Xu Hướng 12/2022 # Phân Tích Khổ Thơ Thứ Ba Bài Thơ Tây Tiến / 2023 # Top 15 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Phân Tích Khổ Thơ Thứ Ba Bài Thơ Tây Tiến / 2023 # Top 15 View

Bạn đang xem bài viết Phân Tích Khổ Thơ Thứ Ba Bài Thơ Tây Tiến / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

[Văn mẫu học sinh] Phân tích khổ thơ thứ ba bài thơ Tây Tiến

1)

Mở bài:

Giới thiệu khái quát về khổ thơ thứ ba bài Tây Tiến.

2) Thân bài: Luận điểm 1) Khái quát về tác giả, tác phẩm:

– Tác giả Quang Dũng:

+ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp

+ người nghệ sĩ đa tài với khả năng vẽ tranh, làm thơ, viết nhạc.

+ tập thơ tiêu biểu: Mây đầu ô, Thơ văn Quang Dũng…

– Bài thơ Tây Tiến:

+ một trong những tác phẩm tiêu biểu của Quang Dũng.

+ Tây Tiến là tên một đoàn quân được thành lập vào năm 1947 với nhiệm vụ bảo vệ biên giới Việt Nam và Quang Dũng là đại đội trưởng của binh đoàn Tây Tiến.

+ tên ban đầu là Nhớ Tây Tiến nhưng sau đó được tác giả sửa lại thành Tây Tiến

+ được sáng tác vào mùa xuân năm 1948, một năm sau khi tác giả chuyển sang đơn vị bộ đội khác.

+ cảm hứng bao trùm toàn bộ bài thơ là nỗi nhớ.

Luận điểm 2) Bức chân dung tự họa của người lính Tây Tiến vừa bi tráng, vừa lãng mạn.( phân tích khổ thơ thứ 3).

_hai câu đầu: chân dung ngoại hình lạ thường

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

+ đoàn binh với mái đầu trọc không mọc tóc.

+ làn da xanh xao xanh màu lá.

+ nét dị thường ấy phản ánh sự khắc nghiệt, khó khăn về thuốc men, lương thực, thực phẩm.

+ người lính ốm mà không yếu với nét dữ oai hùm – ẩn dụ về sức mạnh đoàn quân Tây Tiến.

_ hai câu sau: tâm hồn lãng mạn của người lính Tây Tiến giữa chiến tranh ác liệt.

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

+ mắt trừng là đôi mắt mở to, đầy cảnh giác.

+ mộng qua biên giới là giấc mộng lập công, giấc mộng chiến thắng và sớm ngày dành được tự do.

+ mơ về Hà Nội với dáng kiều thơm: người chiến sĩ Tây Tiến phần lớn là thanh niên trí thức xuất thân từ thủ đô, ra đi theo tiếng gọi của Tổ quốc. Giấc mơ của họ không phải sự bi lụy mà là động lực để người lính vững tin trong những tháng ngày gian khổ.

_hai câu tiếp: Lí tưởng sống cao đẹp, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

+ sử dụng hầu hết từ Hán Việt tăng sự trang trọng cho câu thơ và giảm bớt sự bi thương trước mất mát, hi sinh của người lính Tây Tiến.

+ rải rác: số lượng ít ỏi, không tập trung trên một khu vực mà là rừng sâu biên giới ít có người qua lại, không có điều kiện hương khói.

+ chẳng tiếc cách nói ngang tàng, ngạo nghễ và đầy tự tin.

+ đời xanh là cuộc đời trẻ với bao hi vọng và hoài bão.

[Biết trước cái khắc nghiệt của chiến tranh nhưng người lính không ngần ngại hi sinh để lên đường vì lí tưởng, vì độc lập, tự do của tổ quốc.

_hai câu cuối: Sự hi sinh cao đẹp của người lính.

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

+ áo bào là chiếc áo lính cá anh đang mặc. Điều kiện chiến tranh khắc nghiệt, thiếu thốn đến không có cả chiếu để bọc thi thể người lính đã hi sinh.

+ về đất nói giảm, nói tránh để giảm bớt đau thương và cũng là sự ngợi ca, trân trọng dành cho người anh hùng của quê hương đất nước.

+ Sông Mã gầm lên khúc độc hành là sự nghiêng mình tiễn đưa đầy thành kính với các anh trong khúc hùng ca sông Mã.

Luận điểm 3) Đánh giá về nghệ thuật, nội dung.

_ Sử dụng thành công thủ pháp nhân hóa, ẩn dụ, từ ngữ Hán Việt, nói giảm, nói tránh. Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh gợi tả.

_ Chân dung ngoại hình, chân dung tinh thần của người lính Tây Tiến trong khí thế hiên ngang, trong niềm tin tưởng vào ngày mai tươi sáng của dân tộc.

3) Kết bài:

Khẳng định vẻ đẹp người lính Tây Tiến trong khổ thơ thứ ba nói riêng và toàn bài thơ nói chung.

