Xu Hướng 2/2024 # Thơ Hay, Thơ Dở, Cái Hay Của Thơ Dở Và Cái Dở Của Thơ Hay (2) # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Thơ Hay, Thơ Dở, Cái Hay Của Thơ Dở Và Cái Dở Của Thơ Hay (2) được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thơ hay, thơ dở, cái hay của thơ dở và cái dở của thơ hay (2)

Hiện tượng nhiều bài thơ, thậm chí, cả nguyên một khuynh hướng thơ hay nhưng bị xem là dở không phải chỉ gắn liền với sở thích. Mà là với quan niệm.

Thơ không bao giờ chỉ là thơ. Đằng sau thơ bao giờ cũng có một cái gì khác. Cái khác ấy, xưa, ở Tây phương, từ ảnh hưởng của Plato, người ta xem là thế giới lý tưởng, và từ ảnh hưởng của Aristotle, là tự nhiên; ở Trung Hoa và Việt Nam, là đạo hay chí; sau, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn, người ta cho là cảm xúc, và dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực, là vô thức; gần đây hơn, người ta cho đó là ngôn ngữ. Chỉ là ngôn ngữ. Rất ít người đề cập đến vai trò của quan niệm. Có thể đó là ảnh hưởng hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp từ Emmanuel Kant, người gắn liền việc thưởng thức cái đẹp (kể cả cái đẹp trong nghệ thuật, dĩ nhiên) với lạc thú (pleasure). Lạc thú ấy có bốn đặc điểm chính: Một, khác với các loại lạc thú khác, lạc thú do cái đẹp mang lại có tính chất vô tư và vô vị lợi (disinterested); hai, cũng khác với các loại lạc thú khác, nó không dựa trên ý niệm: đó là loại lạc thú phi ý niệm (non-conceptual pleasure); ba, đó cũng là loại lạc thú của tính mục đích vô mục đích (purposiveness without a purpose): ở đó cái đẹp thể hiện một trật tự bên trong thay vì tuân theo bất cứ một mục đích ngoại tại nào khác; và bốn, đó là loại lạc thú cần được chia sẻ và muốn nhận được sự đồng thuận của mọi người. Nó là sự chủ quan mang tính phổ quát hoặc một sự phổ quát chủ quan (subjective universality).

Có điều, chính Kant cũng thấy những phân tích của ông là bất cập nên ông lại chia cái đẹp thành hai loại: một cái đẹp tự do (free beauty) và một cái đẹp lệ thuộc (dependent beauty). Sự khác biệt chính là, trong khi cái đẹp tự do có tính phi ý niệm, cái đẹp lệ thuộc lại gắn liền với một ý niệm nhất định. Hoa là cái đẹp tự do của thiên nhiên. Để thưởng thức cái đẹp của hoa, người ta không cần bất cứ kiến thức nào về thảo mộc. Cũng vậy, để thưởng thức cái đẹp của một số vật trang trí, người ta cũng không cần biết ý nghĩa của chúng, hơn nữa, chúng cũng chẳng có ý nghĩa gì, chúng không biểu hiện cho một cái gì. Chúng chỉ là hình thức. Và chúng tự tại. Nhưng cái đẹp của một con người, một con ngựa hay một tòa nhà (ví dụ nhà thờ, lâu đài, cung điện) thì lại được đặt trên tiền đề về tính cứu cánh và quan niệm về tính hoàn hảo để làm chuẩn mực cho nhận thức và đánh giá. Đó là những cái đẹp lệ thuộc.[1]

Khi áp dụng quan điểm thẩm mỹ của Kant vào thơ, người ta chỉ chăm chăm tập trung vào cái đẹp tự do mà quên đi, với ông, phần lớn nghệ thuật, nhất là các loại hình nghệ thuật ngôn ngữ, trong đó có thơ, nếu không muốn nói, đặc biệt là thơ, vốn, tự bản chất, là những cái đẹp lệ thuộc: Chúng gắn liền với ý niệm. Cái ý niệm ấy không những quy định cách đánh giá thơ hay và thơ dở mà còn, xa và sâu hơn, ảnh hưởng đến cách phân biệt thơ và những gì không phải thơ. Bắt chước cách nói của Jean-Paul Sartre, “đằng sau kỹ thuật của một cuốn tiểu thuyết bao giờ cũng là một siêu hình học của tác giả”, chúng ta có thể nói, đằng sau mỗi bài thơ bao giờ cũng có một mỹ học thơ. Đằng sau thơ Đường là một mỹ học của thơ Đường. Đằng sau Thơ Mới là mỹ học của Thơ Mới, chủ yếu đó là mỹ học của chủ nghĩa lãng mạn. Đằng sau thơ tự do, cũng vậy, cũng có mỹ học của thơ tự do. Kéo nhận định này dài ra thêm, chúng ta cũng có thể nói, ngay cả với thơ phản-thơ, hay thứ thơ sau này được nhóm Mở Miệng mệnh danh là thơ cắt dán, thơ dơ, thơ rác, thơ nghĩa địa cũng có một mỹ học riêng của nó.

Cũng từ sự phân biệt này, khái niệm sáo hay sáo ngữ càng ngày càng trở thành phổ biến và được sử dụng như một sự đánh giá: sáo là dở, thoát sáo, ngược lại, là hay. Về phương diện chức năng, khi đề cao chức năng tải đạo hay ngôn chí, những bài thơ thiên về tình cảm rất dễ bị xem là “tiếng dâm” và cần bị tước quyền công dân trong thế giới thơ. Ngược lại, thời Thơ Mới, khi người ta nhấn mạnh vào chức năng bộc lộ cảm xúc, đặc biệt những cảm xúc sôi nổi nhưng vu vơ kiểu “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” hay “tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”, những bài thơ tải đạo và ngôn chí lại bị chê là khô khan, thậm chí, không có chút gì là thơ cả: Khái niệm “chất thơ” được ra đời để chỉ những cái đẹp dịu dàng, nhẹ nhàng và đầy thơ mộng, không những không gắn liền với đạo lý mà cũng không gắn liền với cả chất văn xuôi sần sùi của đời sống hàng ngày.

Cuối cùng là quy ước về thể loại. Các quy ước ấy thay đổi theo từng thời đại và từng trường phái. Ở bình diện rộng lớn, bao quát toàn cảnh văn học, ngày xưa, khi chưa xây dựng được một quy ước chung về tiểu thuyết, tiểu thuyết rất bị rẻ rúng, như những chuyện ngồi lê đôi mách; rẻ rúng đến độ Kim Thánh Thán, bị người đương thời khinh bỉ chỉ vì cái tật mê tiểu thuyết của ông dù trên thực tế, với tật ấy, sau này ông được xem là nhà phê bình lỗi lạc nhất của Trung Quốc thời nhà Minh và nhà Thanh. Giới hạn trong thơ, ngày xưa, cả một thời gian rất dài, hàng ngàn năm, người ta xem thơ thì phải có luật, có niêm, đối, và đặc biệt, có vần nên khi loại thơ mới, và nhất là thơ tự do, ra đời, phản ứng chung là phủ định: người ta không xem đó là thơ.

Nếu thơ bao giờ cũng gắn liền với một mỹ học nào đó về thơ, theo tôi, chính cái mỹ học ấy sẽ trở thành tiêu chí đầu tiên để đánh giá và đặc biệt, để phân loại thơ, từ đó, chúng ta sẽ có những bài thơ hay và những bài thơ dở. Trong thơ hay, có hai cấp chính: hay vừa và hay lớn. Thơ dở cũng có hai loại: dở – dở và dở – hay. Dở – dở là dở thật; còn dở – hay là chỉ dở tạm thời, từ cách nhìn cũ, tuy nhiên, khi thay đổi cách nhìn, từ một hệ mỹ học khác, chúng lại trở thành hay. Lửng lơ giữa hai phạm trù hay và dở ấy là một số bài không thật hay và cũng không thật dở nhưng lại đóng một vai trò nhất định trong việc thúc đẩy sự vận động của thơ khiến thơ bước sang một thời đại khác với một hệ mỹ học khác. Trước khi phân tích các loại thơ kể trên, xin được nhấn mạnh thêm điều này: Từ mấy chục năm nay, các lý thuyết phê bình trên thế giới đều né tránh việc đánh giá và xếp hạng các tác phẩm văn học cụ thể, kể cả thơ. Họ chỉ tập trung vào việc diễn dịch và phân tích, hết phân tích văn bản đến phân tích các yếu tố liên văn bản cũng như các yếu tố ngoại văn bản, từ tư tưởng của tác giả đến chính trị và văn hóa, nhất là văn hóa, gắn liền với những khung nhận thức như nữ quyền luận hoặc hậu thực dân luận. Tuy nhiên, người ta chỉ né chứ không thể tránh được. Né vì tính chất phức tạp của vấn đề và cũng vì không muốn sa vào cái bẫy của chủ quan và cảm tính. Nhưng không thể tránh được vì phê bình, dù muốn hay không, cũng phải bắt đầu bằng sự chọn lựa: chọn đề cập đến tác phẩm hoặc tác giả này thay vì một tác phẩm hay một tác giả nào khác. Mà chọn lựa tức là so sánh. Khi chúng ta chọn bước vào tiệm ăn này thay vì tiệm ăn khác, chọn quán cà phê này thay vì quán cà phê khác, cũng như chọn loại rượu này thay vì một loại rượu nào khác bày đầy trong một tiệm nào đó, chúng ta đều so sánh với vô số các tiệm ăn khác, các quán cà phê khác và các loại rượu khác. Như vậy, sự so sánh bao hàm sự đánh giá và phân bậc. Chính vì vậy Harold Bloom mới cho câu hỏi “cái gì làm cho bài thơ này hay hơn những bài thơ khác?”[2] bao giờ cũng là một câu hỏi trung tâm của nghệ thuật đọc thơ.

