Xu Hướng 2/2023 # Soạn Bài Khi Con Tu Hú Lớp 8 Đầy Đủ Hay Nhất # Top 5 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Soạn Bài Khi Con Tu Hú Lớp 8 Đầy Đủ Hay Nhất # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Khi Con Tu Hú Lớp 8 Đầy Đủ Hay Nhất được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

SOẠN BÀI KHI CON TU HÚ LỚP 8.

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Tố Hữu (1920-2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành. Quê ở Thừa Thiên – Huế

Ông là một trong số những người giác ngộ Cách mạng rất sớm và tham gia hoạt động cách mạng có công rất lớn trong những buổi đầu. Từng đảm nhiệm nhiều chức vụ trong Đảng. Các tác phẩm: từ ấy, Việt Bắc, máu và hoa…

2. Tác phẩm

Được tác giả sáng tác khi ong bị giam vào trong nhà lao phủ Thừa Thiên Huế

II. Hướng dẫn soạn bài khi con tu hú đọc hiểu chi tiết.

Câu 1 trang 18 SGK văn 8 tập 2:

Nhan đề bài thơ rất lạ “khi con tu hú” là một trạng ngữ chỉ thời gian. Nhan đề bỏ nửa chừng gợi mở càng kích thích trí tò mò của người đọc

“Khi con tu hú” là bài thơ đặc tả chân thực bước chuyển mình cùng vẻ đẹp sôi đọng của mùa hè và trong không gian tù túng, ngột ngạt của phòng giam người chiến sĩ cách mạng lắng nghe tiếng tu hú – âm thanh rạo rực cuộc sống – hối thúc khát khao tự do, tình yêu cuộc sống.

Tiếng chim tu hú có tác động mạnh tới nhà thơ vì nó là tín hiệu mùa hè, là sự gọi mời tự do, của trời cao lồng lộng vì thế tiếng chim tác động mạnh mẽ tới tình cảm, tâm tư nhà thơ.

Câu 2 trang 18 SGK văn 8 tập 2:

Bức tranh mùa hè được miêu tả trong 6 câu thơ đầu là một bức tranh mùa hè đẹp rực rỡ, tràn ngập màu sắc và rộn rang âm thanh:

Âm thanh:

tiếng ve ngân vang cả khu vườn

Tiếng diều sáo vang lừng cả không trung

Màu sắc:

Cả không gian được bao phủ bởi màu vàng trùng điệp

Màu hồng lung linh của nắng

Màu xanh của trời

Hình ảnh:

Cánh đồng lúa chín vàng rực rỡ

Trái cây chín mọng ngoài vườn

Đôi con diều sáo nhào lộn không trung

Câu 3 trang 18 SGK văn 8 tập 2:

Tâm trạng của người chiến sĩ khi ở trong nhà tù:

Cách ngắt nhịp bất thường: 6/2, 3/3

Mở đầu bài thơ và cuối bài thơ đều có hình ảnh tiếng chim tu hú – âm thanh của sự sống tự do

Tiếng chim đầu bài thơ báo hiệu màu hè tươi mới, rộn rang đến cuối bài thơ tiếng chim như tô đậm thêm tâm trạng đau khổ vì cảnh giam hãm, tù đày

Câu 4 trang 18 SGK văn 8 tập 2:

Cái hay của bài thơ được thể hiện qua những điểm sau:

Sự tương phản giữa hai bức tranh: bức tranh thiên nhiên bên ngoài tươi đẹp và âm thanh rộn rang màu sắc rực rỡ. bức tranh bên trong lại tối tắm, u uất, giam hãm tù đày. Hai thế giới trong và ngoài tạo sự đối lập gay gắt.

Mở đầu và kết thúc bài thơ đều có tiếng chim, mỗi lần xuất hiện đều mang ý nghĩa khác nhau

Sử dụng thể thơ lục bát quen thuộc

Ngôn ngữ thơ tự nhiên, diễn đạt tự nhiên tâm trạng tác giả

Nguồn Internet

Soạn Bài: Khi Con Tu Hú

I. VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

Nhà thơ Tố Hữu (1920 – 2002), tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê gốc ở làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, từ sáu, bảy tuổi Tố Hữu đã học và tập làm thơ. Giác ngộ cách mạng trong thời kì Mặt trận Dân chủ và trở thành người lãnh đạo Đoàn Thanh niên Dân chủ ở Huế. Những bài thơ đầu tiên được sáng tác từ những năm 1937 – 1938. Tháng 4 – 1939, bị thực dân Pháp bắt, giam giữ ở các nhà lao miền Trung và Tây nguyên. Tháng 3-1942, vượt ngục Đắc Lay, tiếp tục hoạt động cách mạng, tham gia lãnh đạo Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 ở Huế. Sau Cách mạng, Tố Hữu đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong Đảng và chính quyền (từng là Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng).

