Xu Hướng 2/2023 # Sự Tích Bánh Chưng Bánh Dày Và 7 Sự Tích Về Ngày Tết Cổ Truyền Việt Nam # Top 3 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Sự Tích Bánh Chưng Bánh Dày Và 7 Sự Tích Về Ngày Tết Cổ Truyền Việt Nam # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Sự Tích Bánh Chưng Bánh Dày Và 7 Sự Tích Về Ngày Tết Cổ Truyền Việt Nam được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Nguồn gốc sự tích bánh chưng, bánh dày

Vào đời vua Hùng Vương thứ 6, sau khi đã dẹp xong giặc Ân, vua Hùng muốn truyền ngôi lại cho con. Nhân lễ Tiêu Vương, Vua Hùng truyền cho 20 người con rằng: “Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm ta vừa ý, cuối năm nay đem trân cam mỹ vị đến để tiến cúng tiên vương cho ta được tròn đạo hiếu thì sẽ được ta truyền ngôi”.

Sau lời vua cha, các lang đều háo hức, chạy khắp nơi đi tìm của ngon vật lạ để dâng lên tổ tiên nhằm tiếp nối ngai vàng. Tuy nhiên, riêng chàng hoàng tử 18 – Lang Liêu là chàng hoàng tử hiền lành, đức hạnh, giàu lòng nhân từ và rất hiếu thảo vì mất mẹ từ sớm nên không ai giúp đỡ nên loay hoay hoài mà không biết làm thế nào.

Nhưng may mắn thay, anh lại được một vị Thần mách bảo trong giấc mộng của mình. Vị Thần chỉ dạy chàng quý nhất vẫn là gạo. Vậy nên, Thần khuyên Lang Liêu làm bánh từ gạo để dâng cho vua cha. Một là bánh hình tròn tượng trưng cho Trời. Hai là bánh hình vuông tượng trưng cho Đất. Và bảo chàng dùng lá bọc ngoài, đặt nhân vào ruột bánh để tượng trưng cho sự sinh thành của cha mẹ.

Được sự mách bảo đó, Lang Liêu nhanh chóng làm theo lời và kết quả là thuận ý vua cha vì bánh không chỉ ngon mà còn ý nghĩa. Từ đó về sau, việc gói bánh chưng, bánh dày trở thành tục lễ mỗi độ Tết đến của người Việt Nam.

2. Nguyên liệu làm bánh chưng, bánh dày

Những nguyên liệu cơ bản để làm bánh chưng:

Gạo nếp: Loại ngon, dẻo ngọt, được đãi sạch, xóc muối, ngâm nở.

Đỗ xanh: Đãi sạch, trộn cùng chút muối, vàng ươm, thơm ngon.

Thịt lợn: Là thịt ba chỉ, vừa mỡ vừa nạc để nhân có cả vị béo chứ không chỉ khô bã.

Lá dong: Lá tươi xanh, mướt mắt, được chần sơ qua nước sôi, đặt vào khuôn gói, bao quanh chiếc bánh.

Dây lạt: Những sợi lạt dai mềm, buộc chặt chiếc bánh không để nước thấm vào khi nấu.

Khi ăn, ăn kèm nước mắm ngon hoặc hành củ muối, dưa món chua ngọt đều rất ngon.

Bánh dày:

Làm từ gạo nếp (có thể cho thêm sữa tươi không đường để tạo độ béo, thơm). Gạo nếp phải là loại ngon, dẻo.

Sau khi nếp được đồ chín thì đổ ra cối giã nhuyễn. Tiếp đến, vo tròn rồi xếp vào lá dong. Chưa hết, chia thành từng cục bột nhỏ rồi nặn tròn và cuối cùng là ấn bẹp.

Chỉ với vài bước đơn giản là bạn đã hoàn thành xong món bánh dày của chàng Lang Liêu rồi đó. Khi ăn, người ta ăn kèm với giò, chả,… để tăng độ ngon cho món ăn.

Tuy nhiên, ngày nay người ta thường thêm nhân cho bánh dày chứ không còn là bánh dày không nhân như thời Lang Liêu nữa.

3. Ý nghĩa sự tích bánh chưng, bánh dày

3.1. Quan niệm về vũ trụ của người Việt ngày xưa

Chắc hẳn bạn đã biết, ngày xưa, người Việt quan niệm rằng trái đất hình vuông và bầu trời hình tròn.

