Xu Hướng 2/2023 # Sơ Lược Về Bài Thơ Tây Tiến (Quang Dũng) # Top 6 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Sơ Lược Về Bài Thơ Tây Tiến (Quang Dũng) # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Sơ Lược Về Bài Thơ Tây Tiến (Quang Dũng) được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

b. Sơ lược AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG

c. Sơ lược tác phẩm Vợ Chồng A Phủ

d. Sơ lược tác phẩm VỢ NHẶT (Kim Lân)

e. Sơ lược tác phẩm Sóng (Xuân Quỳnh)

f. Sơ lược tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa

I.Tác giả Quang Dũng:

– Là nghệ sĩ đa tài : làm thơ , viết văn , vẽ tranh , soạn nhạc. – Là nhà thơ nổi tiếng của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. – Hồn thơ : phóng khoáng , hồn hậu , lãng mạn , tài hoa – đặc biệt khi viết về người lính Tây Tiến và xứ Đoài ( Sơn Tây ).

1. Hoàn cảnh ra đời : – Tây Tiến là một đơn vị bộ đội trong kháng chiến chống Pháp , thành lập năm 1947 ; Quang Dũng làm đại đội trưởng . – Thành phần : đa phần là thanh niên Hà Nội hào hoa , lãng mạn . – Đóng quân và hoạt động khá rộng ( Sơn La , Lai Châu , Hoà Bình , miền Tây Thanh Hoá và cả Sầm Nưa của Lào. – Nhiệm vụ : phối hợp với quân đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực lượng Pháp . – Trung đoàn Tây Tiến chiến đấu trong điều kiện gian khổ , thiếu thốn về vật chất , bệnh sốt rét hoành hành dữ dội . Tuy vậy , họ sống lạc quan và chiến đấu anh dũng . – Đoàn quân TâyTiến, sau thời gian hoạt động ở Lào trở về Hoà Bình thành lập trung đoàn 52 . – Khi Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác ở Phù Lưu Chanh, trong nỗi nhớ đơn vị cũ ông sáng tác bài thơ ” Nhớ Tây Tiến” vào cuối năm 1948 à Bài thơ ra đời trong nỗi nhớ trung đoàn Tây Tiến và núi rừng Tây Bắc trong những năm kháng chiến chống Pháp. – Ban đầu có tên ” Nhớ Tây Tiến”à sau đổi thành ” Tây Tiến ” và in trong tập ” Mây đầu ô”. 2. Nội dung và nghệ thuật: a. Nội dung: – Bức tranh thiên nhiên vùng Tây Bắc tổ quốc ta vừa tráng lệ, hùng vĩ vừa nên thơ, trữ tình. – Khẳng định, ca ngợi vẻ đẹp đậm chất bi tráng về hình ảnh người lính Tây Tiến: tâm hồn lãng mạn, khí phách anh hùng, lí tưởng cao cả Vẻ đẹp của chiến sĩ Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp. – Thể hiện tình yêu, sự gắn bó, niềm tự hào của tác giả về trung đoàn Tây Tiến và quê hương Tây Bắc trong những năm kháng chiến chống Pháp. * Đoạn 1: Nỗi nhớ của tác giả và con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến: ” Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!…………Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” – Nỗi nhớ của tác giả: Nhà thơ Quang Dũng gắn bó với trung đoàn Tây Tiến, gắn bó với núi rừng Tây Bắc trong những năm kháng chiến . Vì thế mà khi xa Tây Tiến, xa Tây Bắc – xa đơn vị bộ đội , xa vùng đất nhiều kỉ niệm kháng chiến tác giả nhớ nhung da diết: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi – Mở đầu bài thơ là lời gọi tha thiết , ngọt ngào. Tác giả gọi tên đơn vị ” Tây Tiến” , gọi tên con sông vùng Tây Bắc ” sông Mã” mà thân thiết , dạt dào cảm tình như gọi tên những người thân thương trong cuộc đời mình.Phải chăng trung đoàn Tây Tiến, núi rừng Tây Bắc gần gũi , thân thương với tác giả và khi xa thì Tây Bắc, Tây Tiến trở thành một ” mảnh tâm hồn” của tác giả. – Tác giả rất thành công trong việc sử dụng nghệ thuật điệp từ ” nhớ ” và từ láy ” chơi vơi”, tác giả ” nhớ chơi vơi” nỗi nhớ ấy không xác định được hết đối tượng , nhớ sông Mã , nhớ Tây Tến, nhớ núi rừng Tây Bắc , … nhớ tất cả. Những nơi trung đoàn Tây Tiến đã đi qua, những đồng đội từng gắn bó,…tất cả đều trở thành kỉ niệm không thể nào quên.Chính vì thế mà khi xa Tây Tiến, xa Tây Bắc trong tâm hồn tác giả trào dâng nỗi nhớ da diết, mãnh liệt. – Con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến: Qua nỗi nhớ da diết của nhà thơ , con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến nơi Tây Bắc hiện lên khá rõ nét. – Trước hết là những vùng đất mà đoàn quân đã đi qua, gắn bó, mỗi vùng đất với một nét riêng không dễ gì quên: Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi …. Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi ….. Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người …… Mai Châu mùa em thơm nếp xôi + Ở Sài Khao thì sương nhiều như muốn che lấp cả đoàn quân khiến cho đoàn quân mỏi mệt Đó cũng chính là những gian khổ mà chiến sĩ phải vượt qua. + Nếu như ở Sài Khao đoàn quân phải vất vả, mệt nhọc thì khi về Mường Lát thật ấm áp, lãng mạn bởi ” hoa về trong đêm hơi”. ” Hoa”, ” hơi” là hai hình ảnh làm cho bức tranh Mường Lát thêm gần gũi, trìu mến. + Về Pha Luông thì mưa rừng thật thú vị, vừa hành quân vừa ngắm cảnh vật dưới mưa thật lãng mạn, trữ tình. + Có lẽ “ấm lòng” nhất là khi hành quân về vùng Mai Châu , hương vị đặc sản ” nếp xôi”của vùng đất ấy khiến các anh chiến sĩ dẫu có xa cũng không thể nào quên. + Còn ghê rợn nhất là khi về Mường Hịch, cái âm thanh phát ra từ núi rừng ấy thật là khiến cho con người cảm giác bất an : “cọp trêu người”. Mỗi vùng đất trung đoàn Tây Tiến đi qua đều để lại dấu ấn trong tâm hồn, tuy có nhiều gian nan, vất vả nhưng cũng rất lãng mạn, trữ tình. – Con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến được tác giả khái quát rõ nhất qua đoạn thơ: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống ….. Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Đoạn thơ ngắn nhưng thể hiện nét bút tài hoa của Quang Dũng. Ông thành công trong việc sử dụng ngôn từ, hình ảnh, bút pháp,… + Hàng loạt từ láy gợi hình ảnh, cảm xúc “khúc khuỷu”, ” thăm thẳm”, ” Heo hút” + Hình ảnh vừa hiện thực vừa táo bạo, phi thường như dốc cao khiến súng chạm trời – ” súng ngửi trời”, dốc lên bao nhiêu thì xuống bấy nhiêu ” ngàn thước lên cao , ngàn thước xuống” . + Kết hợp hình ảnh với những âm thanh đặc sắc như ” thác gầm thét”, ” cọp trêu người” + Sử dụng nhiều thanh Trắc. + Đoạn thơ đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Nét bút tài hoa của Quang Dũng đã vẽ lại con đường hành quân- chiến đấu của trung đoàn Tây Tiến trong những năm kháng chiến chống Pháp , con đường ấy thật gian khổ, hiểm nguy với đèo cao , dốc hiểm và thú rừng dữ tợn nhưng cũng thật lãng mạn, khó quên. – Sau hàng loạt những câu thơ sử dụng thanh Trắc tác giả phóng bút một câu thơ toàn thanh Bằng khá độc đáo ” Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Phải chăng sau những đoạn đường hành quân, chiến đấu vất vả thì chiến sĩ Tây Tiến được thưởng thức nét lãng mạn của cơn mưa rừng, được thưởng thức nét đẹp của nhà ai thấp thoáng trong màn mưa. Những giây phút lãng mạn , thơ mộng trên con đường hành quân là ngọn nguồn sức mạnh để các chiến sĩ vượt qua gian lao, thử thách. Qua con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến ta cảm nhận được vẻ đẹp riêng của núi rừng Tây Bắc và trung đoàn Tây Tiến. Tây Bắc vừa hùng vĩ, tráng lệ vừa nên thơ, trữ tình. Chiến sĩ Tây Tiến kiên cường, bất khuất, sẵn sàng vượt gian lao thử thách để thực hiện nhiệm vụ trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh. – Và trên con đường hành quân, chiến đấu , cũng có những chiến sĩ không còn đủ sức để tiếp tục nhiệm vụ, lí tưởng của mình: Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Hai câu thơ gợi cái bi, sự mất mác , đau thương . Nhưng dẫu các anh ” không bước nữa”, ” bỏ quên đời ” thì vẫn trong tư thế cầm súng. Một số chiến sĩ Tây Tiến không tiếp tục sự nghiệp , lí tưởng bởi lẽ sức đã kiệt. Các anh sống và chiến đấu trong điều

