Xu Hướng 2/2024 # Sự Tích Ông Tơ Bà Nguyệt (Nguyệt Lão) # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Sự Tích Ông Tơ Bà Nguyệt (Nguyệt Lão) được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Sự tích ông Tơ bà Nguyệt (Nguyệt lão). Truyện truyền thuyết về hôn nhân, về tình yêu đôi lứa. Nam nữ trong nhân gian sẽ đến lúc gặp nhau, kết duyên vợ chồng cho dù họ có ở bất cứ nơi đâu, địa vị cao thấp thế nào.

Sự tích ông Tơ bà Nguyệt (Nguyệt lão – ông già ngồi dưới trăng) là một truyền thuyết dân gian nói về ông Tơ, bà Nguyệt nhân vật nổi tiếng thời cổ đại Trung Hoa, là thần nắm giữ việc mai mối, hôn nhân, chủ trì nhân duyên của nam nữ chốn trần gian.

Sự tích ông Tơ bà Nguyệt (Nguyệt lão) – Truyện truyền thuyết về hôn nhân

Truyền thuyết dân gian kể lại rằng, vào thời nhà Đường, có chàng nho sĩ tên Vi Cố, học giỏi, thi phú tài danh. Một hôm du học đến Đông Đô, giữa đêm trăng sáng, chàng thơ thẩn dạo chơi bỗng nhìn thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, ngồi nhìn vào quyển sổ to, tay se tơ đỏ. Vi Cố lấy làm lạ đến gần, hỏi:

– Chẳng hay lão trượng ở đâu đến đây mà ngồi một mình giữa đêm khuya canh vắng? Còn sách này là sách chi và tơ đỏ này, cụ se làm gì? Cụ già đáp: Ta là Nguyệt Lão, xem sổ định hôn của dân gian. Còn chỉ ta đương se là duyên của vợ chồng do tơ này buộc lại.

Vi Cố mừng rỡ, xin cụ cho biết duyên của mình. Cụ già mỉm cười nói: Số duyên của nhà ngươi là con bé 3 tuổi của mụ ăn mày, thường ăn xin ở chợ Đông Đô.

Vi Cố nghe, thở dài không nói nên lời. Cụ già biết ý, bảo: Đó là duyên trời định. Già này không thay đổi được. Mà nhà ngươi muốn tránh cũng chẳng xong.

Vi Cố buồn bã, từ giã lủi thủi đi về. Sáng hôm sau, Vi Cố ra chợ Đông Đô, quả thực trông thấy một mụ ăn mày, tay ẵm đứa bé gái 3 tuổi, xin ăn ở góc chợ. Cố bực tức, mướn một gã lưu manh đâm chết được đứa bé kia, sẽ thưởng nhiều tiền. Tên lưu manh vâng lời, cầm dao xông đến, chém một nhát vào đầu đứa bé. Mụ ăn mày hốt hoảng, ôm con chạy.

Tên lưu manh tưởng đứa bé đã chết, sợ người bắt nên bỏ trốn. Mười lăm năm sau, Vi Cố đi thi đỗ Thám Hoa. Vào triều bái yết nhà vua xong, Cố ra lễ quan Tể Tướng họ Chu vốn làm chủ khảo khoa thi, thấy quan tân khoa chưa vợ, quan Tể Tướng liền gả con gái cho. Vi Cố mừng rỡ, bái tạ. Đến khi nhập phòng, Cố nhìn thấy vợ mỹ miều, đẹp đẽ lấy làm hớn hở, vừa ý. Chợt nhìn ở sau ót có một vết thẹo, chàng lấy làm lạ hỏi. Nàng thành thật kể rõ thân thế mình vốn là con của mụ ăn mày, 15 năm về trước bị tên lưu manh ác độc, không biết có thâm thù gì lại chém nàng. May mẹ nàng nhanh chân chạy khỏi, nàng chỉ bị thương sau ót. Mẹ chết, nàng chịu cảnh bơ vơ, may Tể Tướng gặp giữa đường, vì không con nên đem về nuôi xem như máu huyết.

Nghe vợ thuật, Vi Cố thở dài, lẩm bẩm: Thật là duyên trời định!

Vi Cố vô cùng xấu hổ, cho nên càng dùng tâm đối xử thật tốt với vợ mình. Hai vợ chồng họ sống hạnh phúc đến lúc đầu bạc.

Sau này, câu chuyện của Vi Cố được truyền đến Tống thành. Từ đó về sau, câu chuyện về Nguyệt lão dần dần được lưu truyền cho đến ngày nay. Mọi người cũng tin tưởng rằng, nhân duyên giữa nam và nữ là do Nguyệt lão kết thành.

Người ta bắt đầu dựng lập tượng và chùa thờ cúng Nguyệt lão. Các chàng trai và cô gái mong muốn có mối nhân duyên tốt đều đến những ngôi chùa này để cầu phúc, hy vọng Nguyệt lão cho mình một mối nhân duyên tốt đẹp.

Ý nghĩa Sự tích ông Tơ bà Nguyệt (Nguyệt lão)

Sự tích ông Tơ bà Nguyệt (Nguyệt lão) nói về mối nhân duyên vợ chồng. Nam nữ trong nhân gian yêu nhau, đến được với nhau là nhờ nhân duyên cho dù trước đó hai người có là kẻ thù của nhau, dù là ở cách xa nhau vạn dặm.

Vậy nên trong nhân gian còn lan truyền câu ca:

“Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, Vô duyên đối diện bất tương phùng.”

– và những bài học ý nghĩa về tình yêu

– Sự tích Hồ Gươm – truyền thuyết về lịch sử của Hồ Gươm (Hồ Hoàn Kiếm)

– – truyện cổ tích được nhiều em yêu thích về sự thông minh nhanh trí của chú thỏ

Hình Tượng Ông Tơ Bà Nguyệt Trong Văn Hóa Dân Gian

1. Từ trong điển tích, giai thoại Trung Quốc

Việt Nam tự điển, quyển hạ của Lê Văn Đức, trang 254, phần Phụ lục Tục ngữ – Thành ngữ – điển tích ghi: Nguyệt hạ lão nhân, ông già ngồi dưới bóng trăng, tức Ông Tơ, vì tiên se duyên cho người đời.

Lý Phục đời Đường kể trong quyển Tục U Quái Lục – Định Hôn Điếm rằng: Đời nhà Đường (618 – 907) có chàng nho sĩ tên Vi Cố, học giỏi, thi phú tài danh. Một hôm du học đến Đông Đô, giữa đêm trăng sáng, chàng thơ thẩn dạo chơi bỗng nhìn thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, ngồi nhìn vào quyển sổ to, tay se tơ đỏ. Vi Cố lấy làm lạ đến gần, hỏi:

– Chẳng hay lão trượng ở đâu đến đây mà ngồi một mình giữa đêm khuya canh vắng? Còn sách này là sách chi và tơ đỏ này, cụ se làm gì?

