Xu Hướng 2/2024 # Soạn Bài: Rút Gọn Câu ( Ngữ Văn Lớp 7) # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Rút Gọn Câu ( Ngữ Văn Lớp 7) được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài

a) So sánh và rút ra nhận xét về đặc điểm cấu tạo của hai câu sau:

b) Vì sao chủ ngữ trong câu (1) được lược bỏ?

: Có thể thêm những từ ngữ nào làm chủ ngữ cho câu (1)? Có thể thêm các từ: chúng tôi, ta, người Việt Nam,… vào vị trí chủ ngữ của câu (1). Như vậy, tuỳ từng trường hợp vận dụng mà có thể hiểu chủ ngữ cụ thể là ai. Cũng chính vì điều này mà người ta lược bỏ chủ ngữ của câu, để cụm động từ vị ngữ ” học ăn, học nói, học gói, học mở. ” trở thành kinh nghiệm chung, lời khuyên chung, đúng với tất cả mọi người.

(1) Hai ba người đuổi theo nó. Rồi ba bốn người, sáu bảy người.

– Câu ” Rồi ba bốn người, sáu bảy người.” được rút gọn vị ngữ; người ta có thể căn cứ vào câu đứng trước để xác định được vị ngữ của câu này là: đuổi theo nó.

– Câu ” Ngày mai.” được rút gọn cả chủ ngữ và vị ngữ; người ta có thể căn cứ vào câu đứng trước nó để hiểu được là: Tôi đi Hà Nội vào ngày mai. hoặc Ngày mai tôi đi Hà Nội.

Sáng chủ nhật, trường em tổ chức cắm trại. Sân trường thật đông vui. Chạy loăng quăng. Nhảy dây. Chơi kéo co.

– Các câu” Chạy loăng quăng. Nhảy dây. Chơi kéo co. ” thiếu thành phần chủ ngữ;

– Không phải bao giờ việc rút gọn câu cũng hợp lí. Tuỳ tiện lược bỏ thành phần câu như những câu trên khiến cho lời văn trở nên cộc lốc, khó hiểu.

– Mẹ ơi, hôm nay được điểm 10.

– Con mẹ giỏi quá! Bài nào được điểm 10 thế con?

– Bài kiểm tra toán.

Câu ” Mẹ ơi, hôm nay được điểm 10” không có thành phần chủ ngữ. Nói như thế, câu trở nên khó hiểu (không biết ai được điểm 10); hơn nữa, nói với người bậc trên không nên xưng hô cụt lủn như vậy. Câu ” Bài kiểm tra toán.” mặc dù thiếu vị ngữ nhưng có thể chấp nhận được nếu thêm vào những từ ngữ xưng hô lễ phép, chẳng hạn: Bài kiểm tra toán ạ! hoặc Bài kiểm tra toán mẹ ạ!

c) Như vậy, khi rút gọn câu ta cần lưu ý điều gì?

– Tránh làm cho người nghe (đọc) khó hiểu hoặc hiểu sai nội dung cần nói;

– Tránh sự khiếm nhã, thiếu lễ độ khi dùng những câu cộc lốc.

1. Trong các câu tục ngữ sau, câu nào là câu rút gọn? Những thành phần nào của câu được rút gọn? Rút gọn như vậy nhằm mục đích gì?

2. Hãy tìm các câu rút gọn trong những ví dụ sau.

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Lom khom dưới núi, tiều vài chú,

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.

Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.

Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,

Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Cưỡi ngựa một mình chẳng phải vịn ai.

Ban khen rằng: “ấy mới tài”,

Ban cho cái áo với hai đồng tiền.

Đánh giặc thì chạy trước tiên,

Xông vào trận tiền cởi khố giặc ra (!)

Trở về gọi mẹ mổ gà khao quân!

3. Đọc văn bản sau đây và trả lời câu hỏi:

Một người có việc đi xa, dặn con:

Sợ con mải chơi quên mất, ông ta viết mấy câu vào giấy, đưa cho con, bảo:

– Có ai hỏi thì đưa cái giấy này.

Đứa con cầm giấy bỏ vào túi áo. Cả ngày chẳng thấy ai hỏi. Tối đến, nó thắp đèn, lấy giấy ra xem, chẳng may để giấy cháy mất.