kiện thiếu thốn thuốc men, lương thực, lại bị những cơn sốt rét rừng hoành hành nên không còn đủ sức để tiếp bước. Đây là hiện thực đau thương khó tránh khỏi trong những năm kháng chiến nên Quang Dũng cũng không ngần ngại khi nhắc đến. sự ra đi của đồng đội là mất mác không thể nào quên của đại đội trưởng Quang Dũng. Tác giả nhắc đến để tưởng nhớ, buồn thương , tự hào về đồng đội của mình và càng thôi thúc tinh thần chiến đấu để giành lấy sự bình yên, hạnh phúc, độc lập, tự do. Đoạn mở đầu bài thơ ” Tây Tiến” da diết nỗi nhớ đồng đội , nhớ núi rừng Tây Bắc của tác giả Quang Dũng. Qua nỗi nhớ, con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến và bức tranh núi rừng Tây Bắc hiện về khá rõ nét. Đó cũng chính là cái “Tình ” mà Quang Dũng dành cho Tây Tiến ,Tây Bắc : Yêu mến, gắn bó và tự hào. ( Chế Lan Viên : Khi ta ở , chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn ) * Đoạn 2: Những kỉ niệm đẹp của trung đoàn Tây Tiến trong những năm kháng chiến chống Pháp. “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa……….Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” * Kỷ niệm đẹp một thời trận mạc đã trở thành hành trang của người lính Tây Tiến. Đúng vậy, các chiến sĩ Tây Tiến cũng như chính tác giả cũng không thể nào quên những kỉ niệm trong những năm kháng chiến cùng đồng đội, quân dân. Kỉ niệm khó quên nhất có lẽ là những đêm liên hoan lửa trại: Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa…….Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ + Đêm ” hội đuốc hoa” là đêm liên hoan lửa trại giữa chiến sĩ Tây Tiến với đồng bào ( Tây Bắc, Lào) . ” Doanh trại bừng lên ” – tác giả sử dụng từ ” bừng lên” thật hay, làm bừng sáng và tỏa hơi ấm cho không gian đêm hội. Đêm hội có ánh sáng, hơi ấm của ” đuốc hoa”, có tiếng khèn, điệu nhạc và có “em” trong trang phục xiêm áo đang yểu điệu , thướt tha , e ấp, dịu dàng. ” Em” ở đây là cô gái, có thể là các cô gái miền núi Tây Bắc nước ta, có thể là các cô gái Lào. Sự xuất hiện của các cô gái làm cho đêm hội thêm vui vẻ, ấm áp và quyến rũ, say lòng người. + Chiến sĩ Tây Tiến đa phần là những chàng trai Hà Nội hào hoa, lãng mạn và có chút đa tình nên khi các cô gái xuất hiện trong ánh lửa, tiếng khèn điệu nhạc khiến các anh ngạc nhiên , thích thú, say mê. Niềm vui, thái độ thích thú của các anh được tác giả diễn tả ở từ ” Kìa”. Phải chăng các anh ngạc nhiên vì nơi núi rừng ấy lại có những ” đóa hoa” say lòng người đến thế. + Say mê , thích thú trong đêm hội để về ” xây hồn thơ” các chiến sĩ xây mộng với các cô gái Các chiến sĩ thật là lãng mạn. + Tài hoa của Quang Dũng trong đoạn thơ là kết hợp hài hòa hình ảnh, âm thanh, ánh sáng,… Đoạn thơ là bức tranh đêm hội đuốc hoa thật vui vẻ ,ấm áp , lãng mạn . Và đó cũng chính là một trong những kỉ niệm không thể nào quên của trung đoàn Tây Tiến, minh chứng cho tình cảm đồng đội, tình quân dân nồng nàn, thắm thiết. Giây phút vui vẻ, hạnh phúc cùng đồng bào, tình cảm quân dân thắm thiết là hành trang của các chiến sĩ trên chiến trường ác liệt. * Trung đoàn Tây Tiến qua nhiều vùng đất nơi Tây Bắc, mỗi vùng đất với nét đẹp riêng khó quên. Nếu Sài Khao có sương nhiều như che lấp cả đoàn quân Tây Tiến , Mường Hịch có tiếng cọp khiến con người ghê sợ , vùng Mai Châu có hương vị cơm nếp thật hấp dẫn ,…thì Châu Mộc cũng thật lãng mạn, trữ tình. Người đi Châu Mộc chiều sương ấy….Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa Bốn câu thơ theo dòng hồi tưởng “trôi” về miền đất lạ, đó là Châu Mộc thuộc tỉnh Sơn La, nơi có những bãi cỏ bát ngát mênh mông, có dãy núi Pha Luông cao 1884 mét , nơi có bản Pha Luông sầm uất của người Thái. Quang Dũng đã khám phá ra bao vẻ kì thú của miền Châu Mộc. Năm tháng đã đi qua và miền đất ấy trở thành một mảnh trong tâm hồn của bao người. ” Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn” ( Chế Lan Viên ) + “Chiều sương ấy” là chiều thu năm 1947 , sương trắng phủ mờ núi rừng chiến khu làm cho cảnh, người càng thêm thơ mộng, trữ tình. Buổi chiều thu đầy sương ấy in đậm hồn người khiến cho hoài niệm thêm mênh mang. Chữ “ấy” bắt vần với chữ ” thấy” tạo nên một vần lưng giàu âm điệu, như một tiếng khẽ hỏi “có thấy” cất lên trong lòng. + ” Hồn lau” là hồn mùa thu, hoa lau nở trắng, lá lau xào xạc trong gió thu nơi bờ sông bờ suối”nẻo bến bờ”. Với tâm hồn thi sĩ tài hoa, Quang Dũng đã cảm nhận vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên Châu Mộc qua cảnh sắc ” chiều sương” và ” hồn lau nẻo bến bờ”. + Điệp ngữ ” có thấy”, ” có nhớ” làm cho hoài niệm về chiều sương Châu Mộc thêm phần man mác, bâng khuâng. Trong chia phôi còn có nhớ , nhớ cảnh rồi nhớ đến người. ” Có nhớ” con thuyền độc mộc và dáng người chèo thuyền độc mộc? ” Có nhớ” hình ảnh “hoa đong đưa” trên dòng nước lũ ? ” Hoa đong đưa” là hoa rừng đong đưa làm duyên trên dòng nước hay là hình ảnh ẩn dụ gợi tả các cô gái miền Tây Bắc xinh đẹp lái thuyền duyên dáng, uyển chuyển như những bông hoa rừng đang đong đưa trên dòng suối? Và nếu là hình ảnh gợi tả các cô gái Tây Bắc thì các cô gái ấy phải có “tay lái ra hoa” mới có thể ” đong đưa” được như vậy. Quang Dũng thật tài tình và con người Tây Bắc thật tài hoa! Bốn câu thơ là những dòng hồi tưởng về cảnh sắc và con người nơi Tây Bắc, nơi cao nguyên Châu Mộc.Với bút pháp tài hoa và tâm hồn lãng mạn , Quang Dũng vẽ lại bức tranh tuyệt đẹp về thiên nhiên và con người Tây Bắc. + Thuở ấy, núi rừng Tây Bắc thật hoang vu, là chốn rừng thiêng nước độc nhưng tác giả đã khám phá ra được nét đẹp thật thơ mộng, lãng mạn của cảnh và người .Nhà thơ gắn bó với cảnh vật, với con người Tây Bắc, vào sinh ra tử với đồng đội mới có những kỉ niệm đẹp và sâu sắc như vậy, mới có thể viết nên những vần thơ sáng giá đến như thế. Bức tranh chiều sương Châu Mộc và đêm hội đuốc hoa như một bức tranh sơn mài của một danh họa mang vẻ đẹp màu sắc cổ điển và lãng mạn, kết hợp hài hòa tính thời đại và hiện đại trong máu lửa chiến tranh.