Cụ già đáp: Ta là Nguyệt Lão, xem sổ định hôn của dân gian. Còn chỉ ta đương se là duyên của vợ chồng do tơ này buộc lại.

Vi Cố mừng rỡ, xin cụ cho biết duyên của mình. Cụ già mỉm cười nói: Số duyên của nhà ngươi là con bé 3 tuổi của mụ ăn mày, thường ăn xin ở chợ Đông Đô.

Vi Cố nghe, thở dài không nói nên lời. Cụ già biết ý, bảo: Đó là duyên trời định. Già này không thay đổi được. Mà nhà ngươi muốn tránh cũng chẳng xong.

Vi Cố buồn bã, từ giã lủi thủi đi về. Sáng hôm sau, Vi Cố ra chợ Đông Đô, quả thực trông thấy một mụ ăn mày, tay ẵm đứa bé gái 3 tuổi, xin ăn ở góc chợ. Cố bực tức, mướn một gã lưu manh đâm chết được đứa bé kia, sẽ thưởng nhiều tiền. Tên lưu manh vâng lời, cầm dao xông đến, chém một nhát vào đầu đứa bé. Mụ ăn mày hốt hoảng, ôm con chạy.

Tên lưu manh tưởng đứa bé đã chết, sợ người bắt nên bỏ trốn. Mười lăm năm sau, Vi Cố đi thi đỗ Thám Hoa. Vào triều bái yết nhà vua xong, Cố ra lễ quan Tể Tướng họ Chu vốn làm chủ khảo khoa thi, thấy quan tân khoa chưa vợ, quan Tể Tướng liền gả con gái cho. Vi Cố mừng rỡ, bái tạ. Đến khi nhập phòng, Cố nhìn thấy vợ mỹ miều, đẹp đẽ lấy làm hớn hở, vừa ý. Chợt nhìn ở sau ót có một vết thẹo, chàng lấy làm lạ hỏi. Nàng thành thật kể rõ thân thế mình vốn là con của mụ ăn mày, 15 năm về trước bị tên lưu manh ác độc, không biết có thâm thù gì lại chém nàng. May mẹ nàng nhanh chân chạy khỏi, nàng chỉ bị thương sau ót. Mẹ chết, nàng chịu cảnh bơ vơ, may Tể Tướng gặp giữa đường, vì không con nên đem về nuôi xem như máu huyết.

Nghe vợ thuật, Vi Cố thở dài, lẩm bẩm: Thật là duyên trời định!

Một dị bản khác, theo Thần tiên truyện, thời Nguyên Hòa nhà Đường rất thái bình, có quan đại thần Chung Thôi. Quý tử của Chung Thôi là Chung Hạo văn hay chữ tốt. Chung Hạo thường theo cha đi săn bắn. Một hôm, do mãi đuổi theo con thỏ, Chung Hạo lạc vào rừng sâu, quanh co cả ngày không tìm được lối ra. Đêm xuống lạnh giữa rừng hoang, dưới ánh trăng Hạo nghe tiếng suối róc rách, chàng lần đến tìm nước uống. Chàng thấy bên bờ suối, trong hang đá, một bà lão đang ngồi se chỉ, màu chỉ đỏ thắm. Chung Hạo khẽ bước lại gần, thưa:

– Tiểu nhân đi săn, bị lạc đường xin hỏi nơi đây là đâu, sao lão bà lại ngồi một mình se chỉ đỏ?

– Đây là động tiên, ta đang ngồi se duyên cho những đôi tình yêu nhau dưới trần gian. Chỉ này là dây tơ hồng.

Ta se nhiều hay ít thì trai gái cũng theo đó mà thương yêu nhau nhiều hay ít. Ta muốn đôi trai gái nào nên vợ chồng thì ắt chúng sẽ kết duyên, không xa lìa nhau được.

– Vậy thưa lão bà có thể cho tiểu nhân biết sau này sẽ được sánh duyên cùng ai?

Lão bà đưa mắt nhìn vào bên trong động. Ở đó có một ông lão đang cúi gầm trên một cuốn sách dày cộm.

– Kìa là Ông Tơ, công tử muốn biết thì hỏi ông ấy!

Ông lão hỏi tên tuổi Chung Hạo rồi lật từng trang sách ra tra cứu:

– Sau này công tử sẽ được se duyên với Tố Lan, con gái một mụ ăn mày ở chợ Đông, gần kinh thành.

Lão ông chưa dứt lời, Chung Hạo đã đùng đùng nổi giận. Đường đường là một quí tử của quan đại thần, tài nghệ, văn hay chữ tốt khó ai bì kịp mà sau này lại kết duyên cùng vơi con gái mụ ăn mày. Tức tối, chàng quay bước đi, không một lời chào. Ông Tơ vẫn chúi đầu trong sổ bộ, Bà Nguyệt vẫn bình thản se chỉ hồng.

Chung Hạo bỏ chạy thụt mạng. May mắn, sáng sớm mai, quân lính tìm gặp. Trở về dinh, sau ngày đó, chàng đâm ra biếng ăn lười nói. Lời tiên tri của Ông Tơ ám ảnh, Chung Hạo tìm xuống chợ Đông. Vừa đến đầu chợ, đã gặp ngay một đứa bé gái chừng 9 tuổi mặt mày lem luốc, áo quần rách bươm, dắt theo một bà ăn xin mù lòa. Dò hỏi thì biết được tên của con bé là Tố Lan, Chung Hạo thất kinh, bỏ chạy. Trở về nhà, Hạo quyết cải mệnh trời để không phải làm chồng một con bé ăn mày bẩn thỉu.

Một buổi sáng Chung Hạo lại tìm xuống chợ, ném đã vỡ đầu cô bé ăn xin nọ. Thời gian sau, mọi người cho biết con bé bị thương tích quá nặng, e không sống được; và bà lão mù đi đâu cũng không ai rõ.

Bảy năm sau, Chung Hạo đã nên danh phận. Nghe tin thiên hạ bàn tán ở huyện Trúc Giang có con gái quan Thái úy nổi danh là một giai nhân sắc nước hương trời, tên là Thảo Nương. Vương Tôn công tử gần xa, ngày đêm đến cầu thân, nhưng chưa ai được kén chọn. Chung Hạo tìm đến, thuê một phòng trọ trước phủ đường. Mới một lần tình cờ nhìn thấy Thảo Nương, Chung Hạo xao động. Chàng vội quay trở về nhà, xin phụ thân tính đường mai mối. Hai gia đình là môn đăng hộ đối, nên việc kết hôn sớm viên thành. Đôi uyên ương nên vợ chồng yêu nhau thắm thiết.

