Xu Hướng 2/2023 # Tản Văn “Giáng Sinh Đáng Nhớ”: Cây Thông Noel Và Cô Gái Bé Nhỏ # Top 5 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Tản Văn “Giáng Sinh Đáng Nhớ”: Cây Thông Noel Và Cô Gái Bé Nhỏ # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Tản Văn “Giáng Sinh Đáng Nhớ”: Cây Thông Noel Và Cô Gái Bé Nhỏ được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đã hơn chục năm rồi, mỗi khi mùa đông, năm hết tết đến, nhìn nhà nhà người người, con trẻ háo hức theo bố mẹ đi sắm cây thông Noel mà mình cứ trào nước mắt.

Ngày xưa, mỗi khi Noel đến gõ cửa từng nhà, bao giờ mình cũng sắm một cây thông thật tươi, thật đẹp. Khi đưa cây thông vô nhà, nhiệt độ trong phòng ấm áp, cây thông hồi sức và bắt đầu tỏa ra cái mùi thơm thơm đặc trưng của nhựa, của lá, nồng nồng nhè nhẹ lan tỏa khắp phòng. Đó chính là lúc mình và cô con gái bé nhỏ bắt đầu giở ra, nào là các hình nộm, nào là nhà, là hươu, nai… rồi các quả bóng tròn tròn nho nhỏ… vàng mã trang kim treo lên các cành, nhánh hay đặt dưới gốc thông cảnh ông già Noel ngồi trên xe có con tuần lộc kéo đi chia quà cho trẻ em khắp nơi. Cuối cùng là chuỗi chuỗi đèn nháy mắc vấn vít uốn lượn từ ngọn xuống gốc. Khi nhà tắt hết đèn đóm chỉ còn lại mỗi cây thông rực rỡ lung linh, săc màu lẫn lộn. Cô con gái bé nhỏ reo lên vớ ánh mắt trẻ thơ sáng rực:

– Tuyệt vời… tuyệt vời, đẹp ơi là đẹp… hoan hô papa.

Nhìn cô con gái bé bỏng đưa ngón tay nhỏ như đầu đũa, vuốt ve, sờ mó, mân mê các hình thú, các cụm tuyết, đôi mắt lung linh nhấp nháy như những ngọn đèn nhỏ xíu trên cây thông, mà mình thấy trong lòng trống rỗng kì lạ, mình bảo con:

– Con gái ạ, papa chỉ làm cây thông cho con gái một lần cuối cùng này thôi, lần sau sẽ có người khác

– Ai hả papa, bác X, bác Y, chú Z. à?

– Có thể, con gái ạ…

– Thế họ có làm đẹp hơn papa không?

– Tất nhiên rồi, họ làm đẹp hơn, con gái ạ!

– Con gái ứ tin, chỉ có papa là biết làm đẹp thôi, nhà các bác các chú ấy chả có cây thông Noel bao giờ.

Con gái mình nói đúng, bên này người Việt Nam chúng tôi mới có thế hệ thứ nhất là chúng tôi, rồi thế hệ thứ 2 là các cháu. Người lớn như chúng tôi đều là công nhân, bộ đội giải ngũ được nhà nước cho sang lao động, giải quyết khâu chính sách, nên nói chung thế hệ chúng tôi học vấn không cao, cộng thêm cái vất vả mưu sinh hàng ngày nên ít ai chú trọng đến việc nuôi dưỡng bồi đắp phần hồn cho trẻ em, vả lại Noel là cái tết của người công giáo, người Việt Nam chưa quen với ngày lễ này, nên cũng chẳng coi trọng. khi trẻ em có đòi hỏi thì thường nhận được câu trả lời quấy quá của bố mẹ… đại khái như: Rách việc, vớ vẩn, tết của tây chứ của mình đâu… Đến nước ấy thì các cháu chỉ còn biết hậm hự cùng gương mặt buồn buồn với đôi mắt trẻ thơ xỉu xuống. Mình biết, thực ra những gia đình này cũng xót tiền vì giá một cây thông tươi, thật, trông đèm đẹp một tí cũng khá đắt. Sau khi bố, con hoàn thành cây thông Noel, mình khăn gói rời khỏi cái “Tổ ấm”… mãi mãi, con bé cũng đủ lớn để hiểu láng máng về việc ra đi này của mình (rất lạ, nó luôn xưng con với mẹ, nhưng với mình thì luôn xưng con gái… papa cho con gái cái này, cho con gái cái kia… đến tận chừ). Nó ôm lấy mình:

Không trả lời, mình chỉ nhìn con và khẽ gật đầu, đóng cửa rồi đi. Ngoài trời tuyết rơi mỗi lúc một dầy. Những nạm tuyết rơi, xoay nhẹ trong gió, lất phất, qua ánh đèn vàng vọt mờ ảo của đèn đường. Một lần nữa mình ngước mắt mắt lên nhìn ánh sáng cây thông Noel nhà mình in trên nền kính lấp lánh. Tự dưng nghĩ tới câu hát: “ba là cây nến vàng, mẹ là cây nên xanh, con là cây nên hồng, ba ngọn nến lung linh… thắp sáng một gia đình,” mà khẽ chạnh lòng.

Đến bây giờ sau hơn chục năm rồi, kể từ ngày đó, cô con gái bé bỏng của mình không có cây thông Noel trong nhà nữa vì, đó là cái tết của Tây. Chỉ có những dịp tết Nguyên Đán thì bàn thờ với mâm ngũ quả, con gà cúng, bánh chưng… vẫn nghi ngút khói hương. Trẻ em Việt Nam sinh ra ở Đức bố, mẹ, thi nhau đặt tên tây, nào là Kevin, David, Alex, Julia, Tracy, Jasmin, Andrea… vẫn cùng bố mẹ cúng lễ, khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, mà vẫn không hiểu nổi tại sao người lớn lại mê đắm cái tết của người VN đến thế, mà quên đi cái hình tượng rất đỗi thân thương của chúng là cây thông và ông già Noel trong mỗi dịp cuối năm, tuyết giăng một chiếc áo trắng phau lên tất cả cây cối, nhà cửa… vạn vật.

Tản Văn: Hương Đồng, Gió Nội

(GLO)- “Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”  (Nguyễn Bính). “Hương đồng, gió nội”, hẳn đó là phát hiện dân gian và được nhà thơ Nguyễn Bính thể hiện trong phần lớn thi phẩm của ông nên ông được tôn vinh là “Nhà thơ của làng quê Việt Nam”. Tất nhiên, những nhà thơ tiền bối khuyết danh và cả hữu danh như Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu… hay các nhà thơ cùng thời: Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Bàng Bá Lân… hậu thế có Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ… cũng dốc tâm huyết, bút lực với đề tài này, bằng thể thơ lục bát truyền thống.  