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá giữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Quang Dũng là một nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Không chỉ thành công với viết thơ. Ông là người nghệ sĩ rất mực đa tài với khả năng vẽ tranh, sáng tác nhạc. Thơ ông mang hơi thở hồn hậu, phóng khoáng bởi luôn có sự kết hợp hài hòa giữa thơ, nhạc, họa. Nói về Quang Dũng, chúng ta nhắc đến người lính dành cả cuộc đời cho non sông, đất nước. Thơ ca Quang Dũng từ tập thơ Mây đầu ô đến Thơ văn Quang Dũng đều chung một niềm yêu, một nỗi nhớ đến khắc khoải đồng chí, đồng đội cùng người xưa chốn cũ.

Tây Tiến là tác phẩm thơ tiêu biểu của Quang Dũng và có vị trí đặc biệt với nhà thơ. Đó là tên của binh đoàn mà Quang Dũng làm đại đội trưởng, gắn với kỉ niệm về tình đồng chí, đồng đội. Bài thơ được viết năm 1948, là một năm sau khi nhà thơ dời Tây Tiến chuyển sang một đơn vị khác. Ban đầu bài thơ có tên Nhớ Tây Tiến, sau đó chính Quang Dũng đã bỏ đi chữ nhớ vì không cần đến nhớ, bạn đọc cũng đã cảm nhânh được cảm hứng chủ đạo của toàn bài thơ là nỗi nhớ.

Nếu như ở hai khổ thơ trên, hình ảnh người lính Tây Tiến mới chỉ thấp thoáng hiện ra qua con đường hành quân gian khổ trên núi rừng miền Tây, qua những kỉ niệm với con người, với mảnh đất Tây Bắc thì ở đoạn thơ thứ ba, hình tượng tập thể đoàn binh Tây Tiến được tái hiện một cách cụ thể, trực tiếp và rõ nét từ dáng vẻ bên ngoài cho tới vẻ đẹp tinh thần bi tráng bên trong. Đoạn thơ thứ ba đã khắc họa thành công bức tượng đài cao đẹp, độc đáo về những người lính vô danh trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp.

Hai câu thơ đầu tiên của đoạn thơ thứ ba miêu tả chân dung ngoại hình người lính:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Hình ảnh đoàn binh Tây Tiến hiện lên với những nét vẽ ngoại hình dị thường, lạ lẫm. Hình ảnh “một đoàn binh không mọc tóc”, “quân xanh màu lá” là hậu quả của cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn: đói khát, đau ốm, căn bệnh sốt rét rừng hoành hành làm mái tóc các anh rụng dần đi, làn da xanh xao, vàng vọt. Nhưng cũng có thể hiểu một cách thi vị, tếu táo là mái đầu trọc ấy là do chính các anh tự tạo nên để thuận tiện trong cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu. Cuộc sống chiến đấu và sinh hoạt thiếu thốn đó đã được nhà thơ Chính Hữu hay Tố Hữu miêu tả một cách chân thực trong vần thơ của mình:

Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi.

( Chính Hữu)

Hiện thực trong thơ Quang Dũng còn khắc nghiệt hơn vậy. Nhưng Quang Dũng đã tái hiện hiện thực đó bằng cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng, bằng bút pháp đảo ngữ, phủ định từ “không” đầy dứt khoát cùng những thanh trắc mạnh mẽ, thế bị động đã được đảo lại thành tinh thần chủ động: những người chiến binh không cần tóc, không cần mọc tóc chứ không phải do tóc của họ không mọc được. Không phải một cá nhân mà cả một đoàn quân trọc đầu- một đoàn quân lạ lẫm, ngạo nghễ. Hình ảnh “quân xanh màu lá”- màu của lá rừng, của cành lá ngụy trang và là màu của sự sống, của hi vọng. Kết hợp cùng hình ảnh so sánh, ẩn dụ “dữ oai hùm”, chân dung đoàn binh Tây Tiến hiện lên thật oai phong, lẫm liệt, tràn đầy khí phách tựa như mãnh hổ chốn rừng xanh.

Người lính Tây Tiến còn hiện lên đầy chân thực qua chân dung tâm hồn:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Hình ảnh “mắt trừng” là đôi mắt mở to, tập trung mọi nhãn lực, thể hiện ý chí, khát vọng. Giấc mộng qua biên giới là giấc mộng lập công, giấc mộng về cuộc sống hòa bình, tự do. Giấc mộng ấy đã hòa nhập với tình yêu lứa đôi, với giấc mộng, giấc mơ lãng mạn và đa tình “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Các anh mơ về Hà Nội, nơi quê hương xứ sở, nơi phồn hoa đô hộ, nơi có dáng kiều thơm- những người thiếu nữ Hà thành xinh đẹp, yêu kiều. Những giấc mộng, giấc mơ là giây phút lãng mạn hiếm hoi trong tâm hồn các anh và là động lực tiếp bước chân người lính vượt qua bao khó khăn, gian khổ.

