh trắc thay vì thanh bằng theo luật gieo vần. Ví dụ: Khâu rồi anh sẽ trả công/ Ít nữa lấy chồng anh lại giúp cho (bài ca dao “Tát nước”) 2- Biến thể vần trắc: Chữ cuối của câu Lục và chữ thứ sáu của câu Bát cùng là âm trắc và hiệp vần với nhau. Thông thường, cách biến thể này chỉ được sử dụng trong hai câu dẫn nhập của bài. Những câu kế tiếp sẽ theo đúng luật thơ. Chẳng hạn như bài ca dao: Tò vò mà nuôi con nhện/ Đến khi nó lớn, nó quện nhau đi/ Tò vò ngồi khóc tỉ ti/ Nhện ơi nhện hỡi, mày đi đằng nào?. Một số tác giả khác đưa ra 3 loại lục bát biến thể như sau:

1- Biến đổi cấu trúc bằng trắc: a. Câu Lục giữ nguyên, câu Bát biến đổi chữ thứ hai thành thanh trắc: Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra (ca dao). b. Cả câu Lục và câu Bát đều biến đổi chữ thứ hai thành thanh trắc: Có xáo thì xáo nước trong/ Đừng xáo nước đục đau lòng cò con (ca dao). 3- Biến đổi cách gieo vần: Chữ thứ tư câu Bát hiệp vần với chữ cuối câu Lục: a. Câu Lục giữ nguyên, câu Bát biến đổi cấu trúc bằng trắc: Con cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non (ca dao). (Tương tự Biến thể vần bằng của nhà thơ Nguyễn Đình Trọng nói trên). b. Cả câu Lục và câu Bát đều biến đổi cấu trúc bằng trắc: Cưới vợ thì cưới liền tay/ Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha (ca dao)

Nói thêm, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du không phải là không có những câu lục bát biến thể. Ví dụ: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần/ Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười” (câu 17); “Đau đớn thay, phận đàn bà!/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” (câu 83).

ĐNCT

Thơ Lục Bát Là Gì, Cách Gieo Vần Thơ Lục Bát

Trong chương trình Ngữ Văn lớp 12 có đề cập đến luật thơ, sự hình thành luật thơ và một số thể thơ tiêu biểu. Trong đó có thể thơ lục bát. Vậy thể thơ lục bát là gì, cách gieo vần thế nào và cách làm một bài thơ lục bát ra sao? Tất cả sẽ được giải đáp trong bài viết chúng tôi cung cấp bên dưới.

Thơ lục bát là thể loại thơ nằm trong thể loại thơ dân tộc của Việt Nam.

Thơ lục bát là thể loại thơ dân gian gồm các cặp câu thơ kết thành một bài. Thường thì câu đầu là 6 chữ, câu sau là 8 chữ, cứ nối tiếp cho tới hết bài.

Thơ lục bát có nguồn gốc từ rất lâu. Cho tới ngày nay nó vẫn được kế thừa và phát huy, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong nguồn văn học dân gian của dân tộc. Ở Việt Nam, thơ lục bát tồn tại dưới nhiều hình thức. Chúng ta thường được nghe những bài ca dao, dân ca, những bài đồng dao thấm đượm tình cảm và nồng nàn hồn quê con người. Thơ lục bát vì vậy mà trở thành thể loại đặc trưng trong những sáng tác của người dân quê.

Người dân lao động làm việc vất vả, để quên đi mệt nhọc họ trở thành những nhà sáng tác thơ. Thể thơ trong các sáng tác của họ thường là lục bát. Vì vậy nó chân chất, giản dị, diễn tả đúng tâm trạng và các cung bậc cảm xúc trong tâm hồn người dân lao động. Thể loại thơ của dân tộc này còn có nguồn gốc từ những câu ru hời của bà, của mẹ nồng nàn tình cảm thương yêu; những bài đồng dao đi vào lòng người.

– Số tiếng trong bài thơ lục bát: mỗi cặp lục bát gồm có 2 dòng (lục: 6; bát: 8). Bài thơ lục bát là sự kế tiếp của các cặp như thế. Số câu trong bài không giới hạn.

– Nhịp: nhịp chẵn dựa vào tiếng có thanh không đổi (trừ 2,4,6), nhịp 2/2/2 tạo sự hài hòa, nhịp nhàng cho các cặp lục bát trong bài.

– Hài thanh:

+ Có sự đối xứng luân phiên B – T – B ở các tiếng 2,4,6 trong dòng thơ, đối lập âm vực trầm bổng ở tiếng thứ 6 và thứ 8 dòng bát.