Thế có nghĩa, “hương đồng, gió nội” là thực thể hiện hữu ở làng quê Việt, tạo nên chất quê, gồm cả người quê. Và, làn gió như tỏa ra từ dòng sông, đồng bãi, bờ tre, khóm lá, từng nếp nhà… “chuyển tải” hương đồng, gọi là gió nội, chứ sao! Từ thẳm sâu trong tiềm thức, những đêm khó ngủ, những lần về thăm quê… dần định danh sự ám gợi mê hoặc ngút ngát đến choáng ngợp con tim mãi cho đến bây giờ tôi mới gọi ra: Hương đồng. Vâng, quê tôi có mùi và có lẽ chỉ những người sống xa quê, yêu nhớ quê, thường trực ý nghĩ về quê, thêm một chút nhạy cảm sẽ nhận ra cái mùi hương đặc trưng ấy. Mùa xuân, trên cánh đồng mươn mướt lúa đương thì con gái, trôi dọc bờ sông bãi mía, ruộng bắp thẳm xanh hương của đất trời dậy lên phảng phất trong sương sớm ngan ngát dịu lành như thảng hoặc mơ hồ mà tinh khôi, thanh khiết nồng nàn. Mùi đồng quê nồng ngập trong người, chút hương lúa đương thì con gái thơm thanh, chút mùi cỏ dại, cây non ngòn ngọt mát lành; phù sa đất thở; ruộng đồng qua đêm cựa mình, hơi nước từ mặt sông mang theo chút mùi bùn ao, mùi tanh nhẹ của những loài rêu tảo, thủy sản hòa thành một mùi rất riêng biệt khó định danh. Pha trộn mà vẫn cứ rạch ròi mùi hợp hương nồng đượm tỏa vào không gian bát ngát buổi sớm mai trong lành lúc mặt trời chưa kịp nhô lên ướp vào gió, phảng phất rồi trôi đi trong vô tận. Mùi hương ấy nhẹ len vào hơi thở của người dân ra đồng sớm rồi dường như tự tan biến khi mặt trời vừa qua khỏi ngọn tre. Mùa hạ đánh thức ta bằng tiếng chim quen lảnh lót hiên nhà. Tia nắng sớm lùa qua khung cửa sực nức mùi ổi chín mà đêm qua loài chim ăn đêm đã vứt bừa mấy trái ăn dở ngay đầu ngõ nhỏ. Rồi mùi mít chín, xoài thơm, vú sữa mọng căng lủng lẳng… Mùi trái chín trong vườn. Mùa hạ cũng là mùa người dân quê tôi đốn mía làm đường. Giữa trưa chang chang nắng thảng hoặc làn gió, lẫn trong không gian sực nức mùi đường nấu thơm lừng ngọt đậm. Bất giác cánh mũi phập phồng, nước miếng tứa ra thèm một bát nước chè hai vừa nấu sôi mới đánh vôi lần nhất. Ngày hè thường dài hơn, và khoảng thời gian kéo dài ấy là chiều tà, hoàng hôn nhập nhoạng. Vào thời điểm này, dường như nhà nào cũng hun một đống lép cạnh chuồng trâu bò để xua bớt đàn muỗi đói. Mùi khói lép không hăng nồng như mùi vỏ trấu, không đậm và thơm như mùi đốt cỏ lá mà hình như có sự hòa quyện của tất cả các nguyên liệu trên. Khói từ đống lép hun không lên cao mà ngập ngừng âm ỉ, nhè nhẹ tỏa lan quyện với mùi phân chuồng, mùi đốt lá dọn vườn nồng nồng, ngăn ngắt không hẳn là thơm nhưng cũng không hoàn toàn khó chịu nhưng rất đặc trưng mà ám gợi vô cùng! Khi hoàng hôn vừa tắt hẳn ngõ hẹp, lối mòn lập lòe đom đóm, ôi chao hoa dủ dẻ như quyện lấy bước chân, đưa ngang cánh mũi độc chiếm một khoảng không gian quánh đặc cuối ngày…          Sáng mùa thu hơi sương bảng lảng, thảnh thơi vác cuốc ra đồng, hương lúa ngậm đòng, bắp trổ cờ phơi nõn, ao làng búp sen hàm  tiếu hứng giọt sương đêm; hơi bùn đất thở qua đêm… dìu dịu, ngọt lành mà trang văn tôi chưa có tính từ gợi tả! Hương đồng mặn mòi, nồng chua từ tấm áo mẹ cha sau buổi làm đồng về. Từ làn da, mái tóc em thơ chân đất đầu trần chang chang đuổi nắng. Từ cơ thể người già nay yếu mai đau khó bề tắm gội. Ngan ngát hương sả, hương chanh, hương bồ kết dịu thơm lay lay theo mái tóc buông dài cô thôn nữ bước chân duyên nhẹ nhàng đung đưa trong gió. Hợp hương cùng mùi mồ hôi tỏa ra từ cơ thể thanh tân sau nếp áo “chân quê”, định danh mùi trinh nữ!       Còn có biết bao nhiêu mùi khác nữa mà từng thời khắc trong ngày, mỗi mùa trong năm đất quê, người quê, sản vật từ quê ấp ủ, ngầm chiếm ngự trong tôi, nuôi lớn tâm hồn tôi để rồi trên bước đường viễn xứ khi ai đó hỏi về, tự hào mà rằng: Tôi là dân quê. Và mùi hương ấy, làn gió ấy vì lý do gì bị hao sút chẳng tiếc nuối lắm sao!

Nguyễn Đình

Phân Tích Bài Hầu Trời Lớp 11 Của Tản Đà

Tản Đà là một người của hai thế hệ – thời kì Hán học đã tàn và Tây học mới bắt đầu. Xuất thân trong một gia đình quan hệ phong kiến theo học chữ Hán và chữ quốc ngữ. Tản Đà có lối sống phóng khoáng, không chịu ép mình trong khuôn khổ chơi ngông với cuộc đời. Bài “Hầu Trời” là một trong những tác phẩm đặc sắc cả về nội dung lẫn nghệ thuật phong cách thơ của thi sĩ.

“Đêm qua chẳng biết có hay không

Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mộng

Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!

Tiếng gà xao xác, tiếng người dậy

Giữa sân còn đứng riêng ngậm ngùi.