Theo Học Văn – Văn Học

Bình Giảng Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Nhà thơ Quang Dũng sáng tác bài thơ Tây Tiến trong hoàn cảnh đang là một người lính chiến đấu trong cuộc chiến chống Pháp xâm lược. Từng câu thơ của ông đều mang cái hồn của đất nước.

Những người lính xa nhà trong cuộc chiến tranh gian khổ nhưng vẫn một lòng yêu nước đã cho ra đời bài thơ Tây Tiến hào hoa, lãng mạn…

Bài 1. Bài văn của em Nguyễn Hồng Thanh bình giảng bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:

Có những ngày tháng không thể quên, cái gian khổ ác liệt không thể quên, cả cái hào hùng lãng mạn cũng không thể quên. May mắn thay, giữa những ngày tháng không thể quên ấy, lại có những bài thơ không thể quên, như Tây Tiến của Quang Dũng. Thật ra số phận của Tây Tiến cũng khá truân chuyên. Đã có lúc Tây Tiến được trích dẫn như một dẫn chứng để phê phán cái xu hướng gọi là “tiểu tư sản” trong thơ kháng chiến, một “đối chứng” để khẳng định những gì nên có trong thơ mới. Nhưng rồi Tây Tiến cuối cùng được nhớ lại như một kỷ niệm đẹp của kháng chiến, một tiếng thơ bi tráng của một nền thơ.

Bình giảng bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Thành công đầu tiên của Quang Dũng là đã cọn cho bài thơ một thể thơ rất hợp: thể bảy chữ; nhưng không phải bảy chữ Đường luật mà là bảy chữ thể hành; mỗi đoạn thơ ăn theo một vần bằng, cứ một câu vần bằng lại một câu vần trắc. Điệu thơ ấy, cách ăn vần ấy, tạo cho bài thơ một nhạc điệu vừa cổ kính nghiêm trang, vừa phóng khoáng bay bổng, vừa trùng điệp như trải ra vô tận, điệu thơ ấy, lại cộng với cách dùng từ hơi cổ kính một chút của Quang Dũng, khiến cho bài thơ ngay khi vừa đọc lên, đã có một không khí vừa man mác bâng khuâng vừa lãng mạn hào hùng. Nếu Quang Dũng sử dụng một thể thơ khác kể cả thất ngôn tứ tuyệt trường thiên như ở “Mắt người Sơn Tây”, điệu thơ sẽ khác đi, không khí bài thơ cũng sẽ khác đi, sẽ buồn hơn, và sẽ không còn là Tây Tiến nữa.

Nhưng đây không phải là vấn đề lựa chọn. Cảm hứng nghệ thuật của Quang Dũng, nhu cầu bên trong của nhà thơ, đã tìm đúng cái dạng hình phải có cho sự thổ lộ của mình, để cho Tây Tiến ra đời và cuộc sống đời đầy thăng trầm nhưng mãnh liệt của nó. Hình như có lúc nhan đề bài thơ gồm những ba chữ kia: Nhớ Tây Tiến. Cái nhan đề hơi thừa nhưng lại rõ nghĩa. Tây Tiến là một cảm hứng bắt nguồn từ kỷ niệm, kỷ niệm về một đoạn đời chiến đấu, về một miền đất, kỷ niệm về những người đồng đội, cả những kỷ niệm khó quên về chính mình.

Trong đời có những lúc nào đò, kỷ niệm bỗng sống dậy với những đường nét và sắc màu nóng bỏng để gợi lên những cảm xúc và hoài niệm vô tận. Kỷ niệm về Tây Tiến, về cuộc hành quân tiến về tây đánh giặc bên kia biên giới Việt Lào, đã bắt đầu như thế. “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi” Nhớ chơi vơi! Hai tiếng chơi vơi dùng ở đây thì thật là đắc địa. Nhớ chơi vơi là nỗi nhớ không có hình, không có lượng, hình như nhẹ tênh tênh mà nặng vô cùng, bỏi không đo nó được, không cân nó được, chỉ biết nó lửng lơ, đầy ắp, mênh mông, nó ám ảnh tâm trí mình, nó da diết thương nhớ vô cùng. Nhớ chơi vơi, ít ai nói như thế, hình như trong ca dao cũng có và chỉ có một lần nỗi nhớ như thế xuất hiện: Ra về nhớ bạn chơi vơi…

Trong bài thơ Quang Dũng, hai tiếng chơi vơi này lại ăn vần với tiếng “ơi” ở câu trên, nên càng bộc lộ hết sắc thái ngữ nghĩa và sức khơi gợi của chúng, càng trở nên như một tiếng vang tức thời bật lên từ cõi nhớ: nhớ Tây Tiến – nhớ ngay về rừng núi. Ấn tượng sâu đậm nhất về Tây Tiến là ấn tượng về rừng núi. Cả một đoạn thơ bắt đầu gồm 14 câu đều dành cho kỷ niệm về rừng núi một vùng bát ngát miền Tây, một vùng biên giới Việt Lào. Mà rừng núi mới dữ dội, khắc nghiệt làm sao: núi cao, dốc thẳm, sương dày, mưa mịt mù trời đất, thác gầm, cọp dữ… Miền Tây, ấy là nơi ngự trị của vẻ thâm u, hoang dã, những thách thức gớm ghê đặt ra trước con người; thiên nhiên ở đây luôn là một mối đe doạ, một sức mạnh sẵn sàng vồ lấy con người, nuốt chửng con người. Ta chớ quên rằng, vào cái mùa xuân Tây Tiến ấy, những người lính Tây Tiến như Quang Dũng chỉ vừa mới ra đi từ một mái trường hoặc một góc phố nào đó của Hà Nội – Thăng Long, nơi có Hồ Gươm, Tháp Bút, Tháp Nghiêng, có liễu Hồ Tây, có ba mươi sáu phố phường, có cả những cuộc chiến đấu trên chiến luỹ ác liệt mà vẫn pha nét hào hoa… ấn tượng trước miền Tây vì thế càng ghê gớm. “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm. Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Từng chi tiết: sương, dốc, mây, mưa… đều được Quang Dũng đưa ra với ấn tượng mạnh nhất của nó. Sương thì dày đến “lấp” cả đoàn quan, dốc thì đã “khúc khuỷu” lại “thăm thẳm”, đã “nghìn thước lên cao” lại “nghìn thước xuống”, “cồn mây” thì heo hút và cao đến “súng ngửi trời”, mưa đến mức những ngôi nhà như bồng bềnh trên biển khơi…

Những từ địa danh Sài Khao, MườngLát, Pha Luông, Mường Hịch xa lạ càng làm tăng cái ấn tượng xa ngái, hoang sơ lên một bậc nữa. Đọc mấy câu thơ sau đây: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Tự nhiên thấy rợn ngợp cả người, cứ như khi đọc mấy câu thơi trong “Thục đạo nan” của Lý Bạch: Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên!” (Đường xứ Thục khó đi, khó hơn cả lên trời xanh)

Hoặc như khi đọc “Chinh phụ ngâm” mà đến câu: “Hình khe thế núi gần xa. Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao… Tây Tiến là một cuộc hành quân cực kỳ gian khổ, gian khổ đến độ: Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.” Gian khổ tưởng như đã vượt lên trên giới hạn chịu đựng của con người. Những người gục xuống trên đường đi, gục xuống khi chân còn đi; chỉ khi “không bước nữa”, không thể bước nữa mới “gục lên súng mũ”, và thế là “bỏ quên đời” chứ không phải nằm xuống, ngã xuống.

