Xu Hướng 2/2024 # Soạn Bài Nhớ Đồng Lớp 11 # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Nhớ Đồng Lớp 11 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

SOẠN NHỚ ĐỒNG LỚP 11 I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Tố Hữu (1920 – 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành. Quê ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Thuở nhỏ học ở trường Quốc học Huế. Năm 1938, ông được kết nạp vào đảng cộng sản. Từ đó sự nghiệp thơ ca gắn liền với sự nghiệp cách mạng, thơ ông luôn gắn bí và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng đầy gian khổ, hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vẻ vang của dân tộc Việt Nam.

2. tác phẩm

Đầu năm 1939, tình hình thế giới trở nên căng thẳng, cuộc đại chiến lần thứ hai có nguy cơ bùng nổ, thực dân Pháp quay lại đàn áp phong trào cách mạng ở Đông Dương. Cuối tháng 4 năm ấy, Tố Hữu bị chính quyền thực dân bắt ở Huế trong một đợt khủng bố Đảng Cộng sản. “Nhớ đồng” được viết trong những ngày bị giam nhà lao Thừa Phủ Thiên (Huế). Bài thơ này thuộc phần “xiềng xích” của tập chí “từ ấy”

II. Hướng dẫn soạn bài Nhớ đồng đọc hiểu chi tiết

Câu 1 trang 48 SGk ngữ văn 11 tập 2:

Tiếng hò vang lên lẻ loi, đơn độc trưa yên tĩnh, sâu lắng, gợi cảm giác buồn, hiu quạnh, đồng điệu với cảnh ngộ và tâm trạng người tù

Tiếng hò gợi dậy tất cả những gì của thế giới bên ngoài. Đó là âm thanh của cuộc sống bên ngoài đến được với nhà tù, âm thanh tiêu biểu của xứ Huế, gợi nỗi nhớ đồng quê, nhớ người dân quê da diết.

Câu 2 trang 48 SGk ngữ văn 11 tập 2:

Trong bài thơ Tố Hữu dùng khá nhiều phép điệp, nhất là điệp khúc: gì sâu bằng những trưa thương nhớ, gì sâu bằng những trưa hiu quạng và điệp từ “đâu”. Việc lặp lại như vậy tạo được hiệu quả nghệ thuật cao, tác dụng như một điệp khúc, nhân mạnh tô đậm cảm xúc của bài thơ:

Nỗi hiu quạnh: hiu quạnh trong âm thanh tiếng hò não nùng, hiu quạng của trưa vắng, hòa điệu cùng nỗi hiu quạng của người tù một mình đối diện với bốn bức tường giam hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài.

Nỗi thương nhớ: được khơi gợi từ tiếng hò, từ sự quạnh hiu. Thương nhớ đến đồng quê (từ cảnh sắc đến người dân quê)

Bao trùm là âm điệu tiếng than về nỗi quạnh hiu cùng cực một người tha thiết yêu đời, say mê hoạt động bị cách li khỏi cuộc đời.

Câu 3 trang 48 SGK ngữ văn 11 tập 2:

Hình ảnh đồng quê được hình dâu rõ rang, cụ thể không chỉ bằng đường nét, màu sắc mà còn có hương vị, hơi mát…Tất cả đều là những cảnh sắc đơn sơ, quen thuộc mà rất đỗi thân thương (màu sắc: ô mạ xanh; không khí yên bình; ruồng tre mát, thở yên vui; hương vị: gió cồn thơ, khoai ngọt sắn bùi; âm thanh: kuas xao xác, tiếng tre lùa nước hòa tiếng não nùng – những âm thanh buồn nhưng lại thể hiện được hồn quê)

Bao trùm là điệu tiếng than về nỗi quạng hiu cùng cực của một người tha thiết yêu đời, say mê hoạt động bị cách li khỏi cuộc đời.