Muốn đánh giá chính xác cần có hai điều kiện tiên khởi: phải có diện so sánh rộng và phải bám chặt vào một tiêu chí nhất định.

Về điểm trên, trong Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp có nói một câu rất hay: “Phải đàn ngàn khúc rồi mới hiểu được âm thanh, phải nhìn một ngàn thanh kiếm rồi mới hiểu được vũ khí. Cho nên muốn thấy sáng được toàn bộ tác phẩm thì, trước hết, phải nhìn rộng. Xem núi lớn rồi mới tả được gò đống, ra biển khơi rồi mới hiểu được ngòi rạch.”

Về điểm thứ hai, trong phạm vi văn học cũng như thơ nói riêng, người ta có thể sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau để đánh giá và phân bậc. Có những tiêu chí văn chương và những tiêu chí ngoài văn chương. Tiêu chí ngoài văn chương bao gồm ba khía cạnh chính: thương mại (ví dụ, bán sách được nhiều hay ít), xã hội (có đông độc giả hay nhiều người ái mộ hay không) và chính trị (mức độ ảnh hưởng nhiều hay ít, sâu hay cạn). Ngoài văn chương, những tiêu chí ấy, dù thông dụng đến mấy, vẫn không có ý nghĩa gì đáng kể. Chúng ta chỉ cần tập trung vào tiêu chí đầu. Tuy nhiên, cái gọi là tiêu chí văn chương ấy cũng rất phức tạp.

Trong cuốn The Art of Reading Poetry, Harold Bloom cho cái lớn trong thơ tùy thuộc vào hai yếu tố: sự rực rỡ của ngôn ngữ hình tượng và quyền lực nhận thức.[3] Giản dị, nhưng hai tiêu chí do Bloom nêu lên lại làm nảy sinh ra nhiều vấn đề, ví dụ, thế nào là sự rực rỡ (splendour) và tại sao phải là ngôn ngữ hình tượng? Từ giữa thế kỷ 20 đến nay, nhiều nhà thơ thuộc nhiều trường phái khác nhau, từ thơ cụ thể (concrete poetry) đến thơ tạo hình (visual poetry) và thơ ý niệm (conceptual poetry), không những phủ nhận vai trò của hình tượng mà còn giảm thiểu đến tối đa vai trò của ngôn ngữ. Đối với cả sự phủ nhận lẫn sự giảm thiểu ấy, cái gọi là “sự rực rỡ” trở thành một điều hoàn toàn vô nghĩa. Đó là chưa kể đến cái gọi là “quyền lực nhận thức” cũng rất mơ hồ. Quyền lực nhận thức của một nhà thơ có khác quyền lực nhận thức của một triết gia, một nhà tư tưởng hay một nhà tiểu thuyết? Nếu khác, nó khác như thế nào? Bởi vậy, như trên đã trình bày, ở đây, tôi chỉ chọn một tiêu chí: đó là hệ mỹ học đằng sau một bài thơ hoặc một khuynh hướng thơ. Điều này có hai ý nghĩa: thứ nhất, đánh giá một bài thơ, chúng ta phải nhìn từ góc độ mỹ học của bài thơ ấy. Ví dụ, đối với một bài thơ Đường luật, chúng ta không nên sử dụng mỹ học của Thơ Mới vốn dựa trên nền tảng của chủ nghĩa lãng mạn để đòi hỏi ở bài thơ Đường luật ấy những thứ, tự bản chất, chúng không thể có: chẳng hạn, sự phá cách về hình thức và sự dào dạt của cảm xúc. Cũng vậy, để đánh giá một bài thơ tự do, chúng ta cũng không thể sử dụng các tiêu chí của thơ Đường luật với những vần điệu và nhịp điệu khắt khe để làm cơ sở cho việc phân tích hay phán đoán.

Thứ hai, để đánh giá tầm vóc của một bài thơ, chúng ta phải phân tích những đóng góp của nó đối với cái mỹ học mà nó đại diện. Dựa trên đặc điểm thứ hai này, tôi chia thơ thành nhiều cấp độ: lớn, hay, dở, dở – hay, và không dở không hay nhưng có ý nghĩa lịch sử.(Còn tiếp)

Về Bài Thơ “Vợ Tôi Dở Dại Dở Khôn…”

Ngày dăm bảy bận dí L… vào THƠ…”

Khoảng năm 1990, khi đó báo Văn Nghệ tổ chức cuộc thi thơ rất hoành tráng. Nhà thơ tật nguyền Đỗ Trọng Khơi được giải nhì với chùm Ánh trăng. Do không đi nhận giải được, báo Văn nghệ tổ chức về tận nhà trao giải. Đoàn gồm nhà văn Nguyễn Khắc Trường- Phó TBT, trưởng ban thơ Bế Kiến Quốc…

Hôm ấy, Hội Văn nghệ Thái Bình tiếp đoàn ở quán cạnh nhà tôi. Dạo đó, tôi còn bán thịt chó ở Thái Bình (nhân dân Thái Bình có tặng tôi 2 câu thơ: Thái Bình có chú Bùi Hoàng – Tám bán quán thịt… chó làm thơ hay. Giời ạ, tôi làm thơ ra cái… chó gì).

Cũng cần nói thêm ngày ấy được in thơ trên báo Văn Nghệ là niềm mơ ước không chỉ của loại văn sĩ tép riu như tôi. Nếu tôi nhớ không nhầm thì dạo đó, lũ văn sĩ ở Thái Bình mới chỉ có khoảng 5 -6 người (nói như quê tôi là chưa đầy một cỗ) có thơ in trên Văn nghệ. Tôi nhớ có lần chúng tôi đang ba hoa thơ phú, một nhà thơ đàn anh ngồi lặng lẽ nghe, rồi phán nhẹ một câu: Năm một nghìn chín trăm mấy mấy, mình có bài in trên Văn Nghệ”. Thế là chao ôi, cả bọn ngồii im như thóc giống. Vì vậy chuyện được in trên Văn nghệ như một chứng chỉ “bảo kê” cho tầm văn chương “vượt qua phà Tân Đệ”. Do đó, tuy thất vọng nãp nề nhưng tôi không buồn và cũng mau quên “niềm vinh quang” ảo tưởng đó đi.

Mấy tuần sau, tôi ra bưu điện mua báo Văn Nghệ. Lại nói thêm rằng Văn Nghệ thời Nguyên Ngọc là niềm chờ đợi mỗi chiều thứ sáu. Người ta mong ngóng, người ta chờ đợi như chờ cửa hàng thực phẩm bán cá mè ranh cắt ô số 6, đợi như đợi kết quả số đề. Cầm tờ Văn Nghệ trên tay, đọc lướt qua trang nhất, phần giới thiệu nội dung. Giời ạ, gì thế này. Tôi xoa mặt, dụi mắt. Thơ Bùi Hoàng Tám… Dụi hai ba lần cho tỉnh hẳn, tôi tự trấn an: Chắc thằng cha nào đó cùng tên chứ mình thì làm gì có của!? Giở trang trong. Giời đất ơi, thơ mình. Đúng thơ của mình. Tự dưng thấy chân tay rủn rủn, mồ hôi lấm tấm lưng, tóc gáy hơi giật giật.