Cái ý thơ này dẫu buồn mà vẫn không bi đát, bởi vì con người ở đây vẫn vượt lên mình, dẫu không áp đảo được khó khăn nhưng không khuất phục, và cho đến khi chết, vẫn chết trong cuộc hành trình. Thật là một hình ảnh vừa bi vừa hùng. Nó đúng với cái không khí thời đại của đấtnước đang bước vào một cuộc chiến đấu mà mỗi người chỉ có hai tay không và một tấm lòng, phải đương đầu với súng đạn bom pháo của một bầy giặc mạnh, chiến đấu cho một lời thề thiêng liêng: “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Mỗi cuộc ra đi đều không hẹn ngày về, giống như lời một bài hát rất thịnh hành ngày đó: Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi Là có sá chi đâu ngày trở về…

Đừng đưa những tiêu chuẩn tinh thần lạc quan cách mạng hay gì gì đó của những năm sau này mà đo đạc hay phê phán tinh thần của lớp người ngày ấy. Bởi vì ở họ, ở mỗi người chiến sĩ lên đường ngày ấy, đều có một hình ảnh và một tâm trạng của Kinh Kha sang Tần: “Phong tiêu tiêu hề dịch thuỷ hàn Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn” (Gió hiu hắt chừ, sông Dịch lạnh tê Tráng sĩ một đi chừ, chẳng trở về) Ôi, cái lãng mạn đẹp đẽ của một thời! Đừng gọi đó là anh hùng cá nhân. Anh hùng thì có nhưng cá nhân thì không, bởi cái anh hùng ấy vô tư lắm. Trong đoạn thơ đầu này, nếu Quang Dũng có nói “quá lên” về cái ghê gớm của núi rừng (mà chắc là không quá) thì cũng chỉ là để nói lên cái hào hùng của con người chứ không phải để hạ thấp nó. Rồi giữa những kỷ niệm khổ và đau như thế, đoạn thơ bỗng khép lại bằng một kỷ niệm thật ấm áp, như một tiếng hát vui bỗng vút lên. Cái khổ cái buồn ấy thật đáng nhớ, vì thế cái ngọt bùi giữa bao nhiêu buồn khổ ấy lại càng đáng ghi nhớ hơn: “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” Điều vui gợi nhớ điều vui, Quang Dũng dành cả phần thứ hai gồm tám câu thơ cho những ký niệm vui về tình người xứ bạn:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ” Hình ảnh một cuộc liên hoan văn nghệ đã thành truyền thống trong cuộc kháng chiến chống Pháp được nhắc đến với ba nét tiêu biểu: đuốc hoa, điệu múa, tiếng khèn, những chi tiết có màu sắc tả thực mà vẫn có chút gì rất mộng, rất ảo. Hai tiếng “Kìa em” vừa ngỡ ngàng vừa trìu mến. Một nét chấm phá về nhân dân xứ bạn lại được định hình rất rõ trên tấm ảnh thời gian: “Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” Quang Dũng đã dành phần cuối của bài thơ cho hình ảnh anh bộ đội Tây Tiến, một hình ảnh mà tác giả muốn ca ngợi một cách khác thường sau khi đã nói đến những nét hoặc khác thường hoặc độc đáo của cuộc Tây Tiến gian khổ hào hùng. “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu là dữ oai hùm” Nếu cần sự độc đáo thì mấy từ “không mọc tóc” đã đạt đến chỗ tột cùng của độc đáo, nhưng như thế thì có chân thật không? Hình ảnh anh bộ đội có trở nên quái đản không? Không! Bởi vì, đây là hình ảnh anh “vệ trọc” nổi tiếng một thời, hình ảnh như một dấu ấn không thể phai của những chàng trai từ thành phố, từ dưới các mái trường “xếp bút nghiên” bước vào chiến đấu, với một lòng yêu nước hoàn toàn vô tư và một chút lãng mạn của một khách chinh phu và một tráng sĩ “gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”.

Hình ảnh anh bộ đội trong cái năm đầu tiên của kháng chiến ấy có thể hoàn toàn thoát được hình ảnh người anh hùng mà văn thơ lãng mạn đã tạo nên, cả từ “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn hay “Chí anh hùng” của Nguyễn Công Trứ. Mà đã có “đoàn binh không mọc tóc” thì tất nhiên cũng có được “quân xanh màu lá dữ oai hùm”. Hơn nữa cái vẻ “dữ oai hùm” ấy cũng hoàn toàn tương xứng với một ý thơ của đoạn đầu: “Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người” Hình ảnh anh bộ đội Tây Tiến đã được dựng lên như thế thì thế tất phải có hai câu thơ này: “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. Mấy câu thơ sau thì thật buồn: Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Đó là hình ảnh tất nhiên của một cuộc chiến tranh. Câu thơ đầu đọng lại như một bức tranh buồn thảm bởi tất cả bảy tiếng “rải rác – biên cương – mồ viễn xứ” đều hàm chứa một lượng thông tin lớn. Câu thơ này nếu đứng một mình thì ấn tượng bi thảm thật đến vô cùng. Nhưng từ cái bi thảm ấy, những câu thơ sau lại nâng nó lên thành bi tráng chứ không còn bi thảm nữa. Nó tráng bởi Quang Dũng đã nói được một điều cốt lõi trong nhân cách của người đã chết: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” Cách nhìn, cách phát biểu của nhà thơ cũng xuất phát từ cái tráng ấy. Riêng chi tiết thực này: người tử sĩ được mai táng trong chính quần áo của mình (không có cả chiếu), Quang Dũng đã nói khác đi. Nhà thơ không nói “áo” mà nói “áo bào”, và khi nói “áo bào” thì ta không còn nghĩ đến “áo” nữa mà nghĩ đến một cái gì đẹp và hùng tráng hơn rất nhiều. Nói “áo bào” không phải là thi vị hóa hay “tiểu tư sản”, “mộng rớt” như có người đã nói. Áo bào là đúng trong trường hợp này, vì đây là tấm áo mà người chiến sĩ đã mặc để chiến đấu cho đến phút chót của đời mình. Vả lại “áo bào” chứ không phải “chiến bào”. chiến bào thì nghe cổ quá, không phù hợp, còn “áo bào” thì lại rất mới, rất đúng. Một sự kết hợp ngẫu nhiên giữa hai từ áo và bào, coi như một đóng góp về từ vựng của Quang Dũng. Người tráng sĩ thời phong kiến coi “da ngựa bọc thây” là một niềm vinh quang thì với người lính bảo vệ đất nước ngày nay, “áo bào thay chiếu anh về đất” là một hình ảnh đầy sức mạnh ngợi ca. Vả lại, Quang Dũng còn rất tinh tế khi dùng từ “về”: “anh về đất”; không từ nào có thể thay thế cho từ này được. “Về đất” không chỉ là được chôn xuống đất mà còn là hành động “tựu nghĩa” của người anh hùng đã hoàn thành nhiệm vụ, còn là niềm trân trọng, yêu thương của đất nước, của đồng đội. Bi tráng nhất là câu thơ cuối đoạn này:

“Sông Mã gầm lên khúc độc hành Buồn đấy nhưng sao mà hùng tráng quá!” Quang Dũng kết thúc Tây Tiến bằng một khổ thơ tứ tuyệt: “Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy. Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.” “Không hẹn ước” rồi lại “thăm thẳm một chia phôi”. Quang Dũng khẳng định cái ý nhiệm “nhất khứ bất phục hoàn” trong hình ảnh anh bộ đội Tây Tiến, cũng là cái ý niệm chung cả một thời kỳ, một thế hệ con người. Đã nói nhiều điều về Tây Tiến, đã nhắc lại nhiều kỷ niệm về Tây Tiến, nhưng cuối cùng cái đọng lại sâu nhất, bền vững nhất về Tây Tiến là cái tinh thần ấy. Giọng thơ trầm, chậm, hơi buồn, nhưng ý thơ thì vẫn hào hùng. “Tây Tiến mùa xuân ấy” đã trở thành cái thời điểm một đi không trở lại của lịch sử nước nhà. Sẽ không bao giờ còn có lại cái thuở gian khổ và thiếu thốn đến dường ấy nhưng cũng lãng mạn và hào hùng đến dường ấy. Không có cái thuở ấy thì sẽ không có bài thơ Tây Tiến; và tất nhiên không có cái hồn thơ, cái tài thơ của Quang Dũng thì cũng sẽ không có Tây Tiến.

Bài 2. Bài văn của em Hoàng Thị Thu Trang đã bình giảng bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:

Quang Dũng thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp như Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung, Hồng Nguyên, Trần Mai Ninh, Chính Hữu …Quang Dũng nổi tiếng với hai bài thơ: “Tây Tiến” và “Đôi mắt người Sơn Tây”.