Câu 4 trang 48 SGK ngữ văn 11 tập 2:

“Đâu những ngày xưa tôi nhớ tôi

Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi”

Đoạn thơ tạo hai hình ảnh đối lặp: hình ảnh của nhà thơ trước khi gặp lí tường cách mạng được tái hiện trong kí ức (những ngày xưa tôi nhớ tôi) và hình ảnh sau khi đến với lí tưởng cách mạng:

Trước khi gặp lí tưởng cách mạng: băn khoăn, vẩn vơ, quanh quẩn, tâm hồn bế tắc, chán nản

Sau khi gặp lí tưởng cách mạng: như cánh chim vui say, bay liệng trong không gian bao la, bát ngát. Tâm hồn được giải phóng, rộng mở, hòa nhập với cuộc đời

Từ hai hình ảnh đối lập, nhà thơ quay về với thực tại: cánh chim buồn nhớ gió mây. Hình ảnh con chim tự do ngày nào giờ đây trong cảnh giam cầm, nhớ gió mây gợi niềm say mê lí tưởng, khao khát được hoạt động, được cùng đồng chí, đồng bào chiến đấu.

Câu 5 trang 48 SGK ngữ văn 11 tập 2:

Nhận xét chung về tâm trạng tác giả thể hiện trong bài thơ:

Bài thơ không dùng lại nỗi thương nhớ đồng quê mà còn là thương nhớ cuộc sống, thương nhớ đồng bào, khao khát tự do, bất bình với thực tại tù đày.

Nguồn Internet

Soạn Bài Nhớ Đồng Của Tố Hữu Văn Lớp 11

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

– Tố Hữu sinh năm 1920 mât năm 2002 tên thật là Nguyễn Kim Thành. Tố Hữu được biết đến không chỉ là một nhà thơ mà còn là môt nhà hoạt động cách mạng, qua những trang thơ trang văn của ông đặc biệt các bài thơ mang cả khuynh hướng trữ tình và chính trị thì ông đã thể hiện tinh thần yêu nước cuãng như những lí tưởng được gửi gắm trong cuộc đời làm cách mạng của mình

2. Tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác: trong những năm 1939 khi tình hình chiến trang thế giới có nguy cơ diễn ra thì đứng trong hoàn cnahr đó nhà thơ tham gia hoạt động cách mạng một các tích cực nhưng thật không may sau đó bị bắt giam cho nên ông đã viết nên bài thơ nhằm bày tỏ nỗi nhớ, sự khao khát tự do của mình

b. Vị trí xuất xứ: in trong phần xiềng xích của tập thơ Từ ấy

d. Bố cục: 3 phần:

– Phần 1: 9 khổ thơ đầu: khát khao và nỗi nhớ của người tù cộng sản với cuộc sống tư do bên ngoài

– Phần 2: 2 khổ tiếp: nhớ những ngày còn ở ngoài tự do

– Phần 3: còn lại: thực tại phòng giam ngột ngạt

II. Tìm hiểu chi tiết

1. Nỗi nhớ của người cộng sản với cuộc sống bên ngoài tự d

– Nhớ đến những đồng ruộng mà gắn liền với hình ảnh ấy là hình ảnh những người nông dân, họ chân lấm tay bùn nhưng rất hào hứng vơi công việc của mình đặc biệt là hình ảnh người nông dân rất gắn bó và đặc trưng trong thơ ca. tiếp theo đó là những buổi chiều sương với hình ảnh của chiếc xe lùa nước

2. kí ức và những hồi ức về cuộc sống tự do bên ngoài

– Đó là những kí ức về một chàng thanh niên vẫn bâng khuâng đi kiếm lẽ yêu đời, sống sao cho có ích cho đẹp. tuổi ấy là tuổi đẹp nhất là tuổi mà người thanh niên sáng bừng lí tưởng của đảng của cách mạng

Ước muốn thực sự của tác giả chính là thoát ra bên ngoài khỏi song sắt nhà tù được cống hiến và được đi theo ngọn đèn soi sáng của Đảng của lí tưởng cách mạng sáng ngời

3. Quay về với thực tại bị giam cầm:

– Nỗi nhớ cứ xuất hiện trong tâm tưởng cứ dài triền miên như thế, những hình ảnh gọi kí ức đem giấc mơ về nhưng thực tại thì trước tác giả vẫn là song săt hà thù bị cuộc sống gò bó khoogn có một chút tự do

-Mong muốn của nhà thơ là thoát khỏi hiện thực trở về với môt cuộc sống tự do và tiếp tục thực hiện hoài bão lí tưởng của mình

-Tác giả vừa là một người có tâm hôn thi sĩ lại là một người chiến sĩ kiên cường

III. Tổng kết

Qua những nét gợi của tác giả khung cảnh và quê hương của con người Huế mộc mạc giản dị hiện ra bên cạnh đó những nét tính cách và khát vọng hoài bão của một người tù cộng sản một thanh niên yêu nước cũng được thể hiện rõ.