Tôi không biết lão ÔBAMA với lão JONMĂCKÊN khi trúng cử tổng thống Mỹ mừng đếm mức nào nhưng cứ theo tôi, khó có thể hơn tôi khi đó. Thế là từ nay trong các cuộc nhậu tôi sẽ im lặng. Đợi đến lúc cao trào nhất, tôi mới gại giọng bảo rằng: Năm một nghìn chín trăm mấy mấy, mình có bài in trên Văn Nghệ… Cứ nghĩ đến mấy lão bạn thơ hàng tỉnh mặt nghệt ra như ngỗng ỉa, mồm câm như thóc giống thì còn gì sung sướng cho bằng nữa. Hình như khi đó, để trấn tĩnh mình, tôi lẩm bẩm hát “Tổ quốc ơi, ta yêu người mãi mãi” Hay “Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay”… Đại loại thế.

Sẵn có 10.000 ngàn trong túi, tôi mua tất cả 5 tờ Văn nghệ. Rồi lặng lẽ leo lên gác xép để nhấm nháp niềm hạnh phúc. Tôi như chú gà, đẻ được quả rứng muốn vỗ cánh chạy toáng ra đường mà hét lên cục ta cục tác. Nhưng do không là gà nên dành cục tác thầm vậy.

Đêm đó tôi trằn trọc, thỉnh thoảng lại sờ tay xuống gối xem thật hay mơ. Bây giờ kể lại chuyện này, có thể có người bảo ‘Lại bốc phét” nhưng đó là cảm gác rất thật. Không vui sao được khi từ ngày mai, trong những cuộc nhậu, khi mọi người đang “khủng bố thơ ca”, tôi sẽ lặng im, rất lặng im, chờ cho mọi người lắng giọng ới thủ thỉ rằng: Năm …. cứ nghĩ đến đó đã sung sướng phát rồ, phát dại lên rồi. Thế là từ mai, tôi sẽ đổi thành phần, nâng giai cấp. Tôi sẽ như bố tôi ngày cải cách ruộng đất được từ địa chủ biến thành trung nông. Còn với tôi, sẽ là một cuộc cách mạng số phận từ thằng bán thịt chó tỉnh lẻ trở thành nhà thơ có tác phẩm vượt bến phà Tân Đệ.

Nhìn sang bên cạnh, thấy mụ vợ cứ thản nhiên ngủ mà bực cả mình. Người đâu mà vô duyên thế, cái ngày trọng đại như thế này mà y ngủ được thì rõ là loại vợ gì không biết. Đã thế lại còn ngáy, tiếng ngáy du dương, bổng trầm như có vần, có điệu mới tức nữa. Rồi chợt nhớ, chưa báo cho hắn biết thì hắn làm sao mà chẳng ngủ, chẳng ngáy. Đợi đấy sáng mai, ta sẽ trịnh trọng tuyên bố để cho mụ biết tay. Từ mai, ta se tha hồ uống rượu rồi nếu vợ cằn nhằn, ta sẽ bảo làm thi sĩ mà không có bầu rượu tùi thơ thì là loại thi sĩ hạng bét. Và từ mai, ta cũng quyết không rửa bát, quét nhà nữa. Một nhà thơ lớn không thể phải rửa bát, quét nhà. Đó là chân lý.

Sáng hôm sau, chờ cho mụ vợ chuẩn bị hòm hòm hàng họ, tôi mới thẽ thọt:

– Anh có bài đăng báo Văn nghệ…

– Anh có bài đăng báo Văn nghệ…

– Bài gì? Mụ vợ cao giọng hỏi, kèm theo cái nhìn sắc như dao hoạn lợn.

– Dí L… vào, Dí L… vào. Thơ với chả thẩn. Đi làm hàng cho tôi bán hàng.

Tôi như người đang lên cơn sốt xuất huyết bị dội nước lạnh. Toàn thân giận run lên. Thế mà cả đêm qua, tôi cứ tưởng tượng ra cái khuôn mặt tươi như hoa mào gà của mụ khi tôi báo tin này. Thế mà… Ức thật, thế này thì ức thật. Ức hơn Chí Phèo chờ Thị Nở cái đêm ở bờ sông. Chả lẽ nhà thơ, lại chửi bậy chửi bạ như ánh Chí. Đành nuốt cả “một mối căm hờn trong cuống họng”. Đi nhậu. Khi chai rượu đã vơi đi già nửa, tôi chợt phì cười. Ơ, với cái mụ vợ này thì đến thằng đẻ ra thơ là mình thì mụ cũng dí L… vào từ đỉnh đầu đến gót chân chứ nói gì đến “đứa con tinh thần với chả tâm thần có tên là THI CA?”. Và bật cười. Và làm thơ.

Thơ rằng: Vợ tôi dở dại dở khôn – Ngày năm bảy bận dí L… vào thơ“.

Nhà thơ Kim Chuông, người luôn đội mũ (vì bị ngứa đầu) và đeo kính (vì bị cận nặng) cả khi làm tình lẫn lúc… tắm (tôi đã tận mắt chứng kiến cả 2 cảnh này nên thề có trời đất, không bịa), đặc biệt là lúc nào cũng lảm nhảm đọc thơ, kể cả khi… ngủ (Anh em đã từng có lần phác họa chân dung rằng:

Thái Bình có bác Kim Chuông – Đội mũ, đeo kính, cởi truồng – ĐỌC THƠ) chợt nghiêng nghiêng vành mũ lảm nhảm đọc theo. Tan cuộc, Kim Chuông về Hội (Tức là Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật, chứ không phải hội Nuôi ong, mà quê tôi có thơ rằng: Từ ngày có Hội nuôi ong – Thì chất lượng mật lại không ra gì) ông ổng đọc. Nhà viết kịch Trọng Khuê mới thêm vào: “Còn tôi ra ngẩn vào ngơ – Ngày dăm bảy lượt dí THƠ vào L…”. Bài thơ bây giờ đã có 4 câu: Vợ tôi dở dại dở khôn – Ngày dăm bảy bận dí L… vào THƠ – Tôi thì ra ngẩn vào ngơ – Ngày dăm bảy lượt dí THƠ vào L…” Đến khổ thứ ba: “Kỳ này xét giải Quý Đôn – Đề nghị xét cả cho L… và THƠ” thì có hai dị bản. (Giải thưởng mang tên Nhà bác học Lê Quý Đôn – (Khổ thế)5 năm một lần ở Quê lúa, cũng nói thêm là lần nào cũng kiện tụng. Cả giải lần này, đang xét nhưng đã kiện tùm lum rồi).

Dị bản một là ở Thái Bình, nhiều người nói là của họa sỹ Hà Trí Dũng.Dũng là họa sỹ điêu khắc, từng là ĐB QH, tác giả của tượng Trần Hưng Đạo ở Kim Môn – Hải Dương và tượng Lê Quý Đôn ở TP Thái Bình. Dạo ấy, Dũng vừa khánh thành tượng Lê Quý Đôn, được Giải thưởng mang tên cụ Thám hoa này. Trong một lần tức khí gì đó, Dũng đã làm hai câu tiếp theo.

Dị bản thứ hai là của bác Nguyễn Trọng Tạo. Dạo đó, Hội Văn nghệ Thái Bình mời Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế ra chơi. Có một em tên là Oanh hay Yến đẹp nức nở và cuồn cuộn nhuệ khí như sống Đà, sông Hồng chứ không yên ả như sông Hương quê em. Người cao, chân dài, ngực nở (nghĩa là thừa tiêu chuẩn cấp bằng lái xe của bác Nguyễn Quốc Triệu mà xấp xỉ cái cân đo đong đếm của Bác Dương Kỳ Anh) lại thơm lừng nóng bỏng… Thôi, chả tả nữa kẻo… thiên hạ thèm! Bác Tạo ra cùng đợt này. Và hai câu: “Kỳ này…” là của Thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo.

Chẳng biết thực hư thế nào, xin kể lại những điều mình nghe thấy.

Khi lên Hà Nội, có lần nghe tôi kể chuyện về “tác phẩm văn học bất hủ” này, nhà văn Nguyễn Uyển khi ấy là Trưởng ban công tác Hội nhà báo Việt Nam và nhà báo Nguyễn Đoàn (TBT báo Bưu điện VN) thêm vào hai câu cuối: “Mấy tay giám khảo ất ơ – Lại đem bỏ tuốt cả thơ ra ngoài”. Thế có tệ không cơ chứ. Chỉ xét mỗi… cái ấy.

