Xu Hướng 12/2022 # Phân Tích Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ “Vội Vàng” Của Xuân Diệu / 2023 # Top 21 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Phân Tích Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ “Vội Vàng” Của Xuân Diệu / 2023 # Top 21 View

Bạn đang xem bài viết Phân Tích Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ “Vội Vàng” Của Xuân Diệu / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu – Bài làm 1

Xuân Diệu là nhà thơ say với tình, yêu đời, yêu người một cách tha thiết, mãnh liệt. Những tình cảm, của xúc trong thơ của Xuân Diệu luôn dạt dào và tràn đầy, lênh láng trên từng câu chữ. Bài thơ “Vội vàng” đã bộc lộ cái tôi trữ tình độc đáo, đầy sức sáng tạo của thi sĩ Xuân Diệu. Đặc biệt khổ thơ đầu tiên đã bộc lộ rõ nét, mãnh liệt hơn cái tôi cá nhân đầy say mê và muốn được hòa mình vào đất trời, muốn được phá vỡ những quy luât của tự nhiên.

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của ong bướm này đây khúc tình si.

Có lẽ đọc những vần thơ này, chúng ta nhận ra ít ai mà có tình yêu đến say mê và cuồng nhiệt như thế này. Ông chân thành với đời và muốn được sở hữu nó. Bởi rằng cuộc sống có quá nhiều điều tốt đẹp, quá nhiều điều không thể bỏ lỡ. Tác giả cuống cuồng muốn ôm hết về bản thân mình để say, để uống cạn những gì tốt đẹp nhất;

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

Từ ngữ “tôi muốn” được nhắc lại và đặt đầu mỗi câu thơ diễn tả tâm nguyện, nỗi khát khao được sống, được hòa mình với thiên nhiên, được thâu tóm hết những điều tốt đẹp nhất đang diễn ra ở ngoài kia. Dường như Xuân Diệu muốn đoạt đi quyền của tạo hóa. Vốn dĩ nắng, gió là những hiện tượng rất tự nhiên của tạo hóa; nhưng tác giả lại có ý định muốn “tắt nắng” và “buộc gió”. Đó là những việc rất khó khăn, mà thực ra là không thể nhưng Xuân Diệu vẫn muốn đến cháy bỏng. Động từ “tắt” và “buộc” càng khẳng định hơn nữa khát khao mãnh liệt ấy.

Đây có thể xem là cái “tôi” độc đáo và đặc biệt của Xuân Diệu tạo cho người đọc một cảm giác rất riêng, rất mới. Ông muốn ôm hết xuân sắc của đời để sống, để yêu mãnh liệt hơn nữa.

Có lẽ nguyên do ông muốn đi ngược quy luật tạo hóa đó chính là vẻ đẹp quyến rũ, khó cưỡng lại được của thiên nhiên, cảnh vật:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Một đoạn thơ giàu sức gợi hình, gợi cảm đã lột tả được linh hồn, thần thái của thiên nhiên khi mùa xuân về. Tác giả cứ ngỡ có một “thiên đường trên mặt đất” đang hiện ra trước mắt. Xuân Diệu đã liên tưởng mùa xuân đẹp và mê đắm như “tuần tháng mật” của những cặp đôi. Một sự liên tưởng tinh tế, đầy táo bạo khiến cho người đọc cảm phục thi sĩ.

Điệp từ “này đây” đứng đầu câu vừa mang tính chất liệt kê, vừa mang tính chất khẳng định, nhận mạnh vừa như muốn sở hữu những vẻ đẹp đang tràn đầy ở ngoài kia. Sau mỗi từ “này đây” là một loạt những hình ảnh tươi đẹp hiện ra “hoa của đồng nội xanh rì” , “lá của cành tơ phơ phất”. Đó đều là những hình ảnh đặc trưng của mùa xuân, của những gì thanh khiết và tươi đẹp nhất. Tất cả những hình ảnh ấy khiến cho thi sĩ động lòng và muốn sở hữu. Đây có thể nói là khát khao, là ước muốn mãnh liệt nhất mà Xuân Diệu đang muốn sở hữu.

Ngôn ngữ của Xuân Diệu thật mượt mà, êm ái, đẹp một cách lạ kì kết hợp với giọng thơ gấp gáp, nhanh khiến cho người đọc cũng có cảm giác xốn xang đến khó tả. Đây có thể coi là sự tinh tế , tài hoa của thi sĩ Xuân Diệu.

Chỉ với khổ thơ đầu này, Xuân Diệu đã khiến người đọc mê đắm trước cảnh thiên nhiên hữu tình, thơ mộng, tuyệt vời của mùa xuân. Đó thực sự là những nét đẹp trong veo của mùa xuân.

Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu – Bài làm 2

Khao khát giao cảm với đời, ham muốn sống mãnh liệt trong tuổi trẻ và tình yêu là đặc điểm của thơ Xuân Diệu. ở mỗi sáng tác, mỗi vần thơ của ông ta đều thấy chất Xuân Diệu ấy. Chẳng thế mà trong “Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh đã nhận xét: ” Thơ Xuân Diệu là nguồn sống dạt dào chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽ này”. Vậy nên Xuân Diệu được coi là ” nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”. Đặc biệt là bài “Vội vàng”-một trong những bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu cũng thể hiện điều đó. Cả bài thơ là niềm khao khát, giao cảm với đời.Cốt lõi của giao cảm ấy chính là quan niệm về thiên đường nơi trần thể được thể hiện rõ nét qua khổ thơ:

Ta muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Ta muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Hoài Thanh là một trong những nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại. Với công trình nghiên cứu nổi tiếng “Thi nhân Việt Nam”, ông đã để lai trong lòng độc giả những ấn tượng sâu sắc về những đặc trưng, nổi bật của các nhà thơ mới và phong trào thơ mới. Đối với Xuân Diệu từ đây ông được biết đến là ” nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” hay chính là người ” xây dựng trên đất một tấm lòng trần gian” (Nguyễn Đăng Mạnh). Có lẽ đó là bởi Xuân Diệu luôn có khao khát mãnh liệt với cuộc đời. Chính vì thế mà ” Thơ Xuân Diệu là nguồn sống dạt dào chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽ này”. Trước Xuân Diệu chưa từng có nhà thơ mới nào ca ngợi về cuộc sống hay và nhiêu như thế. Sau Xuân Diệu cũng chưa có nhà thơ nào viết xuất sắc như thế vê cuộc đời. Đọc thơ Xuân Diệu ta cảm nhân được một” nguồn sống dạt dào”, mạnh mẽ, một phong cách sống cuống quýt, vội vàng. Bởi thời gian thì một đi không trở lại, mà trần gian chính là thiên đường vậy nên “Xuân Diệu đốt cảnh bồng lai xua ai nấy về hạ giới”.

Nhà thơ lãng mạn người Pháp Bô-đơ-le đã từng nói ” Ôi đau đớn! ôi đau đớn! thời gian ăn cuộc sống”. Đối với ông, sự vận động của thời gian là một niềm đau đớn. Thế nhưng, trước sự vận động của thời gian Xuân Diệu chỉ thể hiện nỗi cuống quýt, vội vàng trước thời gian không đứng đợi.

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.

Mở đầu bài thơ, Xuân Diệu đã thể hiện một ước muốn kì lạ đến ngông cuồng: tôi muốn tắt năng/ tôi muốn buộc gió. Đó là những ước muốn kì lạ bởi tắt nắng, buộc gió là công việc của tạo hóa. Đối với Chế Lan Viên ” tất cả cuộc đời chỉ là vô nghĩa”, là khổ đau. Không thích mùa xuân, người thanh niên này muốn ngăn bước chân của nó bằng những gì sót lại của mùa thu trước. Những lá vàng rơi, muôn cánh hoa tàn…với cả “ý thu góp lại” tạo lên hàng rào tâm tưởng để “chắn nẻo xuân sang”.Thế nhưng ở bài “vội vàng” Xuân Diệu dường như có thái độ khác hẳn.Thi sĩ muốn tước đoạt quyền của tạo hóa. Là bởi tắt nắng “cho màu đừng nhạt”, buộc gió”cho hương đừng bay đi”. Hóa ra trong niềm ước hết sức ngộ nghĩnh, ngông cuồng ấy nhà thơ muốn bất tử hóa cái đẹp, giữ cho cái đẹp mãi mãi lên hương tỏa sắc giữa cuộc đời này. Niềm ước muốn mang một vẻ đẹp nhân văn của một tâm hồn nghệ sĩ.

Sở dĩ có khát vọng kì lạ đó là bởi lẽ dưới con mắt của thi sĩ mùa xuân đầy sức hấp dẫn và quyến rũ:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Của yến anh này đây khúc tình si

Với thi sĩ một năm chỉ có hai mùa: mùa thu và mùa xuân. Là vì “thu và xuân là hai bình minh của một năm, sự thay đổi hệ trọng nhất của tâm hồn. Và bởi vậy thu cũng là một mùa xuân” (Trường ca).Mùa xuân- mùa của tình yêu, của sự sống đã đi vào trong thơ từ hàng ngàn năm nhưng trước Xuân Diệu có lẽ chưa có tứ thơ lời thơ nào tương tự. Khu vườn mùa xuân mà thi sĩ đã dựng lên trong bầu trời tâm tưởng như muốn vẽ ra trước măt mỗi người có đầy đủ thế giới tự nhiên. Ở đó có ong bướm rộn ràng, có muôn hoa đua sắc với đông cỏ xanh rì. Mùa xuân mùa của cành tơ phơ phất, của những khúc tình si rộn rã… Thi sĩ đã tạo lên một bức tranh tràn đầy ánh sáng tinh khôi, đầy âm thanh tình tứ , rộn ràng. Tất cả như đang ở độ xuân thì của nó. Ngây ngât giữa khu vườn mùa xuân , nhà thơ hạnh phúc như đang lạc vào giữa vườn hồng. Hạnh phúc hơn thế nữa là những vẻ đẹp ấy không phải ở chốn xa xăm , mộng ảo mà ngay chốn trần gian, mọi vật đều đang sẵn sàng dâng hiến, mời chào, ban tặng cho nhà thơ. Điệp từ này đây và nhịp điệu liên tục cũng cho ta thấy cảnh sắc và vẻ đẹp của khu vườn. Để rồi trong khoảnh khắc của mùa xuân thi nhân đã hóa thành tình nhân.

Chính cái nhìn của”cặp mắt xanh non biếc rờn” luôn lấy con người giữa mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu làm chuẩn mực cho cái đẹp đã tạo nên vẻ riêng độc đáo trong bức tranh mùa xuân của thi sĩ. Chúng ta có thể nhận thấy nhà thơ miêu tả bướm ong đang sống trong tuần tháng mật, cành xuân thì thành cành tơ đầy sức sống, tiếng hát của yến anh cũng thành điệu tình si rộn ràng. Tất cả vạn vật đều đang trong trạng thái hạnh phúc. Và táo bạo nhất là cách so sánh “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” thật gần gũi và gợi cảm. Dưới con mắt “xanh non” của thi sĩ, mùa xuân tựa như một cô gái kiều diễm, hồng hào,tình tứ đầy hấp dẫn.