Soạn Bài Đồng Chí Lớp 9

SOẠN BÀI ĐỐNG CHÍ LỚP 9 I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Chính Hữu (1926 – 2007) tên thật là Trần Đình Đắc. Quê ở Can Lộc, Hà Tĩnh. Năm 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ

Ông làm thơ từ năm 1947 và hầu như chỉ viết về người lính và chiến tranh. Tập “đầu súng trăng treo” (1966) là tác phẩm chính của ông. Thơ ông không nhiều nhưng có bài đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc, hàm súc.

2. Tác phẩm

Bài thơ “đồng chí” được sáng tác đầu năm 1948 sau khi tác giả cùng đồng độ tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947) đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của giặc Pháp lên chiến khu Việt Bắc. Bài thơ là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất về người lính cách mạng của văn học thời kháng chiến chống Pháp (1947 – 1954).

II. Hướng dẫn soạn bài Đồng chí đọc hiểu chi tiết.

Câu 1 trang 130 SGK ngữ văn 9 tập 1:

Dòng thứ bày của bài thơ có cấu tạo đặc biệt. Cả dòng thơ chỉ có 1 từ, hai tiếng và dấu chấm cảm: “Đồng chí!”. Kiểu câu đặc biệt này tạo điểm nhấn. Nó vang lên như sự phát hiện, lời khẳng định. Nó còn tựa như cái bắt tay thân thiết giữa những con người. Nó như cái bàn lề gắn kết hai đoạn: đoạn trước là cơ sở, nguồn gốc của tình đồng chí, đoạn sau là những biểu hiện cụ thể, cảm động của tình đồng chí.

Câu 2 trang 130 SGK ngữ văn 9 tập 1:

Sáu câu thơ đầu bài nói về cơ sở hình thành tình đồng chí của những người lính cách mạng. Đó là tình cảm bắt nguồn từ sâu xa từ sự tương đồng về cảnh ngộ xuất thân nghèo khó. Họ cùng chung giai cấp xuất thâm chung mục đích lí tưởng. Tình đồng chí còn được nảy sinh từ sự cùng chung nhiệm vụ sát cánh bên nhau trong chiến đấu. Tình đồng chí, đồng đội nảy nở và thành bền chặt trong sự chan hòa và chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui, đó là mối tình tri kỉ của những người bạn chí cốt, mà tác giả đã biểu hiện bằng một hình ảnh cụ thể, giản dị mà hết sức gợi cảm:” đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”.

Câu 3 trang 130 SGK ngữ văn 9 tập 1:

Trong bài thơ có những chi tiết, hình ảnh vừa chân thực vừa có sức gợi cảm cao về tình đồng chí đồng đội gắn bó keo sơn của những người lính cách mạng:

“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt của thời tiết, người lính chia sẻ hơi ấm cho nhau. Đắp “chung chăn” chỉ là mẹ và con, “chung chăn” chỉ là vợ với chồng, giờ đây “chung chăn” lại là mình và anh trong cái chăn ta ấm tình đồng chí, ta là đôi “tri kỉ” gắn bó với nhau tâm đầu ý hợp.

Mười câu tiếp thoe là những biểu hiện cụ thể và cảm động của tình đồng chí:

+ Đó là sự cảm thông sâu xa những tâm tư nỗi lòng của nhau:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”

+ Đó là cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính:

“Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày”

+ Nhất là cùng trải qua những “cơn sốt run người vừng trán mồ hôi”

Câu 4 trang 130 SGK ngữ văn 9 tập 1:

Sự sát cánh cùng nhau chiến đấu: giữa rừng già hoang vu, lạnh lẽo những người lính vẫn cảm thấy ấm áp, ấm lòng vì có đồng đội sát cánh bên mình.

Đầu súng trăng treo: câu thơ đẹp nhất trong bài thơ hiện lên hình ảnh vừa tả thực vừa lãng mạn, vừa gần vừa xa, súng tượng trưng cho người chiến sĩ chiến đấu, trăng tượng trưng cho người thi sĩ làm thơ.

Câu 5 trang 130 SGK ngữ văn 9 tập 1:

Theo phần chú thích của SGK:đồng chí là người có cùng chí hướng, lí tưởng. Người ở cùng trong một đoàn thể chính trị hay một tổ chức cách mạng thường gọi nhau là đồng chí, đây là một từ hoàn toán mới, một mối quan hệ mới trong xã hội thực dân – phong kiến chưa hề có, nó chỉ trở nên thông dụng trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

Toàn bộ nội dung bài thơ tập trung làm nổi bật vẻ đẹp của tình đồng chí. Có thể nói nhan đề bài thơ thâu tóm nội dung bài thơ.