Một hôm, Chung Hạo âu yếm gội đầu cho Thảo Nương. Thấy vợ mình có một cái thẹo lớn đàng sau gáy, chàng hỏi nguyên nhân. Và nàng kể:

– Nguyên, thiếp là con một bà ăn mày mù ở chợ Đông. Lúc nhỏ, một hôm đang dắt mẹ đi ăn xin, không hiểu sao lại có một kẻ xấu cầm đá ném vào đầu. thiếp, thương tích nặng, tưởng đã lìa đời, may nhờ bà con tận tình cứu chữa. Sau đó, được quan Thái úy có lòng từ tâm, lại hiếm muộn , nên đem hai mẹ con thiếp về nuôi dưỡng. Thiếp được nghĩa phụ dạy dỗ, cho ăn học. Mẹ thiếp qua đời. Thiếp được giúp việc bút nghiên cho nghĩa phụ nơi công đường, đã rất nhiều đám đến dạm hỏi, nhưng đều bị từ chối. Lạ thay, bên nhà chàng vừa ngỏ, thì dưỡng phụ bằng lòng ngay. Chúng ta đẹp duyên ngày nay chắc là có nợ có duyên, …

– Không, Thảo Nương nàng ơi, nếu là định mệnh thì nàng phải là …Tố Lan.

Tố Lan là tên của thiếp lúc còn bé. Sau khi được đưa về dinh, nghĩa phụ đã đổi tên này. Bấy giờ, Hạo mới biết Ông Tơ đã se duyên thì không thể khác được, chàng nhìn Tố Lan và khẽ ngâm:

Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ

Vô duyên đối diện bất tương phùng

Nguyên thuỷ, cuộc hôn lễ nào cũng có nghi thức cột chỉ đỏ, nhưng đến đời Tống lại biến thành đội khăn đỏ. Trong hôn lễ, cặp dâu rễ đội chung chiếc khăn đỏ đi vào phòng tân hôn. Tập tục này hàm ý nói: Đồng tâm tương kết, bạch thủ giai lão (đồng tâm kết hợp nhau, đến lúc già đầu bạc). Hiện nay, ở một vài địa phương ở Trung Quốc vẫn còn duy trì tập tục này.

Tương truyền, ngày rằm tháng tám âm lịch là ngày sinh nhật của Nguyệt Hạ Lão Nhân. Vào ngày ấy, có rất nhiều trai đơn gái chiếc đến Miếu Thờ của Nguyệt Lão để cầu cho được mối lương duyên. Cũng có rất nhiều người được thỏa nguyện nên mang “bánh mừng”, “đường mừng” đến cúng tế, trả lễ.

Từ hình tượng Ông già dưới trăng có thành ngữ Nguyệt Hạ Lão Nhân, còn Nguyệt Lão, là cách nói tắt của thành ngữ này. Và những chữ: Tơ hồng, Chỉ hồng để chỉ việc nhân duyên vợ chồng. Những chữ Ông Tơ, Nguyệt Lão, Trăng già, … cũng do điển này mà ra.

2. Đến Ông Tơ Bà Nguyệt văn hoá dân gian

Trong các nghi thức đám cưới của người Việt xưa đều có nghi lễ tế Tơ Hồng còn gọi tế thần Tình duyên. Nguyệt lão là vị thần Tình duyên theo tích Vi Cố đời Đường (Trung Quốc) mà chúng tôi đã kể trên. Theo đúng ý nghĩa tục lệ thì tế thần Tình duyên phải tổ chức tại phòng hoa chúc vào tối tân hôn. Về sau người ta bày ra tục lệ tế thần Tình duyên tại sân nhà. Nhất Thanh trong Đất lề quê thói viết: Khi xưa tế Tơ Hồng ngay lúc sau khi đưa dâu về đến nhà, trước khi yết lễ tổ họ, lễ yết gia tiên và chào mừng ông bà cha mẹ họ hàng, ý rằng khi cô gái bước chân về đến nhà người ta là nên vợ chồng, lương duyên do ông Tơ chấp mối se lại, điều trước tiên là nghĩ đến công đức của Ông, tế lễ để ông chứng kiến việc hôn phối đã thành đồng thời tạ ơn Ông.

Sau đó, đôi trai gái vào lạy 4 lạy, 3 xá, rồi chồng lấy rượu mời vợ. Vợ bưng rượu mời chồng. Uống xong, cả hai lấy hai cái chén úp lại, gọi là giao bôi hợp cẩn.

2.2. Ông Tơ Bà Nguyệt trong triết lý âm dương

Trong công trình “Tìm về bản sắc vắn hoá Việt Nam”, Trần Ngọc Thêm cho rằng: Ở Việt Nam mọi thứ thường đi đôi theo nguyên tắc âm dương hài hoá Ông đồng bà cốt, đồng Cô đồng Cậu, đồng Đức Ông, đồng Đức Bà (…), ngay cả khái niệm vay mượn đơn độc, khi nhập vào Việt Nam cũng được nhân đôi thành cặp: ở Trung Hoa, thần mai mối là một “ông Tơ Hồng”, thì vào Việt Nam biến thành “Ông Tơ Bà Nguyệt” (trang 112).

2.3. Hình tượng Ông Tơ Bà Nguyệt trong ca dao

Lẽ tất nhiên, là hình tượng Ông Tơ Bà Nguyệt, Nguyệt Lão, Tơ Hồng gắn liền với tình yêu, hôn nhân và nỗi lòng khát khao giao hoà của tuổi trẻ. Nó biểu hiện đầy đủ những cung bậc tình yêu.

Mới quen nhau, ướm lời, hỏi thử để giao tình, họ mượn hình tượng Ông Tơ Bà Nguyệt “nói chuyện đò đưa”:

Ông Tơ đành vấn Bà Nguyệt đành vương

Phụ mẫu đành gả, hỏi nàng thương không nàng?