Hôm sau có người khách lại chơi, hỏi:

Thằng bé ngẩn ngơ hồi lâu, sực nhớ ra, sờ vào túi không thấy giấy, liền nói:

(Truyện cười dân gian Việt Nam)

a) Vì sao cậu bé và người khách trong câu chuyện trên hiểu lầm nhau?

– Cậu bé dùng những câu thiếu chủ ngữ để trả lời người khách: “Mất rồi.”, “Thưa… tối hôm qua.”, “Cháy ạ.”

– Từ chỗ hiểu nhầm chủ ngữ trong các câu nói của cậu bé là người bố của cậu, người khách cũng dùng những câu thiếu chủ ngữ để hỏi: “Mất bao giờ?”, “Sao mà mất nhanh thế?”, khiến sự hiểu lầm cứ tiếp diễn.

b) Để tránh hiểu lầm như trong trường hợp trên, khi nói năng chúng ta phải lưu ý điều gì?

4. Chi tiết nào có tác dụng gây cười và phê phán trong truyện sau:

Có anh chàng phàm ăn tục uống, hễ ngồi vào mâm là chỉ gắp lấy gắp để, chẳng ngẩng mặt nhìn ai, cũng chẳng muốn chuyện trò gì. Một lần đi ăn cỗ ở nhà nọ, có ông khách thấy ông ta ăn uống lỗ mãng quá, bèn lân la gợi chuyện. Ông khách hỏi:

– Chẳng hay ông là người ở đâu ta?

– Thế ông được mấy cô, mấy cậu rồi?

Nói xong, lại gắp lia gắp lịa.

– Các cụ thân sinh ông chắc còn cả chứ?

Anh chàng vẫn không ngẩng đầu lên, bảo:

(Truyện cười dân gian Việt Nam)

Soạn Bài Làm Thơ Lục Bát Ngắn Gọn Lớp 7

Các bài soạn trước đó:

Soạn bài Điệp ngữ ngắn gọn lớp 7

Soạn bài Luyện nói: Phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm văn học ngắn gọn lớp 7

SOẠN BÀI LÀM THƠ LỤC BÁT NGẮN GỌN LỚP 7 I. Luật thơ lục bát

1. Đọc kĩ câu ca dao2. Trả lời câu hỏi

a. Cặp câu thơ lục bát : câu đầu có sáu tiếng (lục), câu sau có tám tiếng (bát).

b. B- B- B- T- B- B(V)

T- B- B- T- T- B(V)- B- B(V)

T- B- B- T- B- B(V)

T- B- T- T- B- B- B- B

c. Nếu tiếng thứ 6 là thanh huyền (trầm) thì tiếng thứ 8 sẽ là thanh ngang (bổng) hoặc ngược lại.

d. Luật thơ lục bát:

Số câu : tối thiểu là 2, câu lục có 6 tiếng, câu bát có 8 tiếng.

Các tiếng chẵn : 2,4,6,8 bắt buộc phải đúng luật :

Câu lục : B – T – B

Câu bát : B – T – B – B

Các tiếng lẻ : 1,3,5,7 không bắt buộc phải đúng luật.

Vần :

Tiếng thứ 6 câu lục vần với tiếng thứ 6 câu bát.

Tiếng thứ 8 câu bát mở ra một vần mới, vần này vần với tiếng thứ 6 của câu lục và tiếng thứ 6 câu bát tiếp theo. Các vần này thường là thanh bằng.

Nhịp :

Câu lục : nhịp 2/2/2 ; 2/4 ; 3/3

Câu bát : 2/2/2 ; 4/4 ; 3/5 ; 2/6

II. Luyện tập Làm thơ lục bát

1. Câu 1/157 sgk văn 7 tập 1

(1): như là

(2): vững bền mai sau

(3): cây xòe bóng nắng cùng em trốn tìm

Lý do điền từ:

Hợp về nghĩa

Hợp về vần

2. Câu 2/157 sgk văn 7 tập 1

Hai câu lục bát sai vì không đúng nguyên tắc hiệp vần, và luật bằng trắc.

