Xu Hướng 2/2023 # Soạn Bài Thơ Thương Vợ Ngắn Gọn Ngữ Văn Lớp 11 Đầy Đủ # Top 7 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Soạn Bài Thơ Thương Vợ Ngắn Gọn Ngữ Văn Lớp 11 Đầy Đủ # Top 7 View

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Thơ Thương Vợ Ngắn Gọn Ngữ Văn Lớp 11 Đầy Đủ được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Câu 1: Hình ảnh bà Tú qua bốn câu thơ đầu

– Hai câu đầu đã giới thiệu được hình ảnh bà Tú gắn với công việc mưu sinh.

Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng

+ Công việc là buôn bán. Thời gian làm việc là “quanh năm”, là ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Mom sông là vùng đất nhô ra sông, nơi đầu sóng ngọn gió.

– Trên cái nền không gian và thời gian ấy, cuộc mưu sinh đầy khó khăn của bà Tú hiện lên rất rõ:

Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Hình ảnh thân cò là hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng cho phụ nữ trong xã hội xưa. Có điều, Tú Xương vừa tiếp thu ca dao nhưng vừa có những sáng tạo độc đáo. Dùng từ thân cò làm ý thơ mang tính khái quát cao hơn, nó giúp gợi lên cả một số kiếp, nỗi đau thân phận. Có lẽ vì thế mà tình thương của Tú Xương dành cho bà Tú trở nên sâu sắc hơn. Bên cạnh đó, từ láy lặn lội, eo sèo được đảo lên trước làm nổi bật hình ảnh lam lũ, vất vả của bà Tú.

Câu 2: Đức tính cao đẹp của bà Tú

Vẻ đạp của bà Tú trước hết được cảm nhận ở sự đảm đang, tháo vát, chu toàn với chồng con:

Nuôi đủ năm con với một chồng

Từ đủ trong nuôi đủ vừa nói số lượng, vừa nói chất lượng. Oái oăm hơn, câu thơ chia làm hai vế thì vế bên này (một chồng) lại cân xứng với cả gánh nặng bên kia (năm con). Câu thơ cho thấy Tú Xương ý thức rõ lắm nỗi lo của vợ và sự khiếm khuyết của mình nữa.

Năm nắng mười mưa dám quản công

Thành ngữ ” năm nắng mười mưa ” vốn đã có hàm nghĩa chỉ sự gian lao, vất vả nay được dùng trong trường hợp của bà Tú nó còn nổi bật được đức chịu thương, chịu khó hết lòng vì chồng con của bà Tú. Nhưng với bà Tú đó lại là niềm hạnh phúc của một người vợ vì gia đình. Tú Xương đã thay vợ mình nói lên điều này.

Câu 3: Lời “chửi” trong hai câu thơ cuối là lời Tú Xương tự rủa mát mình:

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cùng như không.

Hai câu cuối chỉ ra hai nguyên nhân gây nên nỗi khổ của vợ: ấy là mình và thói đời. Sự hờ hững của ông cũng là một biểu hiện của thói đời ấy. Đó cũng là biểu hiện của việc vận dụng khẩu ngữ, lời ăn, tiếng nói của dân gian để khắc họa hình ảnh bà Tú – một người phụ nữ của gia đình, của xã hội. Lời chửi ẩn sâu trong tâm khảm sự thương yêu và có cả ngậm ngùi, chua xót đến đắng lòng.

Trong xã hội trọng nam khinh nữ, việc một nhà nho như Tú Xương không những nhận ra sự vô dụng của mình mà còn trách mình một cách thẳng thắn, đó chính là một biểu hiện trong nhân cách nhà thơ qua tiếng chửi trong bài thơ.