Cô gái đáp lại cũng không kém phần sắc sảo:

Vì Ông Tơ Nguyệt đã khuyên lấy chàng

Từ đó, chàng trai chủ động hơn:

Nhờ Ông Tơ Bà Nguyệt kết vợ chồng trăm năm

Hay pha đôi chút hài hước, lém lĩnh, bịa mà như thật:

Ông Tơ Hồng nói nhỏ anh nghe

Để xong mùa cấy ổng sẽ se cho hai đứa mình

Phần cô gái thì mộng cho đến ngày nào đó có được “nửa kia” như tâm nguyện, rồi sinh con đẻ cái, nối dõi tông đường cho tròn bổn phận:

Hai là ông Bát, ông Đô cũng vừa

Giả tên Bà Nguyệt, Ông Tơ

Sớm đi cầu Thước, tối mơ mộng Hùng

Theo quan niệm dân gian, hôn nhân tốt đẹp không thể thiếu được bàn tay se dây của Nguyệt Lão:

Sớm cùng phận đẹp duyên ưa

Ông Tơ Bà Nguyệt dắt đưa nên gần

Nó đã như duyên số từ kiếp trước, giống như tích đẹp thuở nào:

Thương sao thấy mặt thương liền

Cũng như Ông Tơ Bà Nguyệt nối duyên mình thuở xưa

Yêu nhau, ai chẳng muốn mãi mãi ở bên nhau:

Ông Tơ chỉ quyết se mình với ta

Cũng có khi dân gian dí dỏm chuyện “vái van”. Nhưng điều quan trọng nhất theo họ là mong muốn “tơ duyên” được bền chặt trong bất cứ cảnh ngộ khó khăn nào, thế thôi:

Vái Ông Tơ một chầu bánh tráng

Vái Bà Nguyệt một tán đường đinh

Đôi ta gá nghĩa chung tình

Dầu ăn cơm quán ngủ đình cũng ưng

Trong tình yêu lứa đôi, lời thề nguyền chung thuỷ là một cung bậc đầy thú vị và dường như không thể thiếu. Ngoài lời minh sơn hải thệ, hình tượng Ông Tơ Bà Nguyệt nhiều lúc cũng phải “có mặt” để chứng giám:

Lời nguyền chứng cớ có Ông Tơ Hồng

Thác thời mới dứt, sống không bỏ chàng

Ai nói chi chàng chớ có nghe

Ông Tơ Bà Nguyệt đã se ta rồi

Đến chừng dang dỡ, có trăm nghìn lý do khiến duyên nợ không thành, khi ấy, Ông Tơ, Bà Nguyệt phải chịu một phần trách nhiệm.

Có khi do tình cảm chủ quan của người trong cuộc:

Kìa khóm trúc nọ khóm mai

Ông Tơ Bà Nguyệt se hoài chẳng thương

Em không trách ông Tơ không phiền Bà Nguyệt

Trách phận mình sao thiệt long đong

Có khi do Ông Tơ chậm tay để lỗi … thời gian:

Lênh đênh bèo nổi mây trôi một thì

Ba năm chẳng xứng duyên hài

Nằm lăn xuống bệ lạy dài Ông Tơ

+ Trách Ông Tơ cùng Bà Nguyệt Lão

Se dây vào lại đảo dây ra

+ Vợ chồng cũng muốn vợ chồng đời

Trách Ông Tơ Bà Nguyệt se rời mối dây

+ Trách Ông Tơ ra tay hờ hững

Lúc se dây sao chẳng lựa ngày

Trước sao se mối tơ này làm chi

Cùng cấp độ ấy, nguyên nhân để hai người yêu nhau không được sống trọn đời bên nhau là bởi … Ông Tơ “lừa lọc”:

Ông Tơ Bà Nguyệt khéo lừa đôi ta

Người trong cuộc tìm gọi Ông Tơ để chất vấn:

Phải gặp Ông Tơ hỏi sơ cho biết

Gặp Bà Nguyệt gạn thiệt cho rành

Nợ duyên sớm hết cho đành dạ con

Tình nồng, nhưng duyên không thắm, đành phải hỏi Trời cao, hỏi mà như tự trả lời vậy:

Bực mình lên tận thiên cung

Đem Ông Nguyệt Lão xuống hỏi thăm vài lời

Nỡ lòng trêu ghẹo chi tôi,

Lênh đênh bèo nổi mây trôi một thì

Trong cuộc sống, không phải việc gì cũng như ý, nói chi là chuyện hoà hợp giữa hai tâm hồn. Chúng ta hãy nghe lời tự than, tự trách, trách mình nhiều, nhưng cũng trách cả tình cảnh éo le, chẳng được ai đoái hoài, thương cảm:

Lên cậy Ông Tơ, Ông Tơ bận cuốc đất đào đá;

Về nhờ Bà Nguyệt, Bà Nguyệt mắc chiếc má (mạ) cấy ruộng bến đình;

Không có ai vô se dây chắp mối cho hai đứa mình thành đôi

Gặp cảnh đồng sàng dị mộng, trái nợ, lỡ duyên, không biết trách ai, thôi thì … trách người se duyên:

Rồi đây ta trách kiện Ông Tơ

Nơi thương không vấn, vấn vơ nơi nào.

Ông Tơ chết tiệt, Bà Nguyệt chết toi

Se sao lẫn lộn, se tôi lấy nàng

Uất ức, đau đớn, không còn “lạy van”, “trách móc” nữa, người trong cuộc đã ra tay:

Muốn chôn Bà Nguyệt, muốn vùi Ông Tơ

Giận người làm mối vẩn vơ

Duyên tôi đã lỗi Ông Tơ lại lầm

Bắt tay Ông Tơ mà bơ mà bớp.

Bắt lấy Bà Nguyệt mà cột cội cau;

Cứ se khắp thiên hạ đâu đâu,

Bỏ hai đứa mình lận đận, ruột héo gan xàu không se.

Quá đau đơn, quyết phải hành động:

Bắt Ông Tơ mà đánh ba hèo,

Duyên người se cả, phận em đói nghèo không se.

Lí do bị “đánh ba hèo” là vì Ông Tơ không chịu se duyên cho cô gái đói nghèo. Trong lúc những người khác (không đói nghèo như cô ta), thì ông se rất tốt.

Nguyên nhân đánh Ông Tơ vì se duyên muộn hoặc không se mà chưa rõ vì đâu, xem ra không hợp lí bằng thái độ coi khinh người nghèo đói trong xã hội vốn chuộng cảnh “môn đăng hộ đối” trong hôn nhân. Đó là điều người thấp cổ bé miệng muốn thốt lên để … liệu trời cao có thấu chăng?

Bắt Ông Tơ mà cho ba đấm,

Bắt Bà Nguyệt đánh bốn mươi chín cái hèo;

Sự “trừng phạt” dành cho “Nguyệt lão” cũng được biện luận đầy đủ, song dường như đối tượng hướng đến không phải chỉ một mình người làm mối mai, mà nó hướng đến nhiều người khác nữa:

Hỏi thăm Bà Nguyệt có nhà hay không

Thế gian chuộng của, chuộng công,

Nào ai có chuộng người không bao giờ

Ông Tơ ông buộc ông Trời biểu không

Những câu ca vừa nêu là cảnh ngộ của phận “gái nhà nghèo”, thì đây là cảnh ngộ của một chàng trai độc thân, cũng chẳng phải giàu sang, quyền quý, Ông Tơ Bà Nguyệt bị đem ra hài tội :

Bắt Ông Tơ đánh sơ vài chục,

Bắt Bà Nguyệt nếm mấy mươi hèo.