Sửa lại là:

(1) thay bòng bằng xoài

(2) thay tiến lên hàng đầu thành trở thành trò ngoan

Các bài soạn tiếp theo:

Soạn bài Một thứ quà của lúa non Cốm ngắn gọn lớp 7

Soạn bài Chơi chữ ngắn gọn lớp 7

Soạn Bài Ngắm Trăng Ngữ Văn 7

Soạn bài Ngắm Trăng Ngữ văn 7

Bài làm

Câu 1: Đọc kĩ phần phiên âm, phần dịch nghĩa và phần giải nghĩa chữ Hán để hiểu chính xác từng câu trong bài thơ. Học thuộc bản dịch thơ và nhận xét về các câu thơ dịch.

– Có thể nhận thấy được ở chính câu thứ hai trong nguyên tác có nghĩa là “Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?”. Thông qua đây chúng ta nhận thấy được câu thơ dịch dịch thành “Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ đã” dường như cũng đã lại làm mất đi cái xốn xang, cứ như thật bối rối của nhân vật trữ tình khi đứng trước vẻ đẹp của thiên nhiên.

Ở hai câu thơ cuối (bản dịch) dường như cũng kém ở phần đăng đối hơn so với phiên âm. Hơn nữa, ta có thể nhận thấy được chính từ “nhòm” và “ngắm” trong câu cuối là hai từ đồng nghĩa tất cả điều này như cũng lại khiến cho lời dịch không bảo đảm được sự hàm súc, sự cô đúc của ý tứ và thể thơ độc đáo nữa.

Câu 2: Ở bài thơ này, Bác Hồ ngắm trăng trong hoàn cành như thế nào? Vì sao Bác lại nói đến cảnh “Trong tù không rượu cũng không hoa” ? Qua hai câu thơ đầu, em thấy Bác có tâm trạng ra sao trước cảnh đẹp ngoài trời?

Theo lẽ thông thường thì người ta ngắm trăng vào những lúc thảnh thơi, thư thái. Thế nhưng ta nhận thấy được ở đây, Hồ Chí Minh cũng đã lại ngắm trăng trong một hoàn cảnh rất đặc biệt đó chính là cảnh ở trong lao tù. Khi Bác Hồ nói “Trong tù không rượu cũng không hoa”chúng ta cũng không nên nghĩ đây là Bác đang than thở mà đó là một sự thật. Chỉ vì đêm trăng đẹp quá và người xưa vẫn hay thưởng trăng khi có đầy đủ rượu và hoa mà thôi. Thế nhưng trăng lại quá đẹp và khiến cho Bác không thể nào hững hờ được cho nên chẳng cần hoa và rượu thì người vẫn cứ thưởng trăng, nhìn ngắm nét đẹp của thiên nhiên.

Câu 3: Trong hai câu thơ cuối của bài thơ chữ Hán, sự sắp xếp các từ nhân (và thi gia), song, nguyệt (và minh nguyệt) có gì đáng chú ý? Sự sắp xếp như vậy và việc đặt hai câu dưới dạng đối nhau có hiệu quả nghệ thuật như thế nào ?

Ở trong hai câu cuối của bài thơ chữ Hán đối nhau rất chỉnh đó chính là:

Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt, Nguyệt tòng song khích khán thi gia.

Có lẽ rằng cũng các từ chỉ người (nhân, thi gia) và các từ chỉ trăng (nguyệt) Bác cũng cứ vẫn khéo léo để đặt ở hai đầu, ở giữa là cửa nhà tù (song). Thế nhưng, ta nhận thấy được cũng chính giữa người và trăng lúc này đây dường như cũng lại vẫn tìm được sự giao hoà với nhau. Có lẽ chính cấu trúc đối này đã làm nổi bật tình cảm mãnh liệt giữa người và trăng. Ở đó sự nổi bật sự gắn bó thân thiết của một mối quan hệ từ lâu đã trở thành tri kỉ thật bền chặt.

Hình ảnh Bác lúc này đây cũng đã lại hiện lên trong bài thơ nổi bật ở khía cạnh người chiến sĩ dường như lại không chút bận tâm về gông cùm, đói rét, … Khi đứng trước những khó khăn thì hình ảnh Bác lúc này đây cứ vẫn giữ được phong thái ung dung, tự tại. Ta như nhận thấy được bài thơ cũng lại còn thể hiện nổi bật tâm hồn nghệ sĩ của Bác Hồ, đó cũng chính là một tâm hồn luôn rộng mở với thiên nhiên.