Ngày dăm bảy bận dí L… vào THƠ

Ngày dăm bảy lượt dí THƠ vào L…

Đề nghị xét cả cho L… và THƠ

Lại đem bỏ tuốt cả THƠ ra ngoài – (không xét).

Bài thơ này, nhiều người về sau cứ tưởng của tôi tất cả. Nhưng thực tình, tôi chỉ là kẻ làm câu đầu tiên, và có ¼ sản phẩm. Xin học tinh thần tự phê nghiêm túc của báo Lao động mà “Nói lại cho rõ”.

Bài thơ từ đó lan truyền, nhiều người bạn khi giới thiệu tôi với nguopwì lạ thường gắn liền tên người với tên tác phẩm. Kiểu: Đây là Bùi Hoàng Tám “Vợ tôi nửa dại…”. Điều ngạc nhiên là cách giới thiệu này rất hiệu quả chứng tỏ bài thơ đã được “toàn dân” biết. Sau này, Nhà thơ Nguyễn Huy Thiệp trong bài Trò chuyện với hoa Thủy tiên” có trích dẫn:”Giai thoại có một nhà thơ nói về thơ trong tình cảnh sau đây (tôi đã đưa chuyện này vào trong tiểu thuyết của tôi vì nó quá hay) khá tiêu biểu cho thực tế đó: Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ – Hôm qua nó bảo dí thơ vào L… – Vợ tôi nửa dại nửa khôn – Hôm nay nó bảo dí L… vào thơ, tôi cũng không phủ nhận cảm tình của nhân dân đối với thơ nhưng quả thực trên thực tế, cái danh nhà thơ là một thứ nhìn chung chung, chỉ là nhưng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó, . Nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa” (nguyên văn).

Rất may cho tôi là bài này của bác Nguyễn Huy Thiệp in sau khi tôi đã vào Hội Nhà văn rồi. Nếu không thì chắc đứt vì có một ông trong Hội đồng nói thẳng rằng “nếu thằng Thiệp nó tung ra trước thì chú mày… mạt kiếp”. Giời ạ, may thế. Tôi vào Hội như một thứ giời cho, xin kể chuyện này vào dịp khác.

Vợ Tôi Dở Dại Dở Khôn

Khoảng năm 1990, khi đó báo Văn Nghệ tổ chức cuộc thi thơ rất hoành tráng. Nhà thơ tật nguyền Đỗ Trọng Khơi được giải nhì với chùm Ánh trăng. Do không đi nhận giải được, báo Văn nghệ tổ chức về tận nhà trao giải. Đoàn gồm nhà văn Nguyễn Khắc Trường- Phó TBT, trưởng ban thơ Bế Kiến Quốc… Hôm ấy, Hội Văn nghệ Thái Bình tiếp đoàn ở quán cạnh nhà tôi. Dạo đó, tôi còn bán thịt chó ở Thái Bình (nhân dân Thái Bình có tặng tôi 2 câu thơ: Thái Bình có chú Bùi Hoàng – Tám bán quán thịt… chó làm thơ hay. Giời ạ, tôi làm thơ ra cái… chó gì).

Cũng cần nói thêm ngày ấy được in thơ trên báo Văn Nghệ là niềm mơ ước không chỉ của loại văn sĩ tép riu như tôi. Nếu tôi nhớ không nhầm thì dạo đó, lũ văn sĩ ở Thái Bình mới chỉ có khoảng 5 -6 người (nói như quê tôi là chưa đầy một cỗ) có thơ in trên Văn nghệ. Tôi nhớ có lần chúng tôi đang ba hoa thơ phú, một nhà thơ đàn anh ngồi lặng lẽ nghe, rồi phán nhẹ một câu: Năm một nghìn chín trăm mấy mấy, mình có bài in trên Văn Nghệ”. Thế là chao ôi, cả bọn ngồii im như thóc giống. Vì vậy chuyện được in trên Văn nghệ như một chứng chỉ “bảo kê” cho tầm văn chương “vượt qua phà Tân Đệ”. Do đó, tuy thất vọng nãp nề nhưng tôi không buồn và cũng mau quên “niềm vinh quang” ảo tưởng đó đi.

Mấy tuần sau, tôi ra bưu điện mua báo Văn Nghệ. Lại nói thêm rằng Văn Nghệ thời Nguyên Ngọc là niềm chờ đợi mỗi chiều thứ sáu. Người ta mong ngóng, người ta chờ đợi như chờ cửa hàng thực phẩm bán cá mè ranh cắt ô số 6, đợi như đợi kết quả số đề. Cầm tờ Văn Nghệ trên tay, đọc lướt qua trang nhất, phần giới thiệu nội dung. Giời ạ, gì thế này. Tôi xoa mặt, dụi mắt. Thơ Bùi Hoàng Tám… Dụi hai ba lần cho tỉnh hẳn, tôi tự trấn an: Chắc thằng cha nào đó cùng tên chứ mình thì làm gì có của!? Giở trang trong. Giời đất ơi, thơ mình. Đúng thơ của mình. Tự dưng thấy chân tay rủn rủn, mồ hôi lấm tấm lưng, tóc gáy hơi giật giật.

Tôi không biết lão ÔBAMA với lão JONMĂCKÊN khi trúng cử tổng thống Mỹ mừng đếm mức nào nhưng cứ theo tôi, khó có thể hơn tôi khi đó. Thế là từ nay trong các cuộc nhậu tôi sẽ im lặng. Đợi đến lúc cao trào nhất, tôi mới gại giọng bảo rằng: Năm một nghìn chín trăm mấy mấy, mình có bài in trên Văn Nghệ… Cứ nghĩ đến mấy lão bạn thơ hàng tỉnh mặt nghệt ra như ngỗng ỉa, mồm câm như thóc giống thì còn gì sung sướng cho bằng nữa. Hình như khi đó, để trấn tĩnh mình, tôi lẩm bẩm hát “Tổ quốc ơi, ta yêu người mãi mãi” Hay “Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay”… Đại loại thế.

Sẵn có 10.000 ngàn trong túi, tôi mua tất cả 5 tờ Văn nghệ. Rồi lặng lẽ leo lên gác xép để nhấm nháp niềm hạnh phúc. Tôi như chú gà, đẻ được quả trứng muốn vỗ cánh chạy toáng ra đường mà hét lên cục ta cục tác. Nhưng do không là gà nên đành cục tác thầm vậy. Đêm đó tôi trằn trọc, thỉnh thoảng lại sờ tay xuống gối xem thật hay mơ. Bây giờ kể lại chuyện này, có thể có người bảo ‘Lại bốc phét” nhưng đó là cảm gác rất thật. Không vui sao được khi từ ngày mai, trong những cuộc nhậu, khi mọi người đang “khủng bố thơ ca”, tôi sẽ lặng im, rất lặng im, chờ cho mọi người lắng giọng mới thủ thỉ rằng: Năm …. cứ nghĩ đến đó đã sung sướng phát rồ, phát dại lên rồi. Thế là từ mai, tôi sẽ đổi thành phần, nâng giai cấp. Tôi sẽ như bố tôi ngày cải cách ruộng đất được từ địa chủ biến thành trung nông. Còn với tôi, sẽ là một cuộc cách mạng số phận từ thằng bán thịt chó tỉnh lẻ trở thành nhà thơ có tác phẩm vượt bến phà Tân Đệ.

Nhìn sang bên cạnh, thấy mụ vợ cứ thản nhiên ngủ mà bực cả mình. Người đâu mà vô duyên thế, cái ngày trọng đại như thế này mà y ngủ được thì rõ là loại vợ gì không biết. Đã thế lại còn ngáy, tiếng ngáy du dương, bổng trầm như có vần, có điệu mới tức nữa. Rồi chợt nhớ, chưa báo cho hắn biết thì hắn làm sao mà chẳng ngủ, chẳng ngáy. Đợi đấy sáng mai, ta sẽ trịnh trọng tuyên bố để cho mụ biết tay. Từ mai, ta se tha hồ uống rượu rồi nếu vợ cằn nhằn, ta sẽ bảo làm thi sĩ mà không có bầu rượu tùi thơ thì là loại thi sĩ hạng bét. Và từ mai, ta cũng quyết không rửa bát, quét nhà nữa. Một nhà thơ lớn không thể phải rửa bát, quét nhà. Đó là chân lý.

Sáng hôm sau, chờ cho mụ vợ chuẩn bị hòm hòm hàng họ, tôi mới thẽ thọt: – Anh có bài đăng báo Văn nghệ…

– Cái gì…?