Một năm ba trăm sáu mươi đêm.

Sao được đêm đêm lên hầu Trời!”

Câu chuyện “Hầu Trời” được bắt đầu bằng hàng loạt các chi tiết sắp xếp theo một trình tự hợp lí để tạo ra cốt truyện chặt chẽ và tự nhiên. Mở đầu câu chuyện tác giả thật khéo léo và hợp lí với tự nhiên. Tản Đà kể cho người đọc một câu chuyện về một cảm giác bang khuâng, bang khuâng của người đi trong mộng với câu hỏi nghi vấn. Thi sĩ đã tự hỏi mình “có hay không” “thật hay giả” và tác giả đã nghiêng câu hỏi về một hướng khẳng ddingj đó là sự thật của cảm xúc vẫn còn rất “thời sự”. Mới chỉ là đêm qua, cái thật của khát vọng được thỏa chỉ cho đôi cánh, tài năng tự do bay bổng. Đó là một điều hấp dẫn đặc biệt đưa người đọc từ thế giới thực bước vào cảm xúc lãng mạn cùng với tác giả và câu chuyện Hầu Trời.

“Chư tiên ao ước tranh nhau dặn:

Anh gánh lên đây bán chợ Trời!”

Qua ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ giữa thi sĩ và các nhân vật ;úc đầu còn là yêu cầu truyền lệnh, sai gọi, con xin đọc… những khi tiếng thơ được cất lên một cách hào hứng say xưa thì chỉ còn là mối quan hệ giữa tác giả và độc giả… Nhiệt tình, phấn khích và họ không ngần ngại gọi thi sĩ bằng anh.

Câu chuyện Hầu Trời thấp thoáng nụ cười nhẹ nhàng khôi hài vừa đạo mạo vừa suồng sã. Nó tạo lên một tiếng cười mang tinh thần dân chủ, thể hiện rõ nét con người có tính sáng tác của tác giả, thể hiện cái tôi tài hoa của tác giả. Tản Đà công khai đắc ý nói về mình:

“Văn đã giàu thay, lại lắm lối

Trời nghe Trời cũng bật cười!”

Để chứng minh cho Trời và các chư tiên thi sĩ đã dẫn ra hàng loạt những tác phẩm đã được in và bán dưới hạ giới. Thi sĩ cũng tự tôn tài năng của mình qua thái độ trầm trồ, thán phục, suýt xoa của các vị chư tiên. Trời khen văn tài thi tài cao cường.

“Trời lại phê cho: “Văn thật tuyệt! Văn trần được thế chắc có ít? Nhời văn truốt đẹp như sao băng! Khí văn hùng mạnh như mây truyển! Êm như gió thoảng! tinh như sương! Đầm như mưa sa! lạnh như tuyết!”

Thi sĩ rất đắc ý và sung sướng tán thưởng lời thẩm định của Trời như một thước đo chính xác cho tài năng của mình. Đó là sự giàu có về nội dung đa dạng về hình thức.

Thi sĩ đã tự nhận mình là trích tiên được trời tin tưởng giao phó nhiệm vị thiên lương được lương thịnh dưới hạ giới. Khẳng định cái ngông, cái tài hoa văn học. Cuộc hầu Trời trong tưởng tượng diễn ra khoảng hai canh giờ nhưng đã để lại nỗi niềm bang khuâng và một khát khao chân thành tha thiết của thi sĩ:

“Một năm ba trăm sáu mươi đêm Sao được mỗi đêm lên hầu Trời!”

Hầu Trời quả là bài thơ hay, độc đáo, có nhiều nét mới về mật thi pháp, rất tiêu biểu cho tính chất “giao thời” trong nghệ thuật thơ Tản Đà. Qua bài thơ, có thể nhận ra được nhiều điều về xu hướng phát triển của thơ Việt Nam trong những nãm hai mươi của thế kỉ XX. Khát vọng sống với văn thơ với những con người yêu và sành thướng văn thơ

Điiếu Văn Của Nhà Thơ Trần Mạnh Hảo Đưa Tiễn Nhà Văn Văn Lê

Kính thưa : bà quả phụ nhà văn, đạo diễn Văn Lê – Ngô Hoa Hỷ và gia đìnhKính thưa bạn bè, đồng đội cũ và mới của Văn Lê có mặt trong tang lễ.