Đó là lí do tại sao bánh chưng (tượng trưng cho Đất) lại có hình vuông và bánh dày (tượng trưng cho Trời) có hình tròn.

Bánh chưng là hình khối cụ thể thuộc âm, có hình vuông, có góc cạnh, tượng trưng cho Đất. Người ta quan niệm rằng nhân đậu và thịt của bánh tượng trưng cho muôn vật trên thế giới này.

Bánh dày là hình khối cụ thể thuộc dương, có hình tròn, không góc cạnh. Vì nó tượng trưng cho Trời nên phải màu trắng và không nhân vị giống như bánh chưng.

3.2. Bài ca về nền văn minh lúa nước

Sự tích bánh chưng, bánh dày là lời nhắc nhở tầm quan trọng của cây lúa đối với con người.

Hơn thế nữa, đó chính là minh chứng cho nền văn hóa lúa nước của người Việt ta. Sự đề cao, ca ngợi về thành tựu văn minh nông nghiệp ở buổi đầu sơ khai.

Một chiếc bánh nhưng gói ghém cả một nền văn minh lúc bấy giờ.

3.3. Mang ý nghĩa biểu trưng

Vì bánh chưng đại diện cho âm nên sẽ dành cho mẹ. Biểu tượng cho mẹ Tiên trong ngày lễ dâng cúng Giỗ Tổ Hùng Vương.

Bánh dày đại diện cho dương tức dành cho cha. Và nếu bánh chưng là biểu tượng cho mẹ Tiên thì bánh dày tức là biểu tượng cho cha Rồng.

Khi dùng bánh chưng, bánh dày làm quà biếu dâng lên cha mẹ thì nó cũng thể hiện được chữ hiếu của người con dành cho đấng sinh thành của mình.

3.4. Tin vào thần linh

Bánh dày thường được dùng để tế trời, tế thần.

Người Việt quan niệm bầu trời là nơi thần linh sinh sống. Chính vì vậy, họ dùng bánh dày để dâng lên trời nhằm cầu mong thời tiết mưa thuận gió hòa để muôn vật sinh sôi nảy nở, cho một năm ấm no, sung túc.

Không chỉ vậy, nó còn mang ý nghĩa cho lòng biết ơn sâu sắc với trời đất đã đem đến mùa màng bội thu cho người dân lao động.

Điều này cũng nói lên rằng, ở xã hội Việt Nam bấy giờ, người ta tin rằng Trời là Đấng khai sáng vũ trụ và là chủ tế của cả thế giới này.

3.5. Nét văn hóa, món ăn truyền thống

Đề cao nét đẹp, xem trọng giá trị sáng tạo của nhân dân, ca ngợi truyền thống cao đẹp của dân tộc.

Nó cũng là sự giải thích nguồn gốc cho thứ bánh truyền thống của ngày Tết cổ truyền Việt Nam.

Đây chính là món ăn truyền thống ngày Tết tô điểm thêm sự độc đáo, ấn tượng trong mắt bạn bè quốc tế của nước ta.

Dù đã trải qua nhiều năm tháng, nhưng tục gói bánh chưng, bánh dày vẫn còn đó, tồn tại mãi trong lòng người Việt và trong những cái Tết sum họp. (Bánh tét cũng là một loại na ná với bánh chưng).

4. Những sự tích về Tết cổ truyền

Sự tích ngày Tết Nguyên Đán: Câu chuyện kể về vương quốc nọ muốn tính tuổi con người. Nhà vua nghĩ ra một cách là mỗi lần hoa đào nở thì tính một tuổi. Người ta tính được mười hai lần trăng tròn rồi lại khuyết, hoa đào sẽ nở một lần. Những ngày vui ấy, sau này người ta gọi là Tết.

Sự tích cây nêu ngày Tết: Câu chuyện xưa kia kể về việc loài quỷ chiếm hết đất nước và ức hiếp dân làng. Tuy nhiên, được sự trợ giúp của Phật thì cuối cùng loài quỷ đã bị đuổi đi nhờ chiếc áo cà sa treo trên cây tre.