Câu 4: Nỗi lòng của nhà thơ

Nỗi lòng thương vợ của Tú Xương được thể hiện thành công qua bài thơ. Tựa đề Thương vợ chưa thể hiện được đầy đủ tình thương của nhà thơ đối với vợ cũng như chưa toát lên được nhân cách của nhà thơ. Tú Xương không chỉ thương vợ mà còn biết ơn vợ, không chỉ lên án thói đời mà còn tự trách mình. Điều đó chứng tỏ tấm lòng của nhà thơ đối với bà Tú.

Câu hỏi 6: Phân tích sự vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian trong bài thơ ” Thương vợ ” của Tú Xương.

“Thương vợ” là một trong những bài thơ mà Tú Xương vận dụng một cách rất sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian.

– Về hình ảnh: Trong ca dao, hình ảnh con cò có khá nhiều ý nghĩa: có khi nói về thân phận người phụ nữ lam lũ, vất vả, chịu thương chịu khó; có khi lại tượng trưng cho thân phận người lao động với nhiều bất trắc thua thiệt. Như thế, con cò trong ca dao vốn đã gợi nhiều cay đắng, xót xa. Song dường như ứng vào nhân vậ cụ thể là bà Tú thì nó lại càng gợi sự xót xa, tội nghiệp nhiều hơn. Hơn thế nữa so với từ ” con cò” trong ca dao thì từ ” thân cò ” của Tú Xương mang tính khái quát cao hơn, do vậy mà tình yêu thương của Tú Xương cũng thấm thía và sâu sắc hơn.

– Về từ ngữ: thành ngữ ” năm nắng mười mưa” được vận dụng một cách rất sáng tạo. Cụm từ ” nắng mưa” chỉ sự vất vả. Các từ năm, mười là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra rồi kết hợp với ” nắng, mưa ” tạo nên một thành ngữ chéo. Hiệu quả của nó vừa nói lên sự vất vả, gian lao, vừa thể hiện đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng con của bà Tú.

Câu hỏi 7: Cảm nhận của anh (chị ) về thân phận và vẻ đẹp của người phụ nữ trong bài thơ Thương vợ của tác giả Trần Tế Xương:

Soạn Bài Chiều Tối Của Hồ Chí Minh Ngữ Văn Lớp 11 Ngắn Gọn Nhất

– Là tập nhật kí viết bằng thơ, được Bác sáng tác trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam từ mùa thu 1942 – 1943 tại tỉnh Quảng Tây.

– Tập thơ gồm 134 bài bằng chữ Hán.

+ Tập thơ phản ánh trung thực bộ mặt nhem nhuốc , xấu xa của chế độ nhà tù đầy bất công phi lí dưới chính quyền TGThạch.

+ Một tâm hồn rất mềm mại tinh tế chan hoà với thiên nhiên và con người .

+ Một thái độ ung dung tự tại hết sức thoải mái như bay lượn trong vùng trời tự dongoài nhà tự.

+ Tinh thần lạc quan tin tưởng, luôn hướng về bình minh tươi sáng.

+ Là tập thơ chan chứa tinh thần nhân đạo và lòng yêu nước thiết tha cháy bỏng của HCM.

Thể hiện sâu đậm phong cách NT của hồn thơ HCM: Hồn nhiên, giản dị, cổ điển mà hiện đại, chiến sĩ mà thi sĩ, luôn luôn ẩn hiện 1 nụ cười thoải mái trẻ trung hài hước hóm hỉnh.

* Hoàn cảnh sáng tác: SGK/41

* Đọc và đối chiếu lời thơ dịch:

+ Trong nguyên tác, Bác không cần dùng từ chỉ tới nghĩa trời tối. Người dịch thêm vào chữ tối không phải là sai nhưng làm ý thơ bộc lộ sớm qúa.

– Bài thơ được làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt.

+ Theo kết cấu: Khai, thừa, chuyển, hợp.

Hai câu đầu: Bức tranh thiên nhiên chiều tối.

Hai câu sau: Bức tranh đời sống con người

– Khung cảnh thiên nhiên núi rừng lúc chiều tối được tác giả quan sát trên con đường chuyển lao với nghệ thuật chấm phá của thơ Đường.