Người lính Tây Tiến còn hào hùng, hiên ngang trong lí tưởng sống cao đẹp. Các anh nguyện ra đi vì tổ quốc, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

Hình ảnh “những nấm mồ” nằm rải rác nơi biên cương xa xôi là hiện thực khốc liệt của chiến tranh. Quang Dũng không né tránh hiện thực mà dùng cảm hứng lãng mạn nâng đỡ cái bi thương. Với cách sử dụng một loạt từ Hán Việt cổ kính, trang trọng như “biên cương, mồ viễn xứ”, cái bi đã được giảm nhẹ, được mờ đi rất nhiều đặc biệt là qua cách nói đầy khẩu khí “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. “Đời xanh” là đời trẻ, là phần đời đẹp nhất của mỗi con người nhưng họ phải ra đi gửi tuổi xuân tươi đẹp ấy. Hai chữ “chẳng tiếc” là cách thể hiện thái độ lựa chọn dứt khoát: vì tổ quốc mà không ngại hi sinh. Bởi vậy, những khó khăn hay cái chết rình rập từng ngày cũng không làm các anh nản chí. Anh bộ đội cụ Hồ với những phẩm chất cao đẹp mãi là chân dung bi tránh cho tinh thần, cho ý chí quyết chiến, quyết thắng.

Vẻ đẹp hào hùng của người lính Tây Tiến còn được thể hiện ở sự hi sinh bất tử:

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Hình ảnh áo bào thay chiếu đã gợi lại một hiên thực đau thương nơi chiến trường miền Tây thuở ấy. Những người lính Tây Tiến sống trong tận cùng đau khổ, thiếu thốn và cũng ra đi trong sự thiếu thốn. Không có áo bào, khi hi sinh, các anh chỉ có manh chiếu đắp thân.Nhưng trong nhiều điều kiện gian khổ hơn thế, đến manh chiếu cũng không có thì chiếc áo lính bạc vì mưa nắng, rách vì bom đạn là những kỉ vật cuối cùng ôm trọn vẹn lấy các anh. Những vần thơ của Quang DŨng làm bạn đọc không khỏi bùi ngùi, xót xa. Nhưng tỏng chính những đau xót ấy, ta thấy được nỗi lòng riêng của nhà thơ. Ông viết “anh về đất” với ý nói giảm, nói tránh cái bi thương. Sự ra đi của các anh thật nhẹ hàng, thanh thản nhưu một cuộc trở về với đất mẹ sau khi hoàn thành nhiêm vụ với quê hương, đất nước. Thể xác, linh hồn các anh mãi trường tồn bất tử cùng non sông, đất nước. Và dòng sông Mã với ” khúc độc hành” là ẩn dụ, là nhân hóa nghệ thuật độc đáo. Dòng sông Mã đã thay lời thiên nhiên, đất nước, thay lời những người thân, đồng chí, đồng đội để cất lên khúc độc hành tiễn các anh về với nơi yên nghỉ vĩnh hằng. Đó là âm vang của lòng tiếc thương, của sự căm thù uất hận, của tinh thần quật khởi. Khúc ca bi tráng đã ắt đi đau thương của hiện thực và ngợi ca sự hi sinh anh hùng của những người chiến binh.

Ngòi bút lãng mạn, tài hoa cùng với hình ảnh thơ độc đáo đã giúp đoạn thơ tái hiện thành công, chân thực bức tượng đài người lính Tây Tiến. Ở họ, bạn đọc nhìn thấy vẻ đẹp của người tráng sĩ xưa, vừa mang vẻ đẹp hào hùng của anh bộ đội cụ Hồ thời kháng chiến chống Pháp. Vẻ đẹp người lính Tây Tiến sống mãi cùng thời gian, hòa trong nhịp dòng non sông, đất nước.

Bức tượng đài người lính Tây Tiến trong bài thơ nói riêng, hình ảnh người lính trong thơ ca kháng chiến nói chung. Tất cả họ đều là những bông hoa ngát hương của một thời, của một dân tộc anh hùng. Anh bộ đội cụ Hồ sẽ mãi bất tử trong không gian, thời gian và theo dấu chân bạn đọc để tìm hiểu về non sông, về dân tộc Việt Nam trong những trang viết đặc sắc.