Sự tích hoa mai vàng: Câu chuyện kể về cô bé tốt bụng giúp dân làng diệt yêu quái. Tuy nhiên không may cô đã bị quấn chết. Khi được trời thương cho sống lại 9 ngày mỗi năm để ở cùng ba mẹ thì cô thường trở về trong chiếc áo màu vàng. Và khi cả gia đình đều mất, cô hóa thành cây hoa màu vàng là hoa mai mà ta thấy ngày nay.

Sự tích hoa đào: Cây đào to lớn là nơi có 2 vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ. Các vị diệt trừ ma quái, giúp người dân có được cuộc sống yên bình, hạnh phúc. Khiếp sợ trước quyền năng của 2 vị thần, lũ yêu ma sợ luôn cây đào. Vì vậy để ma quỷ khỏi quấy phá, dân chúng đã đi bẻ cành hoa đào về cắm trong lọ. Đây cũng là hoa Tết được nhiều người yêu thích.

Ngoài ra còn có nhiều sự tích khác như: Táo quân. bao lì xì,…

5. Những bài thơ về bánh chưng, bánh dày hay

5.1. Bài thơ của Lệ Hoa Trang

“Khi xưa ở nước Văn Lang, Đời vua thứ sáu có chàng Lang Liêu. Vua ra ý muốn một điều, Là thay đổi chủ trị điều nước non. Bèn ra quyết định chọn con, Thi nhau nấu món ăn ngon tuyệt vời. Cao sang mĩ vị trên đời, Làm sao có thể bằng trời tính cho.

Ấy nhưng mà lại hay ho, Chàng Lang Liêu được giúp cho còn gì. Trong khi suy nghĩ làm gì, Có ông tiên cụ nhắc ghi vài điều. Bình thường mà ý nghĩa nhiều, Bánh chưng ngày tết làm nhiều người mê. Bánh dày cũng chẳng ai chê, Bánh thơm gạo nếp tràn trề đậu xanh. Tượng trưng mặt đất màu xanh, Bánh chưng gói với lá xanh thành hình. Lấy xôi giã nặn tròn hình, Bánh dày là bánh tượng hình trời cao. Món ăn quý quá làm sao, Lang Liêu lên được chức cao vô cùng. Sau này xuân đến khắp vùng, Người ta lại thấy bánh chưng bánh dày.”

5.2. Bài thơ của Bằng Việt về sự tích bánh chưng, bánh dày

“Thuở tám tuổi trái đào Tôi thức ngủ giữa rất nhiều truyền thuyết Truyền thuyết sao mà đẹp: Trời đất vuông tròn như bánh dày,bánh chưng, Thế giới mỡ màu, đậm đà như nhân đỗ!

Bà tôi chỉ thích việc đời có hậu Suốt đời cả tin chuyện thuở Lang Liêu.

Tôi vẫn nghe Không nỡ lòng cãi lại Bà còn thọ bao năm, thôi chớ để bà buồn!

Nhưng năm lại chồng năm Sống gắn bó cùng bà Có nhiều lúc tôi muốn tin là thật Muốn tắc lưỡi cho việc đời đơn giản! Tự ru mình bằng quan điểm ấu thơ Ưa bám níu mãi niềm tin nguyên thuỷ.

Tôi mất nửa đời để thoát ra truyền thuyết Tấm bánh mang nhiều suy tưởng hơn xưa!”

Hồng Ân tổng hợp

Sự Tích Bánh Chưng Bánh Giầy – Wikisource Tiếng Việt

Bánh chưng là một loại bánh truyền thống của dân tộc Việt nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời xứ sở. Bánh giầy (có người viết là bánh dầy hay thậm chí bánh dày ) là một loại bánh truyền thống của dân tộc Việt nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời xứ sở. Bánh thường được làm bằng xôi đã được giã thật mịn, có thể có nhân đậu xanh và sợi dừa với vị ngọt hoặc mặn. — Trích dẫn từ Bánh chưng của Wikipedia , bách khoa toàn thư mở. — Trích dẫn từ Bánh giầy của Wikipedia , bách khoa toàn thư mở.

Ngày xưa, đời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi đánh dẹp xong giặc Ân, vua có ý định truyền ngôi cho con.

Nhân dịp đầu Xuân, vua mới họp các hoàng tử lại, bảo rằng: “Con nào tìm được thức ăn ngon lành, để bày cỗ cho có ý nghĩa nhất, thì ta sẽ truyền ngôi vua cho”.

Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hy vọng mình lấy được ngai vàng.