Người ta năm bảy vợ theo,

Còn tôi đơn chiếc như mèo cụt đuôi!

Nguyền rửa để hả dạ hả lòng, duyên phận lỡ làng, biết làm sao hơn được!

Ông Tơ chết tiệt Bà Nguyệt chết trùng tang

Ông thầy bói chết giữa đàng

Anh với em cách xã lạ làng

Muốn trao nhân nghĩa ngỡ ngàng khó trao

Tại cha mẹ đứt đường Tơ Nguyệt

Khuyên em đừng trực tiết uống công

Cuối cùng, họ phủ nhận luôn vai trò của “thần Tình yêu”:

Trăm năm trăm tuổi trăm chồng

Đẹp duyên thì lấy chẳng ông Tơ Hồng nào se!

Ông Tơ Bà Nguyệt là một hình tượng độc đáo trong tín ngưỡng của người bình dân. Từ trong điển tích của văn học cổ điển Trung Quốc, hình tượng ấy đã đi vào đời sống tâm hồn của người dân Việt vừa trở nên gần gũi thân thiết qua những vần ca dao với tất cả những cấp độ của tình yêu lứa đôi, vừa trở thành một phong tục truyền từ đời này sang đời khác.

Dù là thần tiên (hay người bậc trên) mà làm việc chung không công bằng, phân biệt đối xử thì cũng bị hình phạt, dù đó chỉ là lời nói của người dân lao động nhưng xem ra không phải là không “sức nặng”, không có giá trị.

Từ Nguyệt Lão Hạ Nhân đến thành ngữ Ông Tơ Bà Nguyệt, vừa là sự sáng tạo trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, độc đáo hơn nó còn gắn liền với một tín ngưỡng: triết lý âm dương hoà hợp mà chúng tôi đã dẫn ý ở trên. Vì thế, khi tiếp nhận hình tưởng này tưởng cũng không nên máy móc, cực đoan, … có thể mới thấy được hết cái hay, cái đẹp của những người gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, vậy!.

Theo http://www.vanchuongviet.org/

Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ – Trương Nhược Hư

  Xuân giang hoa nguyệt dạ là bài thơ trữ tình nổi tiếng trong lịch sử văn học Trung Quốc. Nhà nghiên cứu văn học đời Thanh Vương Khải Vận khen bài thơ này là “chỉ một thiên tuyệt diệu, đủ xứng đáng là đại gia” (cô thiên hoành tuyệt, cánh vi đại gia); nhà thơ hiện đại Văn Nhất Đa thì ca ngợi rằng bài thơ này là “thơ trong thơ, đỉnh núi trên các đỉnh núi” (thi trung đích thi, đỉnh phong thượng đích đỉnh phong). Theo lời Lưu Kế Tài thì đối với người Nhật Bản hiện đại, hai bài thơ Đường được hâm mộ nhất là Xuân giang hoa nguyệt dạ của Trương Nhược Hư và Trường hận ca của Bạch Cư Dị.

Bài thơ thể hiện nỗi nhớ của người du tử đối với người khuê phụ. Tựa đề có nghĩa là “Đêm hoa trăng trên sông xuân” nhưng cũng là tên một khúc nhạc phủ thuộc Thanh thương ca khúc, khúc điệu được sáng tác vào đời Trần Hậu Chủ, do đó tựa đề cũng có thể không cần dịch nghĩa. (Trích Thi Viện).

Xuân giang hoa nguyệt dạ

Xuân giang triều thuỷ liên hải bình Hải thượng minh nguyệt cộng triều sinh Diễm diễm tuỳ ba thiên vạn lý Hà xứ xuân giang vô nguyệt minh

Giang lưu uyển chuyển nhiễu phương điện Nguyệt chiếu hoa lâm giai tự tiển Không lý lưu sương bất giác phi Đinh thượng bạch sa khan bất kiến

Giang thiên nhất sắc vô tiêm trần Hạo hạo không trung cô nguyệt luân Giang bạn hà nhân sơ kiến nguyệt Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân

Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ Giang nguyệt niên niên chỉ tương tự Bất tri giang nguyệt đãi hà nhân Đãn kiến trường giang tống lưu thuỷ

Bạch vân nhất phiến khứ du du Thanh phong phố thượng bất thăng sầu Thuỳ gia kim dạ thiên chu tử Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu

Khả liên lâu thượng nguyệt bồi hồi Ưng chiếu ly nhân trang kính đài Ngọc hộ liêm trung quyển bất khứ Đảo y châm thượng phất hoàn lai

Thử thời tương vọng bất tương văn Nguyện trục nguyệt hoa lưu chiếu quân Hồng nhạn trường phi quang bất độ Ngư long tiềm dược thuỷ thành văn

Tạc dạ nhàn đàm mộng lạc hoa Khả liên xuân bán bất hoàn gia Giang thuỷ lưu xuân khứ dục tận Giang đàm lạc nguyệt phục tây tà

Tà nguyệt trầm trầm tàng hải vụ Kiệt Thạch, Tiêu Tương vô hạn lộ Bất tri thừa nguyệt kỷ nhân quy Lạc nguyệt dao tình mãn giang thụ

(Truong Nhược Hư)

  Sông xuân đêm hoa trăng

Sông xuân nước triều nối biển bằng Trên biển trăng sáng cùng triều dâng Lấp loáng sóng xô ngàn vạn dặm Sông xuân nơi nào chẳng sáng trăng

Quanh co sông vòng cồn cỏ hương Trăng chiếu rừng hoa tựa tuyết vương Sương trôi thấp thấp không bay bổng Cát trắng bờ sông chẳng tỏ tường

Trời sông một màu chẳng mảy may Trên không trăng sáng trơ trọi quay Buổi đầu thấy trăng ai thế nhỉ Người đầu trăng chiếu năm nào hay

Người sinh đời đời chẳng hề ngơi Trăng sông năm tháng chẳng đổi dời Trăng sông đợi ai làm sao biết Chỉ thấy sông dài đưa nước trôi

Mây trắng một dải về xa xôi Phong xanh trên bến buồn chẳng nguôi Ai đó đêm nay dong thuyền nhỏ Lầu trăng đâu nhớ mãi không thôi