Nếu trong “Một thời đại thi ca” Thế Lữ,Tản Đà nuôi giấc mộng lên tiên thì Xuân Diệu-nhà trí thức Tây học trẻ lại ” đốt cảnh bông lai xua ai nấy về hạ giới”. Bởi trần thế mới là nơi đẹp nhất. Khu vườn mùa xuân này giống như một thiên đường mà ai cũng mong muốn được tận hưởng. Cái hấp dẫn, cái lãng mạn của thơ Xuân Diệu chính là ở chỗ đó. Như vậy, ở phần đầu bài thơ, bằng cặp mắt”xanh non biếc rờn”, Xuân Diệu đã nhìn cuộc đời và vạn vật có nhiều điểm khác biệt so với các nhà thơ cũ. Thi sĩ đã phát hiện cuộc đời trần thế đẹp đẽ và hấp dẫn biết bao. Thế nhưng không ai có thể sống mãi để tận hưởng mọi lạc thú, năm tháng chảy trôi tuổi xuân thì một đi không trở lại.

Như vậy ,Xuân Diệu đã vẽ lên trước măt người đọc cả thế giới sống động, thể hiện “nguồn sống dạt dào”. Bởi thể, nhận định của Hoài Thanh là hoàn toàn đúng đắn khi đã đánh giá chính xác một trong những đặc điểm nổi bật của thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám. Đó là tấm lòng của con người nặng tình với cuộc đời, luôn khao khát gắn bó với đời. Khổ thơ đâu tiên này là điểm xuất phát để từ đó nhà thơ trình bày những quan niệm về thời gian và triết lí sống vội vàng ở khổ 2 và 3.

Xuân Diệu là một hồn thơ yêu đời và tài hoa. Thi sĩ đã vẽ lên trong tâm tưởng người đọc một bức tranh thiên nhiên nơi trần thế tuyệt đẹp. Đó chính là “nguồn sống dạt dào” mà nhà thơ đã truyền cho mỗi chúng ta. Đọc thơ Xuân Diệu giúp ta có cái nhìn mới mẻ về cuộc đời, cho ta niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống. Chính thế đã làm nên những giá trị lớn lao trong thơ Xuân Diệu.

Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu – Bài làm 3

Xuân Diệu là ông hoàng của tình yêu, dù đó là tình yêu gì đi chăng nữa thì nó vẫn ngọt ngào đầy xúc cảm. Ông còn được đánh giá là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới. Những sáng tác ,những bài thơ của ông đem đến cho người đọc một sự yêu đời, niềm vui về cuộc sống và một niềm khao khát cuộc sống đến mãnh liệt cùng với đó là một hồn thơ mới lạ,mang đến cho độc giả cái nhìn mới mẻ. Trong số đó, tiêu biểu có bài thơ Vội vàng là một trong những bài thơ hay thê hiện tư tưởng đáng quý đó của tác giả, và 13 câu đầu đã để lại những ấn tượng khó quên cho người đọc. Những tư tưởng triết lí cũng thế mà được gửi gắm chân thành tự nhiên.

Để mang niềm yêu cuộc sống đến trào dâng, nhà thơ luôn có cảm xúc vội vàng trước cuộc sống ngắn ngủi. Mọi thứ trên đời mang vị ngọt tới nhưng chỉ một lần rồi thôi,ta đâu có đủ thời gian cho những quả ngọt đó được nếm một lần nữa. Không vội vàng, không chạy tới để ôm trọn những gì đang có thì làm sao mà cảm nhận hết vẻ đẹp của đời. Khổ thơ năm chữ duy nhất trong bài thơ khiến giọng điệu gấp gáp giống như một hơi thở hối hả của một con người đang tràn đầy cảm xúc. Đại từ mà tác giả Xuân Diệu đã đặt ở đầu tiên là tôi, chứ không phải “ta” hay chúng ta và cùng với đó là động từ ” muốn”- ” tôi muốn. Nhà thơ đang thể hiện cái tôi công khai, ngang nhiên không lẩn tránh hay giấu giếm, cái tôi đầy thách thức, đi ngược lại với thơ ca trung đại, rất ít dám thể hiện cái Tôi của bản thân mình. Đây cũng chinh là một điểm mới của nhà thơ trong nền văn thơ hiện lúc bấy giờ.qua đó thể hiện khát khao mãnh liệt về cuộc sống

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi”

Yêu cuộc sống này cho nên mọi thứ tác giả muốn làm đó có thể là tắt nắng đi, buộc gió lại. Những từ ” tắt” buộc” được sử dụng cho những điều hữu hình cầm nắm được vậy mà tác giả lại dùng cho những sự vật không bao giờ chúng ta có thể làm được. Ta có thể thấy màu vàng của nắng, cảm nhận được hơi ấm từ nó, gió có thể thổi qua , táp vào mặt,mương man da thịt, có thể thấy gió đung đưa bên những cành liễu.. nhưng chẳng bao giờ cầm được nắng nắm được gió. Một điều tưởng chừng như vô lí đó nhưng lại trở thành khát khoa của tác giả. Những thứ đó để làm gì: ” để hương đời đừng nhạt đi, để màu sắc cuộc sống vẫn nguyên vẹn, không úa tàn”Từng chữ một của bốn câu thơ đều nói lên nỗi ham sống đến vô biên, tột cùng đến trở nên cuồng si, tham lam, muốn giữ lại cho mình và cho đời vẻ đẹp, sự sống ở trong tạo vật cả trong nhịp của câu thơ, thể hiện ở chỗ câu thơ đang năm chữ bỗng chuyển xuống 8 chữ.

Đây là một chuyển đổi rất đẹp của bài thơ, làm trải ra trước mắt ta bức tranh xuân tuyệt diệu. Bốn dòng thơ ấy đầy ắp những tiếng “này đây, vừa trùng điệp vừa biến hoá. Những câu thơ gợi ra một con người đang mê man, đắm đuối, cuống quýt trước mùa xuân đang trải ra cuộc đời. Đó không chỉ là một bức tranh xuân, còn là cách để tác giả nói đến cái mê đắm về một mùa xuân của tuổi trẻ, của tình yêu.

Vì vậy, “ong bướm, yến anh”được nhắc tới đây, bởi nó gợi ra vẻ lả lơi, tình tứ,và “bướm lả ong lơi ” gợi ý niệm về mùa xuân và tình yêu. Khúc nhạc của tình yêu, của những đôi tình nhân và hơn thế, “của tình si”, gợi nên sự mê đắm. Bên cạnh đó, chữ “của” trở đi trở lại được tác giả sử dụng cùng với “này đây” như một cặp không thể tách rời. Đây là cách Xuân Diệu biểu hiện cảm xúc trước thiên nhiên luôn có sự kết đôi, mọi vật quấn quýt lấy nhau, là của nhau không thể tách rời. Tất cả đều mang vẻ đẹp của sự trẻ trung và sức sống tròn trịa có đôi có cặp.những mĩ từ được sử dụng mang tính gợi hình cao ” Hoa ” nở trên nền ” xanh rì ” của đồng nội bao la, “lá ” của ” cành tơ ” đầy sức trẻ và nhựa sống. Mọi thứ đều có cảm giác non tơ, mơn mởn ấy lại được tôn lên trong sự hiệp vần ” tơ phơ phất ” ở sau. Cuộc sống hiện ra trong hình ảnh của một vườn địa đàng, trong xúc cảm của một niềm vui trần thế.

Câu thơ thứ chín xuất hiện bằng ba chữ ” và này đây “, như thể một người vẫn còn chưa thoả, chưa muốn dừng lại. Đây không còn là những hình sắc cụ thể như “lá, hoa, ong bướm ” mà trừu tượng hơn là ánh sáng, niềm vui, thời gian – những vật thể không hữu hình. Không chỉ sử dụng những hình ảnh mang tính biểu tượng cao, cách mà Xuân Diệu gieo vào lòng người còn là những thứ mà con người cần phải quý trọng. Vẻ đẹp của thiên nhiên chỉ được coi là đẹp khi mang dáng dấp của vẻ đẹp con người. Đó chính là vẻ đẹp của “hàng mi” của một đôi mắt đẹp. Nhưng có lẽ nét độc đáo của 13 câu thơ chính là 2 câu thơ mang tính so sánh cao

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.

Hình ảnh so sánh thật thú vị và đầy bất ngờ, thời gian đẹp nhất của mùa xuân lại được coi như một cặp môi gần,vừa mang đến sự đam mê, sự lôi cuốn mà còn là sự say đi . Dưới con mắt của kẻ si tình, mùa xuân hiện ra thật đẹp, thật gợi cảm. Nó còn được tác giả đi liền với từ ” ngon” mặc dù không ăn được, không chạm được nhưng lại ” ngon. Mùa xuân như sinh ra cho con người tận hưởng, cho hạnh phúc đến với con người, thời gian trừu tượng mới trở nên gần gũi, do vậy mùa xuân hiện lên trong cảm xúc của một tâm hồn đang thèm khát tận hưởng. Vẻ đẹp của mùa xuân như đã bị hoàn toàn chiếm hữu.

Hình ảnh so sánh ấy như một người đang đợi chờ, sẵn sàng dâng hiến cho tình yêu. Chính vì thế tác giả mới thốt lên nhưng lại chùng xuống và có vẻ tiếc nuối:

“Tôi sung sướng”

Nhưng vội vàng một nửa.

Và rồi ở những câu tiếp theo, tác giả nêu ra tại sao lại sung sướng nhưng lại vội vàng:

Xuân đương đến nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già.

Cái mới của bài thơ và cả quan niệm của Xuân Diệu trong bài thơ được thấy rõ và phát hiện. Tưởng chừng nó giống như một qyi luật bình thường ai cũng biết nhưng đặt trong trường hợp này,nó lại là cả một quá trình chiêm nghiệm và nhận thức.Tác giả đã để hai vế tưởng như trái ngược nhau lại trở thành ngang hàng :”đang tới” đối với “đang qua”, “non” nghịch với “già”. Đây là cách nói đầy ấn tượng tạo nên sự trôi mau gấp rút vô cùng của thời gian. Điều này càng có ý nghĩa với một người mà sự sống đồng nghĩa với tuổi xuân, được thể hiện với đẳng thức thứ ba,vừa có cảm giác sợ hãi,lại tiếc nuối nhưng cũng có cảm giác như hối thúc phải sống sao cho không phí hoài tuổi trẻ, bởi xuân hết thì tôi cũng không còn nữa..

Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.

Bằng những nét vẽ vô cùng sống động, độc đáo,Xuân Diệu đã tái hiện lại khung cảnh hết sức lãng mạn, một thiên đường dưới mặt đất. Dưới con mắt tinh tế, nhạy cảm của nhà thơ cuộc sống thật tươi đẹp và đáng sống biết bao, nhưng cuộc sống ấy cũng thật ngắn ngủi nên phải sống vội vàng để tận hưởng hết niềm vui và hạnh phúc của cuộc sống. Qua đây tác giả cũng thể hiện và gửi gắm tư tưởng lạc quan yêu đời mà tác giả đã tạo ra cho thế hệ trẻ, cần phải sống,đam mê hết mình để cống hiến cho tuổi trẻ.

Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu – Bài làm 4

Phong trào Thơ Mới thời kì 1930- 1945 là một nhánh rẽ táo bạo của thơ ca Việt Nam, những hồn thơ tài hoa như Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ đã mang tới một màu sắc hoàn toàn mới lạ cho thi ca Việt. Nếu Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân Việt Nam đã nhận định mỗi tác giả có một hồn thơ riêng, “ảo não như Huy Cận, mở rộng như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư , hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyên Nhược Pháp, quê mùa như Nguyễn Bính,rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu. Là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, ông hoàng của thơ tình yêu. Trong thơ Xuân Diệu ta băt gặp một tâm hồn yêu cuộc sống, ham sống tới cuồng nhiệt và cũng chính ông là người mang tới quan niệm nhân sinh mới mẻ và những cách tân nghệ thuật độc đáo .Nhắc tới thi sĩ này ta nghĩ ngay tới nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với một cái tôi khao khát giao cảm với cuộc đờì. Trong suốt cuộc đời cống hiến cho nghệ thuật của nước nhà thi sĩ đã để lại cho đời vô số những bài thơ hay, giàu giá trị, trong đó “Vội Vàng” là một thi phẩm đặc sắc được rút ra từ tập Thơ Thơ sáng tác năm 1938. Đặc biệt khổ thơ đầu với những lời thơ ngắn gọn nhưng đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng khó phai mờ. Chỉ với mười ba câu thơ nhưng đã phần nào đưa độc giả đi khám phá hồn thơ chân thật của Xuân Diệu. Ở đó ta thấy tâm hồn của một chàng trai trẻ ham sống, nặng tình với cuộc đời và mong muốn làm những điều tưởng chừng như phi lý để níu giữ lại những khoảnh khắc tươi đẹp nhất của ty và tuổi trẻ. Nó như một điểm xuất phát để từ đây nhà thơ trình bày những quan niệm táo bạo, mới lạ về thời gian và triết lý sống vội vàng ở những phần sau.

Khổ thơ đầu cho ta thấy một tình yêu cuộc sống tới mãnh liệt của nhân vật trữ tình:

“Tôi muốn tắt nắng đi,

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại,

Cho hương đừng bay đi “

Ở đây nhân vật trữ tình muốn thực hiện những hoạt động kì lạ, muốn “tắt nắng, buộc gió” để “màu đừng nhạt” và “hương đừng bay”. Có lẽ xuất phát từ một con người yêu tuổi trẻ,mê cuộc sống và cũng ý thức được rằng những thứ đó gắn liền với thời gian, mà thời gian trôi đi theo quy luật của tạo hóa sẽ không bao giờ trỏ lại được. Vì thế nhà thơ khát khao thực hiện những hành động có vẻ ngông cuồng, phi lý đó là tắt nắng, buộc gió để giữ lại những gì tươi đẹp nhất của hiện tại, giữ lại cái ấm áp của mùa xuân, giữ lại hương thơm nồng nàn của cuộc đời. Nghĩa là Xuân Diệu muốn đoạt quyền của tạo hóa, muốn chống lại những quy luật vốn có của tự nhiên. Và điều đó là hoàn toàn không thể. Mong muốn ấy như được đẩy lên tới cao trào khi điệp từ “Tôi muốn” được nhắc lai hai lần kết hợp với các động từ mạnh khẳng định khát vọng tới cháy bỏng của nhà thơ rằng tôi muốn giữ được cái đẹp ,muốn giữ sức tươi trẻ của ngày hôm nay. Có thể nói đây không chỉ là ước mơcủa riêng mình Xuân Diệu mà còn là của chung nhân loại nhưng khát vọng tới da diết, tới cuồng say và cách mở đầu mới lạ như thế này thì chỉ Xuân Diệu mới có.

Vốn có trái tim đa cảm, tinh tế, Xuân Dịêu thấy cuộc đời đẹp như một bức tranh mùa xuân đang trải ra trước mẳt:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật,

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Và này đây ánh sáng chớp hang mi

Mỗi sáng sớm thần vui hằng gõ cửa

Điệp ngữ “Này đây” xuất hiện liên tục trong các câu thơ ,kết hợp với cách đọc nhanh, khẩn trương đưa ta tới một thế giới mùa xuân tuyệt đẹp với những hương sắc ngọt ngào nhất của tạo hóa. Ong bướm ngày đầu xuân dập dìu say trong mật ngọt của hoa. một cách diễn tả hoàn toàn mới mẻ của thi sĩ, “tuần tháng mật” chính là cách nói của người phương tây về những ngày tháng đầu tiên của các cặp uyên ương mới cưới, hạnh phúc say đắm trong tuần trăng mật. Xuân Diệu là một trí thức tây học nên ông luôn có những cái nhìn mới mẻ, sáng tạo. Không chỉ có ong bướm say mật ngọt mà hoa cũng trỏ nên xanh hơn,xanh rì trong những cánh đồng nội. Và kìa cành lá không còn cằn cỗi mà đã thay mình thành những cành tơ non phơ phất. Không gian, hình ảnh tràn đầy nhựa sống mà ở đó mọi vẩt đều có đôi có cặp. Mặt đât trở nên hấp dẫn hơn, ngot ngào hơn và thi sĩ có lẽ đang dạo chơi tung tăng, hân hoan trong chính không gian bao la như thiên đàng tuyệt diệu ây. Chỉ có tâm hồn yêu cuộc sống cuồng nhiệt như xuân diệu mới có thể diễn tả đc tất cả diều huyền diệu ây mới thấy được niềm lạc quan của mỗi sáng sớm khi thần vui đến gõ cửa mọi nhà.

Cũng chỉ ở Xuân Diệu mới có cách so sánh độc đáo, mới lạ nhất, ông vi “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Thời gian được nhà thơ lựa chọn chính là những ngày đầu của tháng giềng, của mùa xuân, của năm mới vì thế tất cả cái tươi non, cái sôi nổi trẻ trung nhất của mùa xuân và tuổi trẻ được gói trọn trong một chữ “ngon” thậm chí “ngon như một cặp môi gần”. Ở đây ta dễ dàng hình dung ra đôi môi ấy như của người thiếu nữ đang độ xuân thì với tình yêu phơi phới, trọn vẹn. Hay như cặp môi của những đôi lứa đang yêu nhau . Và rồi khi đang mải miết đắm mình trong hương vị ngọt ngào ấy tác giả chợt giật mình nhận ra thời gian đang từng lúc từng giờ trôi đi một cách nhanh chóng nên:

“Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”

Nghĩa là thi sĩ ý thức được sự vô tình của thời gian và tạo hóa. Ngay giờ phút này đây hãy tỉnh táo vội vàng tận hưởng cuộc sống tươi đẹp bởi nó là sự một đi không trở lại . Ta cũng thấy điểm lạ trong hình thức trình bày của câu thơ trên, đó là dấu chấm được đặt giũa dòng thơ như bước chân đang hân hoan dạo bước trong một khu vườn đầy hương sắc bỗng khựng lại trước ranh giới mong manh, không thể vượt qua được. Trước bao lo âu bởi sự hữu hạn của đời người và cái vô hạn của cuộc đời. Chính vì thế chàng Xuân Diệu nuối tiếc xuân ngay khi mùa xuân vừa mới tới. Những câu thơ diễn tả tâm trạng vừa sung sướng vừa vội vàng để hưởng thụ cuộc đời. Và cũng từ đây mở ra những dòng tâm trạng mới vội vàng hơn, thiết tha hơn trong những câu thơ tiếp theo.

Khổ thơ đầu đã bộc lộ một tâm hồn yêu đời, ham sống đến khát khao mãnh liệt của nhân vật trữ tình. Với bút pháp miêu tả, liệt kê Xuân Diệu đã vẽ ra trước mắt người đọc bức tranh tràn đầy nhựa sống và sự lung linh của sắc màu vạn vật, đưa người đọc cùng dạo chơi với thi sĩ, cùng tận hưởng những khoảnh khắc đẹp nhất của tuổi trẻ rồi giục dã con người hãy sống nhanh, sống sao cho hết mình, vì chỉ có sống vội vàng ta mới không làm hoang phí thời gian và tuổi thanh xuân. Để có đc một thông điệp mới mẻ này chứng tỏ người thi sĩ phải thật sự tinh tế, nhạy cảm với bước đi của thời gian và Xuân Diệu đã có thể làm nên điều ấy.

Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu – Bài làm 5

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại,

Cho hương đừng bay đi.

Của ong bướm này đây tuần tháng mật,

Này đây hoa của đồng nội xanh rì,

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si,

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.

Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.

Tôi sung sướng.

Cho màu đừng nhạt mất,

Cho hương đừng bay đi.

Khát vọng ngông cuồng kia cũng xuất phát từ mong muốn giữ lại cái đẹp đẽ cho sự sống. Những câu thơ gợi cảm giác lo âu rằng cái đẹp sẽ giảm hương sắc đi, màu nắng sẽ bớt rực rỡ nếu nắng cứ toả, và làn hương kia sẽ bớt nồng nàn nếu gió cứ bay. Nhưng mong muốn càng trở nên thiết tha hơn khi nhà thơ dùng đến hai lần chữ “đừng” – chứa đựng một nguyện vọng thiết tha. Từng chữ một của bốn câu thơ đều nói lên nỗi ham sống đến vô biên, tột cùng đến trở nên cuồng si, tham lam, muốn giữ lại cho mình và cho đời vẻ đẹp, sự sống ở trong tạo vật.

Câu thơ thứ năm đang từ nhịp điệu gấp gáp của những dòng năm chữ, thì đột ngột đổ tràn ra trong những dòng tám chữ. Một sự chuyển đổi rất đẹp của bài thơ, làm trải ra trước mắt người đọc một bức tranh xuân tuyệt diệu. Trong bốn dòng thơ ấy đầy ắp những tiếng “này đây” rải ra khắp các dòng thơ, vừa trùng điệp vừa biến hoá. Những câu thơ gợi hình dung về một con người đang mê man, đắm đuối, cuống quýt trước mùa xuân đang trải ra cuộc đời. Đó không chỉ là một bức tranh xuân, xuân sắc, xuân tình mà còn là cách để tác giả nói đến cái mê đắm về một mùa xuân của tuổi trẻ, của tình yêu. Vì vậy, không có một loài vật nào khác ngoài “ong bướm, yến anh”, bởi nó gợi ra vẻ lả lơi, tình tứ,và “bướm lả ong lơi ” gợi ý niệm về mùa xuân và tình yêu. Khúc nhạc của tình yêu, và hơn thế, “của tình si”, gợi nên sự mê đắm. Bên cạnh đó, chữ “của” trở đi trở lại cùng với “này đây” như một cặp không thể tách rời. Đó là cách để Xuân Diệu biểu hiện cảm xúc trước thiên nhiên luôn có sự kết đôi, mọi vật quấn quýt lấy nhau, là của nhau không thể tách rời. Tất cả đều mang vẻ đẹp của sự trẻ trung và sức sống. ” Hoa ” nở trên nền ” xanh rì ” của đồng nội bao la, “lá ” của ” cành tơ ” đầy sức trẻ và nhựa sống. Cảm giác non tơ, mơn mởn ấy lại được tôn lên trong sự hiệp vần ” tơ phơ phất ” ở sau. Và như thế, cuộc sống hiện ra trong hình ảnh của một vườn địa đàng, trong xúc cảm của một niềm vui trần thế. Giá trị nhân văn của những câu thơ và cả bài thơ chính là ở đó.