Bình giảng bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Bài thơ “Tây Tiến” được sáng tác vào năm 1948 khi ông rời đơn vị Tây Tiến và nhớ về kỉ niệm gắn bó một thời với Tây Tiến. Đoàn quân Tây Tiến bao gồm hầu hết những thanh niên Hà Nội hoạt động ở một địa bàn rộng lớn ở vùng núi biên giới Việt – Lào. Hào hoa mà anh dũng. Đoạn đầu của bài thơ hồi tưởng lại những kỉ niệm của một thời chinh chiến, những cuộc hành quân gian khổ với thiên nhiên vừa khắc nghiệt lại vừa hùng vĩ, thơ mộng: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Quang Dũng chịu ảnh hưởng sâu đậm nhạc điệu của thơ cổ điển. Có thể nói nhà thơ Quang Dũng, hiện thực là hiện thực kháng chiến (chống Pháp) được phô diễn bằng một tâm hồn lãng mạn và âm điệu cổ điển. Qua hai câu thơ mở đầu của bài “Tây Tiến” ta nắm bắt được hồn thơ Quang Dũng: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi” Âm điệu của câu thơ thất ngôn bát cú như từ thời Lí Bạch.

Tình cảm thì dào dạt như các nhà thơ lãng mạn thời Thơ mới. Có điều là trong dòng thơ hoài niệm ấy đã xuất hiện một cái tên lịch sử. Tây Tiến! Mà đã nói đến Tây Tiến là phải nói đến sông Mã, con sông hùng vĩ đã chứng kiến những vui buồn của cuộc đời người chiến binh, là phải nói đến rừng núi với những chặng đường hành quân cheo leo bên núi cao, bên vực thẳm, đi trong sương mù, trong hương hoa. Nỗi nhớ dâng trào như nỗi nhớ của các nhà thơ lãng mạn. Đây là câu thơ của Xuân Diệu: ” Tương tư nâng lòng lên chơi vơi ” Còn đây là câu thơ của Quang Dũng: “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi ” Có điều là một đằng thì nhớ người yêu, một đằng thì nhớ những kỉ niệm kháng chiến. Những kỉ niệm về Tây Tiến, về kháng chiến cứ đậm dần lên trong sự hài hoà giữa bút pháp lãng mạn và hiện thực của thơ Quang Dũng. Những địa danh miền sơn cước như Sài Khao, Mường Lát gợi bao cảm xúc mới lạ. Những “sương”, “hoa” từng hiện diện với thi nhân, với tình yêu thì nay hiện diện với đoàn quân, gian khổ mệt mỏi đấy nhưng không thiếu những giây phút lãng mạn. Thủ pháp đối lập được Quang Dũng triệt để sử dụng. “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” gian khổ biết bao! “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” thi vị biết bao!

Tưởng chừng như thiên nhiên ban thưởng cho người lính một chút hương hoa để có sức mạnh mà vượt qua đèo dốc. “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời” Những thanh trắc (dốc, khúc, khuỷu, thẳm ) tức ngược miêu tả được thế núi hiểm trở. Và hay nhất là miêu tả chiều sâu thăm thẳm để tả chiều cao của “dốc lên khúc khuỷu”. Cao đến nỗi người lính có cảm giác mình ngự trên mây “heo hút cồn mây” và “súng ngửi trời”. Cách nhân hoá thú vị cũng là để nói cách đo chiều cao riêng của những người lính. Ta lại thấy một ông Lí Bạch trong thơ Quang Dũng. Cảm hứng lãng mạn tô đậm cái phi thường. Câu thơ “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” có khác gì câu thơ của Lí Bạch “Nước bay thẳng xuống ba ngàn thước” trong bài thơ “Xa ngắm thác núi Lư”. Ta cũng lại nghe âm điệu của Tản Đà trong giai điệu buông thả mê li của Quang Dũng: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” với “Giang hồ mê chơi trên quê hương” của Tản Đà Mơ mộng đó mà gian khổ cũng đó.

Qua những chặng đường hành quân, vượt qua đèo cao lũng sâu, người lính sao tránh khỏi những giây phút mệt mỏi. Quang Dũng không tránh né thực tế khắc nghiệt của người lính trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”. Thật là bi tráng! Hình ảnh người lính “Gục lên súng mũ bỏ quên đời” cho ta thấm thía thêm những nỗi gian lao, vất vả, hi sinh của người lính Tây Tiến.

Hình ảnh núi rừng hoang vu, huyền bí tăng thêm chất bi tráng. Thiên nhiên đổi thay theo sắc màu của thời gian. Những nét lạ, những chi tiết rùng rợn càng tăng sức hấp dẫn của bút pháp lãng mạn. Âm thanh dữ dội của tiếng thác buổi chiều hoà điệu với âm thanh rùng rợn của tiếng “cọp trêu người ” đêm đêm thành một bản hoà tấu vang động cả núi rừng. Rồi tất cả lại trở về dịu êm với những kỉ niệm của con người và bản làng thân thương: “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” Sợi khói ấm áp giữa núi rừng hoang vu, đó là chất thơ của đời sống chiến sĩ làm sao mà không nhớ? Kỉ niệm cứ như trôi trong mộng: “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.

Chữ của thơ thật lạ, có những chữ đã cũ mèm mà được đặt vào đúng văn cảnh thì lại dậy lên ý lạ. Chữ “em” thì có gì là mới, vậy mà thay vào đó bất cứ chữ nào khác thì câu thơ cũng mất hết linh hồn. Nói kiểu Pautôpxki là Quang Dũng đã trả lại cho chữ “em” cái trinh bạch ban đầu. Hương nếp hay là hương em đã làm bâng khuâng cả núi rừng, bâng khuâng cả lòng người? Nhà thơ nhớ lại một đêm liên hoan lạ lùng giữa rừng biên cương: “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ ” Bút pháp lãng mạn của Quang Dũng lại được dịp miêu tả những nét lạ: y phục lạ (xiêm áo), nhạc cụ lạ (khèn), âm điệu lạ (man điệu), dáng vẻ lạ ( nàng e ấp).

Tình quân dân nơi rừng núi xa xôi càng thêm sức mạnh cho người lính Tây Tiến. Cùng với dòng hồi tưởng đó, tác giả nhớ lại hình ảnh người lính Tây Tiến, những hình ảnh độc đáo không thể nào phai nhoà: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” “Đoàn binh không mọc tóc” quả là kì dị! Thời đó, đoàn quân Tây Tiến hoạt động trong rừng núi phía Tây, bệnh sốt rét hoành hành. Tóc rụng đến nỗi không mọc lên được. Da xanh bủng như màu lá rừng. Tác giả miêu tả bằng cách đối lập giữa cái bên ngoài và cái bên trong. Bên ngoài người lính thì da xanh bủng ốm yếu, nhưng tinh thần thì vững vàng. Khí phách của người lính Tây Tiến chẳng những lấn át cả bệnh tật ốm yếu mà còn “dữ oai hùm” làm khiếp sợ kẻ thù.

Tinh thần của người lính Tây Tiến thật là mãnh liệt. Mãnh liệt cả trong ” mộng “, mãnh liệt cả trong “mơ”. “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Hình ảnh “mắt trừng” thể hiện ý chí quyết tâm của người lính Tây Tiến trong nhiệm vụ bảo vệ biên cương, nghĩa vụ quốc tế của mình. Trên kia ta đã từng gặp hình ảnh “mộng” ấy: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”. Nhưng tình cảm, tâm tưởng người lính lại hướng về Hà Nội, quê hương thân yêu của hầu hết binh đoàn Tây Tiến: “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Hà Nội đẹp nhất là Hồ Tây và thiếu nữ. Những chàng trai Hà Nội chưa trắng nợ anh hùng ra đi chinh chiến làm sao không mang theo trong hành trang của mình hình bóng của một “dáng kiều thơm” nào đó, hoặc hình bóng của người thân yêu? Một chút lãng mạn như vậy đủ nuôi dưỡng tinh thần của người lính Tây Tiến trong hoàn cảnh chiến đấu gian khổ, hi sinh. Tứ thơ mộng mơ này cũng nằm trong cấu trúc chung của bài thơ “Tây Tiến” là ngược – xuôi: con người, ý chí, hành động thì ngược về hướng tây, nhưng tình cảm thì lưu luyến xuôi về với quê hương thân yêu: “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Liền với tứ thơ mộng mơ ấy là hình ảnh hi sinh cao quý của những người lính Tây Tiến. Từ tinh thần lãng mạn chuyển sang không khí bi tráng: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành” Lần nữa ta lại thấy Quang Dũng không tránh né những chết chóc bi thương. Người lính Tây Tiến chiến đấu ở một miền núi rừng biên cương chống kẻ thù xâm lược làm sao tránh khỏi sự tổn thất về sinh mạng: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ ” Câu thơ chỉ có từ “rải rác” là thuần Việt, còn lại là từ Hán Việt cổ kính, gợi không khí thiêng liêng, đượm chút ngậm ngùi. Đến câu thơ tiếp theo, tác giả hoá giải được tình cảm ngậm ngùi đó: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. “Đời xanh”đẹp biết bao! Còn gì quý bằng tuổi trẻ, vậy mà người lính Tây Tiến “chẳng tiếc”, cho nên họ chấp nhận tất cả. Tự vệ thành Hà Nội đã nêu cao lời thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh “trong cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô.