Tác phẩm đã xuất bản: Từ ấy (thơ, 1946); Việt Bắc(thơ, 1954); Gió lộng (thơ, 1961); Ra trận (thơ, 1971); Máu và hoa (thơ, 1977); Một tiếng đờn (thơ, 1992); Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, thời đại ta (tiểu luận, 1973); Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật (tiểu luận, 1981).

được Tố Hữu viết khi ông đang bị địch giam trong nhà lao Thừa Phủ (Huế).

Thơ viết trong tù có nhiều loại, thể hiện nhiều tâm trạng khác nhau. Có khi nhà thơ diễn tả nỗi khổ cực của người tù:

Cũng có khi nhà thơ vượt lên trên cảnh ngộ tù đày để chủ động đến với thiên nhiên, rèn luyện ý chí.

Nhưng phổ biến nhất là những câu thơ diễn tả nỗi khổ tinh thần của người chiến sĩ cách mạng. Càng khao khát được hoạt động, được cống hiến, người tù càng cảm thấy bức bối, uất ức khi bị giam hãm giữa bốn bức tường ngột ngạt, chứng kiến thời gian đằng đẵng cứ chầm chậm trôi qua trong khi ở bên ngoài, phong trào cách mạng đang sôi sục.

1. Nhan đề của bài chỉ là một cụm từ chỉ thời gian (vẫn chưa đầy đủ). Nhan đề của bài thơ là một ẩn ý vừa chỉ một thời điểm bừng lên của thiên nhiên, tạo vật, vừa chỉ sự khát khao hoạt động của con người.

Sở dĩ, tiếng tu hú kêu lại có tác động mạnh đến tâm hồn của nhà thơ bởi, nó là tín hệu báo những ngày hè rực rỡ đến gần. Nó cũng là biểu tượng của sự bay nhảy tự do.

Không phải tiếng chim đơn độc mà là tiếng chim “gọi bầy”, tiếng chim báo tin vui. Nghe chim tu hú gọi nhau biết rằng “lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần”. Nhưng không phải chỉ có thế. Tiếng chim gợi lên một thế giới tràn ngập âm thanh, màu sắc, hình ảnh:

Đó là những sắc màu, âm thanh của cuộc sống hằng ngày. Màu vàng của ngô, màu hồng của nắng nổi bật trên cái nền xanh của đất trời, quyện với tiếng ve ngân và còn được điểm xuyết thêm bằng hình ảnh “Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”. Không gian tràn trề nhựa sống, đang vận động, sinh sôi nảy nở từng ngày.

Đọc kĩ lại những câu thơ, ta bỗng phát hiện thêm nhiều điều kì lạ khác nữa. Các sự việc không được miêu tả trong trạng thái bình thường, chúng được tô đậm, được đẩy lên mức cao nhất có thể. Không phải “hạt bắp vàng” mà là “bắp rây vàng hạt” nắng là “nắng đào” màu sắc lộng lẫy nhất, trời xanh thì “càng rộng càng cao” tầm mắt cứ được mở rộng ra thêm mãi. Tiếng ve không chỉ “ngân” mà còn “dậy” lên, hai tính từ miêu tả âm thanh kết hợp với nhau khiến cho tiếng ve rộn rã khác thường. Chừng như để hoà điệu với những âm thanh và hình ảnh đó, cách diều sáo cũng không chịu “lững lờ” hay “vi vu” mà “lộn nhào từng không” Cánh diều như cũng nô nức, vui lây trong không gian lộng lẫy màu sắc và rộn rã âm thanh đó.