Đỗ Thị Thu Trang

Phân Tích Khổ Thơ Thứ Ba Bài Thơ Tây Tiến Của Tác Giả Quang Dũng / 2023

Theo dòng kí ức, ngược về quá khứ, ta đã bắt gặp không biết bao nhiêu hồn thơ khiến mỗi chúng ta đắm say mê mẩn như lạc vào thế giới đó. Quang dũng cũng là một nhà thơ như vậy. Ông là người tài hoa, vẽ tài hát giỏi, thơ hay. Ông để lại cho đời nhiều bài thơ với những âm hưởng đặc sắc. Tiêu biểu là bài thơ Tây Tiến mang đậm nét hào hùng, bi tráng pha chất lãng mạn mà ta được học ở chương trình phổ thông. Có thể nói, cả bài thơ là nỗi nhớ về Tây Tiến, về những người đồng đội nhưng nỗi nhớ da diết, lắng đọng nhất lại được nhà thơ tập trung thể hiện rõ nhất ở việc khắc họa chân dung người lính Tây Tiến và sự hi sinh bi tráng của họ ở khổ 3 của bài thơ:

” Tây tiến đòan binh không mọc tóc

Quân xanh mà lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo dài thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Thật vậy, bài thơ Tây Tiến được ra đời trong những năm không thể nào quên của Quang Dũng. Tây Tiến là một tên một đơn vị bộ đội được thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với lực lượng vũ trang Lào bảo vệ biên giới. Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Tại làng Phù Lưu Chanh, với nỗi nhớ Tây Tiến da diết với những năm tháng mưa bom bao đạn không thể nào quên, ông chắp bút cho ra bài thơ đặc sắc Tây Tiến, in trong tập Mây đầu ô năm 1986. Bài thơ là bức tranh tòan cảnh về thiên nhiên hùng vĩ, về quãng thời gian chiến đấu gian khổ ngày đêm bên nhau với ý chí, tinh thần quật cường. Đặc biệt hình tượng người lính Tây Tiến hiện lên vừa oai hùng, kiêu ngạo, vừa thơ mộng trữ tình.

Hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên vừa chân thực, vừa hào hùng. Nếu ở hai đọan thơ trước, thiên nhiên là nhân vật chính thì ở khổ ba, con người vượt lên để làm điểm nhấn, chất xúc tác cảm xúc cho bài thơ lên đến cao trào.

“Tây Tiến đòan binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Đọan thơ trên làm sống dậy một hình ảnh đòan binh Tây Tiến gan góc, dũng cảm. Ở họ mang một hào khí đáng ngưỡng mộ. Họ chỉ là những cô cậu sinh viên hà thành mới từ giã mái trường, gia đình lên đường chiến đấu còn biết bao bỡ ngỡ, lạ lung với những thứ xa lạ, ngây ngô nhưng họ vượt lên trên cảm giác sợ hãi, thay vào đó là sự oai hùng của tuôitrer, của sự nhiệt huyết bừng cháy. Nhà thơ dùng “không mọc tóc” để miêu tả đòan binh. Đó là hình ảnh chiến sĩ rất khác lạ. Bên cạnh việ chọ ngày đêm phải chống trọi với kẻ thù tàn nhẫn, họ còn phải gồng mình vượt qua thiên nhiên khắc nghiệt. Họ sống và chiến đấu nơi rừng thiêng nước độc, nơi sông sâu núi thẳm thiếu ăn, thiếu thuốc, mắc các dịch bệnh sốt rét dẫn đến trọc đầu. Chính nhà thơ Chính Hữu cũng đã từng đề cập đến bệnh này:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Rét run người vầng trán ướt mồ hôi”

Nhà thơ đã lột tả một cách trần trụi sự khắc nghiệt của thiên nhiên đã khiến cho họ trở nên một cách kì lạ. Đó cũng là một sự thật trần trụi đến khắc khổ của binh đòan Tây Tiến. Họ có làn da xanh xao vì đói rét nhưng họ vẫn “oai hum” khiến kẻ địch khiếp sợ. Đó mới chính là nét đẹp đáng khâm phục của đòan binh Tây Tiến.

Mặc dù quyết tâm đánh giặc nhưng trong họ vẫn còn tỏa ra chất lãng mạn vốn có của người lính. Họ không cứng nhắc, khô khan, cũng có những phút giây họ giành cho người thân gia đình. Họ nhớ về quê hương nơi mà người thân họ vẫn ngày đêm trông mong. Họ nhớ về những bóng dáng thân yêu. Hình ảnh “mắt trừng” là mắt quắc lên vẻ dữ tợn nhưng họ gửi mộng đánh thắng quân thù qua biên giới. họ nghĩ đến một viễn cảnh tươi sáng hơn cho gia đình họ.

Có thể thấy Quang Dũng đã khéo léo khắc họa hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp hào hùng bi tráng nhưng cũng rất đỗi lãng mạn tình tứ chỉ qua vẻn vẹn bốn câu thơ nhưng thấm đượm nỗi lòng thầm kín của nhà thơ.

Sự hi sinh của người lính Tây Tiến cũng rất bi tráng:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Hình ảnh người lính hi sinh bản thân nơi chiến trường khắc nghiệt thật khiến ta đau xót. Họ cống hiến bản thân mình cho Tổ quốc. họ ngã xuống nơi chiến trường. Họ nằm lại nơi đấ tkhách quê người, không một vòng hoa, không một nén hương tưởng nhớ. Lạnh lẽo, bi thương nhưng trước khi lên đường cầm súng chiến đấu họ đã xác định ranh giới giữa cái chết với cái sống là quá mong manh. Họ chấp nhận điều đó.

