Xu Hướng 11/2022 # Tết Độc Lập Và Bài Học Về Giá Trị Của Tự Do / 2023 # Top 11 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Tết Độc Lập Và Bài Học Về Giá Trị Của Tự Do / 2023 # Top 11 View

Bạn đang xem bài viết Tết Độc Lập Và Bài Học Về Giá Trị Của Tự Do / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

(VOV5) -Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh vang trên Quảng trường Ba Đình lịch sử vào mùa thu của 73 năm trước mãi mãi khắc sâu vào trái tim và khối óc của mỗi người dân Việt Nam.

73 năm trước, sau khởi nghĩa cách mạng Tháng Tám, đúng vào ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân đồng bào và thế giới về nước Việt Nam độc lập tự do. Thời khắc cảm nhận niềm hạnh phúc thiêng liêng khi đất nước bước sang trang sử mới đã khắc sâu trong tim những người dân vừa thoát khỏi kiếp lầm than, nô lệ và ngày 2/9 đã trở thành ngày Tết ý nghĩa của lớp lớp những thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh tư liệu lịch sử

“Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc có phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh vang trên Quảng trường Ba Đình lịch sử vào mùa thu của 73 năm trước mãi mãi khắc sâu vào trái tim và khối óc của mỗi người dân Việt Nam, bởi từ thời khắc đó, người dân Việt Nam nhận thấy tất cả giá trị làm người của mình, từ chỗ bị xiềng xích nô lệ nay đã trở thành công dân của quốc gia độc lập tự do.

Tinh thần bất diệt của Tuyên ngôn độc lập

Tuyên ngôn Độc lập là bản hùng ca viết tiếp những trang sử huy hoàng của ngàn năm về trước, đánh dấu thắng lợi của một thế kỷ ngoan cường chống thực dân, phong kiến và mở ra một kỷ nguyên mới trên đất nước Việt Nam. Tuyên ngôn Độc lập chẳng những khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa, nhà nước độc lập đầu tiên trong hệ thống thuộc địa thế giới, mà còn báo hiệu thành lập một chế độ xã hội mới, chính quyền công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Châu Á. Từ đây với tư cách người chủ thực sự của đất nước, nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, kiên cường đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến.

GS.TSKH Phan Xuân Sơn, Ủy viên hội đồng lý luận Trung ương cho rằng thắng lợi của Cách mạng tháng 8.1945 là nhờ Đảng CSVN có sách lược đúng đắn và sự đồng lòng của toàn dân:

“Lúc đấy Đảng lãnh đạo thì chúng ta đứng về phe đồng minh, là phe dân chủ, chống phát xít để giành thắng lợi và đó là nhất quán. Chúng ta tỏ rõ thái độ là chỉ hợp tác, cộng tác với phe đồng minh. Trong nội bộ thì chúng ta huy động sức mạnh toàn dân không phân biệt tầng lớp giai cấp, tôn giáo, dân tộc.

Thời khắc cảm nhận niềm hạnh phúc thiêng liêng khi đất nước bước sang trang sử mới đã khắc sâu trong tim những người dân vừa thoát khỏi kiếp lầm than, nô lệ và ngày 2/9 đã trở thành ngày Tết ý nghĩa của lớp lớp những thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau.

Giá trị của độc lập, tự do

Những nhân chứng vinh dự tham gia, chứng kiến ngày Tết độc lập đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay đều đã tuổi cao, sức yếu. Dù vậy, khi nhắc tới khoảnh khắc thiêng liêng đó, ai cũng trào dâng niềm hạnh phúc với những ký ức còn vẹn nguyên. Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, kể: Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập, ông và hàng trăm nghìn người dân đã đồng loạt giơ tay tuyên thệ xin thề “Giữ nền độc lập chủ quyền đất nước”:

“Sau khi ban tổ chức đọc xong lời thề thì hàng nửa triệu người giơ tay xin thề vang trời. Tôi cũng giơ tay xin thề nhưng nước mắt trào ra. Nhìn xung quanh các bạn tôi đều lau nước mắt hết. Sau này ngẫm ra mới biết đó là niềm hạnh phúc vô biên vì trước đây mấy ngày đương là người dân mất nước nô lệ, là vong quốc nô mà hôm nay đã là công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa độc lập.”

Đại tá Nguyễn Trọng Hàm, Nguyên phó tham mưu trưởng quân khu Thủ đô, khi đó là tự vệ thành Hà Nội, cho biết chỉ người nào đã trải qua thời nô lệ như ông và những người đồng trang lứa mới cảm nhận hết niềm vui vỡ òa trong ngày trở thành con dân của đất nước độc lập:

“Ấn tượng là sau 3 lần sống dưới các chế độ, bây giờ nền độc lập đến chứa các thành quả nối tiếp thành quả thấy nó vĩ đại quá. Tết độc lập năm đó, ra đường không những riêng tôi thấy không khí đối với mọi người thấy nhau là vẫy chào, một không khí chan hòa đoàn kết.

Với những giá trị độc lập, tự do, hạnh phúc mà cả dân tộc đã đổ máu xương gìn giữ, ngày Tết Độc lập sẽ mãi là niềm tự hào, là lý tưởng của các thế hệ hôm nay và mai sau.

6 Bài Học Giá Trị Về Sự Im Lặng / 2023

Sự im lặng là “vương quốc” của hoạt động trí óc. Nhờ đó mà có những kiệt tác, sự cao thượng, sự hiểu biết, sự trưởng thành, sự hồi tâm,… Văn hào W. Goethe xác định: “Tài năng được nuôi dưỡng trong cô tịch, còn chí khí được tạo bởi những cơn sóng dữ của giông tố cuộc đời”. Thấy người khác trầm tư mặc tưởng, đừng phá “khoảng riêng” của họ. Sự im lặng lúc đó thực sự cần thiết và có ý nghĩa.