Những người con của Thủ đô ở biên cương cũng có tinh thần “hiệp sĩ” đó. Có lẽ gọi những chàng trai “chẳng tiếc đời xanh” này là “hiệp sĩ” cách mạng, như những người lính trong “Đồng chí” của Chính Hữu, trong “Nhớ” của Hồng Nguyên. Sự hi sinh của họ thật là cảm động: “Áo bào thay chiếu anh về đất” Người lính Tây Tiến thời đó hết sức thiếu thốn. Theo Trần Lê Văn thì đồng bào thấy các chiến sĩ Tây Tiến rét đã cho chiếc áo khoác thay cho “áo bào”. Khi chết, đồng đội dùng chiếu bó lại để chôn vì không có quan tài. Câu thơ đó có một từ rất xứng với sự hi sinh của người lính là từ “đất”. “Anh về đất “là về với non sông đất nước, về với sự trường tồn, vĩnh hằng. Âm nhạc của thiên nhiên, non nước tấu lên đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng: “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” Cái chết của những người lính Tây Tiến nơi biên cương chẳng những làm xúc động sâu xa những chiến sĩ đồng đội mà còn động cả lòng trời đất. ” Sông Mã gầm lên” đau đớn, tiếc thương.

Khúc nhạc bi tráng hợp với sự hi sinh cao quý của những “hiệp sĩ” Tây Tiến. Quang Dũng đi kháng chiến, đến đoàn quân Tây Tiến với tư cách là một trí thức có tâm hồn nghệ sĩ. Khi đặt bút làm thơ thì đã có ông Lí ông Đỗ ngự trong lòng. Âm nhạc đầy cám dỗ của nhà thơ Việt Nam hiện đâi như Tản Đà (nhà thơ cùng quê hương với ông), Thế Lữ, Xuân Diệu cũng đã dội vang trong lòng ông. Các nhà thơ cổ kim đã bồi đắp trong hồn thơ kháng chiến mới mẻ của ông. Bằng nghệ thuật điêu luyện, Quang Dũng đã khắc hoạ chân dung người lính Tây Tiến, hình hài thì kì dị, độc đáo, chân dung tinh thần thì cao quý. Xúc cảm của nhà thơ được nuôi dưỡng bằng âm nhạc vừa cổ kính vừa hiện đại.

Những trái tim “hiệp sĩ” Tây Tiến nằm lại rải rác ở biên cương chắc sẽ cảm thấy êm ái khi nghe thơ Quang Dũng. Bằng hội hoạ và âm nhạc, tượng đài của lòng dũng cảm đã được dựng lên trong thơ “Tây Tiến” – vĩnh hằng.

Nguồn: chúng tôi

Nhà Thơ Quang Dũng Và Bài Thơ Tây Tiến

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời !

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi…

*

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa…

*

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu, anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành!

*

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Về văn bản, bài thơ này in trong Ngữ văn lớp 12 tập 1, tr. 88, 89; NXB Giáo dục 2013. Văn bản này dựa theo tập Mây đầu ô, thơ Quang Dũng, NXB Tác phẩm mới, 1986 – tập thơ đã được Quang Dũng khi còn sống xem lại. Hai cái dấu ba chấm và một cái dấu chấm than cuối khổ là chúng tôi thêm vào.

Nhà thơ Quang Dũng (1921-1988) tên khai sinh là Bùi Đình Dậu. Sau đổi giấy khai sinh cho người anh họ là Bùi Đình Diệm, từ đó Diệm trở thành tên chính thức. Quang Dũng là tên con trai cả, cũng là bút danh. Quê ông là làng Phượng Trì, nay là Thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng. Đan Phượng thời Lê thuộc phủ Quốc Oai, Trấn Sơn Tây. Sau đó chuyển đi chuyển lại giữa hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây; nay thuộc Hà Nội.

Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ là những người nông dân mặc áo lính mà còn có những người thành phố, những trí thức có bằng tú tài tây hoặc cao đẳng, đại học… Tất cả làm nên phẩm chất Anh bộ đội Cụ Hồ: Vì nước quên thân trong ý chí; ruột thịt yêu thương trong tình cảm; chất phác, mộc mạc nông dân nhưng cũng hào hoa trí thức trong phong cách. Hai phong cách đó đến từ hai hướng khác nhau do xuất thân trong chống Pháp sẽ được hòa quyện nhuần nhụy hơn trong mỗi tâm hồn người lính thời chống Mỹ.

Bài thơ được in lần đầu trên Tạp chí Văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam số 11-12 tháng 4, tháng 5 năm 1949 với tên bài là Nhớ Tây Tiến. Sau, tác giả thấy rằng, chỉ nhắc đến Tây Tiến là nhớ nao lòng, nhớ “nẫu ruột” rồi, không cần chữ “Nhớ” nữa.

Tây Tiến là một bài thơ hay, hay từ tình cảm, hình ảnh đến nhạc điệu; là một viên ngọc toàn bích của thơ ca Việt Nam hiện đại; ai nhìn cũng thấy đẹp, ai đọc cũng thấy hay, nhiều người thuộc. Bởi thế, thật khó diễn tả về cái hay của bài thơ này một cách cụ thể. Mỗi câu thơ vừa rất thật lại vừa ảo; nó hàm súc, hồn vía, nên dùng để cảm thì được, mà nói bằng lời thì khó hết. Xin nêu một vài cảm nhận, một vài chú thích để cùng chia sẻ, khi cảm thụ bài thơ.

1.Bài thơ bắt đầu từ Nỗi Nhớ. Nhớ là một tình cảm thảng thốt, trào dâng, quay quắt, không nén được, bắt người ta phải cất lên thành tiếng gọi Huế ơi, quê mẹ của ta ơi (Tố Hữu). Những bài thơ viết từ nỗi nhớ là những bài thơ sâu sắc, đáng tin và dễ hay nhất. Ca dao tuyệt vời ám ảnh với Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ/ Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai/ Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ Như đứng đống lửa như ngồi đống rơm; Khăn thương nhớ ai/ Khăn thương nhớ ai/ Khăn rơi xuống đất…/ Đèn thương nhớ ai/ Mà đèn không tắt.Viết về nỗi nhớ, lý trí không chỉ đạo, mà tuôn theo dòng tình cảm, bởi thế nó có sự tự nhiên như nhiên, không gò gẫm, không lệ thuộc vào sự chi phối bên ngoài, không cả hướng theo “mục đích” của tác giả. Chỉ là sự tự thể hiện. Cho nên không thể nhìn Tây Tiến như một bài thơ miêu tả sự gian khổ và tinh thần vượt gian khổ của anh bộ đội Cụ Hồ. Trong kháng chiến chống Pháp, nhà thơ Khương Hữu Dụng tả rất hay điều đó: Rồi dốc, rồi truông, leo rồi leo/ Rồi khe, rồi lạch, vòng cong queo/ Lên, bám vào mây, xuống, bíu gió/ Trượt chân, suối cuốn một làn rêu! (Từ đêm 19). Và Hữu Loan với Đèo Cả: Dưới cây bên suối độc/ cheo leo chòi canh/ như biên cương/ tóc râu trùm/ vai rộng/ Không nhận ra người làng/ rau khe/ cơm vắt/ áo phai màu chiến trường/ ngày thâu/ vượn hú/ đêm canh gặp hùm/ lang thang. Ở những câu thơ này, hay thì hay nhưng dụng công nghệ thuật đã ít nhiều phạm đến cái đẹp của tự nhiên, không đáng yêu như Tây Tiến.