Nếu như bốn câu thơ trên có vẻ như đã cân xứng, hoàn chỉnh rồi, thì câu thơ thứ chín xuất hiện bằng ba chữ ” và này đây “, như thể một người vẫn còn chưa thoả, chưa muốn dừng lại, trong cảm xúc đầy tiếc nuối muốn giăng bày cho hết niềm vui được sống. Nhưng đây không còn là những hình sắc cụ thể như “lá, hoa, ong bướm ” mà trừu tượng hơn là ánh sáng, niềm vui, thời gian – những vật thể không hữu hình. Đó cũng là cách để nhà thơ bộc lộ quan điểm thẩm mĩ mới mẻ và thú vị . Thiên nhiên đã thôi không còn là chuẩn mực của vẻ đẹp trong quan niệm của Xuân Diệu. Vẻ đẹp của thiên nhiên chỉ được coi là đẹp khi mang dáng dấp của vẻ đẹp con người. Ánh sáng đẹp vì gợi ra liên tưởng về “hàng mi” của một đôi mắt đẹp. Niềm vui đẹp vì gợi ra liên tưởng về một vị thần, đại diện cho con người. Và xúc cảm thẩm mĩ được nâng lên trong câu thơ về tháng giêng, gợi nên vẻ đẹp của sự táo bạo, cuồng nhiệt, làm người đọc thơ phải sửng sốt.

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.

Mùa xuân hiện ra trong sức gợi cảm kì lạ bởi một vẻ đẹp như đang đợi chờ , đang sẵn sàng dâng hiến. Vì thế, mùa xuân như sinh ra cho con người tận hưởng, cho hạnh phúc đến với con người, làm nên một khía cạnh khác nữa của tinh thần nhân văn của bài thơ. Ở đó, cái quí giá, đẹp đẽ nhất của con người lại là chính con người. Vì vậy, con người là thực thể cao nhất, chứ không phải là thiên nhiên, là tôn giáo hay một chuẩn mực đạo đức nào. Con người trong câu thơ này đã được tôn lên làm chuẩn mực thẩm mĩ, làm cho người đọc ngạc nhiên, sửng sốt. Tác giả đưa ra ý niệm về một tháng trẻ trung nhất của một mùa trẻ trung nhất trong năm : ” tháng giêng “. Nhưng sự bất ngờ lại đến từ chữ thứ ba – “ngon”, điều mà ít ai có thể ngờ. Và càng không ai có thể nghĩ rằng tác giả lại so sánh với “cặp môi gần”. Nhưng có được sự so sánh ấy thì thời gian trừu tượng mới trở nên gần gũi, do vậy mùa xuân hiện lên trong cảm xúc của một tâm hồn đang thèm khát tận hưởng. Vẻ đẹp của mùa xuân như đã bị hoàn toàn chiếm hữu.

Hình ảnh so sánh ấy như một người đang đợi chờ, sẵn sàng dâng hiến cho tình yêu. Và hẳn phải có một tình yêu thật nồng nàn với cuộc đời thì tác giả mới tạo ra được một hình ảnh lạ kì đến thế.

“Tôi sung sướng”

Những tiếng tất yếu được thốt lên sau tất cả những gì viết ở trên. Nhưng sau ba chữ ấy lại là một dấu chấm ở giữa câu, khiến cho niềm sung sướng ấy như bị ngắt lại, chặn lại giữa chừng để trở thành một niềm vui dở dang, không trọn vẹn. Bởi sau dấu chấm là một chữ ” nhưng ” dự báo một cảm xúc hoàn toàn mới lạ. Cái ám ảnh của sự vội vàng xuất hiện ở nửa sau . Nhà thơ dường như không thể tận hưởng hết được mùa xuân vì cái cảm giác hoài xuân ngay khi mùa xuân chưa hết. Và cảm xúc của nhà thơ đã đi sang một phía ngược lại, xuất hiện một phản đề : Nhưng vội vàng một nửa.

Ai đã được nghe hai câu đầu của sự phản đề cũng đều có ấn tượng sâu sắc.

Xuân đương đến nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già.

Sự mới mẻ, táo bạo, sự phát hiện lớn nhất của hai câu thơ lại được nằm ở hai chữ tưởng như rất bình thường ” nghĩa là “, khiến cho câu thơ mang dáng dấp của một đẳng thức nghệ thuật. Tác giả đã mạnh bạo đặt một dấu bằng ở hai vế tưởng như trái ngược nhau :”đang tới” đối với “đang qua”, “non” nghịch với “già”. Cách nói đầy ấn tượng như thế làm nên sự trôi mau vô cùng của thời gian. Điều ấy càng có ý nghĩa với một người mà sự sống đồng nghĩa với tuổi xuân, được thể hiện với đẳng thức thứ ba :Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.

Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu – Bài làm 6

Thời đại thơ mới là một nhánh rẽ đầy ngoạn mục, táo bạo của thơ ca Việt Nam. Thời điểm thơ văn khoát lên cho mình một chiếc áo được cách tân mới mẻ, là mảnh đất màu mỡ vun trồng những hồn thơ tài ba như: Tản Đà, Thế Lữ, Xuân Diệu,… Theo như Hoài Thanh nhận định Tản Đà là người ” đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc dạo chơi tân kì đương sắp sửa” thì có lẽ Xuân Diệu là người đã đưa những khúc nhạc ấy đến một vị trí xứng tầm trong lòng bạn đọc khi cho ra đời tập : “Thơ thơ” được xem là đỉnh cao trong phong trào thơ mới. Bài thơ “Vội vàng” được trích từ tập thơ ấy, tiêu biểu cho một phong cách thơ được cách tân rất mới mẻ về nội dung và hình thức của Xuân Diệu. “Một hồn thơ rạo rực băn khoăn trong những câu thơ lời ít ý nhiều như đọng lại bao tinh hoa”

Giữa lúc ta lên tiên cùng Tản Đà, đắm chìm trong mộng tưởng cùng Hàn Mặc Tử,.. thì Xuân Diệu là người đã “đốt cảnh bồng lai và xua ai nấy về hạ giới”. Lòng yêu đời yêu cuộc sống tha thiết đã khiến tâm hồn của thi sĩ bám chặt lấy cuộc sống trần thế, không thoát ly hoàn toàn như các nhà thơ khác. Với đời, ông có một khát khao cháy bỏng:

“Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi”

Nhà thơ sử dụng những câu thơ ngắn với âm điệu nhanh, ngôn ngữ thơ dứt khoát để thể hiện ứơc muốn mãnh liệt muốn níu giữ thời gian. Bởi lẽ thời gian là nỗi ám ảnh nhất trong cuộc đời:

“Ôi đau đớn ! Ôi đau đớn ! Thời gian ăn cuộc đời”

(Bauxtelaire)

Là một hồn thơ rạo rực, tha thiết với đời, ông muốn tận hưởng những khoảnh khắc tươi đẹp nhất của trần thế nhưng ngặt một nỗi:

“Thời gian thấm thoắt thoi đưa

Nó đi đi mãi có chờ đợi ai”

Vì thế thi nhân rất trân trọng những giây phút tươi đẹp của cuộc đời. Người dùng tất cả giác quan tạo hoá ban tặng để cảm nhận thời gian. Thời gian vốn vô hình, vô vị, vô tình đi vào thơ Xuân Diệu bỗng rất hữu hình, nên thơ qua hình ảnh “nắng”, “gió”. Từ “tôi muốn” được điệp lại kết hợp với những động từ mạnh như “tắt” (nắng), “buộc” (gió) thể hiện một tư thế chủ động muốn đóng băng thời gian vì một lẽ đời tươi đẹp phía trước:

” Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Những câu thơ với âm điệu nhẹ nhàng, hình ảnh tươi sáng đã vẽ nên một khung cảnh thiên nhiên đậm sắc, hương, thanh. Vạn vật đang ở độ đương thì tươi ngon nhất, đẹp đẽ nhất. Chim chóc, hoa lá, ong bướm như vực dậy để tận hưởng cảnh xuân tươi tắn, mựơt mà. Cảnh vật không tĩnh lặng mà náo động linh hoạt với những hình ảnh liên tưởng độc đáo của thi sĩ. “Tuần tháng mật” của đôi vợ chồng đắm say trở thành mùa của ong bướm dập dìu rất lãng mạn. Tiếng hót của chim yến chim oanh trở thành “khúc tình si” hút hồn biết bao con người yêu cảnh thiên nhiên tươi đẹp. Và ánh nắng được nhân hoá như một nàng tiên e thẹn với những ánh mi dài cuốn hút vạn vật. Tất cả như chan hoà làm nên một mảnh vườn đẹp nên thơ mà rất trần đời. Từ đó cái đẹp của mùa xuân thiên nhiên còn ẩn dụ như cái đẹp của con người ở độ sắc xuân, đương thì. Qua đó, ta thấy được thi sĩ có sự cảm nhận mùa xuân rất tinh tế và có tài khéo léo vẽ lại những hình ảnh ấy với một thứ sức sống căng tràn, nảy nở. Nói bóng bẩy như Vũ Bằng thì thứ thứ nhựa sống mỡ màng ấy như ” máu căng lên trong lộc của loài nai, như những mầm non háo hức muốn bức ra từ những thân cây”. Thi sĩ chọn thời điểm rạo rực nhất “tháng giêng” , tươi mới nhất “mỗi buổi sớm”, để miêu tả khiến bức tranh thiên nhiên mùa xuân càng tinh khôi ,xinh đẹp. Không chỉ vậy, nhà thơ còn tạo nên một thiên đường của xúc cảm. Nghệ thuật chuyển đổi cảm giác được dùng rất linh hoạt từ xúc giác “tuần tháng mật”, thính giác “khúc tình si”, thị giác “ánh sáng chớp hàng mi”.

Tâm hồn của thi nhân rạo rực, tha thiết, bâng khuâng trước cảnh trần thế xinh đẹp vô cùng đã khơi nguồn nên những hình ảnh sáng tạo độc đáo trong những vần thơ. Vào lúc ấy, hồn thơ, hồn người, hồn của thiên nhiên đất trời như giao hoà để Xuân Diệu viết nên một câu tuyệt bút:

“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

“Tháng giêng” vốn vô hình bỗng trở nên hũư hình căng đầy một tình yêu trần thế. Một thứ tình cảm rạo rực, cháy bỏng trong tâm hồn thi nhân đã được dồn nén kết tụ trong một từ “ngon” duy nhất rất tài hoa. Câu thơ với điểm nhấn là từ “ngon” được dùng rất đắt thể hiện một quan điểm mĩ học rất mới mẻ về sự cảm nhận thiên nhiên phản phất sắc thái của “nhục thể”. Tuy vậy, ý thơ không gây thô tục mà có phần mới lạ. Nhà thơ cảm nhận rất tinh tế ý vị của thời gian nên có sự chuyển đổi xúc giác sang vị giác. Quả thật, Xuân Diệu bên cạnh có đôi mắt nhìn đời rất tinh tế còn có một tâm hồn rất thiết tha, nhạy cảm với cuộc sống.