Trong trường ca “Đất nước hình tia chớp”, tôi đã viết : “ Thế hệ chúng tôi đi như gió thổi / Quân phục xanh đồng sắc với chân trời / Chưa kịp yêu một người con gái / Lúc ngã vào lòng đất vẫn con trai”Hàng triệu đồng đội đã hi sinh trong chiến tranh, không về được Sài Gòn trong ngày 30 tháng tư năm 1975 như Văn Lê và Trần Mạnh Hảo.Sau chiến tranh, Thụy và Hảo cùng về thăm quê trong một chuyến. Thụy về Ninh Bình, Hảo về Nam Định. Hai đứa về đến làng thì hầu như các bà mẹ của cả làng đều òa lên khóc : anh Hảo ơi, anh Thụy ơi, con của tôi đâu, sao không thấy đứa nào về, không thấy tin tức gì, hay là các con của chúng tôi đã chết cả rồi. Cả làng khóc, cả làng như có tang khi chúng tôi về làng sau ngày chiến thắng ! Thụy bảo tôi : chiến tranh là thế đấy : viên đạn bắn vào những người lính trẻ mười chín đôi mươi nhưng lại trúng vào tim các bà mẹ.

Hai đứa Thụy và Hảo trước khi chia tay ở nhà ga Ninh Bình bước vào quán phở. Thụy không ăn được, tất cả thìa đều bị đục thủng vì sợ mất. Cầm thìa múc nước phở đưa lên miệng, nước chảy hết, Thụy khóc thương Miền Bắc quá, thương nước mình quá. Ôi, chiến tranh !Năm 1966, học xong trung học, chính ra Thụy, con một cán bộ cao cấp phải đi học đại học ở Liên Xô hay Đức, Thụy lại xung phong đi B, đi vào chỗ chết để tìm sự sống. Rồi Thụy và Hảo được về tạp chí Văn Nghệ quân giải phóng để làm báo, viết văn.

Thụy rút ruột mình ra làm thơ. Trong cuộc thi thơ của báo “Văn Nghệ” năm 1974-1975, Thụy – tức nhà thơ Văn Lê, bằng bài thơ “Tiếng gọi bò” đã được giải nhất, đồng giải với nhà thơ Hữu Thỉnh và nhà thơ Anh Ngọc. Trong tốp mười người làm thơ hay nhất của lứa “các nhà thơ chống Mỹ”, 

Một lần nhà văn Trần Bạch Đằng nói với tôi : “Văn Lê làm phim tài liệu hay lắm, không thua gì Trần Văn Thủy”. Là đạo diễn của nhiều bộ phim tài liệu xuất sắc, Văn Lê đã đóng góp rất lớn cho nền điện ảnh nước nhà mà mới chỉ được phong nghệ sĩ ưu tú, chưa được giải thưởng nhà nước vì sao ?Văn Lê còn là một nhà biên kịch xuất sắc. Trong cuộc thi viết kịch bản mừng kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long do Bộ văn hóa và Hội điện ảnh tổ chức, với kịch bản “ Long Thành cầm giả ca” Văn Lê đoạt giải nhất.Văn Lê, một nhà thơ tài ba, một đạo diễn phim tài liệu xuất sắc, vào loại gạo cội đứng đầu của hãng phim Giải Phóng, một nhà biên kịch giỏi giang và một nhà tiểu thuyết hàng đầu viết về chiến tranh. Hôm qua, trong tang lễ Văn Lê, tôi ngồi bên hàng chục bạn bè là nhà văn, là đạo diễn, nhiều người nói trong sự nghiệp văn học nghệ thuật, Văn Lê thậm chí không thua mà còn có thể hơn Hữu Thỉnh. Sao Hữu Thỉnh được hết giải thưởng nhà nước đến giải thưởng Hồ Chí Minh còn Văn Lê thì không ?Không thể kể hết các giải thưởng văn học và điện ảnh của Văn Lê ra đây được vì nó rất dài. Có lần, sau khi xem một bộ phim tài liệu về chiến tranh của Văn Lê, nhà thơ Chế Lan Viên xúc động hỏi tôi và mấy người ngồi cạnh : sao không đưa Văn Lê vào trung ương để sau này cậu ấy lãnh đạo ngành văn nghệ ? Thưa anh Chế, Văn Lê không phải đảng viên, sao vào trung ương được ?Thực ra, Văn Lê thời trong rừng chống Mỹ, cùng sinh hoạt chi bộ với tôi do nhạc sĩ Xuân Hồng làm bí thư chi bộ. Sau hòa bình, do sự hiểu lầm và cố chấp của tổ chức, Văn Lê phải tự nguyện ra khỏi đảng. Nhưng anh lại xin tái ngũ, sang Căm Phu Chia đánh Pôn Pốt…Thụy từng nói với tôi : mình không dám nhìn lên, cũng không dám nhìn ngang nhìn dọc, vì nếu nhìn lên, mình sụp đổ mất. Thụy bảo : toàn bọn đi buôn cách mạng kiếm lời. Hảo ơi, Thụy chỉ nhìn về phía hàng triệu đồng đội chúng ta ngã xuống trong chiến tranh. Lý tưởng, chân lý cách mạng mà mình tin, mình viết, hình như chỉ còn trong các đồng đội đã hi sinh của chúng ta? Mình mắc nợ hàng triệu đồng đội đã hi sinh trong chiến tranh. Thụy khóc và Thụy viết, chân thành, thiêng liêng những trang viết ròng ròng máu tươi, ròng ròng ký ức nơi tâm hồn Thụy !Thụy không ưa một số nhà văn cơ hội, nhảy lên truyền hình múa mép khua môi vì lý tưởng cộng sản mà thực ra họ không còn tin tưởng, bên trong thì chửi bới mà lúc nào cũng ca ngợi, hoan hô, luồn lách như trạch chạy giải, chạy chức chạy quyền…Văn Lê một nhà văn, một đạo diễn đã phải dựa vào đồng đội hi sinh trong chiến tranh để sống và viết. Người như Văn Lê bây giờ hiếm vô cùng. Anh vẫn viết tiểu thuyết về chiến tranh. Thụy bằng ngòi bút, vẫn truy tìm linh hồn của đồng đội đã hi sinh để đưa họ sống mãi trong các tác phẩm văn học nghệ thuật của mình.Xin vĩnh biệt người bạn thân nhất trong rừng của tôi là Lê Chí Thụy bằng bài thơ :