Trong khi đó, người con trai thứ 18 của Hùng Vương, là Tiết Liêu[1] có tính tình hiền hậu, lối sống đạo đức, hiếu thảo với cha mẹ. Vì mẹ mất sớm, thiếu người chỉ vẽ, nên ông lo lắng không biết làm thế nào.

Một hôm, Tiết Liêu nằm mộng thấy có vị Thần đến bảo: “Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Con hãy nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình Trời và Đất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha Mẹ sinh thành”

Tiết Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ. Ông làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng hình Đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là Bánh Chưng. Và ông giã xôi làm bánh tròn, để tượng hình Trời, gọi là Bánh Giầy[2]. Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng hình cha mẹ yêu thương đùm bọc con cái.

Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên mâm cỗ. Ôi thôi, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món ngon lành. Hoàng tử Tiết Liêu thì chỉ có Bánh Giầy và Bánh Chưng. Vua Hùng Vương lấy làm lạ hỏi, thì Tiết Liêu đem chuyện Thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của Bánh Giầy Bánh Chưng. Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn truyền ngôi Vua lại cho Tiết Liêu con trai thứ 18.

Kể từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Đán, thì dân chúng làm bánh Chưng và bánh Giầy để dâng cúng Tổ Tiên và Trời Đất.

Bài Văn Thuyết Minh Về Bánh Chưng Ngày Tết Lớp 9, 10

Bài văn thuyết minh về bánh chưng ngày tết của học sinh giỏi lớp 9, 10 và cách lập dàn ý thuyết minh về chiếc bánh chưng chi tiết.

I. Dàn Ý Thuyết Minh Về Bánh Chưng Ngày Tết Ngắn Gọn

Giới thiệu khái quát về chiếc bánh chưng

2. Thân bài thuyết minh về chiếc bánh chưng lớp 10

a. Nguồn gốc lịch sử, xuất xứ của bánh chưng

– Bánh chưng là một loại bánh quen thuộc, gần gũi và có từ lâu đời ở nước ta, mang những đặc trưng riêng của văn hóa Việt Nam.

– Bánh chưng là loại bánh duy nhất ở nước ta có lịch sử lâu đời trong ẩm thực của người Việt còn được nhắc lại ở sử sách cho đến tận ngày hôm nay.

– Nguồn gốc ra đời của bánh chưng gắn liền với truyền thuyết “Bánh chưng bánh giầy”, về Lang Liêu và vua Hùng thứ sáu

b. Nguyên liệu và cách làm

– Nguyên liệu:

+ gạo nếp – một loại gạo dẻo và có vị thơm để làm vỏ bánh.

+ Nhân bánh được là sự kết hợp giữa đậu xanh, thịt lơn và dưa hành.

+ Lá chuối hoặc lá dong và lạt để gói bánh

+ Một số nguyên liệu phụ khác như tiêu, muối…

– Các bước làm bánh chưng:

Gạo nếp phải được làm sạch sẽ và ngâm với nước để gạo được mềm và dẻo hơn.

Đậu xanh được làm sạch vỏ và được nấu chín nhuyễn với một ít muối.

Thịt lợn được cắt thành miếng nhỏ và ướp với gia vị để tạo độ thơm.

Lạt buộc cần được làm thành sợi dài và mỏng

+ Gói bánh chưng: Bánh chưng được gói bằng tay nhờ vào các khuôn bánh được làm sẵn từ trước

Yêu cầu khi luộc bánh phải đủ thời gian, không quá ngắn mà cũng không quá dài.

Người ta thường luộc bánh trong khoảng thời gian tám đến mười giờ, tùy vào loại gạo nếp được sử dụng

+ Sau khi bánh đã được nấu chín, người ta vớt bánh ra để nguội và như có thể sử dụng luôn.

Tùy vào khẩu vị của mỗi vùng, miền mag bánh chưng có thể thêm vào hoặc bớt đi một số nguyên liệu.

c. Cách sử dụng và vai trò, ý nghĩa của chiếc bánh chưng trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Việt.

– Bánh chưng là nét độc đáo trong văn hóa ẩm thực của người Việt.

– Biểu tượng cho tấm lòng biết ơn ông bà tổ tiễn và sự trân trọng những điều bình dị, tinh túy trong trời đất.