2. Khi người khác khoe khoang, lý sự

Thùng rỗng kêu to. Càng hiểu biết người ta càng ít nói, thâm trầm và cảm thông. Trong 4 phép toán, phép trừ là phép “dễ” nhất, nhưng lại đầy ý nghĩa. Chỉ vì kém thông minh nên mới độc đoán, khắt khe hoặc cố chấp. Khoe khoang và lý sự là điển hình của đầu óc nông cạn, thiển cận. Dốt thì hay nói chữ để cố che lấp khiếm khuyết của mình.

3. Khi người khác không hiểu mình

Khi chưa được hiểu, chúng ta cần cởi mở và hòa đồng để người khác có thể hiểu mình hơn – dù không thể hiểu hết. Nhưng nếu bạn cảm thấy người ta thực sự không thể hiểu hoặc không muốn hiểu thì tốt nhất là im lặng. Nếu không, những gì bạn nói có thể gây chán ghét hoặc hiềm thù.

4. Khi người khác buồn phiền, đau khổ

Biết vui với người vui, buồn với người buồn. Đó là động thái của người có giáo dưỡng, tri thức, biết điều, biết cư xử và thấu cảm. Không gì vô duyên hơn khi người khác khóc mà mình lại cười – hoặc ngược lại. Sự “lệch pha” đó khả dĩ khiến chúng ta trở nên lố bịch, hợm hĩnh và kiêu ngạo.

5. Khi người khác không cần mình góp ý kiến

Đừng bao giờ xen ngang vào chuyện của người khác hoặc tò mò chuyện của họ. Vả lại, nói nhiều thì sai nhiều. Nói thiên lệch thì mất lẽ chính, nói huênh hoang rồi đến chỗ đuối, nói xiên xẹo rồi đến chỗ sai trái, nói giấu giếm sẽ đến chỗ cùng. Cibbon nói: “Đàm luận khiến người ta hiểu biết, nhưng im lặng là trường học của sự khôn ngoan”. Im lặng còn là yêu thương, tha thứ và là cuộc sống.

Tuân Tử dạy: “Im lặng, lắng nghe, ghi nhớ, hành động và khôn ngoan là 5 cung bậc khác nhau của trí tuệ”. Có thể coi đây là ngũ cung sống của cuộc đời. Tóm lại, im lặng là một nghệ thuật kỳ diệu và là cách thể hiện văn hóa cao cấp.

6. Khi người khác nói về vấn đề mình không am hiểu

Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe. Người khôn ngoan chỉ nói những điều mình biết rõ và hoàn toàn im lặng đối với những gì mình không biết hoặc mơ hồ. Đừng ảo tưởng mình là “bách khoa tự điển”.

Bác học A. Edison nói: “Điều chúng ta biết chỉ là một giọt nước, điều chúng ta không biết là cả đại dương”.

Còn hiền triết Socrates thừa nhận: “Tôi không biết gì cả, đó là điều tôi biết rõ nhất”. Chỉ là người bình thường, chúng ta càng cần khiêm nhường mà biết im lặng.

Thu Uyên

Nhớ Một Tết Độc Lập Buồn Và 30 Năm Bài Thơ “Chống Đảng” / 2023

TNc: Có một thời chúng ta hay suy diễn và chụp mũ. Nhắc lại chuyện cũ cũng là “Ôn cố tri tân”

Ông Hoàng Tuấn Phổ tuổi 80

Mùng Hai Tháng Chín năm Giáp Tý 1984 là một ngày buồn trong một năm buồn của gia đình tôi.

Sau gần 20 năm theo Đảng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba, Huy chương chiến sĩ văn hóa (hai lần), Cha tôi bỗng bị buộc thôi việc, khai trừ Hội tịch, trả về địa phương-nơi cũng chừng ấy năm trước, ông đứng dậy từ vũng lầy thời cuộc. Nhưng lần này trở về làng cũ, trên đầu ông nặng thêm một tội danh-một tội danh tày trời: Tội “chống Đảng” !

Tôi nhớ, bởi chuyện buồn ấy xảy ra đúng vào dịp Tết Độc Lập dân tộc. Chính xác, Cha tôi phải chấp hành Quyết định buộc thôi việc sau Tết Độc Lập một ngày: Ngày 3 tháng 9 năm 1984. Thế là mọi phấp phỏng hy vọng được minh oan của cả nhà tôi kéo dài từ mùa xuân sang mùa hè, đến mùa thu thì chấm dứt. Mẹ tôi tần tảo, sẵn sàng hy sinh, chịu đựng tất cả vì chồng con, nhưng bà không chịu nổi những lời dị nghị của làng xóm. Khi ấy tôi đã 14-15 tuổi nên cũng hiểu mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Tội “chống Đảng” lớn lắm, nhục nhã lắm ! Nó đồng nghĩa với tội Việt gian phản động ! Hai đứa em tôi bé nhỏ chưa hiểu gì, nhưng thấy bố mẹ, các anh buồn, chúng cũng buồn lây.

Thông thường, Mùng Hai Tháng Chín hàng năm, xóm làng tôi vui như Tết. Trẻ con vui đùa, thanh niên cắm trại, tổ chức chơi trò “Hái hoa Dân chủ”. Và bao giờ làng cũng có một tiết mục đặc biệt được già trẻ, gái trai chờ đợi là “màn” mổ lợn ăn mừng Tết Độc Lập. Tôi thường sốt sắng với nhiệm vụ đi nhận phần thịt cho nhà mình. Ở làng có mấy ông chuyên chia thịt và chia rất khéo. Thật khó có thể chọn ra một phần thịt nào nhiều hơn, ngon hơn. Phần nào cũng như phần nào, thịt, xương, mỡ, nạc…có đủ cả trong từng khóm. Nhà ai cũng có một phần thịt khá tươm tất. Mấy tháng mới được bữa cơm thịt no nê, bọn trẻ con chúng tôi vui đến mức cứ tưởng ngày này trên thế gian ai ai cũng được sung sướng như mình ! Nhưng năm ấy, nhà tôi không có Tết Độc Lập.