Họ mang tuổi trẻ, nhiệt huyết của mình cống hiến cho quê hương. Tuổi trẻ là tuổi đẹp nhất, nhiều ước mơ hòai bão lớn lao đầy hứa hẹn nhưng họ chẳng tiếc mà nhiệt tình dâng hiến cả sức trẻ cho Tổ quốc. Đó là một sự hi sinh vĩ đại, thầm lặng đáng ngợi ca và chân trọng biết bao.

Cái chết của họ cũng rất bi tráng. Hình ảnh chiếc “áo bào ” thay “chiếu” khiến ta thấm thía biết bao suy ngẫm. Quang Dũng đã khéo léo dùng từ Hán việt để giảm bớt sự bi thương cho cái chết oanh liệt ấy. Đất Mẹ ôm ấp, vỗ về họ như dang những cách tay dài đón họ vào lòng như những đứa con xa quê hương về với cái ôm đầy tình cảm của người mẹ. Quang Dũng đã mượn luôn âm thanh của thiên nhiên như là khúc ca kêu thêm sự đau thương mất mác. Sông Mã gầm lên ai oán. Câu thơ ấy mang âm hưởng dữ dội như cào vào lòng người những viết xước sâu không thể nào quên đi được nhưng nó cũng mang âm hưởng bi tráng khiến cho sự hi sinh của người lính không hề bi lụy chút nào. Tây Tiến mùa xuân ấy như khúc ca còn vang mãi trong lòng mỗi người.

Tóm lại, đọan thơ thứ ba đặc sắc nhất của bài thơ có giọng điệu trang trọng thể hiện tình cảm của nhà thơ một cách sâu sắc. Đặc biệt với những hình ảnh thơ thấm đẫm kỉ niệm mà nhà thơ hồi tưởng lại man mác buồn nhưng thấm đẫm bi tráng hào hùng. Nhà thơ khéo léo sử dụng từ Hán Việt khiến đọan thơ trang nghiêm lên nhiều hơn. Qua những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc, Quang Dũng đã vẽ ra bức tranh về đòan binh Tây Tiến. Họ oai nghiêm, lẫm liệt yêu nước nồng nàn nhưng cũng rất lãng mạn. Đây là đọan thơ sâu sắc đúc kết cả cái tình, cái thần cho toàn bài, là điểm nhấn nổi bật mà ta không thể nào quên.

Phân Tích Khổ Đầu Bài Thơ Tây Tiến / 2023

Giữa cái bộn bề của thị trường thơ hôm nay, lật trang sách cũ, gặp Tây Tiến của Quang Dũng, chợt xôn xao cõi lòng theo những vần thơ đượm màu kiêu bạc hào hoa: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi…

Thơ hay có sức rung động mãnh liệt là vậy. Không cần tỉ mẩn bóc từng câu từng chữ mà thấm vào lòng người sự rung cảm chân thật đến run rẩy từng làn da thớ thịt. Tây Tiến đã thực sự chinh phục người đọc bằng tâm trạng của người trai ra đi cứu nước trong buổi đầu kháng chiến – với tâm tư in bóng trong dáng hình sông núi:

“Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi…”

Cảnh ấy cũng là tình. Cũng là sương, là hoa, là mây, là mưa – những chi tiết thường gặp trong thơ cổ – nhưng còn đượm thêm không khí trầm hùng của thời đại được diễn tả bằng những từ ngữ, thanh điệu khi đọc lên ta cảm thấy ngang tàng. Hình ảnh của một đoàn quân mỏi đi trong cái khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút, giữa cái bồng bềnh sương khói chơi vơi được tác giả phác hoạ bằng những nét chấm phá tài tình. Con mắt thơ không dừng lại ở trong không gian rừng núi mà còn mở ra một không gian – tâm trạng của một hồn thơ chiến sĩ. Phảng phất một chút Lý Bạch trước Hoàng Hà – ngút ngát chí tang bồng của người trai thời loạn. Trong gian nan của người chiến sĩ Tây Tiến, ta vẫn gặp chút hóm hỉnh ở hình ảnh súng ngửi trời. Chạm mặt với thực tế khắc nghiệt – song chất hào hoa lãng tử không mất đi mà lại càng được tô đậm thêm, chân thật sống động trong những câu thơ đượm tình quê, tình đồng đội, tình quân dân. Một hiện thực về người lính Tây Tiến – anh Bộ đội Cụ Hồ trong những năm đầu chiến đấu gian khổ. Đó là cơn mưa gợi nỗi nhớ nhà sâu thẳm, là sợi khói cơm thơm quyện chặt tình người, một bóng hình đong đưa làm xao xuyến những trái tim trai trẻ… Bài thơ có nói đến hy sinh, mất mát, gian khổ nhưng cảm xúc hào hùng của lớp người “ra đi bảo tồn sông núi” đã lấn át cái bi luỵ buồn thương. Đoàn binh Tây Tiến trong thơ Quang Dũng như một sự kết tụ của tráng khí muôn đời, pha chút lãng mạn kiểu Kinh Kha “một đi không trở lại”. Phải chăng với tinh thần “coi cái chết nhẹ tựa lông hồng” mà toàn bài thơ mặc dù có nói đến chết chóc nhưng giọng điệu rất bình thản: anh về đất? Phải chăng khi xác định chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, người chiến sĩ đã nhận ra mục đích của cuộc chiến đấu còn lớn hơn gấp vạn lần những gian khổ , hy sinh?