Thương thay trên lầu trăng bồi hồi Vẫn chiếu đài gương kẻ chia phôi Nhà ngọc cuốn mành trăng chẳng bỏ Đá giặt lau xong lên lại rồi *

Giờ này trông nhau chẳng nghe nhau Nguyện theo ánh trăng chiếu sáng nhau Nhạn hồng bay dài chẳng mang sáng Cá rồng nhảy chỉ sóng bạc đầu

Đêm qua bờ vắng mơ rụng hoa Thương thay nửa xuân chẳng về nhà Nước sông đưa xuân đi sắp hết Bờ tây trăng về lặn xế tà

Trăng xế dần chìm sương biển rộng Sông Tiêu núi Thạch đường chẳng cùng Nhờ trăng chẳng biết ai về nhỉ Trăng lặn rung tình cây đầy sông

(TĐH dịch Jan. 26, 2024 Stafford, VA, USA)

Chú thích: (*) Đá giặt: Ngày xưa người ta giặt áo quần trên một phiến đá. Đây ý nói đã giặt xong và vừa lau sạch đá giặt, thì bóng trăng lại hiện lên trên đá giặt ngay, chẳng đi đâu cả.

Share this:

Facebook

Email

Thêm

In

Twitter

Reddit

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Nguyệt Hạ Độc Chước (Dưới Trăng Uống Rượu Một Mình)

Lý-Bạch “Dưới Trăng Uống Rượu Một Mình”                                                                                               

Thi-Tiên Lý-Bạch (李白) là Nhà Thơ nổi-tiếng ở Trung-Hoa, thời thịnh Đường (Lý-Long-Cơ 618-907).

I. Vài Hàng Tiểu-Sử:

Lý-Bạch sinh năm 701, tự Thái-Bạch, hiệu Thanh-Liên cư-sĩ, sinh tại Lũng-Tây, huyện Thiên-Thủy. Ông nổi-tiếng uống rượu, làm thơ và yêu trăng. Ông mất năm 762.

Lý-Bạch đã sáng-tác hơn 20.000 bài thơ, nhưng ông không giữ bài nào. Thơ của ông được biết tới là nhờ dân-gian truyền-tụng. Đến khi ông mất (762), người ta mới gom-góp lại được 1.800 bài, nhưng đến nay chỉ còn khoảng một ngàn bài.

Lý-Bạch sáng-tác về mọi đề-tài. Thơ của ông nhẹ-nhàng, phóng-khoáng, tự-nhiên, không bàn đến thế-sự, lại lãng-mạn và ít dùng điển-tích như các nhà thơ Trung-Hoa khác.

II. Bài Thơ “Nguyệt Hạ Độc Chước”:

 1. Hán:

月下 獨 酌

花間一壺酒 獨酌無相親 舉杯邀明月 對影成三伔 月既不解飲  影徒隨我身 暫伴月將影  行樂須及春 我歌月徘徊 我舞影零亂 醒時同交歡  醉後各分散永結無情遊  相期邈雲漢

       2. Hán-Việt:

Nguyệt Hạ Độc Chước

Hoa gian nhất hồ tửu,Độc chước vô tương thân.Cử bôi yêu minh nguyệt,Đối ảnh thành tam nhân.Nguyệt ký bất giải ẩm,Ảnh đồ tùy ngã thân.Tạm bạn nguyệt tương ảnh,Hành lạc tu cập xuân.Ngã ca nguyệt bồi hồi;Ngã vũ ảnh linh loạn.Tỉnh thì đồng giao hoan,Túy hậu các phân tán.Vĩnh kết vô tình du,Tương kỳ diểu Vân Hán.

3. Bản-dịch:

Dưới Trăng Uống Rượu Một Mình

Rượu ngon ta uống một mìnhBên hoa, trăng sáng lung-linh ánh vàngTrăng ơi, trăng uống đi trăngVới ta, trăng, bóng là thành bộ baTrăng không biết uống trăng-tàSao bóng luẩn-quẩn bên ta thế nàyTrăng theo bóng ngả về đâyChơi xuân cho kịp những ngày có xuânTa ca, trăng cũng tần-ngầnTa múa, bóng cũng thêm phần lung-linhKhi tỉnh, cùng thắm-thiết tìnhKhi say, phân-tán muôn hình muôn nơiBiết nhau trên đoạn đường đờiGặp nhau Vân-Hán cho vơi nỗi-buồn.

Hà Việt Hùng

Rượu, trăng và thơ là những người bạn tri-kỷ thân-thiết nhất của Lý-Bạch. Có một đêm Lý-Bạch say rượu ở sông Thái-Trạch, huyện Đang-Đồ, ông chèo thuyền ra giữa sông. Ông nhìn thấy trăng ở dưới đáy sông, nhẩy xuống với ý-định vớt trăng lên, nhưng bị chết đuối. Từ nơi đó, người ta xây một cái đài để tưởng-niệm ông, gọi là Tróc Nguyệt Đài, có nghĩa là đài bắt trăng. Chuyện ông chết đuối có phần tưởng-tượng thêm, nhưng điều đó càng làm thơ ông hay hơn.

III. Tham-Khảo:

– Các websites liên-quan.– Wikipedia.

Hà-Việt-HùngViết xong 12/2013

Sự Tích Ông Công Ông Táo

Ngày xưa, có hai vợ chồng son nhà nghèo sinh nhai bằng nghề làm thuê làm mướn.

Tuy nghèo nhưng họ rất yêu nhau. Thường buổi tối sau khi đi làm về, hai Vợ chồng ngồi bên bếp lửa hay dưới ánh trăng kể cho nhau những chuyện xa gần mới nghe được, hay hát những câu tình duyên, có khi vui vẻ quên cả cơm nước.

Một năm trời làm mất mùa, hạt gạo kiếm rất khó khăn. Tình trạng đói kém diễn ra khắp mọi miền. Hai Vợ chồng theo lệ cũ đi tìm việc ở các nhà giàu nhưng chả mấy ai thuê nữa. Người vay công lĩnh nợ thì đông mà gạo rất khan hiếm nên khó chen vào lọt. Hơn nữa, cổng mấy lão trọc phú lại thường đóng chặt vì chúng không muốn cho ai quấy nhiễu.

Túng thế hai Vợ chồng phải đi mò cua bắt ốc, hoặc đào củ, hái rau về ăn. Tuy có đỡ phần nào nhưng tình cảnh vẫn không mảy may sáng sủa. Cái chết luôn luôn đe dọa họ vì trận đói còn kéo dài. Một buổi chiều, sau khi húp vội mấy bát canh rau má, chồng bảo vợ:

– Tôi phải đi một nơi khác kiếm ăn, không thể ở nhà được.