Câu 6 trang 130 SGK ngữ văn 9 tập 1:

Qua bài thơ hình ảnh anh bộ đội kháng chiến chống Pháp hiện lên thật đẹp: đẹp ở sự giản dị đời thường, đẹp ở sự chịu đựng gian khó, đẹp ở thái độ dứt khoát để hi sinh chiến đấu vì Tổ quốc mà không vướng bận tình riêng, đẹp ở lí tưởng chiến đấu vì một ngày mai tươi sáng hòa bình.

III. Luyện tập bài Đồng chí

Câu 1 trsng 131 SGK ngữ văn 9 tập 1:

học thuộc bài thơ

Câu 2 trang 131 SGK ngữ văn 9 tập 1:

Gợi ý: xem lại câu 4, nêu lên những cảm nhận chân thành

Nguồn Internet

Soạn Bài Bài Ca Ngất Ngưởng Lớp 11

SOẠN BÀI BÀI CA NGẤT NGƯỞNG LỚP 11. I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858), người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong gia đình nho học

Ông cần cù, say mê học hành nhưng thi cử lận đận, đến 41 tuổi đậu giải nguyên và ra làm quan dưới triều Nguyễn

Là người tài năng, nhiệt huyết ở nhiều lĩnh vực, là người yêu nước, thương dân

Sáng tác của ông hầu hết viết bằng chữ Nôm, thể thơ đường luật và hát nói. Ông để lại trên 50 bài thơ, ca trù và một bài phú nổi tiếng Hàn nho phong vị phú.

2. Bài thơ

Hoàn cảnh sáng tác: bài thơ được viết sau năm 1848 là năm ông cáo quan về vườn, lúc đó ông ngoài 70 tuổi

Thể thơ: hát nói

Đề tài: lời tự thuật độc đáo về cái tôi ngông nghênh, khinh đời, ngạo thế, sự đối lập giữa bậc tài danh có phẩm cách nhà nho chân chính với tầng lớp phong kiến bất tài

II. Hướng dẫn soạn bài Bài ca ngất ngưởng đọc hiểu chi tiết

Câu 1 trang 89 SGK ngữ văn 11 tập 1:

Ngất ngưởng là một từ láy tượng hình vốn được dùng chỉ sự vatah ở độ cao chênh vênh, bất ổn định. Ở bài thơ này, từ ngất ngưởng được dùng với nghĩa chỉ sự khác thưởng, vượt lên coi thường dư luận. Ngoài nhan đề, từ ngất ngưởng được nhắc lại 4 lần ở cuối các khổ thơ trở thành biểu tượng cho phong cách sống, thái độ sống vượt lên thế tục, một lối chơi ngông nghênh thách thứ xung quanh trên cơ sở nhận thức rõ tài năng và nhân cách cá nhân.

Từ ngất ngưởng thứ nhất chỉ sự thao lược, tài năng và phong cách ngạo nghễ khi làm quan của Nguyễn Công Trứ

Từ ngất ngưởng thứ hai chỉ sự ngang tàng của tác giả khi làm dân thường

Từ ngất ngưởng thứ ba khẳng định cái chơi ngông hơn người của Nguyễn Công Trứ, ông dẫn các cô gái trẻ lên chàu, đi hát ả đào…và tự đánh giá cao các việc làm ấy.

Từ ngất ngưởng cuối cho thấy tác giả hơn người là vì dám coi thường công danh phú quý, coi thường cả dư luận khen chê, thỏa thích vui chơi bất cứ thú gì, không vướng bận đến sự rang buộc bản thân.

Câu 2 trang 89 SGK ngữ văn 11 tập 1:

Nguyễn Công Trứ biết làm quan là mất tự do. Ông coi chốn quan trường là cái lồng giam hãm con người. Thế nhưng ông vẫn ra làm quan vì ông quan niệm đó là nơi thể hiện tài năng và nhiệt huyết cho xã hội, cho triều đình và cho đạo vua tôi nên ông có quyền ngất ngưởng nhất trong triều. Tóm lại, ngất ngưởng thực chất là một phong cách sống tôn trọng sự trung thực, tôn trọng cá tính, không chấp nhận sự khắc kỉ phục lễ, uốn mình theo lễ và danh của Nho giáo.