– Anh có bài đăng báo Văn nghệ…

– Bài gì? Mụ vợ cao giọng hỏi, kèm theo cái nhìn sắc như dao hoạn lợn. – Bài… THƠ! – Dí L… vào, Dí L… vào. Thơ với chả thẩn. Đi làm hàng cho tôi bán hàng. Tôi như người đang lên cơn sốt xuất huyết bị dội nước lạnh. Toàn thân giận run lên. Thế mà cả đêm qua, tôi cứ tưởng tượng ra cái khuôn mặt tươi như hoa mào gà của mụ khi tôi báo tin này. Thế mà… Ức thật, thế này thì ức thật. Ức hơn Chí Phèo chờ Thị Nở cái đêm ở bờ sông. Chả lẽ nhà thơ, lại chửi bậy chửi bạ như ánh Chí. Đành nuốt cả “một mối căm hờn trong cuống họng”. Đi nhậu. Khi chai rượu đã vơi đi già nửa, tôi chợt phì cười. Ơ, với cái mụ vợ này thì đến thằng đẻ ra thơ là mình thì mụ cũng dí L… vào từ đỉnh đầu đến gót chân chứ nói gì đến “đứa con tinh thần với chả tâm thần có tên là THI CA?”. Và bật cười. Và làm thơ.

Thơ rằng: Vợ tôi dở dại dở khôn – Ngày năm bảy bận dí L… vào thơ”. Nhà thơ Kim Chuông, người luôn đội mũ (vì bị ngứa đầu) và đeo kính (vì bị cận nặng) cả khi làm tình lẫn lúc… tắm (tôi đã tận mắt chứng kiến cả 2 cảnh này nên thề có trời đất, không bịa), đặc biệt là lúc nào cũng lảm nhảm đọc thơ, kể cả khi… ngủ (Anh em đã từng có lần phác họa chân dung rằng: Thái Bình có bác Kim Chuông – Đội mũ, đeo kính, cởi truồng – ĐỌC THƠ) chợt nghiêng nghiêng vành mũ lảm nhảm đọc theo. Tan cuộc, Kim Chuông về Hội (Tức là Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật, chứ không phải hội Nuôi ong, mà quê tôi có thơ rằng: Từ ngày có Hội nuôi ong – Thì chất lượng mật lại không ra gì) ông ổng đọc. Nhà viết kịch Trọng Khuê (lại mở ngoặc: Thái Bình có hội Văn nghê (tức là Văn nghệ) – Kim Chuông đánh vợ, Trọng Khuê đốt nhà) nghe được, mới thêm vào: “Còn tôi ra ngẩn vào ngơ – Ngày dăm bảy lượt dí THƠ vào L…”. Bài thơ bây giờ đã có 4 câu: Vợ tôi dở dại dở khôn – Ngày dăm bảy bận dí L… vào THƠ – Tôi thì ra ngẩn vào ngơ – Ngày dăm bảy lượt dí THƠ vào L…” Đến khổ thứ ba: “Kỳ này xét giải Quý Đôn – Đề nghị xét cả cho L… và THƠ” thì có hai dị bản. (Giải thưởng mang tên Nhà bác học Lê Quý Đôn – (Khổ thế) 5 năm một lần ở Quê lúa, cũng nói thêm là lần nào cũng kiện tụng. Cả giải lần này, đang xét nhưng đã kiện tùm lum rồi).

Dị bản một là ở Thái Bình, nhiều người nói là của họa sỹ Hà Trí Dũng. Dũng là họa sỹ điêu khắc, từng là ĐB QH, tác giả của tượng Trần Hưng Đạo ở Kim Môn – Hải Dương và tượng Lê Quý Đôn ở TP Thái Bình. Dạo ấy, Dũng vừa khánh thành tượng Lê Quý Đôn, được Giải thưởng mang tên cụ Thám hoa này. Trong một lần tức khí gì đó, Dũng đã làm hai câu tiếp theo. Dị bản thứ hai là của bác Nguyễn Trọng Tạo. Dạo đó, Hội Văn nghệ Thái Bình mời Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế ra chơi. Có một em tên là Oanh hay Yến đẹp nức nở và cuồn cuộn nhuệ khí như sống Đà, sông Hồng chứ không yên ả như sông Hương quê em. Người cao, chân dài, ngực nở (nghĩa là thừa tiêu chuẩn cấp bằng lái xe của bác Nguyễn Quốc Triệu mà xấp xỉ cái cân đo đong đếm của Bác Dương Kỳ Anh) lại thơm lừng nóng bỏng… Thôi, chả tả nữa kẻo… thiên hạ thèm! Bác Tạo ra cùng đợt này. Và hai câu: “Kỳ này…” là của Thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo. Chẳng biết thực hư thế nào, xin kể lại những điều mình nghe thấy.

Vợ tôi dở dại dở khôn Ngày dăm bảy bận dí L… vào THƠ Tôi thì ra ngẩn vào ngơ Ngày dăm bảy lượt dí THƠ vào L… Kỳ này trao giải Quý Đôn Đề nghị xét cả cho L… và THƠ Mấy tay giám khảo ất ơ Lại đem bỏ tuốt cả THƠ ra ngoài – (không xét).

Bài thơ này, nhiều người về sau cứ tưởng của tôi tất cả. Nhưng thực tình, tôi chỉ là kẻ làm câu đầu tiên, và có ¼ sản phẩm. Xin học tinh thần tự phê nghiêm túc của báo Lao động mà “Nói lại cho rõ”.

Đoạn kết

Bài thơ từ đó lan truyền, nhiều người bạn khi giới thiệu tôi với nguopwì lạ thường gắn liền tên người với tên tác phẩm. Kiểu: Đây là Bùi Hoàng Tám “Vợ tôi nửa dại…”. Điều ngạc nhiên là cách giới thiệu này rất hiệu quả chứng tỏ bài thơ đã được “toàn dân” biết. Sau này, Nhà thơ Nguyễn Huy Thiệp trong bài Trò chuyện với hoa Thủy tiên” có trích dẫn: “Giai thoại có một nhà thơ nói về thơ trong tình cảnh sau đây (tôi đã đưa chuyện này vào trong tiểu thuyết của tôi vì nó quá hay) khá tiêu biểu cho thực tế đó: Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ – Hôm qua nó bảo dí thơ vào L… – Vợ tôi nửa dại nửa khôn – Hôm nay nó bảo dí L… vào thơ, tôi cũng không phủ nhận cảm tình của nhân dân đối với thơ nhưng quả thực trên thực tế, cái danh nhà thơ là một thứ nhìn chung chung, chỉ là nhưng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó, . Nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa” (nguyên văn).

Rất may cho tôi là bài này của bác Nguyễn Huy Thiệp in sau khi tôi đã vào Hội Nhà văn rồi. Nếu không thì chắc đứt vì có một ông trong Hội đồng nói thẳng rằng “nếu thằng Thiệp nó tung ra trước thì chú mày… mạt kiếp”. Giời ạ, may thế. Tôi vào Hội như một thứ giời cho, xin kể chuyện này vào dịp khác.

Bài thơ về vú

Cái Hay Cái Đẹp Trong Bài Thơ Duyên Của Xuân Diệu

Cái hay cái đẹp trong bài thơ Duyên của Xuân Diệu

Hướng dẫn

Cái hay cái đẹp trong bài thơ Duyên của Xuân Diệu

Xuân Diệu là nhà thi sĩ của tình yêu và tuổi trẻ chính vì thế những sáng tác của ông đã khiến cho biết bao con tim của những người trẻ tuổi chung một nhịp đập một khát vọng tới bùng cháy. Và một trong những nỗi khát khao đó phải nói tới tình yêu đôi lứa. Thành công ở đề tài này, Xuân Diệu đã có bài thơ Duyên vô cùng đặc sắc với những nét chấm phá. Bằng cái hay cái đẹp của bài thơ “ Duyên” tác giả mang tới cho người đọc người nghe những cung bậc của buổi mới quan nhau.

Trước hết cái hay cái đẹp của bài thơ Duyên được thể hiện qua hình ảnh của một buổi chiều thu vô cùng ướt át và lãng mạn

“Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên.

Cây me ríu rít cặp chim chuyền

Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,

Thu đến nơi nơi động tiếng huyền. ”

Chính cái duyên cái tình yêu một thời của tuổi trẻ ấy đã khiến cho những con người bắt gặp tình yêu đã vội quyến luyến. dưới con mắt của một người đang yêu thì những thứ họ nhìn thấy được đều vô cùng đẹp và đầy cảm xúc biết bao nhiêu.