Nghe chồng nói, người đàn bà đòi đi theo để sống chết có nhau. Nhưng người chồng bảo:

– Tôi chưa biết sẽ đi đến đâu và sẽ phải làm những gì. Nàng ở nhà dễ sống hơn tôi, không nên theo làm gì cho vất vả. Chưa biết chừng tôi sẽ nằm lại dọc đường để cho loài chim đến than khóc. Nhưng cũng chưa biết chừng tôi lại mang những quan tiền tốt bó mo về đây nuôi nàng cũng nên! Chao ôi! Số mệnh! Nàng hãy chờ tôi trong ba năm, nghe! Hết ba năm không thấy tôi trở về ấy là tôi đã bỏ xác quê người. Nàng cứ việc đi lấy chồng khác.

Người vợ khóc lóc thảm thiết như đứng trước cảnh tang tóc thực sự. Nhưng không biết làm thế nào cả, nàng đành phải để chồng ra đi.

Sau khi tiễn chồng, người đàn bà kiếm được việc làm ở một nhà kia. Nhà họ không giàu gì nhưng thương cảnh ngộ nàng, có ý giúp đỡ cho qua những ngày thảm đạm. ở đây, người đàn bà kiếm mỗi ngày hai bữa, trong đó có một bữa cháo bữa khoai. Nhờ lanh lẹn và xinh xắn nên nàng lấy được cảm tình của chủ. Nhưng hình dáng người chồng thân yêu không bao giờ phai nhạt trong tâm trí nàng.

Thời gian trôi nhanh như nước chảy. Người ta đã bớt nhắc đến trận đói khốc liệt vừa qua. Nàng thì ngày ngày hồi hộp chờ đợi chồng. Nhưng cây bưởi trước sân đã ba lần trổ hoa mà chồng nàng vẫn không thấy tăm dạng.

Giữa lúc ấy người chủ đã từng bao bọc nàng trong lúc đói, vừa chết vợ. Sẵn có tình cảm với nàng, người ấy ngỏ ý muốn được nối duyên cùng nàng. Nhưng người ấy đâu có hiểu được lòng của người thiếu phụ. Câu trả lời của nàng là:

– Chồng tôi hẹn tôi trong ba năm sẽ về. Đến bây giờ tôi mới tin là chồng tôi đã chết. Vậy cho tôi để tang chồng trong ba năm cho trọn đạo.

Ba năm nữa lại trôi qua một cách chóng vánh. Không tin tức cũng chẳng có một lời đồn về người chồng. Hàng ngày, những buổi chiều tà, nàng vẫn đăm đăm nhìn bóng người đi lại trên con đường cái quan. Và rồi nàng khóc cạn cả nước mắt. Người đàn ông kia giục nàng quyết định:

– Một là chồng nàng đã chết, hai là còn sống nhưng đã lập gia đình khác ở một nơi xa xôi hẻo lánh. Đằng nào nàng cũng khó mong tái hợp. Âu là cùng tôi lập một gia đình mới. Sức của tôi và của của tôi đủ bảo đảm cho nàng sung sướng trọn đời.

Nàng sửa lại vành khăn trắng đã ngả màu, cảm ơn hậu tình của anh ta và xin rốn chờ cho một năm nữa. Một năm nữa lại trôi qua không mang lại một tin tức gì mới mẻ. Lần này nàng mới tin là chồng mình chết thật. Sau một bữa rượu cúng chồng và đãi họ hàng làng xóm, nàng đến ở cùng người chồng mới.

* * *

Đột nhiên sau đó ba tháng, người chồng cũ xách khăn gói trở về quê hương. Chàng không có vẻ gì khấm khá hơn trước. Chàng chỉ ôm một hy vọng là được gặp lại người vợ yêu. Nhưng vườn cũ nay đã thuộc về chủ mới. Chàng lẩm bẩm: – “Thế là hết. Bởi số cả!”.

Việc người đàn ông đột ngột trở về làm cho mọi người ngơ ngác. Nhất là đôi Vợ chồng mới cưới không còn biết ăn nói làm sao bây giờ. Người đàn bà xấu hổ không dám gặp mặt. Nhưng người chồng cũ đã tìm đến họ và an ủi họ.

– Tôi đi vắng lâu quá. Cái đó hoàn toàn là lỗi ở tôi. Nàng xử sự như thế rất đúng. Tôi chỉ cần về gặp nàng một chút. Thế là đủ. Bây giờ tôi sẽ đi khỏi nơi này mãi mãi.

Mặc dầu người vợ nài nỉ hết sức, mặc dầu người chồng mới xin trả lại vợ, nhưng chàng nhất quyết dứt áo ra đi. Chàng không nỡ phá hạnh phúc của họ. Mà chàng cũng không có gan đi đâu xa vì không thể quên được vợ cũ. Băn khoăn dằn vặt hành hạ tâm trí chàng. Đầu óc rối như mớ bòng bong. Chàng nghĩ đến cái chết và trong một lúc cuồng loạn, chàng tự treo cổ lên cây đa đầu làng.

Cái chết kinh khủng đó như một tiếng sét nổ vào đầu người đàn bà. Nàng cảm thấy chính mình là thủ phạm gây ra cái chết của người chồng cũ. Tại sao ta chờ chồng được bảy năm trời mà không ráng chờ thêm ít lâu nữa? Tại sao thấy chồng trở về, ta không dám giáp mặt? Nàng không tự chủ được nữa. Tất cả những câu hỏi như lên án một cách âm thầm nhưng kịch liệt trong đầu óc nàng.

Thế rồi buổi sáng hôm sau, trong khi người ta sắp sửa cất đám người đàn ông bạc mệnh thì người ta lại hoảng hốt kéo nhau đi vớt tử thi người đàn bà dưới cái ao bên cạnh nhà.

Người chồng mới sau khi làm ma cho vợ, trở nên như người mất trí. Hai cái chết đánh mạnh vào đầu óc mọi người, riêng đối với chàng chưa bao giờ có một sự xúc động dữ dội đến như thế. Chàng luôn miệng kêu to: – “Tại sao ta cố ý cướp vợ của người khác!”. Rồi một hôm, sau khi đem hết gia sản chia cho họ hàng và cúng vào chùa, chàng uống thuốc độc tự tử.

Lúc xuống đến thế giới bên kia, cả ba người đều được đưa tới trước tòa án của Diêm vương để định công luận tội. Tất cả mọi người một khi đã đến đây đều phải khai rõ sự thật.