Những câu thơ: “Của ong bướm này đây tuần tháng mật”,”Của yến anh này đây khúc tình si” và ” Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” mang một quan điểm mĩ học rất mới so với thơ ca truyền thống trước đó. Thơ trung đại con người được các nhà văn, nhà thơ tạo tác trên những chuẩn mực của thiên nhiên. Bút pháp ước lệ tượng trưng luôn gắn liền với việc miêu tả con người:

“Râu hùm, hàm én, mày ngài”

“Làn thu thuỷ, nét xuân sơn”

Thế mới thấy thơ Xuân Diệu đã hoàn toàn lột xác và hướng về một nguồn quan điểm mới rất gần với shakespears:

“Con người là kiểu mẫu của muôn loài”

Nhà thơ đã lấy con người làm khuôn mẫu để tạo ra những hình thái thiên nhiên mang một sức hấp dẫn kì lạ, một sự tươi mới chưa từng có. Người cảm nhận thiên nhiên bằng một lăng kính trái hình với thi ca thời xưa . Qua đó, ta thấy thêm tin yêu một hồn thơ mới đã đem đến cho ta một hình ảnh đầy thi vị, một ánh màu mới mẻ trong thơ ca.

“Thơ Xuân Diệu là một niềm khát khao giao cảm với đời”

(Nguyễn Đăng Mạnh)

Hình ảnh của cuộc sống đi vào thơ Xuân Diệu như một thứ ánh sáng được khúc xạ qua lăng kính tình yêu rất tinh khôi và giàu sức sống. Càng yêu đời, nhà thơ càng luyến tiếc trước dòng chảy của thời gian. Thời điểm vạn vật đang căng tràn nhựa sống cũng chính là lúc đang đứng trên ranh giới của sự lụi tàn, héo úa. Vì thế từ những câu thơ gãy gọn ở khổ đầu, nhà thơ đi vào khổ hai với những câu thơ dài, âm điệu chậm như bước chân người thư thái dạo ngắm vườn xuân muốn tận hưởng giờ khắc huy hoàng ấy. Thi sĩ từ tốn chỉ cho người đọc những gì tinh hoa, tươi đẹp nhất của trần gian với một thái độ mến yêu, trân trọng” này đây”.

Đọc thơ Xuân Diệu, ta thấy từng dòng chữ rất mới, những tư tưởng tiến bộ thoát ly hoàn toàn những khuôn sáo cổ điển, tuy say mà tỉnh, mộng nhưng thực. Cảnh sắc xuân như xô đẩy câu thơ, khuôn khổ thơ bị xê dịch như “một đống hỗn độn đẹp xô bồ vừa say dậy”(Bích Khê). Đó là điều khiến thơ của thi sĩ từng bước chứng tỏ sức sống mãnh liệt qua thời gian mặc dù người khen rất nhiều người chê cũng không ít.

Tóm lại, đoạn thơ thể hiện một một khát vọng sống thiết tha mãnh liệt rất trần đời. Một hương vị lạ góp phần làm đa dạng sự mới mẻ trong phong trào thơ mới. Dù rằng thơ Xuân Diệu mang một phong cách rất Tây nhưng nhìn chung lầu thơ của ông được xây dựng trên mảnh đất thơ ca truyền thống. Sự tiếp thu những tư tưởng mới, biết hoà nhập nhưng không hoà tan là nét chung rất đáng ngợi ca khâm phục của Xuân Diệu nói riêng và các nhà thơ mới nói chung. Vì thế Xuân Diệu xứng đáng là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh).

Từ khóa tìm kiếm nhiều:

phân tích 13 câu đầu bài vội vàng

phân tích 13 câu đầu bài thơ vội vàng

phan tich 13 cau dau cua bai tho voi vang

phân thích đoạn 1 bài thơ vội vàng

nghị luận văn học vội vàng khổ 1

Phân Tích 4 Khổ Thơ Đầu Bài Sóng / 2023

Chuyên mục văn 12 xin gởi đến học sinh bài phân tích 4 khổ thơ đầu bài Sóng của thi sĩ Xuân Quỳnh, đây là phần mở đầu của bài thơ Sóng nổi tiếng được nhiều thế hệ yêu thích.

– Nêu nội dung 4 khổ thơ đầu: là những cảm nhận tinh tế của một trái tim yêu.

a.Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kháng chiến chống Mĩ.

– Phong cách: Thơ XQ là tiếng lòng tâm hồn người phụ nữ giàu lòng trắc ẩn vừa hồn nhiên tươi tắn, vừa chân thành đằm thắm

– Bài thơ Sóng là kết quả của chuyến đi thực tế tới vùng biển Diêm Điền (Thái Bình) 1967 và được đưa vào tập thơ “Hoa dọc chiến hào”

b.Phân tích:

– Khổ 1:

+ Sóng khát khao thoát khỏi giới hạn chật hẹp (sông) để tìm ra bể như người phụ nữ khát khao tìm đến những chân trời đích thực của tình yêu.

– Khổ 2:

+ Từ ngàn, triệu năm qua, con sóng vẫn thế như từ ngàn, triệu năm qua tình yêu vẫn là một khát vọng cháy bỏng trong trái tim con người, nhất là tuổi trẻ.

+ Đó cũng là khát vọng cháy bỏng trong trái tim không bao giờ thôi khát khao yêu đương của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

– Khổ 3,4:

+ Không thể truy nguyên nguồn gốc của sóng cũng như tình yêu của con người. Đó mãi mãi là bí ẩn diệu kì là sức hấp dẫn mời gọi của tình yêu. Không thể cắt nghĩa được tình yêu và cũng chẳng nên cắt nghĩa tình yêu bởi rất có thể khi ta biết yêu vì lẽ gì thì cũng là lúc tình yêu ra đi.

+ Người phụ nữ, nhân vật em trong bài thơ cũng không thể cắt nghĩa được tình yêu. Một sự bất lực đáng yêu của một trái tim yêu không chỉ đòi hỏi cảm xúc mà còn đòi hỏi nhận thức mãnh liệt.

– Liên hệ

Phân tích 4 khổ thơ đầu bài Sóng

Trong các nhà thơ nữ, Xuân Quỳnh được xem là nữ hoàng của tình yêu. Xuân Quỳnh viết nhiều đề tài về cuộc sống đời thường nhưng tình yêu có lẽ là đề tài thành công, gây được tiếng vang lớn nhất trong sự nghiệp văn học của bà. Trong tiếng thơ của Xuân Quỳnh luôn thổn thức nỗi lòng yêu thương trân thành, mãnh liệt nhưng chứa chan âu lo, dự cảm chẳng lành. Đến với Sóng, hồn thơ ấy lại được thể hiện đậm nét hơn qua bốn khổ thơ đầu của bài thơ. Bốn khổ thơ chứa chan khát vọng tha thiết, nhiệt thành và cả những chông chênh của người phụ nữ trong tình yêu.

Tròng bài thơ nổi bật lên là hai hình tượng sóng và em. Song hành với sóng là em. Em là cái tôi người phụ nữ trong tình yêu. Và để đối chiếu với em, soi chiếu rõ nét cho em, nhà thơ đã mượn hình ảnh của sóng. Dù là em hay là sóng quy tụ lại cũng chính là biểu trưng cho cái tôi của chính tác giả, cho tình yêu nồng nàn, mãnh liệt đắm say của bà.

Biểu hiện đầu tiên đó chính là những khát khao về tình yêu và hạnh phúc đời thường của người phụ nữ.

” Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ”

4 tình từ đặc tả: ” dữ dội; dịu êm; ồn ào; lặng lẽ” đã cho ta thấy trạng thái phong phú, thất thường của những cơn sóng trên mặt biển khơi xa: khi thì dữ dội khi thì lặng lẽ. Và tâm trạng người phụ nữ trong tình yêu có lẽ cũng vậy khi thì nồng nhiệt, say đắm khi lại xa xôi, nhạt nhòa. Tuy nhiên đằng sau cái thất thường ấy lại muốn nói lên điều gì? Há chăng phải muốn chỉ ra rằng tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu là tâm hồn mỏng manh, nhạy cảm., và rất dễ tổn thương hay sao. Nhưng dù bình yên dù dữ dội thì vãn là sóng và dù mãnh liệt hay lạnh nhạt thì đó vẫn là tình yêu. Tuy xa mà gần, tuy nhìn sóng xa mà lại nói lên nỗi lòng, tâm tư đau đáu.

Có lúc dữ dội có lúc ồn ào nhưng kết lại vẫn là “lặng lẽ” và “dịu êm”. Đằng sau những biểu hiện thất thường trog tình yêu, sau tất cả về sâu thẳm người phụ nữ cũng chỉ muốn kiếm tìm cho bản thân một bến bờ tình yêu hạnh phúc, an yên. Đó có lẽ là ý nghĩa sáng nhất mà Xuân Quỳnh muốn nhắn gửi qua đôi dòng thơ mở đầu.

Và rôi người phụ nữ đã mạnh dạn hơn, chủ động hơn:

” Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể”

Hai câu thơ xuất hiện hai không gian tương phản: sông- biểu trưng cho không gian nhỏ bé, chật hẹp. Bể gợi một không gian lớn hơn, sâu hơn. Ở trong lòng sông chật hẹp, tù túng, sóng không thể hiểu nổi mình, không thể thỏa những ước mong của mình nên sóng đã chủ động tìm ra tận bể để tự khám phá, để khát khao. Sóng muốn được sống thỏa là mình, được đắm say với những ước mớ tình yêu vĩ đại của bản thân. Cũng giống như tâm tình người phụ nữ khát khao cháy bỏng vượt qua giới hạn để kiếm tìm sự tri âm tri kỉ, được sống là chính mình, được vươn ra cái đích trong cuộc sống nhân duyên. Người phụ nữ luôn hiền hòa nhưng trong tình yêu họ lại quyết liệt và chủ động vô cùng.

Trong đoạn thơ ta đã thấy được vẻ đẹp của người phụ nữ trong tình yêu: một tâm hồn mong manh và một khát khao mãnh liệt nhất, tự do và phóng khoáng nhất được đắm chìm, đam mê trong tình yêu sẻ chia; đích thực.

Nỗi khát vọng tình yêu luôn rạo rực trong trái tim mỗi con người

” Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày nay vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ”

Con sóng đặt giữa hai trạng từ chỉ thời gian: ” ngày xưa- ngày nay” , triệu triệu năm trước và hàng ngàn năm sau những con sóng vẫn cứ ngày đêm dạt dào trên mặt biển. Sóng là em, soi chiếu cho em và cũng chính vì thế những con sóng cũng chính là những con sóng lòng, con sóng tinh yêu lúc nào cũng dạt dào, cuộn trào trong trái tim nhiệt thành của người phụ nữ. Ngày xwua thế và ngày sau vẫn thế. Tình yêu là vĩnh hằng và vô tận.

Ý niệm vĩnh hằng không chỉ hiện qua thời gian mà còn hiện qua không gian. Biển tựa như lồng ngực lớn lao đất trời. Nhịp đật của sóng giống như hơi thở cồn cào của biển. Còn biển còn sóng và còn con người thì sẽ mãi còn yêu thương bất diệt. Chữ “trẻ” được khéo léo đặt cuối dòng thơ như muốn nhấn mạnh tình yêu là sức sống, là nhịp đập của tuổi trẻ, tình yêu mang đến sự tươi tắn, viết lên thanh xuân có ý nghĩa cho cuộc đời mỗi người phụ nữ. Xét đi xét lại thì xét cho cùng không chỉ riêng nhà thơ mà bất cứ ai cũng đều khát khao cháy bỏng một tình yêu vĩnh hằng, trường tồn với không gian, thời gian.