2. Con người (tâm hồn) Quang Dũng được thể hiện như thế nào? “Hướng dẫn học bài”, phần ghi nhớ của sách Ngữ văn 12 viết: “Với cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa, Quang Dũng đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng Miền Tây hùng vĩ, dữ dội và mỹ lệ”. Đó có thể là một câu tổng kết hay. Nhưng nó lại khuôn văn học vào tính mục đích, vào sự phản ánh. Như trên đã nói, Quang Dũng chỉ nói về nỗi nhớ của ông, tâm trạng của ông, còn qua tâm trạng ấy thấy gì là chuyện của người đọc. Vì là nỗi nhớ, nó không nhất định phải tập trung cho người lính Tây Tiến, mà tất cả những gì nhà thơ đã nếm trải, đã đau khổ hoặc hào hứng. Nỗi nhớ không cần mạch lạc, tập trung. Nó chỉ là tất cả những gì không quên được. Các câu thơ đến từ mọi hướng. Đang nói về dốc núi, cồn mây, cọp Mường Hịch, cái chết gục lên súng mũ, bỗng lại Mai Châu mùa em thơm nếp xôi. Rồi bỗng nữa lại đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm! Thực tế những câu không viết trực tiếp cho chiến tranh, cho người lính lại sống lâu hơn, lại tự dựng cho mình một tượng đài riêng như Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói/ Mai Châu mùa em thơm nếp xôi. Người ta biết đến Mai Châu nhiều hơn và mãi mãi biết dến Mai Châu vì câu thơ này! Con người Quang Dũng cũng phải phải là lát cắt ngang thời đại, là một anh bộ đội thuần túy. Mà còn là tráng sĩ thời phong kiến, còn là cái tráng khí nam nhi thời nào cũng có, thích gian khổ, ngang tàng; thích yêu đương lãng mạn. Trai không có phong sương, không mơ mộng về một nàng; thơ không có tình yêu, nó như không còn nó nữa! Quang Dũng còn là hồn văn chương dân tộc ở cách viết hiện thực lẫn trong ước lệ, trong những từ ngữ, hình ảnh có tính biểu tượng như đuốc hoa, xiêm áo, dáng kiều, viễn xứ, áo bào. Nhịp điệu thơ cũng vừa Đường thi, vừa tự do. Có lẽ đây là một kinh nghiệm cho những người làm thơ: biết làm mới trên nền cũ, không thể cắt đứt cái cũ. Từng chi tiết trong bài thơ là rất thực, là những gì nhà thơ chứng kiến trong cuộc hành binh Tây Tiến; song cái thực ấy được “nhớ” lại; nó lắng qua hồn rất sâu, khi dâng lên đã thành hương. Những gì tạp và nặng, không gợi cảm xúc thẩm mỹ đã rơi rụng. Như nhìn dòng nước lũ không thấy rều rác mà chỉ thấy hoa đung đưa. Như đêm lửa trại, không thấy cái cụ thể, mà chỉ thấy hình ảnh của ước mơ, của những Quý Phi, Vương Chiêu Quân, của một man nương ( kìa em xiêm áo). Rồi cây lau cũng hóa hồn; Sông Mã cũng như người khi êm đềm lặng chảy, khi gầm lên trong khúc độc hành. Chỉ một câu Sông Mã gầm lên khúc độc hành, vừa thấy cái khí mạnh, cái thống nhất của đoàn quân Tây Tiến; vừa thấy cái xa khác với đời ở nhiều phương diện.

Tây Tiến là một bài thơ có sức sống vì nó luôn luôn hiện đại; nó luôn luôn hiện đại vì nó viết về con người, viết một cách tự nhiên, chân thực.

3. Về một số từ. Chơi vơi trong “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi” là gì? Ngày nay ta hiểu chơi vơi là một trạng thái không vững, nó gợi tới một cái gì đó chênh vênh trên cao. Cũng hiểu chơi vơi là cái gì trong khoảng không, trong tư tưởng không xác định, không vững vàng. Tôi không cho là nhớ về những cái chơi vơi mà nhớ về những cái làm tác giả chơi vơi, không yên được, không vững được.Ca dao có câu: “Ra về nhớ bạn chơi vơi/ Nhớ chiếu bạn trải, nhớ nơi bạn nằm”, thì nỗi nhớ này là không thể hời hợt, “chơi vơi” như cách nghĩ hiện nay. Về chữ đuốc hoa (Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa), sách giáo khoa 12 và các bài viết khác đều chú là “hoa chúc”, nến thắp trong phòng đêm tân hôn. Cổ thi, in trong sách Ấu học ngũ ngôn thi ngày xưa viết về bốn niềm vui (tứ hỉ) như sau: Cửu hạn phùng cam vũ/ Tha hương ngộ cố tri/ Động phòng hoa chúc dạ/ Kim bảng quải danh thì (Hạn lâu gặp mưa rào, Xa quê gặp bạn cũ, Đêm tân hôn động phòng, Bảng vàng treo tên thi đỗ). Đây có phải giấc mơ về đêm tân hôn không? Tôi nghĩ là không. Nếu trích điển thì nó gần với câu Trú đoản khổ dạ trường/ Hà bất bỉnh chúc du (Khổ vì đời ngắn mà đêm dài, Sao không đốt đuốc mà đi chơi đêm) hơn. Đây là quan sát sáng tạo của Quang Dũng: Mỗi cô gái (Thái hoặc Lào, có lẽ là Lào) là một bó đuốc hoa, nhờ những cô gái đó mà cả doanh trại thành một hội đuốc hoa: những người lính cục mịch, gian khổ, đánh đấm bỗng thăng hoa, hồn thơ, tỏa sáng… Không chỉ đàn bà, con gái; nhưng rõ nhất là đàn bà, con gái mới thức dậy được bản năng, bản tính tốt đẹp của người đàn ông, vì đó đời mới là đời, đời đáng sống hơn! Man trong “Man điệu”: Dân Hoa Hạ Trung Quốc xưa coi phía bắc là Bắc địch; phía nam là Nam man; phía tây là Tây nhung; phía đông là Đông di; gồm những tộc thiểu số kém văn minh hơn. Chữ man điệu vừa chỉ điệu nhạc, điệu múa của người thiểu số, song ở đây cũng ca ngợi cái tự nhiên, mạnh mẽ bản năng con người. Bản năng được thừa nhận, được coi là cái đẹp cũng là bước tiến về tư tưởng và nghệ thuật!

Cuối cùng xin nói về câu Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. Tại Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày sinh nhà thơ Quang Dũng do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức ngày11-11-201 tại 19 Hàng Buồm, chúng tôi mời nhà thơ Vân Long, người bạn thân trong nhóm chơi Phan Kế An, Trần Lê Văn, Ngô Quân Miện, Lữ Giang, Vân Long, Quang Dũng… phát biểu. Ông kể, xưa Nguyễn Ngọc Chương (Chiêu Dương) và Bùi Đình Diệm (Quang Dũng) chơi rất thân. Bước vào kỳ thi “đíp-lôm” (lấy bằng Thành chung) ở Hà Nội, Chương rủ bạn đến chơi nhà mấy chị em cô Kiều nổi tiếng xinh đẹp, con một ông chủ thầu khoán, ở số 68 Hàng Bông. Mấy chị em này có tên bắt đầu bằng “Kiều”: Kiều Vinh, Kiều Dinh, Kiều Hinh và Kiều Hương. Chàng Chương đã phải lòng Kiều Dinh, định giới thiệu cho bạn một trong ba cô còn lại. Ông bố thấy hai chàng trông đẹp mã, nhưng giao hẹn phải thi đỗ, “phi đíp-lôm” bất thành phu phụ”; không ngờ cả hai chàng sau đó đều trượt vỏ chuối!

Không chỉ có Tây Tiến. Quang Dũng có nhiều bài thơ hay khác trở thành những giá trị văn hóa của dân tộc. Ông có những câu thơ biến thành thiên nhiên đất nước. Ngoài Mai Châu mùa em thơm nếp xôi còn có Mắt người Sơn Tây, Tôi nhớ Xứ Đoài mây trắng lắm…

Mỗi lần bước ra khỏi ô Cầu Giấy, tôi lại ngước mắt nhìn trời tìm những đám mây trắng nghìn năm. Mỗi lần gặp người con gái Sơn Tây, tôi lại thầm soi vào ánh mắt để dò biết cái độ luyến láy, thăm thẳm của tình yêu. Và nhớ những nhà thơ Xứ Đoài, nhớ Sóng gợn Sông Đà con cá nhảy/ Mây trùm non Tản cái diều bay. Chiều xanh vẫn thấy bóng Ba Vì nhưng những Tản Đà, Quang Dũng, Ngô Quân Miện đã biệt vào miền hư ảnh… Hay các ông vẫn đó, vòi vọi Ba Vì?