Câu 3 trang 89 SGK ngữ văn 11 tập 1:

Trong bài thơ tác giả tự kể về mình, tự thuật, đánh gía bản thân. Giọng điệu tự thuật khẳng khái, đầy cá tính đã cho thấy ông song phẳng, thẳng thắn và có ý thức về cách sống của mình. Nguyễn Công Trứ tự hào vì có một cuộc sống hoạt động tích cực trong xã hội. Ông cũng tự hào vì mình dám sống cho mình, bỏ qua sự ò bó của lễ và danh giáo

Câu 4 trang 89 SGK ngữ văn 11 tập 1:

Thể hát nói phát triển mạnh bắt đầu từ những năm đầu thế kỉ XIX. Nhiều nhà nho, nhà thơ gửi gắm tâm sự mình trong những sáng tác bằng thể hát nói. Nhờ đó, thể loại này phát triển nhanh chóng và chiếm vị trí độc tôn trong thời gian dài, trở thành khuynh hướng văn học thời đại.

So với thể thơ đường luật gò bó, chật chội, hát nói phóng khoáng và tự do hơn nhiều. Hát nói có quy định về số cây, về cách chia khổ nhưng nhìn chung người viết hoàn toàn có thể phá cách để tạo nên tác phẩm tự do về số câu, số chữ, cách gieo vần, nhịp điệu… Sự phóng khoảng của thể thơ đặc biệt thích hợp việc chuyển tải những quan niệm nhân sinh của những nhà nho khao khát khẳng định chính mình, sống theo mình, coi thường những rang buộc của lễ nghi, của xã hội.

III. Luyện tập bài ca ngất ngưởng.

Sự khác biệt về từ ngữ giữa bài “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ và bài “bài ca phong cảnh Hương Sơn” của Chu Mạnh Trinh

Ngôn ngữ của bài ca ngất ngưởng vừa phù hợp nội dung vừa phù hợp với phong cách của Nguyễn Công Trứ. Nó phóng khoáng, tự so, có chút ngạo nghễ

Ngôn ngữ của Bài ca phong cảnh Hương Sơn nhẹ nhàng, thấm đẫm ý vị thiền và niềm say mê phong cảnh thiên nhiên đất nước.

Nguồn Internet

Soạn Bài Lớp 11: Bài Thơ Số 28

Soạn bài lớp 11: Bài thơ số 28 Soạn bài: Bài thơ số 28

Soạn bài lớp 11: Bài thơ số 28 là tài liệu tham khảo hay, nhằm giúp các bạn học sinh lớp 11 nắm được nội dung và nghệ thuật của bài thơ số 28 của R.Tago. Mời các bạn tham khảo. Soạn bài lớp 11: Chiều xuân Soạn bài lớp 11: Tương tư

Bài thơ số 28 – R.Tago

I. Giới thiệu chung 1. Tác giả

R.Tago (1861 – 1941): Là một nhà thơ, nhà văn, đồng thời là một nhà văn hóa lớn, có nhiều đóng góp cho dân tộc Ấn Độ và nhân loại.

Ông để lại một gia tài khổng lồ các tác phẩm thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau mà ở lĩnh vực nào cũng xuất sắc.

Năm 1913, Tagore trở thành người châu Á đầu tiên được trao giải Nobel về văn học với tập Thơ Dâng.

2. Tập thơ Người làm vườn

Là một trong những tập thơ nổi tiếng của Tago, gồm 85 bài thơ được viết bằng tiếng Bengal, sau tự dịch sang tiếng Anh, xuất bản năm 1941.

Tập thơ tiêu biểu cho phong cách giàu chất trữ tình, chất triết lý của Tago, được dịch ra nhiều thứ tiếng.

3. Bài thơ số 28

Các bài thơ trong tập Người làm vườn không có tên mà chỉ được đánh số.

Bài thơ số 28 là bài thơ nổi tiếng trong tập thơ Người làm vườn, có mặt trong nhiều tuyển tập thơ tình thế giới.

II. Đọc hiểu văn bản 1. Bố cục

Chia bố cục

Cuối mỗi phần đều có câu chuyển ý (Em chẳng thể biết tất cả về anh).