LÊ CHÍ THỤY – NGƯỜI TRUY TÌM LINH HỒN

Thơ Trần Mạnh Hảo

Sẽ gục ngã nếu không vịn vào những người đã chếtHàng triệu người hiến thân cho xã hội bây giờTruy tìm linh hồn đồng đội hi sinh để đưa vào trang viếtThụy đi rồi, ai dắt họ vào thơ ?

Thụy vừa viết về chiến tranh vừa khócThiêng liêng ơi người có thật trong đời ?Hình như không còn ai tin khi nhà giột nócThụy một mình đi ngược tuổi hai mươi …

Thụy truy tìm linh hồn những người lính trậnDành nhau đi trước để ăn mìnLấy thân mình đỡ đạn cho bè bạnNgã xuống rồi còn trao lại niềm tin…

Chả lẽ niềm thiêng liêng chỉ còn trong cái chếtLinh hồn chiến tranh nâng thân xác hòa bìnhVì sao Thụy vừa khóc vừa viết…Có lẽ nào Tổ Quốc mãi hi sinh…?

Vĩnh biệt Thụy đã về cùng đồng độiVề hái rau rừng về chôn xác anh emNhững trang viết hình như bom vẫn dộiMáu chảy hoài khi mở sách ra xem…

Vĩnh biệt Thụy trời Lộc Ninh nghẹn ứHai chúng ta đi tát cá bẫy cheo rừngAnh Oánh, anh Nam Hà đợi Thụy ngoài quá khứLá đổ vàng như gió khóc rưng rưng…

Vĩnh biệt Hỷ mối tình đầu của ThụyVà các con bố đi trận sẽ vềVịn vào đồng đội hi sinh sẽ không ngã quỵThụy đi rồi, ai dẫn Hảo về quê…

Vĩnh biệt Thụy có các linh hồn chữNhững trang văn còn đẫm máu tinh thầnKhông phải nước mắt đâu chính là ngôn ngữLà những lời Thụy trối lại người thân.,.

Sài Gòn lúc 4 giờ sáng ngày 8-9-2020

Trần Mạnh Hảo.

Nhớ Máu – Trần Mai Ninh – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng

Trần Mai Ninh

Nhớ máu

Ơ cái gió Tuy Hoà… Cái gió chuyên cần Và phóng túng. Gió đi ngang, đi dọc, Gió trẻ lại – lưng chừng Gió nghỉ, Gió cười, Gió reo lên lồng lộng.