Cái đam mê khao khát trong tình yêu đã được thể hiện một cách thật đẹp, thật tài tình và trân thành.

Người phụ nữ trân trọng tình yêu và vì thế họ luôn muốn được tìm tòi những bí mật trong tình yêu:

” Trước muôn trùng sóng biển

Em nghĩ về anh em Em nghĩ về biển lớn Tự khi nào sóng lên?”

Hàng loạt các câu thơ được bắt đầu bằng cấu trúc: ” Em nghĩ” gợi đến biết bao những trăn trở, nghĩ suy trong trái tim người phụ nữ. Trăn trở được kiếm tìm, được giải đáp bao âu lo suy tư trắc trở. Không còn ẩn mình trong hình tượng sóng nữa, hình ảnh em ở đây đã được nổi lên, đặt trước cái mênh mông đát trời. Đối diện với không gian rộng lớn, bao la, nhà thơ bất giác đối sánh chiếu với cái mệnh mông, vô hạn của tình yêu. Nhưng đâu chỉ mênh mông đâu chỉ vô tận đại dương đầy bão tố kia chứa đựng biết bao bí ẩn, khiến cho trong lòng người phụ nữ lúc này dâng lên bao trăn trở, băn khoăn, mong muốn kiếm tìm lời giải đáp. Có lẽ rằng chỉ khi yêu con người ta mới khao khát đến thế, khao khát được khám phá, được giải đáp và được thấu hiểu đến tận cùng cội nguồn của nó. Hình ảnh người phụ nữ ở đây hiện lên thật đẹp, nét đẹp đặc biệt, thật thân thiện và đáng trân trọng.

Nối tiếp những suy nghĩ đó là câu đáp:

” Sóng bắt đầu từ gió”

Câu trả lời chóng vánh. Nhưng những trăn trở nào đâu có dừng lại ở đó. Cũng giống như những cơn sóng miên man, dập dìu nỗi băn khoăn của người phụ nữ cũng vì thế mà nối tiếp đến vô tận:

” Gió bắt đầu từ đâu”

Sóng từ gió còn gió lại tự đâu? Sự vật nối tiếp như dồn dập để rồi đáp lại bằng sự bối rồi nghẹn ngào:

” Em cũng không biết nữa”

Hình ảnh em lại xuất hiện thế nhưng lại xuất hiện với cái lắc đầu ngượng ngùng bất lực, cái lắc đầu nụng nịu nhưng đầy bối rối và hạnh phúc. Tuy thế lại vô cùng đặc biệt bởi cái lắc đầu được đặt chơi vơi giữa hai câu hỏi:

” khi nào ta yêu nhau”

Không biết chơi vơi giữa gió và tình yêu. Không biết gió có từ đâu và càng không không thể cắt nghĩa được hạnh phúc, không biết được khi nào ta yêu nhau? Vì sao ta yêu nhau. Đó cũng chính là những bí ẩn ngàn đời của tình yêu và chính những bí ẩn này đã làm nên những quyến rũ rất riêng của tình yêu. Cũng giống như ông hoàng Xuân Diệu từng nói: ” Làm sao cắt nghĩa được tình yêu”. Tình yêu là thế, dù rằng có không thể hiểu nhưng vân bất chấp thả mình, đắm say trong nó. Tình yêu khiến cho trực cảm luôn đi trước lí trí. Đây cũng chính là lúc con người sống thật nhất với cảm xúc của mình. Tình yêu vượt qua mọi lý trí, mọi logic mọi quy luật trần thế.

Trôi chảy theo mạch xúc cảm, bốn khổ thơ đầu đã vẽ nên nét đẹp rất Á Đông của người phụ nữ trong tình yêu. Đó là khát khao được dâng hiến, đắm chìm trong tình yêu dạt dào, nồng nàn và vĩnh cửu. Bài thơ còn toát lên nét đẹp hiện đại, rất riêng tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh thời kì đầu. Sau này dù cho nhiều đắng cay nhưng khát khao đó vẫn cháy bỏng trong trái tim nhiệt thành của nhà thơ.

Đón xem: Phân tích 2 khổ đầu bài Sóng

Hi vọng hướng dẫn phân tích 4 khổ thơ đầu bài Sóng sẽ là nguồn tham khảo quan trọng cho các bạn khi viết văn hoặc kiểm tra.

Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Tây Tiến / 2023

“Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi…”

Cảnh ấy cũng là tình. Cũng là sương, là hoa, là mây, là mưa – những chi tiết thường gặp trong thơ cổ – nhưng còn đượm thêm không khí trầm hùng của thời đại được diễn tả bằng những từ ngữ, thanh điệu khi đọc lên ta cảm thấy ngang tàng. Hình ảnh của một đoàn quân mỏi đi trong cái khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút, giữa cái bồng bềnh sương khói chơi vơi được tác giả phác hoạ bằng những nét chấm phá tài tình. Con mắt thơ không dừng lại ở trong không gian rừng núi mà còn mở ra một không gian – tâm trạng của một hồn thơ chiến sĩ. Phảng phất một chút Lý Bạch trước Hoàng Hà – ngút ngát chí tang bồng của người trai thời loạn. Trong gian nan của người chiến sĩ Tây Tiến, ta vẫn gặp chút hóm hỉnh ở hình ảnh súng ngửi trời. Chạm mặt với thực tế khắc nghiệt – song chất hào hoa lãng tử không mất đi mà lại càng được tô đậm thêm, chân thật sống động trong những câu thơ đượm tình quê, tình đồng đội, tình quân dân. Một hiện thực về người lính Tây Tiến – anh Bộ đội Cụ Hồ trong những năm đầu chiến đấu gian khổ. Đó là gợi nỗi nhớ nhà sâu thẳm, là sợi khói cơm thơm quyện chặt tình người, một bóng hình đong đưa làm xao xuyến những trái tim trai trẻ…

Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Bài thơ có nói đến hy sinh, mất mát, gian khổ nhưng cảm xúc hào hùng của lớp người “ra đi bảo tồn sông núi” đã lấn át cái bi luỵ buồn thương. Đoàn binh Tây Tiến trong thơ Quang Dũng như một sự kết tụ của tráng khí muôn đời, pha chút lãng mạn kiểu Kinh Kha “một đi không trở lại”. Phải chăng với tinh thần “coi cái chết nhẹ tựa lông hồng” mà toàn bài thơ mặc dù có nói đến chết chóc nhưng giọng điệu rất bình thản: anh về đất? Phải chăng khi xác định chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, người chiến sĩ đã nhận ra mục đích của cuộc chiến đấu còn lớn hơn gấp vạn lần những gian khổ , hy sinh?

Bài thơ không cường điệu hoá cảm xúc dẫu trong âm điệu gân guốc, khoẻ khoắn của toàn bài có những từ ngữ mang hơi hướng cổ điển như xiêm áo, dữ oai hùm, mồ viễn xứ, áo bào, khúc độc hành và cách diễn đạt tưởng chừng lạ lẫm tràn ngập không khí lãng mạn. Nếu chỉ chăm chăm đi tìm chất thép trong bài thơ theo quan điểm xã hội học thiển cận thì chẳng khác nào cầm dao đâm vào cái đẹp. Cái đẹp của bài thơ viết ra từ lửa máu đã làm rung lên những cảm xúc đồng điệu của bao thế hệ.

Nhà thơ Trần Lê Vân, người bạn thân, đã từng sống nhiều năm, từng in thơ chung với Quang Dũng viết về hòan cảnh Quang Dũng sáng tác bài thơ Tây Tiến như sau:

“Đòan quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào trở về thành lập trung đòan 52. Đại đội trưởng Quang Dũng ở đó đến cuối năm 1948 rồi được chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, ngồi ở Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ), anh viết bài tho Tây Tiến.”

Muốn hiểu được bài thơ Tây Tiến, truớc hết cần phải có những hiểu biết về đoàn quân Tây Tiến cùng với địa bàn hoạt động của nó. Khoảng cuối mùa xuân năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến. Đó là một đơn vị thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Lào-Việt, đánh tiêu hao địch ở Thượng Lào để hỗ trợ cho cuộc kháng chiến ở những vùng khác trên đất Lào. Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng, bao gồm vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam và Thuợng Lào: từ Châu Mai, Châu Mộc sang tận Sầm Nứa rồi vòng về qua miền tây Thanh Hóa. Những nơi này, lúc đó còn rất hoang vu và hiểm trở, núi cao, sông sâu, rừng dày, có nhiều thú dữ.

Những người lính Tây Tiến phần đong là thanh niên Hà Nội, thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có cả những học sinh, sinh viên. của những người lính Tây Tiến hết sức gian khổ, ốm đau không có thuốc men, tử vong vì sốt rét nhiều hơn vì đánh trận, tuy vậy, họ vẫn sống rất lạc quan và chiến đấu rất . Vượt lên trên mọi thử thách khắc nghiệt của chiến tranh và hòan cảnh sống cực kì gian khổ, họ vẫn giữ được cái cốt cách hào hoa, thanh lịch, rất yêu đời và cũng rất lãng mạn.

Bài thơ Tây Tiến có hai đặc điểm nổi bật: cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng. Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc của nhà thơ. Nó phát huy cao độ trí tưởng tượng, sử dụng rộng rãi những yếu tố cường điệu và phóng đại, những thủ pháp đối lập để tô đậm cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hùng vĩ và cái tuyệt mĩ.

Thiên nhiên Tây Bắc, qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng, được cảm nhận với vẻ đẹp vừa đa dạng vừa độc đáo, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, hoang sơ mà ấm áp. Hình ảnh những cô gái, những con người Tây Bắc càng tô đậm thêm chất huyền bí, thơ mộng của núi rừng. Chất lãng mạn được thể hiện chủ yếu ở cảm hứng hướng tới cái cao cả, sẳn sàng xả thân, hy sinh tất cả cho lý tưởng chung của cộng đồng, của tòan dân tộc.

Tây Tiến không hề che giấu cái bi. Nhưng bi mà không lụy. Cái bi được thể hiện bằng một giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng. Chất lãng mạn hòa hợp với chất bi tráng tạo nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ.

Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết, bao trùm lên cả không gian và thời gian:

Sông Mã xa rồi Tay Tiến ơi !

Nhớ về rừng núi nhó chơi vơi

Sài Khao sương lấp đòan quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nỗi, nhà thơ đã thốt lên thành tiếng gọi. Hai chữ “chơi vơi” như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, dốc sâu, vực thẳm, rừng dày,…liên tiếp xuất hiện ở những câu thơ sau:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Khổ thơ này là một bằng chứng “thi trung hữu họa”. Chỉ bằng bốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hòanh tráng diễn tả sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút của núi rừng Tây Bắc, địa bàn họat dộng của đòan quân Tây Tiến. Hai câu thơ đầu, những từ đẩy giá trị tạo hình khúc khủyu, thăm thẳm. cồn mây, súng ngửi trời đã diễn tả thật chính xác sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời của núi đồi Tây Bắc. Hai chữ “ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có chất tinh nghịch của người lính. Núi cao tưởng chừng chạm mây , mây nổi thành cồn “heo hút”. Người lính trèo lên những ngọn núi cao tưởng chừng như đang đi trên mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời. Câu thứ ba như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, dổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm. Nếu như câu thứ ba là nhìn lên và nhìn xuống thì câu thứ tư là nhìn ngang. Có thể hình dung cảnh nhữngngười lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng mây núi thấy thấp thóang những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi.