– Hình ảnh tiêu biểu: cánh chim mỏi, chòm mây lẻ loi

+ Trước hết đây là những hình ảnh thiên nhiên mang vẻ đẹp cổ điển, bình dị (chim bay về rừng biểu trưng cho buổi chiều tà) với những chuyển động nhẹ, khẽ và chứa đầy cảm xúc: cánh chim mỏi mệt sau một ngày kiếm ăn đang gắng sức tìm chốn ngủ, còn chòm mây đơn độc thì chầm chậm trôi giữa bầu trời bao la.

+ Ẩn sau mỗi hình ảnh dường như có tâm sự của con người gửi gắm: đặt trong tình cảnh của người tù phải lê bước trên đường trường từ sớm tới tối trong tình cảnh “mũ áo dầm mưa rách hết giày” và ‘xiềng xích thay dây trói” mà chưa được nghỉ chân ta mới thấy hình ảnh cánh chim như gợi lên những vất vả, khó nhọc trên con đường Bác phải đi. Còn chòm mây như mang tâm trạng lẻ loi, đơn độc và cái băn khoăn, trăn trở chưa biết tương lai phía trước sẽ đi về đâu của người tù nơi đất khách.

+ Đằng sau mỗi hình ảnh như khắc khoải và cháy bỏng một ước mong sum họp, một niềm khao khát tự do – những tình cảm đầy nhân bản của người chiến sĩ cách mạng xa xứ.

– Hình ảnh tiêu biểu: cô em xay ngô, lò than rực hồng.

+ Hình ảnh cô gái xay ngô toát lên vẻ trẻ trung, khỏe mạnh, đầy sức sống. Giữa núi rừng mênh mông, thiếu nữ miền sơn cước không bị hòa lẫn vào cảnh vật. Công việc lao động của cô, ngọn lửa hồng từ lò than và nhiệt huyết của tuổi trẻ đã làm sáng bừng và sưởi ấm cả không gian núi rừng chiều tối âm u, heo hút.

Làm cho người đi đường, người tù thêm ấm áp, cảm nhận rõ niềm vui của cuộc sống.

+ chữ “tối”: nguyên văn không có. Ba chữ “ma bao túc” ở cuối câu 3 được điệp vòng ở đầu câu 4 “bao túc ma hoàn” đã tạo nên sự nối âm liên hoàn, nhịp nhàng như vừa diễn tả cái vòng quay không dứt của động tác xay ngô vừa thể hiện dòng lưu chuyển của thời gian từ chiều đến tối.

+ “lô dĩ hồng”: chữ hồng giúp người đọc hình dung ra bóng tối đang buông xuống xóm núi. Đồng thời nó làm sáng rực toàn bộ bài thơ, làm mất đi sự mỏi mệt, uể oải, vội vã, nặng nề diễn tả ở ba câu đầu.

– Nghệ thuật tả cảnh trong bài thơ vừa có nét cổ điển (bút pháp chấm phá, ước lệ với những thi liệu xưa cũ), vừa có nét hiện đại (bút pháp tả thự sinh động với hình ảnh dân dã đời thường, con người là trung tâm của bức tranh)

– Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, hàm súc được sử dụng linh hoạt, có sức gợi cảm cao

– Bài thơ còn lấp lánh chất thép vĩ đại. ở trong cảnh bị đoạ đầy, đau khổ thế mà bác vẫn làm được thơ hay, thể hiện được niềm vui lao động khoẻ khoắn

Soạn Bài: Thương Vợ – Trần Tế Xương – Ngữ Văn 11 Tập 1

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả: Trần Tế Xương (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Trần Tế Xương trong SGK Ngữ Văn 11 Tập 10).