Câu 5: Nhà phê bình văn học Hoài Thanh nhận xét : “Thơ Bác đầy trăng”. Hãy chép lại bài thơ Bác Hổ viết về trăng mà em biết (chú ý ghi rõ thời điểm sáng tác mỗi bài). Cuộc “ngắm trăng” trong bài Vọng nguyệt và hình ảnh trăng được thể hiện trong các bài thơ khác của Bác có gì đáng chú ý?

Chúng ta cũng biết được nhà phê bình Hoài Thanh dường như thật tài tình, thật chính xác khi ông cũng đã rất chính xác và tinh tế khi nhận xét rằng: “Thơ Bác đầy trăng”.Qủa thực Bác co rất nhiều bài thơ có hình ảnh trăng có thể kể ra như các bài thơ: Ngắm trăng, Trung thu, Đêm thu, Rằm tháng giêng, cảnh khuya, … Thực sự hình ảnh trăng trong thơ Bác mang nhiều sắc vẻ khác nhau. Cho dù là ở chốn lao ngục, hay lúc bận trăm công ngàn việc thì tâm hồn của Người dường như cũng cứ luôn luôn hướng về cái đẹp. Hình ảnh trăng như một người tri kỉ với Bác luôn sáng trong và thật đẹp.

Chúc các em học tốt!

Soạn Bài Thơ Thương Vợ Ngắn Gọn Ngữ Văn Lớp 11 Đầy Đủ

Câu 1: Hình ảnh bà Tú qua bốn câu thơ đầu

– Hai câu đầu đã giới thiệu được hình ảnh bà Tú gắn với công việc mưu sinh.

Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng

+ Công việc là buôn bán. Thời gian làm việc là “quanh năm”, là ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Mom sông là vùng đất nhô ra sông, nơi đầu sóng ngọn gió.

– Trên cái nền không gian và thời gian ấy, cuộc mưu sinh đầy khó khăn của bà Tú hiện lên rất rõ:

Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Hình ảnh thân cò là hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng cho phụ nữ trong xã hội xưa. Có điều, Tú Xương vừa tiếp thu ca dao nhưng vừa có những sáng tạo độc đáo. Dùng từ thân cò làm ý thơ mang tính khái quát cao hơn, nó giúp gợi lên cả một số kiếp, nỗi đau thân phận. Có lẽ vì thế mà tình thương của Tú Xương dành cho bà Tú trở nên sâu sắc hơn. Bên cạnh đó, từ láy lặn lội, eo sèo được đảo lên trước làm nổi bật hình ảnh lam lũ, vất vả của bà Tú.

Câu 2: Đức tính cao đẹp của bà Tú

Vẻ đạp của bà Tú trước hết được cảm nhận ở sự đảm đang, tháo vát, chu toàn với chồng con:

Nuôi đủ năm con với một chồng

Từ đủ trong nuôi đủ vừa nói số lượng, vừa nói chất lượng. Oái oăm hơn, câu thơ chia làm hai vế thì vế bên này (một chồng) lại cân xứng với cả gánh nặng bên kia (năm con). Câu thơ cho thấy Tú Xương ý thức rõ lắm nỗi lo của vợ và sự khiếm khuyết của mình nữa.

Năm nắng mười mưa dám quản công

Thành ngữ ” năm nắng mười mưa ” vốn đã có hàm nghĩa chỉ sự gian lao, vất vả nay được dùng trong trường hợp của bà Tú nó còn nổi bật được đức chịu thương, chịu khó hết lòng vì chồng con của bà Tú. Nhưng với bà Tú đó lại là niềm hạnh phúc của một người vợ vì gia đình. Tú Xương đã thay vợ mình nói lên điều này.

Câu 3: Lời “chửi” trong hai câu thơ cuối là lời Tú Xương tự rủa mát mình:

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cùng như không.

Hai câu cuối chỉ ra hai nguyên nhân gây nên nỗi khổ của vợ: ấy là mình và thói đời. Sự hờ hững của ông cũng là một biểu hiện của thói đời ấy. Đó cũng là biểu hiện của việc vận dụng khẩu ngữ, lời ăn, tiếng nói của dân gian để khắc họa hình ảnh bà Tú – một người phụ nữ của gia đình, của xã hội. Lời chửi ẩn sâu trong tâm khảm sự thương yêu và có cả ngậm ngùi, chua xót đến đắng lòng.