Đồng thời với kỷ luật buộc thôi việc, đề nghị đình bản tiểu thuyết “Mai vàng chùa Tháp” ở NXB Thanh Niên, Hội văn nghệ Thanh Hóa tuyên bố đã gửi công văn đi các cơ quan, tạp chí đề nghị không xuất bản sách và in bài của kẻ “chống Đảng” Hoàng Tuấn Phổ. Thế là, cánh cửa mà Đảng từng mở ra con đường chữ nghĩa cho Cha tôi, nay lại bị đóng sập lại. Trước khi đi “thoát ly”, Cha tôi từng cổ cày vai bừa ở quê. Nhưng lần này trở về, dù nặng gánh trên vai, Mẹ tôi không muốn ông lại tiếp tục công việc đồng áng… Cha tôi cũng quyết định bỏ bút, cầm dao cầu làm nghề thuốc, châm cứu chữa bệnh. Nhà tôi trở thành cái xưởng bào chế thuốc nho nhỏ. Phần chúng tôi, chỉ còn biết cố gắng ngoan ngoãn học hành để cha mẹ vơi đi nỗi buồn.

Vậy mà bể dâu thoáng chốc đã 30 năm tròn !

Chắc bạn đọc không khỏi thắc mắc, Cha tôi “chống Đảng” như thế nào ? Vâng, ông “chống” bằng một bài thơ Thất ngôn bát cú ! Nghĩa là ông tham gia cuộc thi “Xướng họa thơ vui, năm Tý nói chuyện chuột” do báo Đảng Thanh Hóa mời. Thơ ông “Họa” lại bài “Xướng” của ông Hà Khang và Mai Bình-Chủ tịch Hội văn nghệ Thanh Hóa. Tôi nhớ như in hai bài thơ này:

Bài “Xướng” do ông Mai Bình chấp bút:

Năm Tý về đây nhắc chuyện đời

Không coi chừng chuột, chuột sinh sôi !

Chùm nem sơ hở con chù vọc

Lạ nhỉ ? chơi không toan gọn lốm,

Ở kìa ! ngồi rỗi chực ngon xơi !

Hẹn nhau sắm bả phòng năm chuột

Bài “Họa” của Cao Đăng (Cha tôi-Hoàng Tuấn Phổ):

Giống chuột làm sao vẫn sống đời ?

Con đàn cháu lũ cứ sinh sôi !

Đồ ăn bè cánh chia phần nhậu,

Của để tớ thầy hợp sức lôi !

Tiếc lọ chê ai đành chuột phá,

Hoài cơm trách bạn để mèo xơi !

Triệt đường ẩn nấp hang cùng hốc,

Tôi dù ở tuổi thiếu niên cũng đã đủ khôn để cảm nhận đây là bài thơ hay, nghĩa bóng chống lại những tiêu cực thời nào cũng có. Mẹ tôi là nông dân chất phác, dù lòng đang nặng trĩu nỗi buồn, khi nghe bài thơ “chống Đảng” của Cha tôi cũng phải tủm tỉm cười khen là…được, và nói: “Tôi chả thấy ông chống Đảng ở chỗ mô cả ! ” Có lẽ cuối cùng dù Cha tôi không thoát được tội tày đình, nhưng tự lòng Mẹ tôi đã cảm thấy vô tội và thanh thản.

Nhà tôi tuy nghèo nhưng từ nhỏ chúng tôi được bố mẹ cho ăn học, giáo dục tử tế. Cha tôi luôn nhắc nhở con cái: “Nhà ta được như ngày nay là nhờ có Đảng, các con phải cố gắng học hành, phấn đấu, đi bằng chính đôi chân của mình, sống có ích cho gia đình, xã hội”. Tôi biết rõ Cha tôi là người thế nào. Tôi không tin ông chống lại những chủ trương mà thường ngày tôi vẫn nghe ông ca ngợi là đúng đắn và tiến bộ.

Thế nhưng “có người” đại diện cho Đảng lại động lòng, tự thấy mình trong bài thơ “chuột” và cho rằng “nó” đang “chống” mình ! Họ phân tích như sau: “Con đàn cháu lũ” ở đây ý chỉ “con ông cháu cha” đời nối đời hưởng đặc quyền đặc lợi. “Đồ ăn bè cánh chia phần nhậu, Của để tớ thầy hợp sức lôi” ám chỉ chuyện vây bè, kéo cánh, ăn cắp của công, tham ô, hối lộ, móc ngoặc với nhau. Của ít chia nhau ăn, của nhiều hợp sức lôi về nhà làm giàu. Không thể chấp nhận được ! Chế độ này là khối “đại đoàn kết”, chỉ có quan hệ “đồng chí” “đồng nghiệp”, tại sao lại có từ “bè cánh”, “tớ thầy” ở đây ? Cao Đăng nói “Tiếc lọ”, thì “lọ” cũng là “bình”. Mà “bình” không phải “Mai Bình” còn ai vào đây ? Hóa ra, cấp trên vì nương tay với “Bình” nên không chống tiêu cực ? Thật quá “thâm ý” ! “Hoài cơm trách bạn để mèo xơi”, “mèo” đây đích thị là những người nắm pháp luật rồi ! Dám nói họ là “hoài cơm” sao ? Lại còn định “Triệt đường ẩn nấp hang cùng hốc, Cống lỗ chi chi cũng hết nòi !” Cao Đăng muốn “diệt” tận gốc, từ “ông to” đến “ông nhỏ” kia ư ? (đoạn này tôi nhớ lại theo lời kể của Cha tôi sau mỗi tuần trở về nhà với gương mặt thất thần…)

Thế là họa lớn ! Chín tháng trời ròng rã, Cha tôi chỉ làm mỗi công việc trần tình, kiểm điểm, mất ăn mất ngủ… Rốt cuộc ông vẫn không thể nào thanh minh được.