2. Tìm hiểu chi tiết văn bản a. Khát vọng hòa hợp trong tình yêu

Đôi mắt: Cửa sổ tâm hồn, chứa đựng suy tư của con người. Với Tago, đôi mắt còn là ngọn nguồn của tình yêu.

Diễn giải thêm: (Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, là điều khiến người ta nhớ nhung khi xa cách: “Những đêm dài hành quân nung nấu/ Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”. Với Shakespear: “Ánh mắt là ngôn ngữ chân thành nhất của tình yêu”. Với tư cách là một triết gia, Tagore luôn tìm hiểu, khám phá bản chất của tình yêu. Ông luôn băn khoăn, tự hỏi: “Tình yêu bắt đầu từ đâu”. Và trong Bài thơ số 16, nhà thơ đã khẳng định: Tình yêu bắt đầu từ đôi mắt. “Tay nắm chặt tay, mắt dừng lâu trong mắt/Câu chuyện của lòng ta bắt đầu như vậy đó/ Ấy là đêm tháng ba trăng tỏ/ Hương Kena dịu dàng tỏa khắp không trung”. Cũng chính vì có quan niệm tình yêu bắt đầu từ “đôi mắt”, nên nhà thơ đã dùng “đôi mắt” để phân tích tâm linh, để miêu tả thế giới nội tâm của con người.)

Hình ảnh so sánh tượng trưng:

Hành động của chàng trai:

b. Khát vọng dâng hiến trong tình yêu

Cấu trúc giả định: Nếu A chỉ là B.

Hai câu thơ đầu khổ 2:

Sự hi sinh của chàng trai:

Sự phủ định: Nhưng A (không là B) lại là C (đời anh không là ngọc, là hoa mà là trái tim không biên giới)

c. Sự vô cùng của cuộc đời – trái tim – tình yêu

Lặp lại cấu trúc giả định sóng đôi nhau:

Nhà thơ đúc kết triết lý về tình yêu ở hai câu thơ cuối:

Logic lý trí trong thơ: Cuộc đời khai sinh ra tình yêu nhưng chính tình yêu mới làm cuộc đời thăng hoa, mới biến điều hữu hạn thành vô hạn, biến điều bình dị hóa phi thường.

III. Tổng kết 1. Nội dung

Bài thơ số 28 đòi hỏi con người hướng về một tình yêu hòa hợp về mặt tâm hồn. Tình yêu không bao giờ có giới hạn. Muốn có hạnh phúc trong tình yêu, muốn có tình yêu trọn vẹn chỉ có một cách là luôn khám phá cái bí ẩn, cái sâu xa của tình yêu.

2. Nghệ thuật

Tago đã vận dụng bút pháp hướng nội, thực hiện lối cấu trúc theo tầng bậc: từ thấp lên cao hoặc ngược lại từ ngoài vào trong.

Nghệ thuật miêu tả thế giới nội tâm: Dùng hình ảnh “đôi mắt”

Thủ pháp so sánh, tượng trưng, ẩn dụ.

Chất suy tư triết lý: Các từ được lặp đi lặp lại: “if” (nếu), “only”(chỉ), “but”(nhưng) giả định rồi khẳng định, nhiều câu tưởng như nghịch lý mà lại rất có lý (câu 3, 4, 5 hoặc 2 câu cuối).

Giọng điệu vừa bóng bẩy, trữ tình nhưng đồng thời cũng đầy chất triế

Theo chúng tôi

Soạn Bài Vội Vàng Của Xuân Diệu Lớp 11

(Soạn văn) – Anh (Chị) hãy Soạn bài Vội Vàng của Xuân Diệu lớp 11. ( Bài soạn văn của cô giáo Nguyễn Thị Vân Anh trường THPT Nguyễn Trãi).

Đề bài: Soạn bài Vội vàng của Xuân diệu

BÀI SOẠN

– Là một nghệ sĩ lớn, nhà văn hóa lớn, có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ.

– Sự nghiệp phong phú, đồ sộ.

– Là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới.

– Xuất xứ: In trong tập thơ thơ.

+ Điệp từ ” tôi muốn”, “cho”, “đừng”.

+ Điệp cấu trúc câu: Câu thơ ngắn, nhịp nhanh.

+ Màu sắc: Xanh rì hoa lá đồng nội, ánh sáng.

+ Âm thanh chuyển động: Cành tơ phơ phất.

+ Cảnh sắc thiên nhiên được nhà thơ hình dung cảm nhận trong mối quan hệ tình yêu và người yêu: Tuần thang mật, khúc tình si.