3. Mộng tưởng càng tươi đẹp bao nhiêu thì hiện thực lại càng cay đắng, nghiệt ngã bấy nhiêu.

Tưởng như sự liên kết giữa hai đoạn thơ này không thật chặt chẽ và tứ thơ không liên tục. Khi hướng ra bên ngoài, nhà thơ tả cảnh nhưng khi hướng vào trong lại tả tâm trạng. Kì thực đây chính là sự liên kết vô cùng khéo léo và tinh tế. Mối dây liên kết ấy chính là tiếng chim tu hú. Tiếng chim gọi bầy tha thiết gợi mở một thế giới bao la và vô cùng sinh động. Nhưng thế giới đó càng rộng rãi, rực rỡ bao nhiêu thì lại càng khiến cho người tù (đã bị tách biệt khỏi thế giới ấy) cảm thấy ngột ngạt và khao khát bấy nhiêu.

Tiếng chim tu hú ở đầu và cuối của bài thơ tuy đều biểu trưng cho tiếng gọi tha thiết của tự do, của cuộc sống ngoài kia đầy quyến rũ đối với người tù nhưng tâm trạng của người tù khi nghe tiếng tu hú lại rất khác nhau. Ở câu thơ đầu, tiếng tu hú gợi hình ảnh cuộc sống đầy hương sắc, từ đó gợi ra cái khát khao về cuộc sống tự do. Thế nhưng, đến câu kết, tiếng chim ấy lại khiến cho người tù có cảm giác bực bội, đau khổ vì chưa thể thoát ra khỏi cảnh tù đầy.

4. Bài thơ hay ở những hình ảnh thơ gần gũi, giản dị mà giàu sức gợi cảm, ở nghệ thuật sử dụng thể thơ lục bát uyển chuyển, tự nhiên và cả ở những cảm xúc thiết tha, sâu lắng, thể hiện được nguồn sống sục sôi của người cộng sản.

Các bài thơ viết về nhà tù của Tố Hữu luôn luôn có sự đối lập sâu sắc giữa hai thế giới: một thế giới của tự do rộn rã tiếng chim ca, suối chảy, rộn rã tiếng kèn xung trận đối lập với thế giới chật hẹp, ngột ngạt của nhà tù. Sự đối lập đó càng lớn thì khát vọng tự do càng được biểu hiện mãnh liệt.

Bài thơ có hai đoạn thơ thể hiện hai hoàn cảnh, tâm trạng đối lập, do đó khi đọc cần chú ý giọng điệu rộn rã, tươi vui ở 6 câu thơ đầu và giọng điệu căm uất, nghẹn ngào ở 4 câu thơ còn lại.

Phân Tích Bài Thơ Khi Con Tu Hú Của Tố Hữu Văn Mẫu Lớp 8

Bài thơ Khi con tu hú được sáng tác vào tháng 7 năm 1939, khi nhà thơ trong bước đường hoạt động cách mạng đang bị địch bắt giam tại lao Thừa Phủ – Huế. Bài thơ phản ánh tâm trạng ngột ngạt của một người cộng sản trẻ tuổi sôi nổi yêu đời bị giam cầm giữa bốn bức tường.

Mở bài: Giới thiệu về bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu

Trong những năm tháng nô lệ đau thương của đất nước, rất nhiều những chiến sĩ trung kiên của cách mạng Việt Nam đã bị bắt giam trong những nhà tù thực dân. Nhưng từ bóng đêm căm hờn vẫn vút lên những tiếng thơ bày tỏ niềm say mê, khao khát với cuộc đời. Bài thơ “Khi con tu hú” của Tố Hữu là một trong số ấy. Sáu câu thơ đầu của bài thơ là bức tranh phong cảnh thiên nhiên rực rỡ thể hiện sự phong phú, sôi nổi và niềm yêu đời tha thiết của người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi:

Khi con tu hú gọi bầy

Lúa chiêm đương chín, trái cày ngọt dần.

Vườn răm dậy tiếng ve ngân

Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào

Trời xanh càng rộng càng cao

Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…

Thân bài: Phân tích bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu

Bài thơ ” Khi con tu hú” sáng tác tháng 7 năm 1939, khi nhà thơ trên bước đường hoạt động cách mạng bị địch bắt giam tại lao Thừa Thiên – Huế (Tố Hữu bị địch bắt tháng 4-1939 – khi nhà thơ mới 19 tuổi). Bài thơ thể hiện tâm trạng ngột ngạt của người cộng sản trẻ tuổi sôi nổi yêu đời bị giam cầm giữa bốn bức tường vôi lạnh. Tâm trạng ấy càng trở nên bức bối khi nhà thơ hướng tâm hồn mình đến với bầu trời tự do ở bên ngoài.