Năm Mậu Tý 2008, ông Khương Bá Tuân-nguyên PGĐ Sở NN và PTNT Thanh Hóa hỏi tôi: “Cậu còn nhớ bài thơ xướng họa “Năm Tý nói chuyện Chuột” của ông Phổ không? Thỉnh thoảng các cụ trong câu lạc bộ Hàm Rồng có hỏi. Mình thì chỉ nghe nói chứ cũng đã được đọc đâu. Nếu cậu còn nhớ chép lại cho mình một bản làm kỷ niệm” Tôi trả lời: ” Cháu nhớ. Mậu Tý năm nay là 24 năm bài thơ họa năm Tý nói chuyện chuột. Cháu có nói với Bố cháu nhân đây nên kể lại sự việc để mọi người hiểu. Nhưng ông Cụ bảo, “Thôi, chuyện đã qua rồi…Mình nhắc lại người ta lại hiểu lầm là gợi chuyện cũ…”

Tôi hiểu. Sau nhiều tai bay vạ gió từ thời Cải cách ruộng đất và Đấu tranh chính trị, Cha tôi giống như con chim sợ làn cây cong vậy. Thế nên ông mới viết: “Sờ râu lão Tý tay còn nhớp, Chạm vía cụ Mèo mạng suýt toi !”

Ngày Tết Độc Lập 2014 năm nay khiến tôi lại nhớ về ngày buồn cách đây đúng 30 năm trước. Lần này ông Cụ đã đồng ý cho Tuấn Công thư phòng công bố bản Trần tình “Có hay không có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hoá ?” từng đọc tại Đại hội Văn nghệ Thanh Hóa cách đây 25 năm về trước, sau khi ông được phục hồi công tác. Xin trích đăng để bạn đọc hiểu rõ thêm câu chuyện nhỏ của gia đình tôi trong muôn vàn câu chuyện lớn khổ đau của “Biển cả đời người”:

Có hay không có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hoá ?

(Bài phát biểu của Hoàng Tuấn Phổ đã trình bày tại Đại hội văn học nghệ thuật Thanh Hoá lần thứ III vào lúc 2 giờ chiều ngày khai mạc 22/5/1989 tại hội trường tỉnh 25B)

“Thưa ông Bí thư tỉnh uỷ Lê Huy Ngọ

Thưa Ban thường vụ Tỉnh uỷ và các đại biểu,

chúng tôi sự khẳng định của Ban thường trực Hội do Ô. Mai Bình làm Chủ tịch, có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hoá và Hoàng Tuấn Phổ là một hạt nhân, một thành viên của tổ chức ấy.

Bút tích một số trang của bản Điều trần

Dịp Tết Giáp Tý (1984) báo Thanh Hoá phối hợp với các cơ quan Sở văn hoá-thông tin, Đài phát thanh tỉnh, Hội văn nghệ mở cuộc thi hoạ thơ vui với tiêu đề “Năm Tý nói chuyện chuột”. Bài xướng do Mai Bình chấp bút (nghe nói bài này chẳng những đã thông qua Ban thường vụ tỉnh uỷ mà còn được ông Bí thư Tỉnh uỷ Hà Trọng Hoà phê duyệt) và báo Thanh Hoá mời tôi tham gia, sau đó đã đăng bài hoạ của tôi ký tên Cao Đăng. Số báo này vừa mới phát hành, bản thân tác giả chưa được nhìn thấy bài mình in ấn ra sao đã bị Ban thường trực Hội gọi bảo: bài thơ hoạ của Cao Đăng, theo các đồng chí lãnh đạo cấp trên, sai lầm về quan điểm. Tôi hỏi: sai lầm về những “điểm” gì, xin chỉ rõ, thì không được giải đáp cụ thể. Rồi chẳng hiểu căn cứ vào đâu: Bài thơ hoạ của Cao Đăng bị qui là có tư tưởng chống Đảng vào người ta tiến hành khá khẩn trương, gay gắt và kiên quyết một số biện pháp như hội họp lãnh đạo để phân tích phê phán bài thơ, bắt tác giả phải viết tự kiểm điểm, gây dư luận quần chúng phản đối tác giả, vận động cán bộ, nhân dân, văn nghệ sĩ trong tỉnh gửi kiến nghị lên án tác giả và viết bài gửi tới Báo Thanh Hóa phê phán bài thơ, rồi về địa phương tác giả lập hồ sơ bịa tạc,v.v…nhằm tạo ra một vụ án văn học(1). Ông Mai Bình, Chủ tịch Hội cho biết: “Đáng lẽ Sở công an Thanh Hóa và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh khởi tố vụ án này, nhưng Ban thường trực Hội xin để Hội giải quyết nội bộ. Vậy thái độ của tác giả phải hết sức thành khẩn”. Tôi nói: “Tôi không thấy mình mắc sai lầm ở chỗ nào” Ông Hà Khang phó Chủ tịch Hội, gợi ý: “Kiểm điểm theo dư luận của cán bộ và nhân dân phê phán nội dung tư tưởng xấu của bài thơ”. Tôi nói: “Dư luận thì không phải cái gì cũng đúng. Có người bảo tôi đả kích ông này ông nọ, nhưng cũng có người cho rằng: không có “xướng” thì sao có “họa”,v.v…tôi biết theo “dư luận” nào ?” Ông Vương Anh, phó chủ tịch Hội (Ủy viên chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam) bắt tôi phải thú nhận theo tinh thần một bài viết dưới mục “Ý kiến bạn đọc” trên báo Thanh Hóa phê phán thơ họa của Cao Đăng là xuyên tạc sự thật, nói xấu chế độ. Bài này ký tên Phạm Trung Thực (Thị xã Thanh Hóa). Ông Vương Anh nhấn mạnh là bài của “ông to” cấp trên viết (thực ra do ông Vương Anh viết). Tôi nói: “Nếu là “ông to” cấp trên thì bài viết phải ghi rõ họ tên thật và chức vụ thì tôi mới chấp hành nghiêm túc kiểm điểm, còn như người viết dù “to”cỡ nào, ở “cấp” nào mà lại nhân danh “bạn đọc” thì trên nguyên tắc thông thường bạn đọc có quyền khen, chê, và tác giả được quyền tiếp thu hay không tiếp thu”. Nhưng ông Vương Anh vẫn không cho biết rõ Phạm Trung Thực là ai và vẫn nhắc lại rằng tôi phải kiểm điểm theo hướng đó. Ông Vương Anh nói thêm với tôi và một số anh em văn nghệ như Trọng Miễn, Đào Phụng, Xuân Quảng, Nguyễn Ngọc Quế và nhiều chị em khác rằng: trong cuộc họp Thường vụ Tỉnh ủy triệu tập lãnh đạo Hội văn nghệ để bàn xét về vấn đề thơ chống Đảng, ông Vương Anh liếc nhìn vào sổ tay ông Lê Xuân Sang (Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy) và ông Quách Lê Thanh (Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy) đều thấy cùng ghi một dòng chữ: “Hoàng Tuấn Phổ chống Đảng”. Điều này không biết có thực hay không, nhưng chẳng riêng gì tôi mà các anh em khác cũng đều hết sức hoang mang lo sợ. Mặc dù vậy, tôi vẫn không thể làm vừa lòng Ban thường trực Hội nói chung và ông Phạm Trung Thực nói riêng vì không hề nhận ra mình đã mắc những sai phạm chính trị trong bài thơ họa ký tên Cao Đăng. Sau những cuộc kiểm điểm liên miên ngày này qua tháng khác, Ban thường trực Hội kết luận tôi là “thái độ kiểm điểm không thành khẩn kéo dài” (9 tháng).