Theo lời khai của người chồng cũ thì chàng không thể nào xa lìa vợ cũ. Chàng sở dĩ chết ở làng là chỉ mong luôn luôn được gần gũi nàng. Người chồng mới cũng khai rằng chàng có cảm tình rất sâu xa đối với người vợ mới mặc dầu mới chính thức lấy nhau chỉ có ba tháng. Khi Diêm vương hỏi tình của chàng đối với người vợ cũ như thế nào thì chàng giơ ngón tay so sánh rằng một bên mười, một bên chưa được một. Đến lượt người đàn bà thì nàng thú thật rằng cái tình của nàng đối với chồng cũ choán một chỗ rộng rãi trong lòng mình, đồng thời đối với người chồng mới, nàng cũng không thể nào quên được tình cảm nồng nhiệt của chàng.

Diêm vương ngồi nghe rất cảm động. Những người như thế này cũng thật hiếm có. Cần phải làm cho bộ ba ấy sống gần nhau mãi mãi. Sau một hồi lâu suy nghĩ, Diêm vương cho ba người hóa thành ba ông đầu rau để cho họ khỏi lìa nhau và để cho ngọn lửa luôn luôn đốt nóng tình yêu của họ. Đồng thời, vua còn phong cho họ chức Táo quân trông nom từng bếp một, nghĩa là từng gia đình một trên trần thế.

Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ

Trương Nhược Hư là một nhà thơ sinh sống trong thời kỳ giữa những năm đầu đời Đường và thời thịnh Đường (trước sau năm 700 công nguyên). Nhà thơ Trương Nhược Hư chỉ để lại hai bài thơ lưu truyền đến ngày nay, “Xuân giang hoa nguyệt da” là một trong hai bài thơ này, nhưng duy nhất bài thơ “Xuân giang hoa nguyệt dạ” đã xác định địa vị nhà thơ lớn của Trương Nhược Hư trong lịch sử thơ Đường. Qua bài thơ này, nhà thơ đã thể hiện đầy đủ sở trường về miêu tả cảnh đẹp trong thơ.

Bài thơ “Xuân giang hoa nguyệt dạ” kết hợp cả cảnh vật, cảnh thơ lẫn sự thể hội của nhà thơ đối với bí mật vũ trụ và triết lý nhân sinh. Tiêu đề của bài thơ gồm 5 cảnh vật: mùa xuân, dòng sông, hoa, mặt trăng và ban đêm kết hợp thành một bức tranh có cảnh đẹp giờ lành.

Trong phần mở đầu bài thơ đã miêu tả cảnh đẹp tĩnh mịch về một dòng sông dưới ánh sáng mặt trăng trong ban đêm mùa xuân, câu thơ viết rằng:

Tạm dịch là:

Trong mùa xuân ấm áp, sóng sông dạt dào, dòng sông rộng mênh mông, chảy về biển cả, sóng nước dập dềnh hình như đang ôm một vầng trăng sáng từ từ dâng cao. Ánh trăng chiếu trên mặt sông lấp lánh, sóng nước lung linh liên miên nghìn dặm xa, thử hỏi dòng sống nào chẳng có ánh sáng mặt trăng trong mùa xuân. Dòng sông uốn khúc quanh co và hoa cỏ đan xen nhau, ánh trăng chiếu trên rừng hoa trông như tuyết trắng nở trên cây. Bất ngờ có sương trắng mưa từ trên không, đó là ánh trăng chiếu sáng trầngian, khiến cát trắng bên sông lúc ẩn lúc hiện.

Nhà thơ hình như là một hoạ sĩ có thủ pháp điêu luyện, chỉ dùng nét bút một cách nhẹ nhàng đã vẽ nên cảnh đêm sông có sóng nước lung linh, trong sáng, nhà thơ chỉ dùng 4 câu thơ ngắn, câu nào cũng có trăng, đã thể hiện cảnh ngời sáng của đêm trăng. Khi đứng trước cảnh trăng và sông, nhà thơ đưa ra một câu hỏi, nảy sinh những điều suy nghĩ về nhân sinh, câu thơ viết rằng:

Tạm dịch là:

Nước sông cùng trời cùng một sắc màu, trong sáng, trăng sáng treo cao nhưng suốt cả đêm chỉ có một mình. Ai đầu tiên ngắm thấy mặt trăng khi đứng bên sông, và năm nào mặt trăng bắt đầu toả sáng trần gian? Con người kiếp kiếp luân hồi, dòng sông và mặt trăng năm nào cũng tương tự.

Chẳng biết vào giờ phút này ai đang tắm ánh trăng ở bên sông? Trước mắt chỉ có nước sông chảy không ngớt, không bao giờ trở về. Đối mặt cảnh đẹp về dòng sông mùa xuân, nhà thơ một mình đứng bên sông ngắm trăng, cứ suy nghĩ triền miên, thời gian và không gian vô tận, cuộc sống cứ nối tiếp, chỉ có tuổi thanh xuân trôi nhanh như tên. Cảnh thơ thiên nhân hợp nhất vừa duy mỹ vừa thơ mộng này làm cho người ta cảm nhận tính chu kỳ của thiên nhiên, tuổi thanh xuân trôi đi nhanh chóng.

Trong những suy nghĩ triền miên này, nhà thơ nghĩ tới tình cảm sầu muộn về sự chia lìa giữa người ở đất khách quê người và người vợ đang chờ đợi ở nhà, như vậy đã tăng thêm chút ít tình cảm đau buồn cho bài thơ. Câu thơ cuối viết rằng:

“Bất tri thừa nguyệt kỷ nhân quy

Lạc nguyệt dao tình mãn giang thụ”

Tạm dịch là:

Mấy kẻ cưỡi trăng nào có biết Bến cây trăng lạnh nghĩ mà thương.

Dưới ánh trăng có mấy người có thể về quê như ý muốn, chỉ có mặt trăng xuống về phía tây đong đưa tình cảm chia lìa, ngả bóng vào rừng cây bên sông. Sau khi đọc xong bài thơ, độc giả càng nghĩ càng thấm thía.

Nhà thơ Trương Nhược Hư kết hợp sự thể nghiệm chân thật của mình về đời sống vào cảnh tượng tươi đẹp, tình cảm kết hợp với hình ảnh, tạo nên bầu không khí tình cảm nồng nàn và cảnh thơ duy mỹ, điều này nói rõ sự sáng tạo về cảnh đẹp trong thơ Đường đã bước sang giai đoạn chín muồi, đây có lẽ là nguyên nhân bài thơ “Xuân giang hoa nguyệt dạ” của nhà thơ Trương Nhược Hư rất được thế hệ sau tôn sùng.

Xuân giang hoa nguyệt dạ

Phổ nhạc: Trần Dũng

Biểu diễn: Tô Châu thập nhị nương

Cập nhật thông tin chi tiết về Sự Tích Ông Tơ Bà Nguyệt (Nguyệt Lão) trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!