Trong xã hội trọng nam khinh nữ, việc một nhà nho như Tú Xương không những nhận ra sự vô dụng của mình mà còn trách mình một cách thẳng thắn, đó chính là một biểu hiện trong nhân cách nhà thơ qua tiếng chửi trong bài thơ.

Câu 4: Nỗi lòng của nhà thơ

Nỗi lòng thương vợ của Tú Xương được thể hiện thành công qua bài thơ. Tựa đề Thương vợ chưa thể hiện được đầy đủ tình thương của nhà thơ đối với vợ cũng như chưa toát lên được nhân cách của nhà thơ. Tú Xương không chỉ thương vợ mà còn biết ơn vợ, không chỉ lên án thói đời mà còn tự trách mình. Điều đó chứng tỏ tấm lòng của nhà thơ đối với bà Tú.

Câu hỏi 6: Phân tích sự vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian trong bài thơ ” Thương vợ ” của Tú Xương.

“Thương vợ” là một trong những bài thơ mà Tú Xương vận dụng một cách rất sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian.

– Về hình ảnh: Trong ca dao, hình ảnh con cò có khá nhiều ý nghĩa: có khi nói về thân phận người phụ nữ lam lũ, vất vả, chịu thương chịu khó; có khi lại tượng trưng cho thân phận người lao động với nhiều bất trắc thua thiệt. Như thế, con cò trong ca dao vốn đã gợi nhiều cay đắng, xót xa. Song dường như ứng vào nhân vậ cụ thể là bà Tú thì nó lại càng gợi sự xót xa, tội nghiệp nhiều hơn. Hơn thế nữa so với từ ” con cò” trong ca dao thì từ ” thân cò ” của Tú Xương mang tính khái quát cao hơn, do vậy mà tình yêu thương của Tú Xương cũng thấm thía và sâu sắc hơn.

– Về từ ngữ: thành ngữ ” năm nắng mười mưa” được vận dụng một cách rất sáng tạo. Cụm từ ” nắng mưa” chỉ sự vất vả. Các từ năm, mười là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra rồi kết hợp với ” nắng, mưa ” tạo nên một thành ngữ chéo. Hiệu quả của nó vừa nói lên sự vất vả, gian lao, vừa thể hiện đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng con của bà Tú.

Câu hỏi 7: Cảm nhận của anh (chị ) về thân phận và vẻ đẹp của người phụ nữ trong bài thơ Thương vợ của tác giả Trần Tế Xương:

Soạn Bài Chiều Tối Của Hồ Chí Minh Ngữ Văn Lớp 11 Ngắn Gọn Nhất

– Là tập nhật kí viết bằng thơ, được Bác sáng tác trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam từ mùa thu 1942 – 1943 tại tỉnh Quảng Tây.

– Tập thơ gồm 134 bài bằng chữ Hán.

+ Tập thơ phản ánh trung thực bộ mặt nhem nhuốc , xấu xa của chế độ nhà tù đầy bất công phi lí dưới chính quyền TGThạch.

+ Một tâm hồn rất mềm mại tinh tế chan hoà với thiên nhiên và con người .

+ Một thái độ ung dung tự tại hết sức thoải mái như bay lượn trong vùng trời tự dongoài nhà tự.

+ Tinh thần lạc quan tin tưởng, luôn hướng về bình minh tươi sáng.

+ Là tập thơ chan chứa tinh thần nhân đạo và lòng yêu nước thiết tha cháy bỏng của HCM.

Thể hiện sâu đậm phong cách NT của hồn thơ HCM: Hồn nhiên, giản dị, cổ điển mà hiện đại, chiến sĩ mà thi sĩ, luôn luôn ẩn hiện 1 nụ cười thoải mái trẻ trung hài hước hóm hỉnh.

* Hoàn cảnh sáng tác: SGK/41

* Đọc và đối chiếu lời thơ dịch:

+ Trong nguyên tác, Bác không cần dùng từ chỉ tới nghĩa trời tối. Người dịch thêm vào chữ tối không phải là sai nhưng làm ý thơ bộc lộ sớm qúa.

– Bài thơ được làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt.

+ Theo kết cấu: Khai, thừa, chuyển, hợp.

Hai câu đầu: Bức tranh thiên nhiên chiều tối.

Hai câu sau: Bức tranh đời sống con người

– Khung cảnh thiên nhiên núi rừng lúc chiều tối được tác giả quan sát trên con đường chuyển lao với nghệ thuật chấm phá của thơ Đường.