2. Tác phẩm

* Thương vợ là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Hình ảnh bà Tú qua 4 câu thơ đầu:

Hai câu đề là hình ảnh bà Tú gắn với công việc làm ăn và mưu sinh của bà:

Quanh năm: là cách tính thời gian vất vả, triền miên, hết năm này qua năm khác

Mom sông: địa điểm làm ăn cheo leo, nguy hiểm, không ổn định

Tiếp đến, hai câu thực đặc tả cảnh làm ăn vất vả để mưu sinh của bà Tú:

Đảo ngữ “lặn lội” được đưa lên đầu câu, dùng “thân cò” thay cho “con cò” nhằm nhấn mạnh nỗi vất vả và gian truân của bà Tú.

Quãng vắng, đò sông: không gian heo hút, vắng lặng, chứa đựng đầy những nỗi lo âu, nguy hiểm.

Eo sèo: gợi lên cảnh tượng chen chúc trên sông nước của những người buôn bán nhỏ.

Nói tóm lại, qua 4 câu thơ đầu giúp người đọc thấy được công việc và thân phận của bà Tú, qua đó cũng cho chúng ta thấy được nỗi xót thương của Tú Xương đối với người vợ của mình.

Câu 2:

* Những câu thơ nói lên đức tính cao đẹp của bà Tú:

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Năm nắng mười mưa dám quản công

Một duyên hai nợ âu đành phận

Câu 3:

Lời “chửi” trong 2 câu thơ cuối là lời của tác giả đang tự “chửi” chính mình. Bởi Tú Xương cho rằng ông chính là nguyên nhân gây nên nỗi khổ của vợ. Bên cạnh đó, câu thơ còn là tiếng “chửi” của Tú Xương với xã hội, ông chửi cái thói đời đểu cáng, bạc bẽo đã khiến cho bà Tú vất vả và cũng chính xã hội đó đã biến ông thành một ông chồng vô tích sự. Đây là lời chửi trong tâm khảm của sự yêu thương, có cả nỗi niềm ngậm ngùi, xót xa.

Câu 4:

Nỗi lòng thương vợ của nhà thơ được thể hiện rất rõ trong bài thơ:

Tiếng “chửi” ở cuối bài: tác giả đã một mặt trách mình là nguyên nhân khiến cho vợ khổ, mặt khác lại thể hiện tình yêu thương chân thành và sâu nặng của nhà thơ.

Vẻ đẹp nhân cách của Tú Xương được thể hiện qua nỗi niềm yêu thương, quý trọng và biết ơn người vợ của mình. Đặc biệt, trong cái xã hội vẫn còn định kiến trọng nam khinh nữ thì việc một nhà nho như Tú Xương không những nhận ra sự vô dụng của mình mà còn tự trách bản thân một cách thẳng thắn thể hiện ông là một người có nhân cách cao đẹp, đáng trân trọng.

5

/

5

(

2

bình chọn

)

Soạn Bài Con Cò Ngữ Văn 9 Đầy Đủ Hay Nhất

Con cò không chỉ là một hình ảnh quen thuộc trong đời sống của nhân dân Việt Nam. Hình tượng con cò còn là một hình tượng quen thuộc trong ca dao, thơ ca. Ngay từ thủa còn nằm nôi, ta đã được nghe những bài ca dao quen thuộc của mẹ “Con cò bay lả bay là… Bay từ đồng ruộng bay ra cánh đồng”. Có thể nói, con cò như một tiềm thức, một người bạn, một cái gì đó rất đỗi thân quen đối với mỗi người. Bài thơ Con cò của nhà thơ Chê Lan Viên mang tới cho người đọc một cái nhìn đầy tình yêu thương, cảm xúc khi nói về con cò hay những người phụ nữ những người mẹ tảo tần của mỗi người. Hôm nay, mình sẽ hướng dẫn các bạn soạn bài Con cò của Chế Lan Viên để thấy rõ hơn điều đó.