Tôi đã thấy lòng tôi dậy Rồi đây Còn mấy bước tới Nha Trang – A, gần lắm! Ta gần máu, Ta gần người, Ta gần quyết liệt.

Ơi hỡi Nha Trang! Cái đô thành vĩ đại Biết bao người niệm đọc tên mi.

Và Khánh Hoà vĩ đại! Mắt ta căng lên Cả mặt Cả người, Cả hồn ta sát tới Nhìn mi! Ta có nhớ Những con người Đã bước vào bất tử! Ơ, những người! Đen như mực, đặc thành keo Tròn một củ Hay những người gầy sát lại Mặt rẹt một đường gươm Lạnh gáy, Lòng bàn tay Khắc ấn chuôi dao găm. Chân bọc sắt, Mắt khoét thủng đêm dày

Túi chứa cả Nha Trang… họ bước Vương Gia Ngại… Cung Giữ Nguyên Chút chít Hoàng Bá San… còn nữa!

Cả một đàn chó ghẻ Sủa lau nhau Và lần lượt theo nhau Chết không ngáp!

Dao găm để gáy, Súng màng tang

Ồng ộc xối đầy đường máu chó. Chúng nó rú. Cả trại giặc kinh hoàng. Quy-lát khua lắc cắc Giày đinh xôn xao Còi và kèn… Cả trại giặc bạt hồn, bạt vía… Chạy lung tung -Sớm mai xét và bắt Thiết giáp cam nhông Rầm rập nối đuôi nhau Và đêm khuya: lại chết Chồn Pháp, chó Việt gian Ằng ặc máu

Mắt ta căng lên Cả mặt Cả người Cả hồn ta sát tới Biết bao người Sống lẩn lút nhưng ngang tàng Bên lưng giặc! Vẫn tổ chức, vẫn tuyên truyền Hoặc giao thông hay liên lạc Rải giấy Treo cờ Hay gồng vai tiếp tế Từ bình minh cho tới trăng tàn Đúc bê tông bên mặt trận Và thì thào cùng du kích đi lên… Cả ngàn chiến sĩ Cả ngàn con bạc, con vàng Của Tổ quốc! Sống…trong đáy âm thầm Mà nắm chắc tối cao vinh dự Quắc mắt nhìn vào thăm thẳm tương lai Vững tin tưởng nơi oai hùng Và chiến thắng Câu Việt Nam: dân tộc!

Cờ đã nâng cao Màu đỏ máu Với sao vàng tung rực rỡ! Mặt hoàn cầu đã họp những tia xanh Trán nhíu lại Chú ý nhìn châu Á phía Đông Nam

Ta quyết thắng! Việt Nam rồi đứng dậy Sáng vô chừng Rất tươi đẹp với Nha Trang và Nam Bộ Phan Thiết, Phan Rang, Đà Lạt Máu chan hòa trên góc cạnh kim cương Các anh hùng tay hạ súng trường Rồi khẽ vuốt mồ hôi và máu Họ cười vang rung lớp lớp tinh cầu!