Ví dụ:

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Trong cặp lục bát trên có sự đối xứng nhau trong các thanh ở các tiếng 2,4,6. Câu lục là B – T – B “năm – cõi – ta”; câu bát là B – T – B – B “tài – mệnh – là – nhau”

+ Thơ lục bát có sự chặt chẽ về cách phối thanh: tiếng thứ 4 bắt buộc là trắc, các tiếng 2,6,8 phải là bằng. Trong đó trong câu bát tiếng thứ 6 và 8 cùng là bằng nhưng phải khác dấu, nghĩa là tiếng thứ 6 là dấu huyền thì tiếng thứ 8 phải không có dấu hoặc ngược lại.

Ví dụ:

(Trích Kiều thăm mộ Đạm Tiên – Nguyễn Du)

Các từ “qua – cuộc – dâu/ điều – thấy – đau – lòng” tuân thủ luật B – T – B

Ta thấy câu bát tiếng 6 và 8 đều là vần bằng nhưng có sự ngược nhau: tiếng 6 thanh bằng, tiếng 8 thanh huyền.

Cách gieo vần thơ lục bát

Thơ 6 – 8 cũng có quy định nghiêm ngặt về cách gieo vần: hiệp vần ở tiếng thứ 6 của 2 dòng và giữa tiếng thứ 8 của dòng bát với tiếng thứ 6 của dòng lục.

+ Vần bằng: là các vần có thanh huyền và thanh ngang (không dấu)

Ví dụ: “Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”.

“Trang – da” là vần bằng các tiếng thứ 6 câu lục và tiếng thứ 8 câu bát.

+ Vần trắc: là các vần có các dấu còn lại: sắc, hỏi, nặng, ngã

Ví dụ: “Tò vò mà nuôi con nhện

Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi”

“Nhện – quện” là vần trắc.

+ Vần chân: hiệp vần ở tiếng thứ 6 câu lục và tiếng thứ 8 câu bát.

Ví dụ: “Nao nao dòng nước uốn quanh

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

“Quanh – ngang” là vần chân cuối các câu lục và bát.

+ Vần yêu: là vần ở cuối câu lục hiệp với tiếng thứ 6 câu lục.

Ví dụ: “Thanh minh trong tiết tháng Ba

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”

“Ba – là” gọi là vần yêu hiệp ở tiếng thứ 6 của 2 dòng.

Thơ lục bát là loại thơ đơn giản, dễ làm. Người làm thơ cần tuân thủ đúng luật thơ về hài thanh và cách gieo vần là đã hoàn thành một bài thơ lục bát. Câu đầu 6 tiếng, câu sau 8 tiếng tạo thành một cặp lục – bát.

+ Làm câu lục trước tuân thủ luật thơ ở các tiếng 2,4,6 là B – T -B, các tiếng còn lại tự do

+ Tiếp đến câu bát: cân chỉnh cho có sự đối xứng ở các tiếng 2,4,6 là B – T – B – B, các tiếng còn lại tự do

+ Cách gieo vần: sau khi hoàn chỉnh 2 câu thơ thì xem lại cách hiệp vần trong cặp câu. Để ý tiếng thứ 6 của 2 dòng xem đã hiệp vần chưa nếu chưa thì đổi lại đảm bảo cùng là vần bằng. Hoặc cách hiệp vần ở cuối mỗi câu.

+ Đọc lại hai câu thơ đảm bảo nhịp 2/2/2 hoặc 3/3 cho cân đối và nhịp nhàng.

+ Nếu thấy chưa hài hòa về mặt từ ngữ lúc này mới tìm các từ tương ứng có thể thay thế được để câu thơ được tự nhiên, tránh gò ép về cách hiệp vần.

Thể song thất lục bát (gián thể, song thất)

– Số tiếng: cặp song thất và cặp lục bát luân phiên kế tiếp nhau trong toàn bài.

– Vần: hiệp vần ở mỗi cặp, cặp song thất có vần trắc, cặp lục bát có vần bằng. Giữa cặp song thất và cặp lục bát có vần liền.

– Nhịp: 3/4 ở hai câu thất và 2/2/2 ở cặp lục bát.

– Hài thanh: Cặp song thất lấy tiếng thứ ba làm chuẩn, có thể có thanh bằng hoặc trắc nhưng không bắt buộc; cặp lục bát sự đối xứng B – T chặt chẽ hơn.