– Bánh chưng là loại bánh không thể thiếu trên bàn thờ, trong mâm cơm cúng tổ tiên mỗi dịp Tết đến xuân về.

– Bánh chưng đã trở thành một nét đẹp không thể thiếu trong tâm thức của mỗi người con đất Việt.

Khái quát lại vai trò, ý nghĩa của chiếc bánh chưng và cảm nghĩ của bản thân về chiếc bánh chưng.

II. Bài Viết Thuyết Minh Về Chiếc Bánh Chưng Lớp 9, 10

Câu ca dao ấy cất lên chắc hẳn sẽ gợi lên trong mỗi người dân trên đất nước Việt Nam từ già cho tới trẻ, từ trai cho tới gái hình ảnh chiếc bánh chưng – một loại bánh dân dã, quen thuộc, thân quen mà rất đỗi cao quý và ngập tràn ý nghĩa đối với mỗi người con đất Việt.

2. Thân bài thuyết minh về cái bánh chưng

Như chúng ta đã biết, bánh chưng là một loại bánh quen thuộc, gần gũi và có từ lâu đời ở nước ta, mang những đặc trưng riêng của văn hóa Việt Nam. Có thể nói, bánh chưng là loại bánh duy nhất ở nước ta có lịch sử lâu đời trong ẩm thực của người Việt còn được nhắc lại ở sử sách cho đến tận ngày hôm nay. Nguồn gốc ra đời của bánh chưng gắn liền với truyền thuyết “Bánh chưng bánh giầy”, về Lang Liêu và vua Hùng thứ sáu. Chuyện kể rằng, sau khi đánh tan giặc Ân xâm lược, vì muốn chọn được người kế vị xứng đáng, vua Hùng thứ sáu đã tổ chức cuộc thi giữa các con của mình với yêu cầu ai làm cho vua cha vừa lòng, tìm được lễ vật phù hợp để dâng lên lễ tế thì sẽ được truyền ngôi cho. Trong khi các anh của mình lên rừng, xuống biển tìm kiếm bao nhiêu sơn hào hải vị, của ngon vật lạ thì Lang Liêu – người con út lại không biết nên lấy gì làm lễ vật để dâng lên vua cha vì chàng chả có gì ngoài lúa gạo. Nhưng thật may mắn thay cho chàng, chàng nằm mộng và được thần chỉ cho cách lấy gạo, đậu và thịt để làm bánh. Loại bánh chàng làm ra hình tròn thì gọi là bánh giầy tượng trưng cho trời, bánh chưng hình vuông, tượng trưng cho đất. Và rồi, cuối cùng, Lang Liêu chính là người làm hài lòng vua cha, chàng được truyền ngôi và cũng kể từ đấy, bánh chưng ra đời và trở thành nét biểu tượng độc đáo trong văn hóa ẩm thực Việt Nam, thể hiện lòng biết ơn, quý trọng của con cháu với ông bà tổ tiên và với trời đất.

Bánh chưng là loại bánh dân dã, quen thuộc với mỗi người dân Việt Nam, bởi vậy nguyên liệu để làm nó cũng rất bình dị, gần gũi. Trước hết, để làm được bánh chưng không thể thiếu gạo nếp – một loại gạo dẻo và có vị thơm để làm vỏ bánh. Nhân bánh được là sự kết hợp giữa đậu xanh, thịt lợn và dưa hành. Ngoài ra, khi làm bánh cũng cần có là chuối hoặc lá dong và lạt để gói bánh cùng một số nguyên liệu phụ khác như tiêu, muối. Thông thường, để làm ra được một chiếc bánh chưng người ta cần phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau, đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn thận và khéo léo của người làm bánh. Đầu tiên đó là công đoạn chuẩn bị nguyên liệu. Những nguyên liệu kể trên phải được sơ chế một cách kĩ càng, chu đáo. Gạo nếp phải được làm sạch sẽ và ngâm với nước để gạo được mềm và dẻo hơn. Đậu xanh được làm sạch vỏ và được nấu chín nhuyễn với một ít muối. Thịt lợn được cắt thành miếng nhỏ và ướp với gia vị để tạo độ thơm. Ngoài ra, lạt buộc cần được làm thành sợi dài và mỏng. Sau khi đã chuẩn bị nguyên liệu theo yêu cầu, người ta bắt đầu gói bánh. Bánh chưng được gói bằng tay nhờ vào các khuôn bánh được làm sẵn từ trước. Đồng thời, để làm nên một bánh chưng ngon còn yêu cầu khi luộc bánh phải đủ thời gian, không quá ngắn mà cũng không quá dài. Thông thường, người ta thường luộc bánh trong khoảng thời gian tám đến mười giờ, tùy vào loại gạo nếp được sử dụng. Sau khi bánh đã được luộc chín người ta vớt bánh ra và để nguội, như vậy là đã có một chiếc bánh chưng ngon, đẹp rồi. Thêm vào đó, tùy vào khẩu vị của mỗi vùng, miền mag bánh chưng có thể thêm vào hoặc bớt đi một số nguyên liệu.