Chính cái duyên mà tình yêu mang lại đã khiến cho thiên nhiên và cảnh vật đều nhuốm một màu yêu thương và đẹp đẽ, mọi thứ đều tràn trề sức sống. chúng ta có thể thấy như hình ảnh cây me thì ríu rít những cặp chim chuyền cành, màu trời kia như ai đổ lên những màu xanh ngọc qua muôn lá.

Mỗi mùa mang một thức một dáng dấp riêng. Nếu như người ta yêu mùa xuân với những vẻ non tơ thì người ta lại tới với mùa thu với sự lãng mạn và da diết có chút đượm buồn. hay nghĩ tới mùa hè thì chính là nghĩ tới hình ảnh rộn rã tiếng ve và những màu sắc tươi mới.

Và âm thanh được tác giả sử dụng chính là tiếng huyền. mùa thu xuất hiện với tiếng huyền. một tiếng huyền khiến cho tâm hồn con người như nhẹ bỗng với mọi thứ, tâm hồn như lâng lâng khó tả và cảm xúc thì bộn bề

Cái duyên trong lòng người hay chính là cái duyên của đất trời đã tạo ra cái duyên cho tình yêu đôi lữa. mọi thứ rất dịu ngọt âm thanh bay bổng và có lúc lại ngân dài theo những tiếng động và bước chuyển của thời gian.

Tiếp nối những câu thơ của tác giả chúng ta lại bắt gặp những hình ảnh tinh tế tiếp theo như:

“Con đường nho nhỏ, gió xiêu xiêu,

Lả lả cành hoang nắng trở chiều.

Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn.

Lần đầu rung động nỗi thương yêu”

Bằng những tính từ láy tác giả như diễn tả từng cung bậc cảm xúc một cách nhẹ nhàng và cũng hết sức tinh tế. đó chính là con đường nhỏ gió hiu hiu thổi và hoa và nắng như quyện vào nhau tạo nên một khung cảnh thật say đắm lòng người. Con đường đó, ngọn gió đó hoa đó nắng đó hay chính là cái cớ để bày tỏ nỗi lòng thương yêu dấu kín bấy lâu. Cho dù như thế nào thì con người cũng có cái gì đó để làm cho cảm xúc bản thân thăng hoa, và khi nói tới cái yêu thương bộc phát ở trong lòng làm sao người ta không bị tác động bởi ngoại cảnh lãng mạn ấy chứ?

Một tình yêu bắt đầu được nung nấu và ấp ủ bởi ả “anh và em:

“Em bước điềm nhiên không vướng chân,

Anh đi lững thững chẳng theo gần,

Vô tâm – nhưng giữa bài thơ dịu,

Anh với em như một cặp vần. ”

Trước sự dịu dàng của thiên nhiên mọi thứ thật tinh tế và đẹp đẽ biết bao nhiêu, những thứ mà chúng ta thấy thực chất là tâm lí của những con người đang yêu. Em bước trước anh lững thững theo sau, cố làm ra vẻ vô tâm nhưng thực chất lại là muốn người kia chú ý tới, và câu thơ cuối bài như giải thích rõ” anh em với cặp vần” một hình ảnh đối rất chỉnh rất đẹp

Bài thơ duyên của Xuân Diệu với những chất liệu tạo dựng từ cuộc sống đã khiến cho người đọc đặc biệt những đôi lứa đang yêu bắt gặp hình ảnh và cảm xúc của mình trong đó. Bởi vậy mà người ta mới cho rằng Xuân Diệu là ông hoàng của tình yêu và tuổi trẻ. Thơ của ông thấm đẫm chữ duyên mà người đời ban tặng.

Cái Hay Của Haiku

Cái hay của HAIKU – Thể thơ ngắn nhất thế giới

Đặng Thế Anh

2024-03-02T22:03:19-05:00

2024-03-02T22:03:19-05:00

http://lce.edu.vn/vi/news/Tin-tuc-Su-kien-43/cai-hay-cua-haiku-the-tho-ngan-nhat-the-gioi-666.html

Trường CĐSP Lạng Sơn

Thứ năm – 02/03/2024 21:59

 

 

 

              Haiku là viết tắt của từ Haikanoku. Từ này bắt đầu thông dụng từ cuối thế kỉ XVII. Nó dùng để chỉ một bài thơ với 17 âm tiết thể hiện trong ba dòng 5/7/5. Haiku bắt nguồn từ Hôkku (âm hán việt là phát cú) dùng làm màn mở đầu cho một bài Lenka (một loại thơ xuất hiện khá lâu đời ở Nhật Bản).            Thơ Haiku bắt đầu hình thành vào thế kỉ XVI. Đến thế kỉ XVII thì đạt tới đỉnh cao với tác giả BaSho, sau đó là Bu-son, K.It-sa, M.Si-ki, … Cho đến nay, thơ Haiku vẫn tiếp tục được yêu thích và sáng tác.            Haiku thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa con người và thiên nhiên. Hầu hết các bài thơ trong Haiku đều xuất hiện hình ảnh thiên nhiên. ở Haiku thiên nhiên và con người có mối tương giao thầm lặng mà khăng khít. Cộng thêm hình thức cực tiểu, cô đọng và hàm xúc nên thơ Haiku thường sử dụng quý ngữ (từ chỉ mùa). Hơn tất cả, cái hay của thơ nằm ở chỗ không bao giờ nói đủ tất cả và “chỉ gợi chứ không tả”. Mỗi bài thơ là mỗi cách cảm nhận riêng có của tác giả cũng như người đọc, tuỳ vào kinh nghiệm của cá nhân. Và Haiku chấp nhận tất cả, miễn là có lí do hợp lí, cái mơ hồ và đa nghĩa ấy không phải là nhược điểm mà là ưu điểm của thể thơ này. Đó cũng chính là tính chất mở thu lượm được từ ngôn ngữ như nhà thơ Chế Lan Viên đã nói rằng: “Bài thơ anh chỉ làm một nửa mà thôi; Còn một nửa để mùa thu làm lấy”.            Do trình độ và kinh nghiệm có được từ cuộc sống còn hạn chế nên người viết chỉ mạnh dạn đưa ra cảm nhận về một bài thơ. Một sự giới thiệu chi tiết và cảm nhận về nhiều tác phẩm Haiku xin hẹn ở một dịp sau.                “Ao cũ                 con ếch nhảy vào                 vang tiếng nước xao”                            (Nhật Chiêu dịch)             Bài thơ được ví như một công án thiền. Là bài thơ thể hiện triết lí vô thường của Phật Giáo Thiên Tông. Chiếc ao có thể hiểu là ao đời, là chiếc ao của vũ trụ. Thực ra hình ảnh ao trong thơ hoặc truyện vẫn được hiểu là chuyện đời. Ví như trong truyện “Toả Nhị Kiều” của Xuân Diệu. Ông đã xem cuộc đời như một chiếc ao tù bình lặng muôn đời không đổi, chiếc ao vũ trụ vĩnh cửu. Hình ảnh con ếch chẳng khác gì thân phận của mỗi chúng ta, sự xuất hiện của con ếch trong trưa hè tĩnh mịch khiến cho không gian chỉ xao động lên trong một khoảnh khắc, cú nhảy của con ếch vào trong ao chỉ khiến cho tiếng nước xao động lên một chút làm cho những vòng sóng trên mặt nước lan toả, rồi tất cả lại chìm trong yên bình, trong tĩnh mịch. Sau đó, con ếch sẽ biến mất như nó chưa từng xuất hiện bao giờ.  Cũng như vậy mỗi chúng ta xuất hiện trong vũ trụ này khoảng 100 năm và khoảng 100 năm sau con cháu chúng ta sẽ thắp hương mời chúng ta về vào những ngày giỗ tết … Nhưng rồi  100 năm sau nữa chúng ta sẽ bị lãng quên và biến mất như chưa từng xuất hiện trên thế giới này.            Bài thơ góp phần khẳng định tư thế tầm với của con người trong vũ trụ bao la. Mặc dù sự xuất hiện của con người rất là ngắn ngủi chỉ là trong khoảnh khắc nhưng đủ đánh thức cả vũ trụ, làm xao động cả trưa hè tĩnh mich. So sánh với “Ngôn Hoài” của Không Lộ thiền sư.               “Trạch đắc long xà địa khả cư                 Dã tình chung nhật lạc vô dư                 Hữu thì trực thượng cô phong đỉnh                 Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư”            Có thể hiểu là: chọn được một mảnh đất tốt có thể ở được sẽ có những lúc rảnh rỗi bước lên trên đỉnh núi đi thẳng và cất lên lên một tiếng làm lạnh cả bầu trời. Vì vậy, tư thế của con người trước vũ trụ này mới lớn lao làm sao.            Bài thơ còn là nỗi khát khao được giao hoà với vũ trụ bao la. Đối với ao đời – vũ trụ, con ếch nhảy vào trong ao là một bán thể của con người chúng ta, hành động nhảy vào là biểu tượng của nỗi khát khao đem cái bản ngã hoà nhập với vũ trụ bao la để cho cái ta tan chảy vào trong mạch sống đang không ngừng cuồn cuộn trong vũ trụ này. Còn tiếng nước xao phải chăng là âm thanh của niềm hạnh phúc ngất ngây khi cái ta đã hoà nhập vào trong vũ trụ. Triết lý này thể hiện cái nhìn biện chứng về mối quan hệ tương giao, đồng nhất, chuyển hoá lẫn nhau giữa con người với vạn vật trong vũ trụ. Cái nhìn biện chứng ấy là cái nhìn sự vật trong mối quan hệ và trong sự phát triển không nhìn sự vật rời rạc mà nhìn trong mối quan hệ. Nó được kế thừa từ Trang Tử: “Trời đất với ta cùng sinh ra, vạn vật với ta cùng là một”.