SOẠN BÀI CON CÒ NGỮ VĂN 9 TẬP 2

I. Tìm hiểu tác phẩm

1. Tác giả

Chế Lan Viên (1920 – 1989) tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, ông là một trong những nhà thơ hàng đầu của nền thơ ca Việt Nam thế kỷ XX.

Thơ của ông mang âm hưởng nghệ thuật độc đáo, rõ nét, đậm chất trí tuệ và tính hiện đại. Hình ảnh trong thơ của ông phong phú và đa dạng, đó là sự kết hợp giữa thực và ảo, có sự liên tưởng, tưởng tượng nhiều bất ngờ kỳ thú.

Ông có những tác phẩm nổi tiếng như: Điêu tàn, Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường – Chim báo bão, …

2. Tác phẩm

Bài thơ con cò được sáng tác năm 1962, in trong tập Hoa ngày thường – Chim báo bão

Bố cục tác phẩm

Phần I: Hình ảnh con cò xuất hiện trong lời ru của mẹ đến với tuổi ấu thơ

Phần II: Hình ảnh con cò và lời ru của mẹ đã in đậm trong tiềm thức suốt cuộc đời của con

Phần III: Ý nghĩa của lời ru của mẹ và tình mẹ đối với cuộc đời mỗi con người.

II. Hướng dẫn soạn bài Con cò Ngữ văn 9

1. Câu 1 trang 48 SGK Ngữ văn 9 tập 2

Qua hình tượng con cò trong bài thơ, nhà thơ muốn nói vè người mẹ, những người phụ nữ có cuộc sống vất vả, nhọc nhằn những có một tấm lòng ca đẹp và những lời hát ru giản dị đi sâu vào tiềm thức mỗi người

2. Câu 2 trang 48 SGK Ngữ văn 9 tập 2

Bài thơ được tác giả chia thành 3 đoạn, nội dung chính của từng đoạn là

Phần I: Hình ảnh con cò xuất hiện trong lời ru của mẹ đến với tuổi ấu thơ

Phần II: Hình ảnh con cò và lời ru của mẹ đã in đậm trong tiềm thức suốt cuộc đời của con

Phần III: Ý nghĩa của lời ru của mẹ và tình mẹ đối với cuộc đời mỗi con người.

Ý nghĩa biểu tượng của hình tượng con cò được bổ sung, biến đổi qua các đoạn thơ là:

Hình ảnh con cò trong đoạn thơ thứ 1 là hình ảnh con cò trong lời ru của mẹ, hình ảnh con cò còn tượng trưng cho mẹ và tuổi thơ của con. Trong đoạn thơ thứ hai hình ảnh con cò theo con trên những bước đường đời, theo con trên những ước mơ và hành trình của tuổi trẻ. Cuối cùng hình ảnh con cò khơi nguồn cho những triết lí sâu xa về lòng mẹ và lời ru.

3. Câu 3 trang 48 SGK Ngữ văn 9 tập 2

Trong đoạn đầu bài thơ, những câu ca dao đã được vận dụng là

– Con cò bay lả bay la

Bay từ cổng phủ, bay ra cánh đồng

– Con cò bay lả bay la

Bay từ cửa phủ bay về Đồng Đăng

– Con cò mày đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con.

Cách vận dụng ca dao của tác giả vô cùng khéo léo, tác giả không trích đoạn toàn bộ bài ca dao mà chỉ trích vài chữ nhằm gợi ra sự liên tưởng trong trí nhớ của mỗi người, tạo ra một không gian và khung cảnh quen thuộc trong cuộc sống xưa, nhằm gợi lại nỗi nhớ trong trái tim mỗi người. Đồng thời, những bài ca dao trên còn làm cho ta liên tưởng tới những người mẹ, những người phụ nữ xưa.

4. Câu 4 trang 48 SGK Ngữ văn 9 tập 2

Con dù lớn vẫn là con của mẹ,

Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.