Bài thơ không cường điệu hoá cảm xúc dẫu trong âm điệu gân guốc, khoẻ khoắn của toàn bài có những từ ngữ mang hơi hướng cổ điển như xiêm áo, dữ oai hùm, mồ viễn xứ, áo bào, khúc độc hành và cách diễn đạt tưởng chừng lạ lẫm tràn ngập không khí lãng mạn. Nếu chỉ chăm chăm đi tìm chất thép trong bài thơ theo quan điểm xã hội học thiển cận thì chẳng khác nào cầm dao đâm vào cái đẹp. Cái đẹp của bài thơ viết ra từ lửa máu đã làm rung lên những cảm xúc đồng điệu của bao thế hệ.

Nhà thơ Trần Lê Vân, người bạn thân, đã từng sống nhiều năm, từng in thơ chung với Quang Dũng viết về hòan cảnh Quang Dũng sáng tác bài thơ Tây Tiến như sau:

“Đòan quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào trở về thành lập trung đòan 52. Đại đội trưởng Quang Dũng ở đó đến cuối năm 1948 rồi được chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, ngồi ở Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ), anh viết bài tho Tây Tiến.”

Muốn hiểu được bài thơ Tây Tiến, truớc hết cần phải có những hiểu biết về đoàn quân Tây Tiến cùng với địa bàn hoạt động của nó. Khoảng cuối mùa xuân năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến. Đó là một đơn vị thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Lào-Việt, đánh tiêu hao địch ở Thượng Lào để hỗ trợ cho cuộc kháng chiến ở những vùng khác trên đất Lào. Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng, bao gồm vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam và Thuợng Lào: từ Châu Mai, Châu Mộc sang tận Sầm Nứa rồi vòng về qua miền tây Thanh Hóa. Những nơi này, lúc đó còn rất hoang vu và hiểm trở, núi cao, sông sâu, rừng dày, có nhiều thú dữ.

Những người lính Tây Tiến phần đong là thanh niên Hà Nội, thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có cả những học sinh, sinh viên. Sinh hoạt của những người lính Tây Tiến hết sức gian khổ, ốm đau không có thuốc men, tử vong vì sốt rét nhiều hơn vì đánh trận, tuy vậy, họ vẫn sống rất lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm. Vượt lên trên mọi thử thách khắc nghiệt của chiến tranh và hòan cảnh sống cực kì gian khổ, họ vẫn giữ được cái cốt cách hào hoa, thanh lịch, rất yêu đời và cũng rất lãng mạn.

Bài thơ Tây Tiến có hai đặc điểm nổi bật: cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng. Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc của nhà thơ. Nó phát huy cao độ trí tưởng tượng, sử dụng rộng rãi những yếu tố cường điệu và phóng đại, những thủ pháp đối lập để tô đậm cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hùng vĩ và cái tuyệt mĩ.

Thiên nhiên Tây Bắc, qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng, được cảm nhận với vẻ đẹp vừa đa dạng vừa độc đáo, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, hoang sơ mà ấm áp. Hình ảnh những cô gái, những con người Tây Bắc càng tô đậm thêm chất huyền bí, thơ mộng của núi rừng. Chất lãng mạn được thể hiện chủ yếu ở cảm hứng hướng tới cái cao cả, sẳn sàng xả thân, hy sinh tất cả cho lý tưởng chung của cộng đồng, của tòan dân tộc.

Tây Tiến không hề che giấu cái bi. Nhưng bi mà không lụy. Cái bi được thể hiện bằng một giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng. Chất lãng mạn hòa hợp với chất bi tráng tạo nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ.

Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết, bao trùm lên cả không gian và thời gian:

Sông Mã xa rồi Tay Tiến ơi ! Nhớ về rừng núi nhó chơi vơi Sài Khao sương lấp đòan quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nỗi, nhà thơ đã thốt lên thành tiếng gọi. Hai chữ “chơi vơi” như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, dốc sâu, vực thẳm, rừng dày,…liên tiếp xuất hiện ở những câu thơ sau:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Khổ thơ này là một bằng chứng “thi trung hữu họa”. Chỉ bằng bốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hòanh tráng diễn tả sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút của núi rừng Tây Bắc, địa bàn họat dộng của đòan quân Tây Tiến. Hai câu thơ đầu, những từ đẩy giá trị tạo hình khúc khủyu, thăm thẳm. cồn mây, súng ngửi trời đã diễn tả thật chính xác sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời của núi đồi Tây Bắc. Hai chữ “ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có chất tinh nghịch của người lính. Núi cao tưởng chừng chạm mây , mây nổi thành cồn “heo hút”. Người lính trèo lên những ngọn núi cao tưởng chừng như đang đi trên mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời. Câu thứ ba như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, dổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm. Nếu như câu thứ ba là nhìn lên và nhìn xuống thì câu thứ tư là nhìn ngang. Có thể hình dung cảnh những người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng mây núi thấy thấp thóang những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi.

Bốn câu thơ này phối hợp với nhau tạo nên một âm hưởng đặc biệt. Sau ba câu thơ được vẽ bằng những nét gân guốc, câu thứ tư được vẽ bằng một nét rất mềm mại. Quy luật này cũng giống như cách sử dụng những gam màu trong hội họa: giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng một gam màu lạnh làm dịu lại, như xoa mát cả khổ thơ.

Cái vẻ hoang dại dữ dội, chứa đầy bí mật ghê gớm của núi rừng Tây Bắc được nhà thơ tiếp tục khai thác. No’ không chỉ được mở ra theo chiều không gian mà còn được khám phá ở cái chiều thời gian, luôn luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối với con người:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Vậy là, cảnh núi rừng Tây Bắc hoang sơ và hiểm trở qua ngòi bút Quang Dũng, hiện lên với đủ cả núi cao, vực sâu, dốc thẳm, mưa rừng, sương núi, thác gầm, cọp dữ,….Những tên đất lạ Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, những hình ảnh giàu trí tạo hình, những câu thơ nhiều vần trắc đọc lên nghe vất vả nhọc nhằn được xoa dịu bằng những câu có nhiều vần bằng ở cuối mỗi khổ thơ, đã phối hợp với nhau thật ăn ý, làm hiện hình lên thế giới khác thường vừa đa dạng, vừa độc đáo của núi rừng Tây Bắc.

Đọan thơ được kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Cảnh tượng thật đầm ấm. Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng, vượt núi, lội suối, trèo đèo, những người lính tạm dừng chân, được nghỉ ngơi ở một bản làng nào đó, quây quần bên những nồi cơm đang bốc khói. Khói cơm nghi ngút và hương thơm lúa nếp ngày mùa xua tan vẻ mệt mỏi trên khuôn mặt những người lính , khiến họ tươi tỉnh hẳn lai. Hai câu thơ này tạo nên một cảm giác êm dịu, ấm áp, chuan bị tư thế cho người đọc bước sang đọan thơ thứ hai.

Nhận xét

Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến Khổ 1 / 2023

Đề bài: Phân tích bài thơ “Tây Tiến” khổ 1

Bài làm

Chiến tranh đã để lại cho con người biết ba mất mát và hy sinh. Chiến tranh, khi nhắc lên ai cũng sẽ nghĩ đến những nỗi đau và nước mắt. Nhưng trong những năm tháng gian khổ ấy, người lính đã cùng nhau trải qua, cùng nhau gây dựng một tình đồng chí, đồng đội keo sơn. Bài thơ “Tây Tiến ” của Quang Dũng chính là tiếng lòng nhớ thương da diết của người lính giành cho những người đồng đội khi họ không còn ở cạnh nhau nữa.

Tây Tiến là một đôàn quân có thật. Nó là đoàn quân được thành lập để phối hợp với quân đội Lào để bảo vệ vùng biên giới của hai quốc gia. Đoàn quân ấy có địa bàn hoạt động rất hiểm trở quanh khu vực đồi núi phía tây các tỉnh Hòa Bình và Thanh Hóa. Nhà thơ Quang Dũng là đại đội trưởng của Tây Tiến và sau khi rời đon vị năm 1948, ông đã viết nên bài thơ để bày tỏ nỗi nhớ thương đến đồng đội, đến một miền quá khứ hào hùng.

Khổ thơ đầu của bài thơ là nỗi nhớ da diết của chính tác giả.

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Đã gần một năm xa Tây Tiến, xa những người đồng chí, xa cả núi rừng nơi anh từng hoạt động. Chính vì xa cách nên nỗi nhớ cứ trào lên không gì ngăn nổi. Nỗi nhớ ấy cứ trực trào trong tâm hồn người thi sĩ để rồi ông phải cất lên ba tiếng “Tây Tiến ơi!”. Cách gọi ấy thân thiết như tiếng gọi của những người thân quen. Dù xa nhau nhưng Quang Dũng lúc nào cũng không khỏi nhớ về những năm tháng cùng đồng đội đánh giặc. Nỗi nhớ ấy “chơi vơi” không điểm dừng. Nó cứ lan dài ra, rộng ra, ôm trọn cả núi rừng vào lòng. Người đọc như lắng xuống cùng tâm hồn nhà thơ, nghẹn ngào trước những tình cảm thiết tha, dạt dào.