– Hình ảnh tiêu biểu: cánh chim mỏi, chòm mây lẻ loi

+ Trước hết đây là những hình ảnh thiên nhiên mang vẻ đẹp cổ điển, bình dị (chim bay về rừng biểu trưng cho buổi chiều tà) với những chuyển động nhẹ, khẽ và chứa đầy cảm xúc: cánh chim mỏi mệt sau một ngày kiếm ăn đang gắng sức tìm chốn ngủ, còn chòm mây đơn độc thì chầm chậm trôi giữa bầu trời bao la.

+ Ẩn sau mỗi hình ảnh dường như có tâm sự của con người gửi gắm: đặt trong tình cảnh của người tù phải lê bước trên đường trường từ sớm tới tối trong tình cảnh “mũ áo dầm mưa rách hết giày” và ‘xiềng xích thay dây trói” mà chưa được nghỉ chân ta mới thấy hình ảnh cánh chim như gợi lên những vất vả, khó nhọc trên con đường Bác phải đi. Còn chòm mây như mang tâm trạng lẻ loi, đơn độc và cái băn khoăn, trăn trở chưa biết tương lai phía trước sẽ đi về đâu của người tù nơi đất khách.

+ Đằng sau mỗi hình ảnh như khắc khoải và cháy bỏng một ước mong sum họp, một niềm khao khát tự do – những tình cảm đầy nhân bản của người chiến sĩ cách mạng xa xứ.

– Hình ảnh tiêu biểu: cô em xay ngô, lò than rực hồng.

+ Hình ảnh cô gái xay ngô toát lên vẻ trẻ trung, khỏe mạnh, đầy sức sống. Giữa núi rừng mênh mông, thiếu nữ miền sơn cước không bị hòa lẫn vào cảnh vật. Công việc lao động của cô, ngọn lửa hồng từ lò than và nhiệt huyết của tuổi trẻ đã làm sáng bừng và sưởi ấm cả không gian núi rừng chiều tối âm u, heo hút.

Làm cho người đi đường, người tù thêm ấm áp, cảm nhận rõ niềm vui của cuộc sống.

+ chữ “tối”: nguyên văn không có. Ba chữ “ma bao túc” ở cuối câu 3 được điệp vòng ở đầu câu 4 “bao túc ma hoàn” đã tạo nên sự nối âm liên hoàn, nhịp nhàng như vừa diễn tả cái vòng quay không dứt của động tác xay ngô vừa thể hiện dòng lưu chuyển của thời gian từ chiều đến tối.

+ “lô dĩ hồng”: chữ hồng giúp người đọc hình dung ra bóng tối đang buông xuống xóm núi. Đồng thời nó làm sáng rực toàn bộ bài thơ, làm mất đi sự mỏi mệt, uể oải, vội vã, nặng nề diễn tả ở ba câu đầu.

– Nghệ thuật tả cảnh trong bài thơ vừa có nét cổ điển (bút pháp chấm phá, ước lệ với những thi liệu xưa cũ), vừa có nét hiện đại (bút pháp tả thự sinh động với hình ảnh dân dã đời thường, con người là trung tâm của bức tranh)

– Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, hàm súc được sử dụng linh hoạt, có sức gợi cảm cao

– Bài thơ còn lấp lánh chất thép vĩ đại. ở trong cảnh bị đoạ đầy, đau khổ thế mà bác vẫn làm được thơ hay, thể hiện được niềm vui lao động khoẻ khoắn

Soạn Bài Bạn Đến Chơi Nhà Ngữ Văn 7

Soạn bài Bạn Đến Chơi Nhà Ngữ văn 7

Bài làm

Câu 1 (Sách giáo khoa trang 105 ngữ văn 7 tập 1)Bạn đến chơi nhà thuộc thể thơ gì? Vì sao lại xác định như vậy?