Giữa tháng hè nắng lửa, giữa cái im lìm đáng sợ của chốn lao tù chợt vang lên tiếng tu hú gọi bầy:

“Khi con tu hú gọi bầy”

Trong tiềm thức của con người Việt Nam, tiếng tu hú là tiếng gọi mùa: ‘Tu hú kêu, tu hú kêu, hoa phượng nở, hoa gạo đỏ đầy ước mơ hi vọng…”. Đó là mùa hạ chói chang ánh nắng và đi cùng với đó là những sắc màu rực rỡ của thiên nhiên. Tiếng tu hú thân quen bất chợt vang vọng gợi lên trong tâm hồn người thanh niên trẻ tuổi đang sục sôi ước mơ, khát vọng nhưng bị mất tự do ấy bao suy tưởng về một mùa hè ngập tràn màu sắc và niềm vui.

Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần.

Vườn râm dậy tiếng ve ngân

Bắp rây vàng hat đầy sân nắng đào

Trời xanh càng rộng càng cao

Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…

Mùa hè được tái hiện trong tâm trí người tù rất chân thực, màu sắc hài hòa với những âm thanh sống động. Đó là màu rộm vàng của lúa chín, sắc đỏ lấp ló của quả ngọt, màu vàng tươi của ngô, sắc đào tươi của nắng, màu xanh thẳm của trời cao… tiếng ve ngân râm ran, tiếng sáo diều vi vút… Chao ôi! Đẹp đẽ quá! Rạo rực quá! Mới hồi tưởng thôi đã đủ cồn cào khao khát lao ra trời cao mà nhảy nhót hát ca. Tác giả đã vẽ lên bức tranh mùa hè sông động và tươi tắn bằng những từ ngữ giản dị, nhưng đầy sức gợi hình, gợi cảm. Nếu không có niềm gắn bó tha thiết với cuộc đời, không có niềm khao khát tự do mãnh liệt, không có một tâm hồn tinh tế nhạy cảm và một trí tưởng tượng vô cùng phong phú thì nhà thơ không thế viết được những câu thơ tuyệt vời đến thế….

Đoạn thơ sử dụng nghệ thuật tả cảnh rất sinh động, cụ thể và gợi cảm, các từ ngữ lựa chọn có giá trị tạo hình. Đặc biệt, phép liệt kê được vận dụng tạo ra những ấn tượng huy hoàng về một mùa hè phong phú, sôi động đong đầy ước mơ và khát vọng tuổi trẻ.

Kết bài: Bài văn phân tích bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu

Hình ảnh thiên nhiên mùa hè hiện lên trong tâm hồn nhà thơ trong cánh lao tù ấy đã thể hiện niềm khát vọng tự do cháy bỏng không thể kìm nén nổi. Đoạn thơ đã cho ta hiểu thêm nét đẹp trong tâm hồn người cộng sản trẻ tuổi. Người chiến sĩ xả thân vì lí tưởng cao đẹp đó có một thế giới nội tâm rất mực phong phú, rung động mãnh liệt với nhịp đập của cuộc sống, gắn bó thiết tha với quê hương ruộng đồng.

Từ khóa tìm kiếm: Phân tích bài thơ khi con tu hú của tố hữu Phân tích bài thơ khi con tu hú Phan tich bai tho khi con tu hu cua to huu Cảm nhận về bài thơ khi con tu hú của tố hữu Cảm nghĩ về bài thơ khi con tu hú của tố hữu Khi con tu hú của tố hữu Theo chúng tôi

Soạn Bài Bài Thơ Số 28 Lớp 11 Đầy Đủ Hay Nhất

Ta – go là nhà văn, nhà văn hóa lớn của Ấn Độ, những sáng tác của ông nhằm hướng tới những giá trị cao cả của con người, hướng người dân Ấn Độ khỏi ách áp bức thực dân; góp phần vào cuộc đấu tranh không mệt mỏi bảo vệ quê hương, đất nước vì độc lập, hòa bình, giải phóng dân tộc. Ông đã để lại một gia tài văn học khổng lồ cho nhân loại với nhiều lĩnh vực khác nhau. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng được tìm hiểu một tác phẩm của ông để hiểu hơn về những giá trị văn học mà ông đem lại đó là bài thơ số 28 Lớp 11 tập 2.