Các thể ngũ ngôn đường luật

– Gồm: ngũ ngôn tứ tuyệt (5 tiếng, 4 dòng) và ngũ ngôn bát cú (5 tiếng, 8 dòng)

– Bố cục: 4 phần đề, thực, luận, kết

– Số tiếng: 5 tiếng, số dòng: 8 dòng (4 dòng)

– Vần: 1 vần, gieo vần cách

– Nhịp lẻ: 2/3

– Hài thanh: có sự luân phiên B – T hoặc niêm B – B, T – T ở tiếng thứ hai và thứ tư

Các thể thất ngôn đường luật

Gồm:

Thất ngôn tứ tuyệt

– Số tiếng: 7 tiếng, số dòng: 4 dòng

– Vần: vần chân, độc vận, gieo vần cách

– Nhịp: 4/3

Thất ngôn bát cú

– Số tiếng: 7 tiếng, số dòng: 8 dòng ( chia 4 phần: đề, thực, luận, kết)

– Vần: vần chân, độc vận

– Nhịp: 4/3

Thơ Lục Bát Họa Ảnh Đẹp Về Thiên Nhiên & Cuộc Sống Hay Nhất

Thái Dúi xin tuyển chọn 1 số bài thơ lục bát họa ảnh đẹp về thiên nhiên, nhân sinh, cuộc sống.. rất hay, ý nghĩa và đặc sắc.. Xin mời các bạn cùng thưởng lãm!..

BÀI THƠ: LẢ LƯỚT

Thơ: Lãng Du Khách

Khoe duyên sắc thắm mặn nồng

Em phô da thịt trắng hồng xinh tươi

Đỏ tím rạng rỡ chào người ban mai

Tinh khôi pha nét hoa nhài

Trăm cánh đua nở hình hài thật duyên

Ngọc ngà đằm thắm nữ tiên giáng trần

Thân em trong trắng vô ngần

Tinh hoa của kiếp trầm luân cuộc đời

Trời ban nhan sắc tuyệt vời

Để em làm đẹp cho đời trần gian

Tình em thắm thiết nồng nàn

Em cười trong gió ngút ngàn yêu thương

Đơn sơ bình dị khiêm nhường thế gian

Cầu đời cuộc sống bình an

Tình luôn đằm thắm nồng nàn yêu thương !

BÀI THƠ: GIAI ĐIỆU QUÊ HƯƠNG

Thơ: Lãng Du Khách

Khúc ca lúa chín lả lơi óng vàng

Dệt lên tình khúc bậc thang

Âm vang, hùng vĩ bản làng quê hương.

Giai điệu cuộc sống vô thường

Giải lụa lượn sóng ruộng nương trổ cờ

Nét đẹp kỳ vĩ sững sờ nhân gian

Nhấp nhô gọi gió núi ngàn khoe duyên

Khác chi cảnh vật thần tiên

Kỳ quan thắng cảnh vùng miền cước sơn !

BÀI THƠ: LẺ LOI

Thơ: Lãng Du Khách

Giữa trời giá buốt lặng thinh

Đơn côi nhớ chút vương tình xa xăm

Ghế kia lưu luyến đêm nằm ngắm sao

Gọi ghế thức dậy bước vào ngày xuân

Trao nụ hôn ngọt ngàn lần mộng mơ

Ngắm trời ngắm đất dệt thơ

Để cho ghế phải sững sờ hờn ghen

Bên nhau họ tặng lời khen

Rằng mình đẹp lắm chẳng thèm ai đâu

Giữa trưa nắng ở đỉnh đầu

Ngồi ghế lưng tựa ru câu hẹn thề

Cùng nhau hẹn ước tỷ tê duyên hồng

Bên nhau say đắm mặn nồng

Trời đêm buông phủ môi hồng trao duyên

Ghế ta cũng chẳng thấy phiền

Tự dưng ghế thích ghế nghiền họ thăm

Để cho ghế lạnh ghế nằm đơn côi

Tuyết kia thương quá ghé ngồi ủi an

Hứa giục đông sớm lụi tàn

Xuân về mang ghế ngập tràn niềm vui.

BÀI THƠ: TÌNH NỒNG

Thơ: Lãng Du Khách

Mây kia chẳng hiểu biết gì cũng yêu

Mà tình thật thắm thật phiêu

Hồng tim xoắn xít mỹ miều thiết tha

Ồ ! Không mây chúc đôi ta

Rủ nhau gọi gió kết hoa tim hồng

Ban ta hạnh phúc tình hồng gió mây

Tình ta thắm thiết đong đầy

Theo mây gọi gió đó đây phiêu bồng

Thỉnh ta trong cõi trời không

Ban ta trời ráng mây hồng phiêu diêu

Tôn vinh nét đẹp tình yêu

Phát ban hạnh phúc thật nhiều lứa đôi

Ngọt ngào say đắm mây trôi lững lờ

Trời mây sắc cảnh dệt thơ

Quá phiêu quá đẹp mộng mơ ảo huyền

Đôi ta hoan lạc giữa miền thiên thai !