Nguyễn Sĩ Đại

Phân Tích Bài Thơ “Tây Tiến” Của Quang Dũng

Bài làm

Quang Dũng là một nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Ông tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp và trở thành nhà thơ chiến đấu. Sau khi rời khỏi quân ngũ Nguyễn Quang Dũng tham gia làm việc tại báo Văn Nghệ. Ông để lại nhiều bài thơ hay có tiếng vang trong nền thơ ca nước ta

Tác phẩm “Tây Tiến” là một bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ bi tráng, hào hùng của người chiến sĩ trong kháng chiến.

Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng là một bài thơ trong đó tác giả đã vẽ lên hình ảnh người lính đậm chất trữ tình, chất nhạc trong thơ của mình, làm cho người đọc người nghe không khỏi rung động trước những người lính vừa anh dũng, kiên cường, vừa giản dị, mộc mạc nhưng sâu sắc, lãng mạn…Bài thơ cũng là kỷ niệm không thể nào quên của tác giả về những năm tháng kháng chiến ác liệt nơi chiến trường xưa.

” Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơiNhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

Trong hai câu thơ này tác giả Quang Dũng gợi nhớ tới đoàn quân Tây Tiến trên những mảnh đất đã trở thành dấu ấn thiêng liêng bất tử. Hình ảnh con sông Mã kiên cường, dũng cảm đã trở thành người bạn hành quân cùng binh đoàn Tây Tiến trong kháng chiến hiện lên với nhiều kỷ niệm.

Trong câu thơ như một lời gọi tha thiết, của một người bạn cũ nhớ lại những nơi mà mình đã đi qua, có biết bao nhiêu kỷ niệm gắn bó. Nỗi nhớ của tác giả “chơi vơi” thể hiện sự ngả nghiêng, chênh vênh, mênh mang trong lòng. Một nỗi nhớ không có từ ngữ nào tả hết.

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuốngNhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”

Tác giả Quang Dũng lần lượt nhắc tới những địa danh quen thuộc nơi binh đoàn Tây Tiến đi qua như Sài Khao, Mường Lát… Trong những câu thơ này gợi lên chất nhạc, chất trữ tình trong từng câu thơ khiến cho người đọc cảm thấy trong thơ dường như có nhạc.

Nghệ thuật đối lập “dốc lên khúc khuỷu” “dốc thăm thẳm” thể hiện sự khó khăn trong quãng đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến. Nhưng trong khó khăn đó người lính vẫn vô cùng lãng mạn, cảm nhận được cảnh đẹp xung quanh, cảnh đẹp của tự nhiên và lòng người

“Súng ngửi trời” là một hình ảnh vô cùng thi vị trong thơ Quang Dũng, một hình ảnh đẹp thể hiện sự thị vị, tạo nên một bức tranh vô cùng nên thơ, trong hoàn cảnh hành quân nhiều gian khổ của người chiến sĩ. Nó hoàn toàn trái ngược với cuộc chiến tranh ác liệt mang thương đau và chết chóc tới con người

Trong cuộc kháng chiến vô cùng ác liệt nhưng giữa cuộc hành quân gian nan trèo đèo lội suối nhiều nguy hiểm, cam go nhưng những người lính của chúng ta vẫn vô cùng yêu đời. Tâm hồn tràn đầy nhiệt huyết, tràn đầy hy vọng về ngày mai chiến thắng của dân tộc. Những người lính đã thể hiện rõ được phong thái của mình không run sợ trước kẻ thù lớn mạnh, mà luôn tự tin tiến lên phía trước trong tâm thế ngẩng cao đầu.

“Chiều chiều oai linh thác gầm thétĐêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.Anh bạn dãi dầu không bước nữaGục bên súng mũ bỏ quên đời”

Cuộc hành quân kháng chiến của các chiến sĩ vô cùng khắc nghiệt, gian khổ, khó khăn, người lính phải vượt qua muôn trùng nỗi nguy hiểm có nguy cơ cướp đi tính mạng của mình bất cứ lúc nào. Những con thác lớn chảy xiết, những đêm tối ngủ trong rừng sâu có nhiều thú dữ như: Hổ, báo, chó sói quấy nhiễu… Tất cả đều vô cùng cam go, thử thách đối với người lính.

Nhiều người lính trẻ đã vĩnh viễn nằm lại nơi này, hình ảnh khi người lính ngã xuống của được tác giả Quang Dũng viết lên thật nên thơ, nhẹ nhàng không hề bi lụy “Gục bên súng mũ bỏ quên đời” thể hiện người lính khi nằm xuống chỉ như đi vào giấc ngủ mà thôi, ngay cả khi nằm xuống thì người lính vẫn trong tư thế ôm chặt khẩu súng chiến đấu của mình. Một hành động bản năng, thể hiện sự anh hùng, thể hiện sự tự vệ và thể hiện tinh thần yêu nước của những người lính trẻ.

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khóiTrôi dòng nước lũ hoa đong đưa…

Trong cuộc hành quân đường xa, người lính nhìn thấy nhiều mái nhà tranh chiều hoàng hôn, hiện lên những làn khói mờ sương phủ thể hiện nơi có những con người của quê hương thân yêu đang sinh sống. Nó gợi nhớ tới những người thân thương nơi quê nhà, gần gũi, gắn bó với người lính biết bao.

Tây Tiến đoàn quân không mọc tócQuân xanh màu lá dữ oai hùmMắt trừng gửi mộng qua biên giớiĐêm mơ hà nội dáng kiều thơm.

Trong khổ thơ này tác giả Quang Dũng đã xây dựng một hình ảnh người lính vô cùng chân thực, thể hiện sự khắc nghiệp, gian khổ trong chiến tranh. Những người lính khi hành quân qua rừng Trường Sơn, người lính phải chịu những trận sốt rét ác liệt, rồi nhiều bệnh khác khiến cho tóc dần dần rụng mất. Hình ảnh người lính hiện lên chân thực, giản dị, gần gũi,

Đây là một nét vẽ vô cùng chân thực, táo bạo mà chưa có tác giả nào thể hiện trong thơ của mình nhưng tác giả Quang Dũng không ngại nói thẳng nói thật về những gian khổ mà người lính phải trải qua.

Hình ảnh những người lính không mọc tóc thể hiện sự gai góc, mạnh mẽ, hiên ngang, chống chọi lại với những khó khăn trong cuộc sống, anh dũng trước kẻ thù lớn mạnh. Dù cuộc sống thực tại như vậy nhưng người lính vẫn mơ mộng, vẫn có một trái tim ấm nóng nhiều yêu thương trong lồng ngực, hình ảnh người con gái thân thương nơi xa xôi vẫn hiện lên đầy thổn thức, lãng mạn bởi tình yêu lứa đôi gắn liền với tình yêu quê hương đất nước tạo thành một tình yêu lớn.

Rải rác biên cương mồ viễn xứChiến trường đi chẳng tiếc đời xanhÁo bào thay chiếu anh về đấtSông Mã gầm lên khúc độc hàn h

Trong khổ thơ này thể hiện sự bi tráng, hào hùng trong bài thơ. Hình ảnh người chiến sĩ anh dũng hy sinh, nằm lại nơi chiến trường ác liệt, trở về trong lòng đất mẹ thân thương. Tuổi xuân, lòng nhiệt huyết của họ đã vì quê hương tổ quốc mà hy sinh thân mình nhưng họ không vì thế mà tiếc nuối, oán hận.

Họ ra đi nhưng trong lòng ngập tràn niềm vui bởi mình đã hy sinh anh dũng, hy sinh rất xứng đáng với mảnh đất quê hương đã sinh ra nuôi lớn mình.

Một sự ra đi giản dị hình ảnh người lính cách mạng, anh hùng, khi nhắm mắt xuôi tay được đồng đội người thân thiết tiễn biệt trong chiếc áo bào gắn liền với đời lính chiến, một nấm mộ đơn sơ, giản dị nhưng nhiều tình nghĩa, thể hiện sự tiếc thương vô hạn của những người ở lại.

“Sông Mã gầm lên khúc độc hành” sự ra đi của người lính giữa tuổi hai mươi xuân xanh phơi phới khiến cho cỏ cây, đất trời, dòng sông cũng phải gào thét tiếc thương. Anh ra đi chiến trường xưa nằm lại, những người đồng đội xung quanh anh khóc, cỏ cây hoa lá tiễn chân anh chúng đều khóc. Chỉ riêng anh môi vẫn nở nụ cười.

Văn mẫu lớp 12

Cập nhật thông tin chi tiết về Sơ Lược Về Bài Thơ Tây Tiến (Quang Dũng) trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!