Tác giả bài viết: Đặng Thế Anh

Nguồn tin: Khoa Xã Hội

Những Câu Chuyện Được Kể Bởi Một Kẻ Dở Hơi

Những Câu Chuyện Được Kể Bởi Một Kẻ Dở Hơi

Chương 2-1: Hồi kết khác cho nàng tiên cá, đằng sau một câu chuyện cổ tích lại là một câu chuyện cổ tích khác (1)

Những tiếng gõ lạch cạch đánh thức tôi trong mê man, gió biển tạt vào mặt rát buốt, tôi định thần nhìn lại, không hiểu sao mình lại đang ngồi trên một khoang thuyền xa lạ.

“Ariel, Ariel!”

Hàng loạt những âm thanh tuyệt vời như xa như gần vang lên, tôi nhìn xung quanh mặt biển tối om, không thể xác định mình đang ở đâu. Bên dưới lại truyền đến những tiếng lạch cạch, nhìn xuống, tôi phát hiện có năm sáu cô gái tóc ngắn tuyệt đẹp đang chơi vơi gõ lên mạn thuyền bằng gỗ.

“Ariel! Ariel!”

Bọn họ hướng đến tôi kêu gọi làm tôi giật mình, nửa người dưới của họ chìm dưới biển, những đôi tay trắng muốt hướng đến tôi vẫy gọi. Phản ứng đầu tiên của tôi là muốn tìm người đến giúp họ, bởi vì tôi không biết bơi, hơn nữa có đến mấy người, một mình tôi không thể cứu hết. Tôi toan đứng dậy, co giò định chạy đi, nhưng vừa bước được bước đầu tiên, đôi chân bỗng truyền đến cảm giác đau đớn như bị vật gì bén ngọt đâm vào.

“Á!!!”

Tôi kêu lên đau đớn, mất đà ngã xuống, tôi ôm lấy bàn chân kiểm tra xem mình đã giẫm phải cái gì… Nhưng không, bàn chân thon thả trắng ngần mịn màng, da chân hoàn hảo, ngay cả một vết xước nhỏ cũng không có! Tôi lấy làm hoang mang, tiếng gọi dưới biển lại ngày càng khẩn thiết hơn, nghĩ tới phải mau chóng cứu người lên, tôi lại tiếp tục cất bước. Cảm giác đau đớn lại một lần nữa truyền đến làm tôi khuỵu xuống, mồm mắng to cái quỷ gì đang diễn ra thế này! Nhưng làm thế nào cũng không thể nói được ra hơi, muốn lên tiếng kêu người nào đó lại giúp nhưng âm thanh phát ra chỉ là những tiếng “A Ôi”, tôi sờ vào trong miệng mình, lại sợ hãi phát hiện ra đầu lưỡi đã bị cắt cụt!

“Ariel ôi Ariel! Làm ơn hãy nghe các chị! Thời gian của em không còn nhiều nữa đâu!”

Từ bên dưới kia vọng tới những giọng nói du dương, tôi nằm dài trên mạn thuyền nghe rõ những tiếng cô gái kia gọi lên, dường như… có gì đó không đúng? Họ không phải đang kêu cứu mạng?

Tôi dùng hai tay cố lết tới gần mép thuyền, thò đầu nhìn xuống mắt biển xanh thẳm, những cô gái kia cũng nhìn lên tôi, hóa ra từ nãy đến giờ họ gọi “Ariel” là gọi tôi! Nhưng tôi đâu có phải Ariel đâu?

Những người con gái xinh đẹp để trần nửa thân trên, mỗi người đều có màu tóc và màu mắt khác nhau, điểm chung duy nhất chính là tóc ai cũng ngắn. Bọn họ thấy tôi bò đến mép thuyền, một người liền nhô lên cao hơn, để lộ vùng dưới eo là một chiếc đuôi cá sáng óng tuyệt đẹp cùng màu với màu tóc.

“Ariel, thời gian không còn nhiều nữa! Các chị đã biếu mụ phù thủy tất cả tóc để cứu em khỏi cái chết ngày hôm nay. Mụ đã cho lại các chị con dao găm này đây. Trước khi mặt trời mọc, em phải cắm nó vào tim hoàng tử. Hễ máu chàng chảy xuống chân em, lập tức đôi chân sẽ biến thành đuôi cá. Em sẽ trở thành nàng tiên cá, nhảy xuống nước là sống đủ ba trăm năm cho đến ngày hóa thành bọt biển. Nhưng mau lên em! Chàng hay em, một trong hai người, phải chết lúc mặt trời mọc. Vì em mà Thái Hậu buồn phiền đến nỗi cũng phải để cho mụ phù thủy cắt mất mớ tóc bạc. Giết hoàng tử đi và về với các chị nhanh lên em! Em có trông thấy cái vạch đỏ ở chân trời kia không? Trong mấy phút nữa, mặt trời sẽ mọc và em sẽ chết đấy!” Nói rồi nàng tiên cá kia còn ném đến bên cạnh tôi một con dao có chuôi nạm bạc.

Tôi đơ người tiếp thu thông tin, trong đầu lập tức hiện lên vô số hình ảnh, sách báo, và cả… chuyện cổ tích. “Nàng tiên cá”, “bị câm”, “mỗi bước chân đều đau đớn như giẫm lên gốc rạ vót nhọn”, “giết hoàng tử hoặc vỡ tim mà chết”, những cái này đều nói lên… tôi chẳng lẽ đã trở thành nàng tiên cá!?

Má ơi! Chẳng cần phải nói gì thêm nữa, cái câu chuyện máu chó này tôi thừa sức thuộc nằm lòng rồi! Nhìn ánh sáng nhỏ dài như vệt máu nơi chân trời, tôi hết hồn nghĩ: Mình còn chưa muốn chết!!!

Tôi nhặt con dao găm lên, không nói nhiều lời liền lập tức loạng choạng bước đi, hai ba bước đầu còn đau, nhưng đối mặt với sinh tử thì đau này chỉ là muỗi! Tôi không phải nàng tiên cá, tôi không yêu hoàng tử, tôi cũng không phải thánh mẫu, tôi sẽ không vì người mình không quen mà hi sinh, còn chưa kể từ trước đến nay tôi cũng chẳng ưa gì câu chuyện này.

Gần sáng nên những người hầu gái phục vụ đã rời giường, họ trông thấy tôi loạng choạng chạy như điên trong khoang thuyền nhưng cũng không cản tôi, đoán chừng thân phận của “nàng tiên cá” cũng có mấy phần đặc biệt. Tôi tìm thấy cửa phòng trang trọng nhất, đẩy ra, quả nhiên có một đôi nam nữ đang ôm nhau ngủ say, nét cười hạnh phúc vẫn còn đọng trên môi sáng ngời đến chói mắt.

Mẹ nó! Chị mày sắp chết mà tụi bay còn hạnh phúc thế này!?