Cũng trong thời gian này, anh Minh Hiệu (Nhà thơ) có 8 bài thơ, Ban thường trực Hội coi như là “8 phát súng đại bác” nã vào Tỉnh ủy. Ông Vương Anh nói: trong khi ông Minh Hiệu tấn công trực diện vào Đảng thì Hoàng Tuấn Phổ gián tiếp đả kích những cán bộ lãnh đạo của Đảng. Anh Xuân Hùng vẽ bức tranh “Chuẩn bị thóc nhập kho”, vì góc bức tranh có vẽ một cây rơm, chung quanh có mấy em bé đang đùa chơi, ông Mai Bình và Ban thường trực Hội bảo là “cây rơm to hơn đống thóc tức là mất mùa thì lấy thóc đâu nhập kho ? Phải chăng tác giả ẩn ý rằng thành tích nông nghiệp của ta chỉ là giả tạo ?” (Trong thực tế, dù được mùa lớn, rơm vẫn nhiều hơn thóc !) Bức tranh vẽ một đàn ngựa của anh Đỗ Chung, bị ông Mai Bình lộn ngược dưới lên để xem và nhận xét là tác giả vẽ toàn là các bộ phận kín của phụ nữ ! Cũng một bức tranh khác của Đỗ Chung, ông Vương Anh bảo: “Cái mặt trời tím mọc trên cánh đồng lúa là con số không, ý tác giả muốn nói “nền nông nghiệp nước ta chỉ là con số không !”. Còn nhiều trường hợp nữa tôi không tiện dẫn hết ra đây.

Cứ cái kiểu suy diễn, phán xét nguy hiểm đó, trong công việc đọc duyệt tác phẩm, các ông Mai Bình, Hà Khang, Vương Anh đã dần dần hệ thống hóa các tác phẩm, quy tụ các hiện tượng để tiến tới khẳng định ở Thanh Hóa có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng. Ông Mai Bình thay mặt Ban thường trực Hội bảo tôi: “Cho dù anh có phải nhận hình thức kỷ luật ra khỏi cơ quan văn phòng Hội thì anh cũng phải khai ra những kẻ cùng hội cùng thuyền để giúp Đảng lãnh đạo phong trào văn nghệ tỉnh nhà được tốt”.

Sáng 27/5/1984, tại phòng ông Trần Kháng (Trưởng ban hành chính trị sự của Hội) ông Hà Khang thay mặt Ban thường trực Hội yêu cầu tôi phải trả lời những câu hỏi:

1.Tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hóa gồm những ai, do ai cầm đầu ?

2.Tổ chức này đã có nhiều cuộc tọa đàm, vậy anh đã dự những cuộc tọa đàm nào, các anh đã bàn bạc hoặc tiến hành những vấn đề, những công việc gì ?

chúng tôi Thường trực Hội căn cứ vào đâu để khẳng định tôi có tham gia tổ chức Văn nghệ sĩ chống Đảng ?

2. Ban Thường trực Hội hiểu thế nào về chữ “tọa đàm” ? Nếu tọa đàm là những cuộc trà lá mấy anh em văn nghệ ngồi tán gẫu về văn chương thì thường xuyên có và chẳng có gì là chống Đảng cả. Còn như về một tổ chức nào đó có hoạt động chống Đảng thì tôi không hề biết. Và, nếu Ban thường trực Hội đã biết chắc có những cuộc tọa đàm như ông (Hà Khang) nói thì xin ông dẫn ra cụ thể.

Ông Hà Khang nói: “Hôm qua tại nhà hát Lam Sơn chắc anh có nghe đồng chí bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh về những cuộc tọa đàm của anh em Văn nghệ Thanh Hóa, đó chính là những cuộc tọa đàm của tổ chức Văn nghệ sĩ chống Đảng !”

Tôi nói: “Tất cả những điều ông Hà Trọng Hòa và ông Hà Xuân Trường nói chuyện với những người làm công tác tư tưởng cấp tỉnh sáng hôm qua, ngày 26/5/1984, tại nhà hát Lam Sơn (thị xã Thanh Hóa) tôi đều chú ý lắng nghe. Tôi nhớ rõ lời bác bí thư tỉnh ủy nói: “Trong thời gian qua có những bài thơ của một số anh chị em-vừa nói xong mấy từ “của một số anh chị em”, bác bí thư liền chữa ngay là “của một số anh em”. Bác bí thư nói tiếp: “Và những cuộc tọa đàm biểu hiện tư tưởng chủ quan, tự phụ, cho là lãnh đạo không hiểu mình, không bằng mình, gây ra dư luận không tốt trong cán bộ và quần chúng…” Tôi không hề thấy bác bí thư nói đến chuyện chống Đảng…”

Ông Hà Khang ngồi im lặng một lát rồi nói: “Chỉ thị của lãnh đạo cấp trên là Ban thường trực Hội phải làm sáng tỏ vấn đề chống Đảng của một số văn nghệ sĩ trong tỉnh. Vậy anh phải viết ngay bản tường trình về tất cả những gì anh biết về tổ chức này, về những cuộc tọa đàm mà anh được dự !