Bạn đến chơi nhà là một bài thơ độc đáo thuộc thể Đường luật thất ngôn bát cú:

+ 8 câu, mỗi câu 7 tiếng

+ Cách gieo vần: Cách gieo vần chân 1, 2, 4, 6, 8

+ Nhịp điệu của bài thơ luôn hài hòa,

Câu 2 (Sách giáo khoa trang 105 ngữ văn 7 tập 1)Bài thơ được lặp ý bằng cách dựng lên một tình huống hoàn toàn không có gì tiếp bạn đế rồi kết lại một câu: “Bác đến chơi đầy, ta với ta!” nhưng thề hiện được tình bạn đậm đà thắm thiết. Em có tán thành ý kiến trên không? Nếu không, cho biết lí do. Nếu có thì hãy làm rõ bằng cách trả lời các câu hỏi

Chúng ta có thể nhận thấy được chính bài thơ xây dựng tình huống không có gì để tiếp bạn nhưng vẫn cứ làm nổi bật được tình bạn thắm thiết, sâu đậm

– Thông qua nội dung của câu thứ nhất, cũng đã rất lâu rồi bạn mới đến chơi. Tác giả Nguyễn Khuyến phải tiếp bạn thật chu đáo, tử tế nhất.

– Người đọc nhận thấy ở sáu câu thơ tiếp theo cho thấy hoàn cảnh đặc biệt

+ Khi muốn ra chợ thì chợ xa

+ Khi muốn sai bảo trẻ thì trẻ lại không có ở nhà

+ Và nếu như muốn bắt cá thì ao sâu

+ Tác giả muốn bắt gà vườn rộng, rào thưa

+ Tất cả những thực phẩm như thịt, cá, rau đậu của vườn lúc này cũng lại chưa ăn được

+ Ngay cả đến miếng trầu cũng không có

– Tình huống được tạo ra có tính bông đùa, có sẵn nhưng hóa ra lại không có gì, nhấn mạnh sự chân tình có thể bù đắp sự thiếu thốn vật chất

c, Có thể nhận ran gay được đối với câu thơ thứ 8 với cụm từ ta với ta ý nghĩa: đó chính là không cần vật chất đầy đủ mà chỉ cần cái tình đủ làm cho tình bạn thắm thiết và vô cùng gắn bó rồi.

+ Con người ta luôn luôn thương quý nhau ở cái tình, ăn ở đối xử với nhau.

d, Bài thơ “Bạn đến chơi nhà” có thể cảm nhận được sau câu chào hỏi, tác giả cũng đã nghĩ ngay tới việc lo vật chất để có thể tiếp bạn cho xứng với tình cảm của hai người:

+ Nhà thơ Nguyễn Khuyến như cũng rất quan tâm đến bạn, muốn tiếp bạn chu đáo nhất

+ Có thể nhận thấy được chính sự coi trọng, quý mến bạn của nhà thơ

Bài 1 (Sách giáo khoa trang 106 ngữ văn 7 tập 1) a- Ngôn ngữ ở bài Bạn đến chơi nhà có gì khác với ngôn ngữ ở đoạn thơ Sau phút chia li đã học? b- So sánh cụm từ “ta với ta” trong bài bạn đến chơi nhà của Nguyễn khuyến với cụm từ “ta với ta” trong bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan.

Cách sử dụng ngôn ngữ trong bài bạn đến chơi nhà là ngôn ngữ mộc mạc, giản dị đã vậy lại còn rất đời thường nữa.

– Cách sử dụng ngôn ngữ trong bài “Sau phút chia ly” được đánh giá chính là một thứ ngôn ngữ Hán mang hơi hướng văn cổ, trang trọng nhất.

– Có thể nhận thấy được cũng chính cụm từ “ta với ta” có trong bài Bạn đến chơi nhà của tác giả Nguyễn Khuyến chỉ nhà thơ và bạn mình. Còn đối với cụm từ “ta với ta” ở trong bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan cũng chỉ một mình bà với tình riêng của bà mà thôi.

Giải Văn đã cung cấp cho các em những kiến thức trọng tâm cần nắm vững khi học bài “Bạn đến chơi nhà”. Hi vọng đây cũng sẽ là một bài soạn ý nghĩa để giúp cho các em học tốt hơn.

Minh Nguyệt

Soạn bài Tục ngữ về con người và xã hội

Soạn bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta

Soạn bài Những câu hát than thân

Soạn bài Những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người

Topics #Bạn đến chơi nhà #Soạn bài Bạn Đến Chơi Nhà #Soạn bài Bạn Đến Chơi Nhà Ngữ văn 7 #Soạn văn

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Rút Gọn Câu ( Ngữ Văn Lớp 7) trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!