Kết thúc đêm 9-11-1946 tại Tuy Hoà

Trần mai Ninh và bài thơ “Nhớ máu” – Thanh Thảo

Kết thúc đêm 9/11/1946 tại Tuy Hòa, thời điểm cuối mùa mưa miền Trung, lòng người Việt Nam yêu nước suốt dải đất đòn gánh này chợt rung lên vì một ngọn gió lạ, một ngọn gió đầy phấn khích cuộn lên giữa thời điểm căng như dây đàn trước lệnh Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ơ cái gió Tuy Hòa… Cái gió chuyên cần Và phóng túng. Gió đi ngang, đi dọc, Gió trẻ lại lưng chừng Gió nghĩ, Gió cười, Gió reo lên lồng lộn” Trần Mai Ninh đấy! Và bắt đầu từ ngọn gió dữ dội ấy, thơ Việt hiện đại có thêm một nhà thơ, một bài thơ bất tử: bài Nhớ máu. Hãy đọc lại bài thơ này với niềm đam mê, với tình yêu, và chúng ta sẽ thấy, cái nhịp thơ Nhớ máu ấy chính là nhịp rock, một loại hard rock mà ngay tới bây giờ cũng chưa dễ thưởng thức được trọn vẹn. Thơ bắt đầu từ ngôn ngữ, nhưng trên cả ngôn ngữ, siêu-ngôn-ngữ chính là nhịp thơ, chứ không phải vần thơ. Nhịp thơ đẩy bài thơ vọt lên phía trước, ấn vào vô thức người đọc, khuấy động tận đáy sâu tâm cảm người đọc. Đã nhiều năm tôi đọc Nhớ máu, ở nhiều hoàn cảnh và tâm trạng khác nhau, và sau cùng, cái “ấn” vào tôi sâu nhất vẫn là nhịp (rhythm), cái nhịp kỳ lạ của bài thơ này: “- A, gần lắm! Ta gần máu, Ta gần người, Ta gần quyết liệt. Ơ hỡi, Nha Trang! Cái đô thành vĩ đại” Bạn có nghe nhịp rốc-cứng, metal-rock trong những dòng thơ gằn xuống, thở trào lên, lay giật, xối xả, cuống quít ấy không? Một ca sĩ hard-rock sẽ phải toát đầm đìa mồ hôi khi thể hiện một khúc rock như thế này. Và đó chính là hạnh phúc của Thơ, cái hạnh phúc thường hiếm hoi, kén chọn, quay quắt, cái hạnh phúc không bao giờ cho không bất cứ nhà thơ nào mà không đòi phải trả giá. Trần Mai Ninh đã phải trả giá bằng chính cuộc đời mình cho bài thơ Nhớ máu. Giống như Lorca khi viết bài thơ định mệnh Bi ca cho Ignacio Sanchez Mezias ông đã kêu lên: “Tôi không muốn nhìn thấy máu”, thì đó chính là máu của ông, máu của một nhà thơ Tây Ban Nha vĩ đại. Trần Mai Ninh đã “nhớ máu”, và đó cũng là máu của chính ông, một nhà thơ Việt Nam quyết tử. Không chỉ “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, mà còn quyết tử cho Thơ, cho sự đổi mới toàn diện Thơ: “Mắt ta căng lên Cả mặt Cả người, Cả hồn ta sát tới” Đó là phút giây của xuất thần, của vô thức, của trào dâng, Thơ vọt ra như máu xối – máu của người yêu nước quyết tử, máu của nhà thơ tự do cả thân xác lẫn tâm hồn. “Ơ, những người! – Đen như mực, đặc thành keo – Tròn một củ – Những người gầy sắt lại – Mặt rẹt một đường gươm – Lạnh gáy…”. Họ là những chiến binh của nhân dân, một nhân dân dữ dội, quật khởi, bừng ngộ, xứng đáng với một Tổ quốc mới. Tôi nghĩ, nếu không có những phút xuất thần dâng hiến trọn vẹn ấy nơi mỗi người chiến sĩ, mỗi người lính bình thường, thì chúng ta lấy đâu ra chiến thắng sau cùng? Và không có những bài thơ hy sinh toàn diện cho Thơ như bài Nhớ máu, thì lấy đâu ra thơ Việt hiện đại với những bước đi khó nhọc, khổ nạn nhưng chưa bao giờ chịu lùi: “Dao găm để gáy Súng màng tang Chúng nó rú Cả trại giặc kinh hoàng Quy-lát khua lắc cắc Giầy đinh xôn xao Còi và kèn…” Cứ như bạn đang coi một trường đoạn “hot” (nóng) nhất trong phim hành động! Thơ có thể hóa thân không chỉ vào âm nhạc, hội họa, điêu khắc, mà cả vào điện ảnh nữa! Và những montage dứt điểm trong bài Nhớ máu là những montage mà một đạo diễn điện ảnh mạnh tay nghề có thể thưởng thức sâu sắc. “Quắc mắt nhìn vào thăm thẳm tương lai” Trần Mai Ninh có thể thấy bài thơ của mình ròng ròng nơi “tối cao vinh dự”. Nơi ấy, chắc chắn không phải là một giải thưởng, dù là giải thưởng to đến đâu! Nơi ấy, là hồn dân tộc, là khí huyết bừng bừng của những người yêu nước trung trực, là nơi “Việt Nam rồi đứng dậy – Sáng vô chừng!”.

Kỷ niệm ngày Thương binh-liệt sĩ 27/7 Thanh Thảo

Cập nhật thông tin chi tiết về Tản Văn “Giáng Sinh Đáng Nhớ”: Cây Thông Noel Và Cô Gái Bé Nhỏ trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!