Ánh sáng đầu tiên chiếu vào gian phòng qua cửa sổ tròn trên boong tàu, tôi không nghĩ nhiều nữa, giương con dao lên đâm về phía “hoàng tử”. Trong khoảng khắc con giao rơi xuống, người đang ngủ say bỗng choàng tỉnh, né được mũi dao cắm thẳng vào tim, nhưng cũng bị lưỡi dao sắc nhọn quẹt một đường dài trên ngực.

“Em gái của tôi! Em làm cái gì vậy?” Hoàng tử khiếp sợ ôm ngực, nhìn đến tôi như thể không thể tin nổi. Công chúa bên cạnh cũng bị đánh thức, sợ hãi hét lên ầm ĩ.

Tôi nào có thời gian đôi co với hai người này? Dòng máu đặc sệt từ trên ngực hoàng tử chảy ra thấm vào chăn ga trắng muốt thành từng vệt loang lổ, căn phòng dần sáng rõ hơn, thời gian của tôi cũng sắp hết, với khả năng này tôi hoàn toàn không còn cơ hội đâm dao vào tim hoàng tử nữa. Ném dao đi, tôi liền nhào tới lên trên ngực hoàng tử, anh ta vẫn còn khiếp sợ với hành động của tôi, còn tay tôi thì không ngừng quẹt lên ngực anh ta, đoạt lấy dòng máu đang chảy ra kia rồi điên cuồng bôi lên chân mình.

Máu ở tim chứ gì! Máu ở ngực cũng gần với tim! Còn nước còn tát, tôi không muốn chết!

Cho đến khi hoàng tử dùng sức đẩy tôi ngã lăn quay xuống sàn, đôi chân trắng muốt của tôi đã bê bết đầy máu đỏ, nhìn vào thật dọa người. Nhưng mà… hình như không có tác dụng, bởi vì chân vẫn là chân, không hề có một dấu hiệu biến đổi về đuôi cá. Đúng lúc này, cơn đau ở tim truyền đến khiến tôi hét lên, ôm lấy lồng ngực co giật, trái tim như thể bị kìm sắt bóp chặt đau đớn.

Thôi xong rồi, thất bại rồi, tôi tuyệt vọng vặn vẹo, ngày hôm qua tôi còn đang vui vẻ chơi biển, còn thoải mái nhăt vỏ sò ngoài bãi cát, không ngờ chỉ ngủ một giấc lại trở thành cái dạng này! Còn chưa có làm được gì đã chết toi rồi! Tôi đếm từng giây từng phút cuối cùng, chỉ mong sao mình chết thật nhanh, đau đớn cũng trôi qua thật nhanh đi, không dưng chịu trận cũng đừng để cho tôi thống khổ quá lâu mới phải.

Bỗng “ẦM” một tiếng, mặt sàn đung đưa dữ dội rồi nghiêng một góc bốn lăm độ khiến tôi lăn lộn mấy vòng, sau đó như một thước phim quay chậm, thành tàu trước mặt bỗng vỡ toang, nước biển hung ác tràn vào, bằng một sức mạnh không thể chống lại, cuốn tôi vào trong lòng đại dương lạnh lẽo.

Cơn đau do nước tràn vào mũi miệng cộng với cơn đau thắt ở tim cùng lúc tra tấn tôi.

Tại sao tôi còn chưa chết!?

Tại sao cùng lúc phải chịu vừa đau tim vừa chết đuối! Tôi vùng vẫy trong mặt nước lạnh băng, đau đớn, mệt mỏi, tuyệt vọng làm tê liệt não bộ. Hình ảnh cuối cùng hiện lên, là hình ảnh bữa tôi hôm qua vẫn còn quây quần bên bố mẹ. Tôi buông xuôi, không muốn dãy dụa nữa, để mặc bản thân nặng nề chìm xuống, bọt khí cuối cùng trong phổi cũng thoát ra, chờ đợi cái chết sẽ đến với mình.

Nhưng mà, cơn đau từ từ tan biến, cái nặng nề của áp lực nước cũng dần dần tan đi, thần trí lại thanh tỉnh ít nhiều.

Tôi mở mắt, ngạc nhiên là mình chưa có chết! Cả cơ thể trôi nổi bồng bềnh, lòng biển xanh thẳm yên bình ôm ấp tôi không hề thấy lạnh. Nhìn xuống, tôi ngạc nhiên phát hiện dưới chân mình không còn là đôi chân nữa, thay vào đó là một chiếc đuôi cá tuyệt đẹp màu nâu đỏ, cùng màu với màu tóc của “Ariel”.

Vậy là… tôi thoát chết rồi!?

Sung sướng đến mức chỉ muốn hét to, tôi há mồm cười lớn đồng thời hai tay làm thành hình chữ V chiến thắng, nhưng tôi phát hiện, mình lại không thể nói, đầu lưỡi trong miệng như cũ vẫn cụt lủn. Có thể vì lời nguyền bởi vì không phải là máu thực sự ở trong tim hoàng tử chảy vào chân tôi nên chưa được giải hoàn toàn. Nhưng có còn hơn không, ít nhất tôi cũng sẽ không chết lúc này!

Tôi vui mừng muốn chê… à nhầm… vui mừng vì được sống, lập tức muốn quay về báo tin vui cho những”người chị” đã hi sinh mái tóc tuyệt đẹp để cứu mạng tôi, không ngờ vừa quay ra, lại gặp phải tình cảnh khó xử.

Hoàng tử cùng công chúa, lúc khoang thuyền vỡ nát đã không chỉ cuốn một mình tôi, hai người hai bên… khụ khụ… trần truồng, đang điên cuồng quẫy đạp, có vẻ như sắp chết đuối.

Haizz, thực sự thì tôi muốn bỏ qua lắm! Một bên là hoàng tử, là kẻ trực tiếp làm cho “Ariel” ngốc nghếch mê muội từ bỏ tất cả, đến cả mạng sống cũng không cần. Một bên là công chúa, là kẻ gián tiếp suýt giết chết “Ariel”, nếu như không có nàng nửa đường xuất hiện khiến hoàng tử nhận lầm ân nhân cứu mạng thì câuchuyện đã được Happy Ending như trong hoạt hình của Walts Disney rồi.

Nhưng nói qua nói lại, kẻ đáng trách nhất vẫn là “Ariel”, cũng chỉ vì sự mê muội ngu ngốc của nàng nên mới làm tôi tí chết thế này!

Quẫy nước hai ba cái, phải biết trước đây tôi là con vịt cạn, có biết bơi bao giờ, bây giờ làm người cá tự do, dùng một thế bơi kì dị hướng đến hai người ở bên kia bơi lại.

Hiển nhiên hai người hoàng tử và công chúa nhìn thấy tôi cũng khiếp sợ không thôi, ngực hoàng tử vẫn còn chảy máu đầm đìa, máu loãng loang ra mặt nước đỏ thẫm, công chúa thì gần như sắp bất tỉnh, nào có dáng vẻ của vị “ân nhân” đã cứu mạng hoàng tử bao giờ. Mà kệ, tôi nắm tay hai người, mặc cho họ chìm nổi, chỉ dùng tốc độ lớn nhất, bằng tướng bơi kì cục nhất kéo họ đến gần mạn một mảnh gỗ lớn nổi lềnh bềnh trên biển. Hoàng tử xem ra vẫn còn sức, anh ta trèo lên trước nhất, sau đó xoay người kéo công chúa từ dưới nước lên, dịu dàng đặt nàng nằm trên mảnh gỗ, sau đó lại quay đầu, ánh sáng trong mắt lập lòe, đưa ta về phía tôi…

Tôi nhìn từ vết cắt dài vẫn còn nhỏ máu tòng tòng trên ngực anh ta đến bàn tay đưa ra kia, xem ra “Ariel” không phải không hoàn toàn chiếm được một phần trái tim hoàng tử. Chỉ là, tôi không phải “Ariel”, tôi sẽ không vì một hành động nhỏ nhoi kia mà rung động. Tôi nhìn thẳng vào mắt anh ta, mỉm cười, chậm rãi lắc đầu, sau đó quẫy đuôi lặn xuống.

Trước khi xuống thật sâu, bên tại vẫn còn nghe được lời nói vang vọng.

“Là chính em cứu tôi đúng không? Người em gái của tôi! Ngày đó khi tôi rơi xuống biển, chính em đã cứu tôi…”

Sau đó tất cả chỉ còn là tiếng nước bập bềnh và bong bóng lách tách.

Cập nhật thông tin chi tiết về Thơ Hay, Thơ Dở, Cái Hay Của Thơ Dở Và Cái Dở Của Thơ Hay (2) trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!