+ Điệp từ ” của” được đặt trước danh từ chỉ ” vật” khiến câu thơ mới lạ, hơi ” Tây” so với thơ ca truyền thống.

+ Điệp từ này đây: Dồn dập như mời gọi, miêu tả sự bất tận của thiên nhiên.

+ Câu thơ 8 tiếng, nhịp nhanh, miêu tả cảnh vật cuộc sống.

+ Nhân hóa: Ánh sáng, chớp hàng mi, thần vui gõ cửa.

+ So sánh kết hợp chuyển đổi cảm giác: Cặp môi gần.

– Tâm trạng: Tôi sung sướng, ngất ngây vì phát hiện ra vẻ đẹp của cuộc sống và say sưa ca ngợi nó, một con người có tình yêu thiên nhiên tha thiết.

+ ” Vội vàng” muốn sống, hết mình, muốn quí trọng giây phút cuộc đời để tận hưởng những gì đẹp nhất của trần gian.

+ Quan niệm tác giả: Thế giới này đẹp nhất, quyến rũ nhất là con người, giữa tươi trẻ và tình yêu.

* Quan niệm thời gian truyền thống: Thời gian có tính chất tuần hoàn theo chu kì, luân hội. Thời gian chảy trôi khi êm đềm lặng lẽ hoặc như ánh phù phân khi vô hình, khi hữu hình vĩnh viễn.

* Với Xuân Diệu: Thời gian đang tới nghĩa là đang qua.

+ Với cách điệp từ nghĩa là tạo câu định nghĩa, câu giải thích để tìm ra bản chất qui luật tự nhiên và cuộc sống khẳng định tính chất chân lí của vấn đề.

– Quan niệm tuổi trẻ và tình yêu:

+ Tuổi trẻ gắn liền mùa xuân, mùa của tình yêu, mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm.

+ Tươi trẻ là tuổi đẹp nhất của đời người.

+ Thời gian, tuổi trẻ, mùa xuân của đời người: Trôi qua rất nhanh, một đi không trở lại, nó rất ngắn ngủi, hạn hẹp.

+ Năm tháng nhuốm vị chia phôi.

+ Chim: Đất tiếng, sợ phi tàn.

+ Kết cấu lập luận: Nói làm chi…, chẳng, nếu…nên…Kết hợp điệp từ phải chăng nối kết ý thơ, lí lẽ mang tính biện minh như tranh luận, rãi bày.

+ Giọng thơ: Nuối tiếc, ngậm ngùi, đau khổ.

+ Chuyển đổi cảm giác từ mùi tháng năm và trừu tượng hóa cảm giác vị chia phôi khiến câu thơ nhuốm tâm trạng.

– Quan niệm về lẽ sống vội vàng:

+ Cuộc sống trần gian đẹp như thiên đường.

+ Đẹp nhất, quyến rũ nhất là con người giữa tuổi trẻ và tình yêu.

+ Trong khi thời gian, tuổi trẻ, mùa xuân đời người trôi qua rất nhanh một đi không trở lại.

+ Chỉ còn cách sống vội: Tận hưởng từ giây phút cảm động của tuổi trẻ, không cần ngày mai nối tiếc trong những ngày đã qua.

– Hình thức: Câu ngắn nhất, câu khẳng định.

– Được tách ra khỏi dòng thơ, như một lời khẳng định, tuyên bố, về ước muốn về chân lí sống của nhà thơ.

+ Đại từ “ta” trở thành cái tôi, hòa chung trong cái ta có tính chất phổ quát.

+ Ôm riết, muốn say, muốn thâu: Sự sống, mây đưa, cánh bướm tình yêu, non nước.

+ Điệp từ ta muốn thể hiện khát khao, cuồng nhiệt.

+ Điệp từ “và, cho” thể hiện cảm xúc ào ạt, dâng trào.

+ Điệp từ: ôm, riết, say, thâu, hôn thể hiện tình cảm mãnh liệt, say đắm.

+ Từ chỉ mức độ: Chếnh choáng, đã đầy, no nê thể hiện sự cuồng nhiệt, ào ạt, không mức độ.

+ Hỡi xuân hồng ta muốn cắn.

Hãy sống say mê, mãnh liệt, hãy quí trọng từng giây phút cuộc đời và tuổi trẻ.

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Nhớ Đồng Lớp 11 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!