BÀI THƠ: TRỜI ĐẤT GIAO HÒA

Thơ: Lãng Du Khách

Bồng bềnh trong cõi ta bà tơ duyên

Đất trời một dải kết liền

Kề nhau xoắn xít triền miên phiêu bồng

Gió kia cuốn nhẹ mây hồng

Để mây vờn núi mặn nồng đắm say

Khắp trời sóng trắng mây bay

Nhẹ nhàng lả lướt giang tay vỗ về

Vội choàng tỉnh giấc sướng tê cõi lòng

Vươn mình đón gió trời trong

Trở mình ôm ấp mở lòng đón mây

Trời đất tình ái tràn đầy

Còn ta tình ái sao đây cuối tuần

Tình ơi ! Hãy đón sức xuân

Bên nhau ân ái ngàn lần mê say

Cùng nhau tay ấp trong tay

Dìu nhau sánh bước đất này lên mây

Bên nhau hạnh phúc đong đầy yêu thương !

BÀI THƠ: TIÊU DAO

Thơ: Lãng Du Khách

Mờ ảo soi bóng thuyền con phiêu bồng

Tàng cây thu lá ráng hồng

Mênh mang trời nước bềnh bồng ngao du

Sáo diều văng vẳng trăng thu

Khói sương mờ ảo mịt mù giăng bay

Mạn thuyền lả lướt đắm say

Khúc trầm khúc bổng lắt lay mây trời

Mình ta trong cõi đất trời bao la

Ganh đua mặt nước cùng ta giỡn vờn

Giữa trời với đất bông lơn

Trăng thanh gió mát chập chờn ảo thay

Ta cưỡi ngọn gió mây bay cõi bồng !

BÀI THƠ: XOẮN XÍT

Thơ: Lãng Du Khách

Còn ta chẳng đặng xoắn mình bên nhau

Chẳng cần duyên nợ trầu cau

Ngày đêm sớm tối yêu nhau trọn đời

Thân ta xoắn xít buông lơi sao đành

Đắm mình trong tán lá xanh

Kệ cho trời đất tỵ ganh dỗi hờn

Kệ họ nói mát khinh nhờn vô duyên

Kệ cho họ bảo kẻ điên si tình

Giữa trong trời đất đôi mình

Thanh thiên bạch nhật trao tình ái ân

Tình ta mãi thắm tuyệt trần nhân gian !

BÀI THƠ: NGỌT NGÀO

Thơ: Lãng Du Khách

Bình minh tỏa nắng ửng hồng

Em ơi ! Anh muốn phiêu bồng ái ân

Đôi ta đang tuổi thanh xuân

Núi cao chẳng ngại gian truân tự tình

Ta cùng đón nắng bình minh

Ở đây chỉ có đôi mình lãng du

Đỉnh cao lộng gió mùa thu

Phiêu phiêu mộng mị khúc ru ái tình

Gió hờn nên chẳng lặng thinh

Buông lơi ve vuốt tự tình tóc bay

Trời buông tia nắng đắm say

Nhẹ hôn đôi mắt lông mày mi em

Than vãn trong gió nịnh em dịu hiền

Còn anh lạc cõi thần tiên

Hôn bờ môi ngọt ru miền ái ân

Trong xanh nước suối reo ngân

Hòa tiếng chim hót trong ngần ban mai

Em ơi ! Đây cõi thiên thai

Ru ta tình ái ban mai mặn nồng.

BÀI THƠ: KHÓI SƯƠNG

Thơ: Lãng Du Khách

Đông về khói tỏa bản mình

Khói kia tiếc nuối thân mình chẳng bay

Khói kia lan tỏa ngát đầy vị hương

Quyện nồng mái lá sương rơi ngát mùi

Thoảng qua tưởng thịt nướng thui

Hít hà thưởng thức ấy mùi khói quê

Bữa cơm buổi sáng đông về

Xua tan đói rét tái tê cõi lòng

Mây mù che kín trời trong

Gió đông bắc thổi qua song cửa lùa

Sương rơi giá buốt vụ mùa

Mái nhà ướt thẫm sương lùa lá khô

Khắp vùng đồi núi nhấp nhô

Lan tỏa sương khói làm khô tiết trời

Mùi hương nồng khét khắp nơi

Xua tan giá lạnh để đời ấm no

Thơm thơm mùi cháy của tro

Nương theo gió nhẹ mùi lò lửa than

Bản làng khói tỏa sương tan

Ấy mùi nồng ấm dân gia Việt mình.

Cập nhật thông tin chi tiết về Thơ Lục Bát: Cuộc Đời Công Nhân trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!