Hình ảnh con cò trong câu thơ trên biểu tượng cho tình mẹ, cho sự nâng niu, dìu dắt của người mẹ. Tình cảm đó theo con đến tận cuối cuộc đời. Câu thơ chứa đựng tình yêu thương vô bờ bến và sự hy sinh của người mẹ dành cho con

Một con cò thôi

Con cò mẹ hát

Cũng là cuộc đời

Vỗ cánh qua nôi

Đoạn thơ đúc kết một quy luật bền vững đó là tình cảm và sự thương yêu của mẹ dành cho con là vô bờ bến. Lời ru của mẹ là khúc hát theo con suốt cả cuộc đời. Cánh cò trong đoạn thơ hay chính là sự hóa thân của người mẹ. Hình ảnh con cò vỗ cánh qua nôi như đang che chở, bao bọc và đang dõi theo con suốt cả cuộc đời

5. Câu 5 trang 48 SGK Ngữ văn 9 tập 2

Bai thơ được viết theo thể thơ tự do, ít vần, câu dài ngắn khác nhau, có nhiều chỗ lặp có âm điệu như lời ru của mẹ

Giọng điệu triết lí suy ngẫm, nhịp điệu có âm hưởng như lời hát ru con.

Các yếu tố ấy đã tạo ra sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú của tác giả. Những hình ảnh trong thơ vừa giản dị, gần gũi lại mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.

III. Luyện tập bài Con cò Ngữ văn 9 tập 2

1. Câu 1 trang 48 SGK Ngữ văn 9 tập 2

Trong bài thơ Khúc hát ru những em bé ngủ trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm: Tác giả đã lồng ghép lời ru vào những đoạn thơ khác trong tác phẩm. Có những lời ru trực tiếp từ người mẹ, thể hiện tình yêu thương của người mẹ dành cho con. Tình yêu con hòa trong tình yêu đất nước, tình yêu cách mạng. Lời ru còn là niềm ước mong có được cuộc sống ấm no, tự do và niềm tin vào cuộc kháng chiến

Trong bài thơ Con cò của Chế Lan Viên: Lời ru xuất hiện ở đoạn thơ thứ 1 của tác phẩm. Bài thơ không trích dẫn trực tiếp mà chỉ gợi lại bài hát ru đẻ nói lên tình yêu thương của mẹ, ý nghĩa của lời ru nhằm khắc họa sự hy sinh, tảo tần và tình yêu thương của người mẹ dành cho con. Lời ru mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

2. Câu 2 trang 48 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Đoạn thơ trên đã khắc họa tình yêu thương của người mẹ dành cho con. Tình mẹ được tác giả lồng ghép, đặt tương quan so sánh với hình ảnh con cò. Mẹ sẽ che chở, nâng đỡ con trên mỏ nẻo đường “Cò sẽ tìm con”,”Cò sẽ yêu con”. Tình yêu của mẹ như cánh cò trắng đi theo con, bên cạnh con, mãi mãi yêu con. Sự hy sinh và tình yêu của mẹ như cánh cò che chở cho con trước mọi khó khăn, chông gai phía trước dù có là lên rừng hay xuống bể. Hai câu thơ cuối như một sư khẳng định chắc chắn đồng thời đó còn là lời khái quát chân thành của nhà thơ về tình mẫu tư “Con dù lớn vẫn là con của mẹ”. Đúng vậy, trong mắt mẹ còn dù có trưởng thành, có lớn lên bao nhiêu đi chăng nữa thì trong mắt mẹ con vẫn mãi chỉ như một con cò bé bỏng “Đi suốt cuộc đời lòng mẹ vẫn theo con”. Cuộc sống dù có biến chuyển thì tấm lòng của mẹ, sự yêu thương và hy sinh của mẹ dành cho còn vẫn không có gì thay đổi.

Nguồn Internet

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Thơ Thương Vợ Ngắn Gọn Ngữ Văn Lớp 11 Đầy Đủ trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!