Bánh chưng là nét độc đáo trong văn hóa ẩm thực của người Việt. Nó biểu tượng cho tấm lòng biết ơn ông bà tổ tiễn và sự trân trọng những điều bình dị, tinh túy trong trời đất. Bánh chưng là loại bánh không thể thiếu trên bàn thờ, trong mâm cơm cúng tổ tiên mỗi dịp Tết đến xuân về. Bánh chưng đã trở thành một nét đẹp không thể thiếu trong tâm thức của mỗi người con đất Việt. Chắc có lẽ bởi vậy mà mỗi người con đất Việt ở xa quê, mỗi dịp Tết đến người ta vẫn cùng nhau tự gói hay mua về những chiếc bánh chưng để thờ cúng và cùng nhau thưởng thức như một cách để nhớ, để gìn giữ và lưu truyền nét đẹp văn hóa của dân tộc.

Tóm lại, bánh chưng là loại bánh cổ truyền, có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống của hàng triệu, hàng triệu người con đất Việt. Dù thời gian có trôi đi, cuộc sống của con người ngày càng phát triển và có thêm nhiều món ăn, loại bánh mới nhưng không bất cứ thứ gì có thể thay đổi được vị trí, ý nghĩa của chiếc bánh chưng trong văn hóa và trong ẩm thực của người dân Việt Nam.

thuyết minh về bánh chưng

thuyết minh bánh chưng

thuyết minh về bánh chưng ngày tết

thuyết minh về bánh chưng lớp 10

thuyết minh về bánh chưng ngày tết học sinh giỏi

thuyết minh về món ăn ngày tết lớp 10

thuyết minh về món bánh chưng

thuyết minh về chiếc bánh chưng ngày tết

thuyết minh về cái bánh chưng

Bình Luận Facebook

.

Sự Tích Con Khỉ Truyện Cổ Tích, Truyện Cổ Tích Việt Nam

Sự tích con khỉ

( Sự tích con khỉ) Ngày xưa có một người con gái đi ở với một nhà trưởng giả. Nàng phải làm việc quần quật suốt ngày, lại bị chủ đối đãi rất tệ. Cái ăn cái mặc đã chả có gì mà thỉnh thoảng còn bị đánh đập chửi mắng. Vì thế, cô gái tuổi mới đôi mươi mà người cứ quắt lại, trông xấu xí bệ rạc hết chỗ nói. Một hôm nhà trưởng giả có giỗ, cỗ bàn bày linh đình, họ hàng đến ăn uống đông đúc. Trong khi đó thì cô gái phải đi gánh nước luôn vai không nghỉ. Lần gánh nước thứ mười, cô gái mỏi mệt quá ngồi lại ở bờ giếng. Tự nhiên cô thấy tủi thân, ôm mặt khóc. Lúc đó đức Phật bỗng hiện ra với trạng mạo một ông cụ già. ạng cụ có vẻ đâu từ xa lại, dáng điệu mệt nhọc đến xin nước uống. Nàng vội quảy gánh xuống giếng vực nước lên cho ông già giải khát. Ông cụ uống xong lại đòi ăn. Cô gái nhớ tới phần cơm của mình chưa ăn, bèn bảo ông cụ ngồi chờ rồi quảy gánh nước về. Lần sau ra giếng, cô lấy cơm trong thùng đưa cho ông già và nói:

– Họ dành phần cho con toàn cơm cháy cả, cụ ăn một bát này cho đỡ đói. Ăn xong, ông cụ bảo nàng: Sự tích con khỉ

– Hồi nãy làm sao con khóc? Cô gái ngập ngừng, cúi mặt xuống không trả lời.