SOẠN BÀI BÀI THƠ SỐ 28 LỚP 11 TẬP 2

I. Tìm hiểu tác phẩm Bài thơ số 28 Lớp 11 tập 2

1. Tâc giả

Ra-bin-đra-nát Ta-go (1861-1941) là một nhà văn, nhà văn hóa lớn của Ấn Độ. Ông đã có những cống hiến quan trọng cho sự nghiệp phục hưng văn hóa Ấn Độ, giải phóng Ấn Độ khỏi ách thực dân ; góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân loại vì độc lập, hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc.

Ông đã để lại một gia tài khổng lồ với những tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau mà dù ở lĩnh vực nào cũng thành công xuất sắc.

2. Tác phẩm

Bài thơ số 28 nằm trong tập thơ Người làm vườn. Tập thơ không có nhan đề mà chỉ đánh số thứ tự.

II. Hướng dẫn tìm hiểu tác phẩm Bài thơ số 28 Lớp 11 tập 2

1. Câu 1 trang 62 SGK Ngữ văn 11 tập 2

Hình tượng so sánh trong câu thơ mở đầu

Tác giả so sánh hình ảnh mắt em với trăng: thể hiện một thế giới nội tâm phong phú, trong sáng, niềm khao khát trong tình yêu.

2. Câu 2 trang 62 SGK Ngữ văn 11 tập 2

Lối cấu trúc đưa ra giả định rồi phủ định để đi đến kết luận, được sử dụng trùng điệp trong bài thơ nhằm thể hiện những triết lí sâu sa của tác giả về nhận định về tình yêu và trái tim

Tác giả giả định “Đời anh là viên ngọc”, “Đời anh chỉ là đóa hoa”, tác giả muốn đưa ra những nhận định nếu mình là những thứ quý giá và đẹp đẽ thì anh sẵn sàng dâng tặng nó cho em, tác giả đã hiện thực hóa cuộc đời thành những sự vật cụ thể nhằm thể hiện sự hi sinh của chàng trai dành cho cô gái, nguyện dâng hiến cả cuộc đời mình cho người mình yêu. Nhưng nhà thơ đành phải thừa nhận “đời anh là trái tim, nào ai biết chiều sâu và bến bờ của nó”. Nó là thế giới bí ẩn, thăm thẳm vô biên, làm sao dâng hiến trọn vẹn một lần.

Lối cấu trúc giả định A không chỉ là B mà (lại) là C trong:

Trái tim (cụ thể) – phút giây lạc thú (trừu tượng) – nở thành nụ cười nhẹ nhõm.

Trái tim (cụ thể) – khổ đau (trừu tượng) – tan thành lệ trong, phản chiếu nỗi niềm u uẩn.

Nếu trái tìm của tác giả chỉ là một trái tim bình thường, ít cảm xúc và đơn điệu thì hẳn là cô gái đã dễ dàng cảm nhận được tình cảm dành cho mình nhưng trái tim anh lại là tình yêu, nỗi vui sướng, khổ đau của nó là vô biên” nên “chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu”. Qua đó, tác giả muốn nói tình yêu thật không dễ dàng, từ đó thể hiện khát khao để người mình yêu có thể thấu hiểu được trái tim mình.

3. Câu 3 trang 62 SGK Ngữ văn 11 tập 2

Cách nói nghịch lý trong bài thơ

Anh không giấu em một điều gì

Chính vì thế mà em không biết gì tất cả về anh.

Cách nói này không chỉ xuất hiện ở đoạn thơ đầu mà còn được sử dụng khá nhiều lần trong bài thơ. Chàng trai vì yêu mà muốn bộc bạch với người mình yêu tất cả về con người mình nên chính vì thế mà cô gái lại không hiểu gì về người mình yêu. Có thể thấy, tình yêu thật kỳ diệu, những cái bề nổi, vẻ bề ngoài thật dễ nắm bắt nhưng sự phức tạp và phong phú của trái tim thì không dễ gì thấu hiểu được. Ở những đoạn thơ trên, ta có thể thấy chàng trai muốn dâng trọn cả cuộc đời và trái tìm mình cho người mình yêu. Có thể nói, trong thế giới của cahnfg trai cô gái như một nữ hoàng, người có quyền cai trị nhưng lại không thể hiết hết biên giới của cái thế giới mà mình đang cai trị đó. Sự đối lập giữa khát vọng được dâng hiến và giãi bày và cái bí ẩn của trái tim là những đối lập tồn tại mãi mãi trong tình yêu.

Nguồn Internet

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Khi Con Tu Hú Lớp 8 Đầy Đủ Hay Nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!