Chấp hành lệnh của lãnh đạo, tôi phải viết bản tường trình cũng chỉ là nhắc lại những điều tôi đã nói ở trên (có đi sâu chi tiết hơn) vì không biết nói gì khác. Tôi đề nghị Ban thường trực Hội công bố bản kiểm điểm của tôi ngày 28/5/1984 vấn đề sẽ được chứng minh cụ thể. Sau đó, tôi được biết, trong khi ông Hà Khang thẩm vấn tôi ở Văn phòng Hội thì ông Mai Bình gọi anh Xuân Quảng (họa sĩ công tác cơ quan văn phòng Hội) tới Sở văn hóa-thông tin (Vì ông Mai Bình là Phó giám đốc Sở kiêm Chủ tịch Hội) để tra hỏi cũng với nội dung vấn đề như ông Hà Khang hỏi tôi. Ông Mai Bình còn bịa ra là Hoàng Tuấn Phổ đã thú nhận và khai báo hết cả rồi, và dọa là nếu Xuân Quảng không thành khẩn sẽ chịu kỷ luật nặng hơn.

Cũng trong những ngày này, ông Mai Bình báo cáo đề nghị sở Công an Thanh Hóa về địa phương tôi lấy hồ sơ lí lịch theo hướng đem vụ việc chống Đảng ở địa phương kết hợp cùng ông Giá Tổng biên tập báo Thanh Hóa tố cáo tôi 3 đời chống Đảng v.v…(Vấn đề này còn liên can tới nhiều đối tượng khác, tuy ở mức độ và hình thức không giống nhau như trường hợp buộc anh Phạm Văn Sĩ cán bộ Biên tập NXB Thanh Hóa phải chuyển công tác đi xa, nếu không thì phải thôi việc, trường hợp cô Út ở phòng lưu trữ UBND tỉnh phải chuyển công tác về thị ủy Thanh Hóa, vì cô Út có chồng là anh thương binh Lê Viết Khảm, khen thơ họa của Cao Đăng, v.v…)

Thanh Hóa trong lịch sử đã xảy ra một số vụ án văn chương, có vụ, án xử tới tử hình. Để phòng ngừa cái tai họa văn chương, tôi nghĩ chúng ta nên nhớ lại lời dạy của Lê-nin. Trong sách “Lê-nin bàn về văn học nghệ thuật” (NXB Sự thật-1960) có in bài báo nổi tiếng: “Tổ chức Đảng và văn học có tính Đảng” Lê-nin viết: “Mỗi người đều có tự do viết tất cả những điều họ muốn viết và nói tất cả những điều họ muốn nói, không một chút hạn chế nào. Nhưng như vậy thì mỗi đoàn thể tự nguyện, tự giác (trong số đó kể cả Đảng) cũng đều được tự do đuổi cổ những phần tử lợi dụng chiêu bài Đảng để cổ vũ những quan điểm trái ngược với Đảng” Lời dạy sáng suốt và công bằng đó của Lê-nin cần được áp dụng với tất cả những kẻ “lợi dụng chiêu bài Đảng” để thực hiện những mưu đồ thâm hiểm, xấu xa, thấp hèn của chúng.

Và, tôi đề nghị Điều lệ của Hội ta nên đề cập cụ thể vấn đề này./.

-Vì không có đủ cơ sở lý luận buộc tội tôi về bài thơ họa, Ban thường trực Hội bịa đặt cho tôi một số khuyết điểm về ý thức tổ chức để thi hành kỷ luật: đuổi ra khỏi cơ quan Nhà nước và khai trừ khỏi Hội (/9/1984). Ngày 8/11/1988 Hội nghị toàn thể hội viên Hội văn nghệ Thanh Hóa đã quyết định phục hồi Hội tịch cho tôi, nhưng còn vấn đề xử lý kỷ luật sai về tổ chức cán bộ đến nay vẫn chưa được giải quyết (sửa sai) do sự cố ý chống lại của Mai Bình và Vương Anh đối với tôi.

-Theo nguồn tin đáng tin cậy, nếu Hà Trong Hòa giữ vững ghế Bí thư Tỉnh ủy thêm 6 tháng nữa, tôi và một số người nữa sẽ bị ghép vào vụ án chính trị Lường Mạnh Hòa (con trai Lường Mạnh Huân đã bị chính quyền cách mạng xử tử hình)

-Bài phát biểu này được Đại hội vỗ tay hưởng ứng nhiệt liệt, nhưng do thời gian hạn chế của Đại hội, vấn đề tôi nêu ra không có điều kiện giải quyết kịp thời…”

*Phần chú thích này không có trong bản trình bày trước Đại hội”.