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Đoàn binh Tây Tiến hoạt động chủ yếu ở trong vùng núi rừng. Rừng bảo vệ con người, bảo vệ người lính trước những cái nhìn tàn nhẫn của giặc thù. Thế nhưng, cuộc sống trong rừng lại gặp muôn vàn khó khăn. Những khi trời về đêm, làn sương mù măng giắc khắp lối, dày đặc. Chúng nhe che lấp đi bóng dáng của đoàn quan sau những ngày cất bước nặng nề. Một ngày dài họ đã phải băng qua biết bao bom đạn để rồi đêm xuống chân tay các anh mỏi rã rời, không còn sức lực. Bóng dáng ấy lấp sau màn sương, trong cái lạnh thấu da thịt của vùng đồi núi. Không chỉ có thế, có biết bao khó khăn vẫn bủa vây từng bước chân của các anh

Chiếu chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trên người

Người lính không chỉ đối mặt với bom đạn mà sinh mạng của họ còn bị đe dọa bởi hùm, bởi cọp đang ẩn nấp trong núi rừng. Bân đêm, chỉ cần họ sơ sẩy là có thể dễ trở thành miếng mồi ngon bất cứ lúc nào. Cái chết luôn rình rập láy những chàng lính trẻ với biết bao khăn.

Dốc lên khúc khửu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước len cao ngàn thước xuống

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Trước mắt người đọc là cảnh núi rừng hiểm trở. Những con dốc chọ thẳng lên tận trời rồi những dốc xuống đâm sâu vào lòng đất cứ nối tiếp nhau, trùng trùng điệp điệp. Đường đi quanh co, trắc trở và chẳng hề dễ dàng. Đến nỗi, mỗi dốc lên cao hình như chọc tận vào trời xanh. Những mũi súng như chạm vào từng đám mây đang bồng bềnh trôi/ Một hình ảnh được miêu tả hơi thái quá nhưng nó lại rất ý nghĩa khi nói lên cuộc hành quân của người lính Tây Tiến là vô cùng gian nan và vất vả. Thế nhưng, trong cuộc sống khốn khó, người lính trẻ vẫn không đánh mất đi sưn lạc quan, yêu đời của họ. Họ vẫn nhớ về Hà Nội, về gia đình như một động lực để họ tiếp tục chinh chiến. Họ nhớ về người yêu, nhớ về những cô gái Hà Nội dịu hiền, xinh xắn. Những bóng dáng “kiều thơm” như mơ ước về một Hà Nội tự do, yên bình.

Những gian khổ ấy dường như đã làm người lính chùn bước.

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Sau những bước chân mỏi mệt rã rời, người lính như không còn sức lực nào để mà bước tiếp. Họ tựa vào cây súng, chìm vào giấc ngủ ngon lành để nghỉ ngôi, để hồi sức. Ngoài ra, câu thơ còn như muốn nói đến sự hy sinh của những người lính. Cuộc đời họ gắn bó với cây súng và có thể cũng đã chết đi vì súng. Họ ra đi mà không hề oán trách hay gào thét. Có lẽ họ đã không còn ngại hy sinh, họ giám đương đầu với tất cả dù chúng khó khăn đến nhường nào. Cái chết đối với họ không còn đáng sợ nữa, họ chỉ muốn nhanh chóng giành lại độc lập cho dân tộc dù có phải hy sinh cũng không hề hối tiếc.

Và rồi, sau những gian khó họ cũng được sưởi ấm bằng nắm xôi thơm lừng.

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Những bước chân rã rời cuối cùng cũng tìm được chỗ nghỉ. Mùi cơm chín, mùi gạo nếp thơm lừng đã sưởi ấm trái tim lạnh lẽo suốt những ngày ở rừng. Bữa cơm tối ấy là bữa cơm của gia đình, của tình thương yêu. Nó là khát vọng, là ước mơ được nhìn thấy gia đình hạnh phúc, nhân dân ấm no từng ngày.

Như vậy, khổ thơ đầu của bải thơ “Tây Tiến” đã vẽ nên khung cảnh núi rừng bao la hiểm trơ nơi mà những người lính vẫn hằng ngày bò qua để bảo vệ nước nhà. Bài thơ với ngôn ngữ gần dũi, bình dị nhưng lại thiết tha tình cảm và nói mãi còn đọng lại trong lòng bạn đọc với một tình cảm nghẹn ngào, xót thương.

Seen

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Tích Khổ Thơ Thứ Ba Bài Thơ Tây Tiến / 2023 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!