Bốn câu thơ này phối hợp với nhau tạo nên một âm hưởng đặc biệt. Sau ba câu thơ được vẽ bằng những nét gân guốc, câu thứ tư được vẽ bằng một nét rất mềm mại. Quy luật này cũng giống như cách sử dụng những gam màu trong hội họa: giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng một gam màu lạnh làm dịu lại, như xoa mát cả khổ thơ.

Cái vẻ hoang dại dữ dội, chứa đầy bí mật ghê gớm của núi rừng Tây Bắc được nhà thơ tiếp tục khai thác. No’ không chỉ được mở ra theo chiều không gian mà còn được khám phá ở cái chiều thời gian, luôn luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối với con người:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Vậy là, cảnh núi rừng Tây Bắc hoang sơ và hiểm trở qua ngòi bút Quang Dũng, hiện lên với đủ cả núi cao, vực sâu, dốc thẳm, mưa rừng, sương núi, thác gầm, cọp dữ,….Những tên đất lạ Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, những hình ảnh giàu trí tạo hình, những câu thơ nhiều vần trắc đọc lên nghe vất vả nhọc nhằn được xoa dịu bằng những câu có nhiều vần bằng ở cuối mỗi khổ thơ, đã phối hợp với nhau thật ăn ý, làm hiện hình lên thế giới khác thường vừa đa dạng, vừa độc đáo của núi rừng Tây Bắc.

Đọan thơ được kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Cảnh tượng thật đầm ấm. Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng, vượt núi, lội suối, trèo đèo, những người lính tạm dừng chân, được nghỉ ngơi ở một bản làng nào đó, quây quần bên những nồi cơm đang bốc khói. Khói cơm nghi ngút và hương thơm lúa nếp ngày mùa xua tan vẻ mệt mỏi trên khuôn mặt những người lính , khiến họ tươi tỉnh hẳn lai. Hai câu thơ này tạo nên một cảm giác êm dịu, ấm áp, chuan bị tư thế cho người đọc bước sang đọan thơ thứ hai.

Từ khóa tìm kiếm

Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ tây tiến

phân tích khổ đầu bài tây tiến

cảm nhận về khổ thơ đầu bài tây tiến

phân tích khổ đầu bài thơ Tây Tiến

Phân Tích Ba Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh / 2023

Đề bài: Bài viết của một học sinh trường Chuyên Hùng Vương hay nhất do chúng tôi chọn lọc em hãy phân tích ba khổ thơ đầu của bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Mở bài: Giới thiệu về ba khổ thơ đầu của bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh nổi tiếng là nhà thơ tình của Việt Nam, với khối lượng tác phẩm đồ sộ, bà đã có vị trí đứng trên thi đàn văn học Việt Nam, với khối lượng tác phẩm lớn, sáng tác của bà đã mang đến cho người đọc những cảm xúc đặc biệt, những nét tinh tế trong sự sáng tạo của mình. Bài thơ Sóng là một trong những bài thơ như thế, với sự tinh tế của mình, bài thơ Sóng đã tạo được cho độc giả những nét chấm phá riêng, xuất sắc, với cung bậc cảm xúc rõ nét, tinh tế.

Thân bài: Phân tích ba khổ thơ đầu của bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Tình yêu là tình cảm sâu lắng, chân thành trong cảm xúc của con người, nó mang đậm nét tính cách chấm phá, lúc nhẹ nhàng, khi dịu êm, khi ồn ào, khi lặng lẽ, tất cả những cảm xúc đó mang đến những nét chấm phá sâu sắc trong tâm hồn của người đọc. Tình yêu là cảm xúc chân thành từ cảm xúc của con người, nó được miêu tả với đầy đủ những cung bậc đối lập nhau như:

Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

Tất cả những cảm xúc trong tình yêu đều được biểu hiện sâu sắc, nó mang những khoảnh khắc dữ dội, lúc nhẹ nhàng dịu êm, tình yêu thật khó hiểu, nó được ví như sông không hiểu nổi mình, sóng tìm ra tận bể, tất cả những cảm xúc đó ngập tràn trong những tình cảm đặc biệt, da diết, thể hiện sự tươi tắn, nhẹ nhàng trong cảm xúc của con người, khung cảnh đó da diết, mang đến nỗi nhớ mong, khung cảnh nhẹ nhàng, tinh tế trong cảm xúc của con người.

Bài thơ đã mang những nét chấm phá riêng, sâu sắc trong tâm hồn của con người, những tình cảm đó nhẹ nhàng, sâu lắng, tình yêu dịu nhẹ, mang lại những nét tính cách riêng cho con người, hình ảnh sóng đã biểu hiện những cảm xúc trong tình yêu, khung cảnh của tình yêu nhẹ nhàng, sâu lắng, nỗi khát khao đó mang những xúc cảm, sâu lắng cho tâm hồn của mỗi người:

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ

Con sóng ngày xưa, ngày nay vẫn thế, thể hiện tình cảm chung thủy của con người, mang nét riêng, sâu lắng trong cảm xúc, những tình cảm đặc biệt, mang những nét chấm phá trong cảm xúc, nỗi khao khát trong tình yêu, biểu hiện những nét sáng tạo trong phong cách nghệ thuật của độc giả, những cung bậc cảm xúc nhẹ nhàng, tinh tế, sâu lắng, trong cách sáng tạo nghệ thuật, nét điển hình, chấm phá trong phong cách nghệ thuật của độc giả, mỗi tác phẩm, mỗi hình ảnh mà Xuân Quỳnh thể hiện cũng mang những nét đẹp riêng, bồi hồi trong nỗi nhớ.

Sự chung thủy trong tình yêu, sâu sắc với những cung bậc cảm xúc nhẹ nhàng, tình yêu của những người yêu nhau, mang những nét tươi tắn, sáng rực lên tâm hồn, nhạy cảm của những người thi sĩ, của cách mạng, của lý tưởng, tất cả những điều đó, chấm phá, mang đến màu sắc, nhẹ nhàng, biểu hiện nét đẹp riêng cho người đọc.

Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên?

Trước biết bao nhiêu sóng gió, nhưng hình ảnh đó vẫn còn mãi, hình ảnh đã mang những nét biểu hiện sâu sắc trong tâm hồn của người đọc, những nét đặc sắc đó tiêu biểu trong phong cách nghệ thuật của nhà văn, với sự tươi tắn, nét biểu hiện riêng, hình ảnh của con sóng, của tình yêu được biểu hiện căng tràn trong nỗi nhớ, biết bao nhiêu sóng gió của tình yêu, nhưng tình yêu đó vẫn còn mãi, vẫn nhớ mong đến hình ảnh biển lớn, hình ảnh sóng lên, mang đậm cảm xúc.

Tình yêu luôn hướng đến cái tươi đẹp, trước muôn vàn sóng lớn, luôn nghĩ về anh, nghĩ về tình yêu đó, để khi nào tình yêu, sự chung thủy sẽ được đền đáp.

Với phong cách nghệ thuật đối lập, để nói lên những cung bậc tình cảm trong tình yêu, bài thơ đã mang những nét chấm phá riêng, sâu sắc, tươi tắn trong lòng người đọc. Bài thơ đã khắc khoải nỗi nhớ, những cung bậc cảm xúc trong tình yêu, sự ngọt ngào, sâu lắng, luôn khắc khoải những cảm xúc đặc biệt cho người đọc.

Kết bài: Bài văn phân tích ba khổ thơ đầu của bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Bài thơ đã thể hiện những nét riêng, biểu hiện sâu sắc trong cảm xúc, tình cảm của mình trước người đọc, tình cảm đó biểu hiện những nét chấm phá, sâu sắc trong tâm hồn của mỗi con người.

TƯ KHÓA TÌM KIẾM PHAN TICH BA KHO THO DAU TRONG BAI THO SONG CUA XUAN QUYNH PHÂN TÍCH BA KHỔ THƠ ĐẦU TRONG BÀI THƠ SÓNG CỦA XUÂN QUỲNH EM HAY PHAN TICH BA KHO THO DAU TRONG BAI THO SONG CUA XUAN QUYNH EM HÃY PHÂN TÍCH BA KHỔ THƠ ĐẦU TRONG BÀI THƠ SÓNG CỦA XUÂN QUỲNH Theo chúng tôi

Phân Tích Hai Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh / 2023

Phân tích 2 khổ thơ đầu bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Đã có biết bao nhiêu thi nhân lựa chọn hình ảnh sóng làm hình tượng chính trong những tác phẩm của mình, bởi một lẽ đây là hình tượng chuyển động, mãnh liệt và kì vĩ. Thế nhưng, con sóng ấy khi đi vào thơ Xuân Quỳnh lại trở nên mềm mại, dịu dàng, đầy nữ tính. Hai khổ đầu bài thơ Sóng biểu hiện rõ trạng thái ấy:

Nếu Xuân Diệu lựa chọn hình ảnh sóng để biểu hiện cho tình yêu của anh dành cho em, một tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, muốn ôm trọn em vào lòng, muốn hôn lấy em,… thì Xuân Quỳnh, lại lựa chọn hình tượng này, viết về sóng để gửi gắm tình yêu của trái tim người phụ nữ. Với những khao khát trong tình yêu, với những cũng bậc ảm xúc nhiều khi biến động, hai hình tượng “sóng và em” khi song hành, khi tách biệt, khi hòa nhập để em soi mình vào trong sóng nhìn ra những tình cảm của riêng mình. Xuân Quỳnh đã bắt đầu thi phẩm này một cách vô cùng tinh tế:

Nguyễn Đình Thi từng nói rằng khi người ta yêu, thường hay đứng trước biển. Bởi chỉ có biển mới sánh sánh được với cái mênh mông tình yêu trong họ. Xuân Quỳnh cũng thế, cô đang yêu, đăng đắm say trong cảm giác vừa trong trẻo vừa rối bời trong trái tim mình. Thế nên, cô về với biển, ngắm nhìn con sóng bạc đầu bồi hồi suy tưởng.

Khi đứng trước đại dương bao la, trước muôn trùng con sóng vỗ bạc đầu, người nghệ sĩ lại có trong mình nhiều rung cảm đến vậy, để cho tới tận bây giờ, biển vẫn hát khúc ca của đại dương. Đọc giả của những năm tháng thời kì ấy, vẫn ru hoài giấc mơ qua những thi phẩm khởi nguồn từ con sóng như thế.