(Hết trích nội dung điều trần trước Đại hội của Hoàng Tuấn Phổ)

Bây giờ, làng tôi không còn mổ lợn chia thịt ăn mừng Mùng Hai Tháng Chín như ngày trước nữa. Bọn trẻ con cũng chẳng có được cảm giác vui sướng đón Tết Độc Lập bằng một bữa cơm thịt no nê như chúng tôi thuở nào. Bởi điều kiện vật chất bây giờ đã khác trước rất nhiều. Tuy nhiên, viết đến đây tôi lại nhớ ngày xưa mỗi lần đứng xem chia thịt, sốt ruột chờ lấy phần, tôi thường nghĩ về câu chuyện đọc lỏm được trong sách của Cha tôi, và thú vị với ý nghĩ, trong đám đông chỉ mình tôi biết: . Ông khác hẳn với những Bên Tàu có ông Trần Bình chia thịt cho làng rất đều, các bô lão đều khen ngợi. Trần Bình đáp: “Ngày sau Bình này mà được làm Thừa tướng thì cũng khéo như việc chia thịt hôm nay vậy”. Quả nhiên, sau này Trần Bình trở thành Thừa tướng nổi tiếng đời Hán Lưu Bang. Vậy mà mấy người chia thịt ở làng tôi họ không hề biết rằng mình rất giỏi và cái nghề chia thịt của họ đã từng được nhắc đến trong sử sách nước Tàu ! Tuy nhiên, lớn lên tôi mới hiểu, ông Trần Bình vốn là người có trí tuệ siêu phàm, dường như sinh ra để làm Thừa tướng. Bởi vậy có thể nói ông là một Thừa tướng đi chia thịtchia thịt làm Thừa tướng. Kẻ

Bản nháp Công văn đề nghị khôi phục công tác cho HTP do Nhà văn Đặng Ái Chủ tịch Hội VHNT Thanh Hóa ký

Trở lại với câu chuyện một Tết Độc Lập buồn của gia đình tôi. Đ/c Hà Trọng Hòa-Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, sau đó đã bị kỷ luật Đảng. Cha tôi-Nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ sau khi được phục hồi công tác, ở tại Khu tập thể Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa. Các ông Mai Bình, Vương Anh thỉnh thoảng vẫn lui tới gặp gỡ, trò chuyện. Khi triển khai Dự án khôi phục Lam Kinh, ông Mai Bình không đồng ý với một số phương án, tuy nhiên chưa có dịp trình bày. Trước khi mất ông Mai Bình có giao lại văn bản và nhờ Hoàng Tuấn Phổ sau này có điều kiện thì công bố (hiện HTP còn giữ).

Ba mươi năm trôi qua, nhiều kẻ đã “ra đi”, nhưng cũng không ít người còn “ở lại”. Thuở “Đánh chuột vỡ bình, thơ sứt trán”, Nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ mới ở độ tuổi 50, nay đã thành Ông Lão Tám Mươi. Hàng ngày ông vẫn miệt mài dồn tâm huyết cho công trình “Tinh hoa văn hóa xứ Thanh”. Quan điểm của ông là oán thù nên cởi chứ không nên buộc. Tuy nhiên, những câu chuyện cũ như thế này người ta lại không được phép quên. Bởi đó là một phần của lịch sử và cũng là một trong những bài học quý giá của quá khứ. Đây cũng chính là lý do nhớ lại “Ngày này năm xưa”.

Hoàng Tuấn Công/Ngày nghỉ Tết Độc Lập/2014

Đi Tìm Giá Trị Và Ý Nghĩa Lời Ru / 2023

Trong kho tàng văn hóa, văn học dân gian, lời hát ru và tiếng hát ru là một loại hình văn hóa phi vật thể, có giá trị nghệ thuật của ông cha ta từ ngàn năm qua để lại. Hát ru thông qua hình thức truyền khẩu là chính, nên qua nhiều đời, nhiều thế hệ mà lời hát ru có thể biến tấu theo từng địa phương, theo vùng miền; âm điệu lời ru cũng được thăng hoa hay phá cách tùy theo người hát ru.

Qua lời ru mượt mà, trầm bổng, ấm áp ấy, đứa trẻ nhận được tình cảm của người ru truyền sang. Đó là tâm tư thầm kín, tình yêu quê hương đất nước, yêu thiên nhiên, đạo lý làm người… thấm đẫm tâm hồn trẻ thơ. Tựu trung, lời ru là một nét đẹp văn hóa.

Dù chưa hiểu được ý nghĩa và nội dung lời ru, nhưng đứa trẻ nào cũng cảm thấy dễ chịu và ngủ một cách ngon lành trong giai điệu ngọt ngào của lời ru. Qua lời ru mộc mạc và bình dị, đứa trẻ cảm nhận được sự quan tâm, ân cần, chở che nó trong giấc ngủ. Cũng qua lời hát ru, lòng nhân ái được hình thành trong tâm hồn tuổi thơ, vun đắp thêm tình cảm gia đình.

Vùng lưu vực châu thổ sông Hồng có đặc trưng của nền văn minh lúa nước, là chiếc nôi hình thành nên văn hóa làng xã. Ở sự tương đồng văn hóa đó, sẽ không thể thiếu những câu đồng dao, ca dao, tục ngữ về đạo nghĩa, sự vật hiện tượng, kinh nghiệm sản xuất, tình cảm gia đình, làng xóm, tín ngưỡng dân gian và ẩm thực vùng miền nhiệt đới, gió mùa. Cùng với đó là những sân đình, cây đa, bến nước, con đò; con cò, con vạc, con nông, con trâu, cái kiến… Để rồi hiện tượng, sự vật đó uyển chuyển đi vào lời ru một cách khéo léo, tài tình. Người ru thường mượn những sự vật, hiện tượng đó để truyền những tâm tư, tình cảm vào tâm hồn trẻ thơ. Song, cũng qua đó thể hiện tâm tư, tình cảm cá nhân với người nghe ngoài đối tượng là đứa trẻ được ru. Trong hát ru, lời ca thường được lấy từ đồng dao, ca dao, hay trích các bài thơ hoặc các điệu hò dân gian: “Cày đồng đang buổi ban trưa/ Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày/ Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần”…