– Ta là đức Phật,

– ông cụ nói tiếp,

– ta thấy con có lòng tốt.

Nếu con muốn gì, ta sẽ làm cho con vui lòng.

Cô gái ngạc nhiên mừng rỡ, kể nỗi lòng với đức Phật. Thấy điều ước muốn của người con gái chỉ là làm sao cho bớt xấu xí, ông cụ bảo nàng lội xuống giếng, hễ thấy bông hoa nào đẹp mút lấy thì sẽ được như nguyện. Khi xuống nước, cô gái chỉ mút mấy bông hoa trắng. Tự nhiên lúc lên bờ, nàng trở nên trắng trẻo xinh xắn, đồng thời quần áo cũng biến thành những thứ tốt đẹp.

Khi cô gái quảy gánh nước trở về, cả họ nhà trưởng giả vô cùng kinh ngạc. Nàng xinh đẹp đến nỗi họ không thể nào nhận ra. Nghe cô gái kể chuyện, ai nấy cũng muốn cầu may một tí. Họ lập tức đổ xô cả ra bờ giếng mong gặp lại đức Phật để được trẻ lại và đẹp ra. Thấy ông cụ già vẫn còn ngồi ở chỗ cũ, họ sung sướng như người được của. Họ đưa xôi thịt ra mời tới tấp:

– Này cụ xơi đi! Cụ xơi đi. Rồi cụ làm phúc giúp cho chúng tôi với! Đức Phật cũng bảo họ lội xuống giếng và dặn họ y như dặn cô gái lần trước. Dưới giếng lúc đó đầy hoa đỏ và hoa trắng. Ai nấy đều cho màu đỏ là đẹp nên khi lội xuống giếng đều tìm hoa đỏ mút lấy mút để. Nhưng không ngờ lúc lên bờ, họ không phải trẻ lại mà già thêm ra: mặt mũi nhăn nheo, người trông quắt lại, lông lá mọc đầy người, đằng sau lưng là cả một cái đuôi.

Những người đi gánh nước thấy vậy hoảng hồn: “Kìa trông con quỷ, nó cắn bà con ôi!”. Nhưng lại có những tiếng khác: “Đánh cho chết chúng nó đi! Sợ gì”. Lập tức mọi người cầm đòn gánh xông lại. Cả họ nhà trưởng giả kinh hoàng bỏ chạy một mạch lên rừng.

Thấy vậy cô gái và mọi người sợ quá, đêm đêm đóng cửa rất chặt. Họ bàn nhau tìm cách đuổi chúng. Họ bôi mắm tôm vào các cánh cửa, lại nung nóng rất nhiều lưỡi cày đặt rải rác ở cổng các nhà. Quả nhiên, một đêm nọ chúng lại mò về. Theo lệ thường, chúng đánh đu vào song cửa kêu rít lên. Nhưng lần này chúng vừa mó đến đã bị mắm tôm vấy đầy tay, rồi từ tay vấy khắp cả người, hôi hám không thể nói hết. Chúng kinh sợ dắt nhau ra ngồi trước cổng quen như thói cũ. Nhưng vừa đặt đít ngồi xuống các lưỡi cày thì chúng đã kêu oai oái, rồi ba chân bốn cẳng bỏ chạy lên rừng. Từ đó chúng kệch không dám về nữa.

Trong những khi lên rừng hái củi, người ta thỉnh thoảng vẫn gặp chúng. Thấy bóng người từ đàng xa, chúng liền chuyền theo nhánh cây, lủi nhanh thoăn thoắt. Người ta gọi chúng là những con khỉ. Ngày nay vẫn có nhiều người cho khỉ là thuộc nòi trưởng giả. Còn những con khỉ sở dĩ đỏ đít là vì chúng chịu di truyền dấu vết bỏng đít của tổ tiên.

Gửi bởi in Tags: Hà Vũ truyện cổ tích việt nam đọc truyện bé nghe, đọc truyện cổ tích việt nam chọn lọc, hay nhất, truyện cổ tích, truyện cổ tích việt nam chọn lọc, truyện cổ tích việt nam hay nhất, việt nam

Cập nhật thông tin chi tiết về Sự Tích Bánh Chưng Bánh Dày Và 7 Sự Tích Về Ngày Tết Cổ Truyền Việt Nam trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!