Lời hát ru không hẳn được đào tạo bài bản qua sách vở và giáo dục gia đình. Nó được truyền khẩu từ thế hệ trước sang thế hệ sau một cách tự nhiên. Cùng một bài hát ru, mỗi người ru lại có một cách thể hiện khác nhau. Thông thường, những bài thơ theo thể thơ lục bát, song thất lục bát dễ đưa vào lời ru hơn vì có nét mượt mà, trầm bổng. Trước khi ru trẻ, người ru thường đọc những bài đồng dao, nhịp điệu tung tẩy để trẻ tập trung lắng nghe: “Cô lô cô lốc/ Một trăm gánh ốc/ Một nghìn gánh trai/ Mười hai gánh hến/ Đổ vào đầu cô”; hay “Kéo cưa lừa xẻ/ Thợ khỏe cơm vua/ Thợ thua cơm làng/ Thằng bé lang thang/ Chạy về bú mẹ”; “Cái con lanh chanh/ Làm đổ bát canh/ Bà cô bắt đền/ Đi hái rau dền/ Cho bà cô ăn”… Khi bé đã có vẻ chăm chú, sẵn sàng nằm gọn trong vòng tay âu yếm của người ru, cùng với tiếng võng kẽo kẹt đều đều, thì người ru bao giờ cũng bắt đầu bằng từ “À ơi…!”. Và sau đó đi vào lời thơ của câu lục, cuối câu sẽ ngân dài. Đến câu bát, từ thứ tư sẽ đệm một từ “à ơi” mới hát tiếp, cuối câu bát cũng ngân dài; và tiếp tục như vậy hát ru đến hết bài này sang bài khác đến khi trẻ đã đi vào giấc ngủ sâu nồng.

Về khía cạnh khác, lời hát ru còn là những điều gửi gắm, là thông điệp, là nỗi niềm tâm tư thầm kín, bày tỏ một cách khéo léo qua lời ru, để cho những người trưởng thành gần cận nghe nữa. Một số bài ru vui vui mà mang đầy ý nhắc nhở về đạo lý, ứng xử cho tròn bổn phận, bài học về cách sống, lâu nay ít được nằm trong những bài hát ru phổ biến.

Ở trong hoàn cảnh gia đình mà người chồng có tính gia trưởng, vũ phu, hay nhu nhược, bài hát ru thường được cất lên rằng: “Cái cò là cái cò quăm/ Mày hay đánh vợ đêm nằm với ai/ Có đánh thì đánh sớm mai/ Chớ đánh buổi tối lấy ai mà nằm”… Với người vợ vụng về, chưa chu toàn bổn phận thì lời ru khéo léo, tế nhị giúp người nghe nhận ra và dần hoàn thiện bản thân hơn: “Vợ người ăn nói nhẹ nhàng/ Vợ tôi lốp đốp như rang bỏng mì/ Vợ người khéo đứng khéo đi/ Vợ tôi đi lại méo phi bẹp thùng/ Vợ người đầu tóc gọn gàng/ Vợ tôi lếch thếch đầu quàng ổ rơm/ Vợ người canh ngọt dẻo cơm/ Vợ tôi náo nháo cháo cơm thất thường”…

Trong khi con cái chểnh mảng, lười học, thì ông bà, cha mẹ gửi gắm qua lời ru: “Cái cò, cái vạc, cái nông/ Ba cái cùng béo vặt lông cái nào?/ Cái Cò lười học làm sao/ Bài thì không thuộc, lội ao suốt ngày/ Cái Vạc không chịu làm bài/ Đêm khuya đi nghịch, sáng ngày ngủ trưa/ Cái Nông thì cũng chẳng vừa/ Ngồi ì trong lớp chẳng thưa, chẳng rằng/ Học hành như vậy nên chăng/ Tôi khuyên ba cậu phải năng học hành”.

Những bà mẹ thuộc thế hệ có tên gọi là “u” thường là người đông con, đông cháu; hết ru con rồi đến ru cháu; nên các u vừa thuộc nhiều bài hát ru, vừa tinh tế trong cách ru trẻ. Còn nhớ, sau thời kỳ bao cấp, nhiều thanh niên nam nữ ly hương đi học tập, làm ăn xa, có khi vào tận miền Nam. Có người cái hay, cái đẹp chưa học được; mà cái dở, cái nhố nhăng đã khoác lên người, trở về quê hương với bộ dạng kịch cỡm, đua đòi. Các u từ làng trên, xóm dưới đã nhanh chóng truyền khẩu nhau bài hát ru: “Chiều nay ra đón anh về/ Gặp bao bè bạn kẻ chê người cười/ Tưởng anh gọn đẹp hơn người/ Nhìn trông chẳng khác đười ươi trên rừng/ Tóc dài chấm tận ngang lưng/ Mai xòe, mai cụp giống sừng con hươu/ Quần loe quét đất sớm chiều/ Xin anh hãy sớm biết điều sửa ngay”. Chẳng biết có phải đi đâu cũng “được” nghe những lời ru kiểu này, hay ý thức hệ văn hóa ngày càng được xã hội chấn chỉnh và đào thải, mà những hình ảnh lệch chuẩn này dần dần không còn chỗ đứng ở sau lũy tre làng?

Ngày nay, thế hệ “u” dần dần đi vào thiên cổ, “tre già, măng mọc” là lẽ ở đời. Tiếc rằng, lời ru và hành động hát ru cũng mai một theo đối với những bà mẹ trẻ. Một xã hội sôi động, ồn ào, tấp nập hơn, đã lấn át những giây phút thảnh thơi bên chiếc võng đung đưa, những lời ru trầm bổng cất lên mượt mà, thánh thót; không chỉ trẻ, mà người lớn cũng phải thổn thức, xao lòng.

Qua nghiên cứu, từ những lời ru vui có ý nhắc nhở nhau như vậy, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, thế hệ trước qua thế hệ sau… mà hình thành nên một đại gia đình đoàn kết, yêu thương, bảo ban, che chở nhau. Đó là mẫu của một gia đình truyền thống. Để rồi, các thành viên trong gia đình, ai cũng có thể cất lên lời ru với lòng tự hào về truyền thống gia đình: “À… ơi! Ông bà như tấm gương trong/ Cha mẹ hòa thuận, hiếu trung vẹn tròn/ Thảo hiền lớp lớp cháu con/ Gia đình hạnh phúc mãi còn sáng soi”.

Hoàng Tiến Điểm

Cập nhật thông tin chi tiết về Tết Độc Lập Và Bài Học Về Giá Trị Của Tự Do / 2023 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!