Trong khổ thơ đầu tiên, nghệ thuật đối đã được sử dụng một cách rất tinh tế. Các cặp từ đối lập : “dữ dội – dịu êm”, “ồn ào – lặng lẽ” là biểu hiện rõ ràng nhất cho những trạng thái đối cực của con sóng ngoài đại dương. Khi đại dương hiền hòa, những con sóng thật nhẹ nhàng, êm dịu. Khi giông bão đi ngang, biển động sóng mạnh mang theo bao cuồng nộ. Những trạng thái đối cực của sóng cũng chính là những trạng thái đối cực của tình yêu, có những khi rất bình yên, nhưng cũng có những ngày bão tố.

Ta cũng có thể hiểu hau câu thơ này theo một trường nghĩa khác. Với trạng thái đối cực của trái tim người phụ nữ khi yêu, một người phụ nữ khao khát tình yêu. Khi vui, khi buồn, khi giận hờn, khi trách móc, khi hạnh phúc, khi tổn thương,… những cung bậc cảm xúc của tình yêu quả thật rất diệu kỳ bởi một lẽ:

Chuyển đến hai câu thơ tiếp theo, ta nhìn thấy sự mới lạ trong tứ thơ của Xuân Quỳnh:

Những hình ảnh xuất hiện liên tiếp, hình ảnh của dòng sông, của con sóng và của “bể”, ở đây có thể hiểu là biển, là đại dương. Trăm suối đổ về một sông, trăm sông đổ về biển lớn, sóng không chấp nhận giới hạn nhỏ bé tầm thường, sóng chuyển mình ra biển lớn, tìm về đại dương, tìm đến nơi thuộc về. Ở hai câu thơ này, mạch sóng như bứt phá ra khỏi một không gian chật hẹp để tìm đến những điều lớn lao.

Cũng giống như trái tim tình yêu của những người phụ nữ, vượt qua những giới hạn nhỏ bé tầm thường, để tìm đến với tình yêu đích thực của cuộc đời mình. Có thể thấy rằng, đây cũng chính là một trong những nét hiện đại trong thơ Xuân Quỳnh, cũng là góc nhìn, một quan niệm mới mẻ về người phụ nữ hiện đại, dám đấu tranh vì tình yêu, vượt qua những thứ lễ giáo phong kiến để đến với hạnh phúc đích thực của cuộc đời mình. Ở khổ thơ đầu của mình, Xuân Quỳnh đã rất tinh tế khi gửi gắm tới bạn đọc một thông điệp mới mẻ trong thời đại lúc bấy giờ: “Người phụ nữ chủ động tìm đến với tình yêu để được sống với chính mình”.

Xuân Quỳnh viết “Sóng”, cô đang hát những khúc hát về tình yêu để đến bây giờ, biết bao nhiêu thập kỷ trôi quan rồi, những độc giả vẫn dành biết bao nhiêu tình yêu của mình cho một mảnh “tình thơ” đã cũ. Và tình yêu trong “Sóng” – mãi mãi là khát vọng của tuổi trẻ, của lứa đôi:

Thán từ “ôi” được sử dụng, bộc lộ mạnh mẽ những trạng thái cảm xúc đang trào lên trong lòng. Cặp từ đối “ngày xưa” – “ngày sau” khiến cho người đọc có biết bao nhiêu liên tưởng khi đọc đoạn thơ này. Trải qua hàng ngàn hàng vạn năm, từ khi đại dương xuất hiện, những con sóng cũng ra đời.

Hai khổ thơ khép lại nhưng sóng mãi còn lan toả. Dẫu cho thời gian mãi là một dòng tuyến tính không bao giờ quay trở lại thì sóng vẫn cứ mãi hát khúc ca của đại dương bất diệt, vẫn cứ là mình, vẫn “dữ dội, dịu êm, ồn ào, lặng lẽ”. Cũng giống như tình yêu, những khát khao về tình yêu luôn luôn là những hoài bão đang đập nhanh trong trái tim của những người trẻ. Câu chuyện tình yêu là câu chuyện của tôi, của bạn, của chúng ta, của quá khứ, hiện tại và muôn đời sau sẽ còn nhắc mãi, nhắc hoài. Còn đại dương là còn sóng, còn những trái tim đang đập trong lồng ngực là còn tình yêu.

Phân tích bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh được xem là một trong số những thi sĩ viết thơ tình hay nhất trong nền thơ Việt Nam sau 1975. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh vừa nồng nhiệt, táo bạo, vừa thiết tha, say đắm, dịu dàng, hồn nhiên giàu trực cảm mà lắng sâu những trải nghiệm suy tư. Là một người phụ nữ đa cảm, nên thơ Xuân Quỳnh thương hướng đến hạnh phúc đời thường. Bài thơ Sóng sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế của vùng biển Diêm Điền (Thái Bình). Đây là bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. Tác phẩm là tiếng lòng thiết tha của người phụ nữ trước cuộc đời được sống, được yêu đúng nghĩa, chân thành và thủy chung.

Trước hết, đọc thơ Xuân Quỳnh ta sẽ thấy đó là một tâm hồn rất thành thật, giàu đức hi sinh và lòng vị tha. Ở Xuân Quỳnh, khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành, mãnh liệt luôn gắn liền với cảm thức lo âu về sự phai tàn, đổ vỡ, cùng với những dự cảm về bất trắc. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường. Ở sắc thái, cung bậc nào thơ Xuân Quỳnh cũng nồng nàn sôi nổi, chân thành say đắm.

Thành công đầu tiên của bài thơ là tác giả đã lựa chọn một thể thơ có thể tạo ra âm điệu dìu dặt không ngừng thôi thúc vào lòng người đọc. Đó là âm điệu của những con sóng trên biển cả. Và sâu xa hơn chính là âm điệu của những con sóng lòng với nhiều cung bậc, sắc thái, cảm xúc trong trái tim nữ thi sĩ. Âm điệu của một nỗi lòng đang tràn ngập, khát khao, đang rạo rực tình yêu. Trái tim ấy đang rung lên đồng điệu, hoà nhịp với sóng biển. Nỗi khao khát ấy mãnh liệt đến mức không còn thấy đâu là nhịp điệu của sóng biển, đâu là nhịp điệu tâm hồn thi sĩ. Âm điệu đó được tạo nên bởi hai yếu tố chính: thể thơ năm chữ và phương thức tổ chức ngôn từ, hình ảnh. Thể thơ năm chữ cùng với sự linh hoạt, phóng túng khi ngắt nhịp, phối âm đã gợi lên thật ấn tượng nhịp sóng biển (và cả sóng lòng nữa) khi dịu êm, khoan thai, khi dồn dập, dữ dội.

Xuân Quỳnh đã mượn nhịp Sóng để thể hiện nhịp lòng của chính mình trong một tâm trạng bùng cháy ngọn lửa mãnh liệt của tình yêu, không chịu yên định mà đầy biến động, khao khát. Mỗi trạng thái tâm hồn cụ thể của người phụ nữ đang yêu đều có thể tìm thấy sự tương đồng của nó với một khía cạnh, một đặc tính nào đó của sóng

Hình tượng bao trùm toàn bộ bài thơ là hình ảnh ẩn dụ: Sóng để nói đến tình yêu:

Hình ảnh sóng trong trạng thái đối lập. Có lúc nó thật dữ dội, khi lại rất dịu êm. Có lúc nó trở nên ồn ào, khi lại vô cùng lặng lẽ, đằm sâu.

Sóng được miêu tả cụ thể, sinh động, với nhiều trạng thái mâu thuẫn, trái ngược nhau. Đây cũng chính là cơn sóng lòng với nhiều cung bậc, sắc thái, cảm xúc trong tâm hồn người con gái đang yêu:

Với nghệ thuật nhân hoá, con sóng vượt qua không gian chợt tìm đến cái bao la của biển cả. Trái tim người con gái đang yêu cũng vậy, nó không chịu chấp nhận sự tầm thường, nhỏ hẹp, luôn vươn tới cái lớn lao để đồng cảm, đồng điệu với khát vọng khám phá mình. Nó khát khao tìm đến những chân trời đích thực của tình yêu vĩnh hằng. Đó là một lối liên tưởng rất thực và cũng rất thơ.

Biện pháp đối lập giữa ngày xưa và ngày sau, phép liên kết thế đại từ “thế” khẳng định sự vĩnh hằng của những con sóng từ ngàn, triệu năm qua. Đó cũng là sự vĩnh hằng của tình yêu, của một khát vọng cháy bỏng trong trái tim con người

Khát vọng mãnh liệt về tình yêu luôn luôn thường trực, bồi hồi trong trái tim tuổi trẻ, nhất là tình yêu lứa đôi. Người con gái khao khát yêu đương nhưng không còn nhẫn nhục, cam chịu nữa. Nếu Sông không hiểu nổi mình thì Sóng dứt khoát từ bỏ nơi chật hẹp đó để tìm ra tận bể để đến với cái cao rộng, bao dung với khát vọng và kiếm tìm.

Đối diện với một hình tượng quá lớn về kích cỡ và phức tạp về quy luật vận động, nhà thơ bắt đầu đi tìm kiếm nguồn cội khởi nguyên của nó. Thế nhưng, càng tìm kiếm càng thấy khó hiểu hơn

Có người nói khi trái tim có một tình yêu lớn, người ta thường tìm đến với cảnh vật rộng lớn. Có lẽ, chỉ có biển cả mới chứa hết được tình yêu đắm say của nữ sĩ dành cho cuộc đời và con người. Trái tim nhỏ bé ấy lúc nào cũng rạo rực, nồng say. Tác giả llí giải quy luật xuất phát của sóng là từ gió, còn gió từ đâu? Câu trả lời nằm trong vô vọng, ngoài sự hiểu biết:

Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu? Em cũng không biết nữa hi nào ta yêu nhau

Những câu hỏi không có lời giải đáp cũng như một tình yêu đích thực, không thể giải thích được, không thể truy nguyên được nguồn gốc. Điều đó chứng tỏ sự bí ẩn, diệu kì, sức hấp dẫn, mời gọi của tình yêu muôn thuở. Càng bí ẩn càng khơi gợi khát khao kiếm tìm, khám phá, càng háo hức yêu và yêu cuồng nhiệt hơn.

Thế nhưng, tác giả không thể chấp nhận điều mơ hồ ấy và vẫn đi tìm sự lí giải của riêng mình. Tình yêu luôn gắn liền với nỗi nhớ khi xa cách: hạt nhân của tình yêu là nỗi nhớ:

Con sóng dù ở trạng thái nào (dưới lòng sâu hay trên mặt nước), dù ở thời gian nào (ngày hay đêm) đều nhớ bờ da diết. Tình yêu cũng thế, dẫu ngày hay đêm, dẫu gần hay xa đều gây ra cảm giác nhớ nhung, bồi hồi, vẫn hướng về nhau. Điệp từ “nhớ” được lặp lại nhiều lần, nhân hóa “sóng nhớ bờ…không ngủ được” diễn tả một nỗi nhớ thật mãnh liệt, da diết, thường trực cả khi thức, khi ngủ, bao trùm lên cả không gian và thời gian của nhân vật trữ tình:

Dẫu xuôi về phương bắc Dẫu ngược về phương nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh – một phương

Phép đối xuôi và ngược, Bắc và Nam diễn tả nỗi vất vả, gian truân trong tình yêu. Điệp từ “dẫu ” khẳng định tấm lòng thủy chung, son sắt. Sóng chỉ có một đích đến là bờ, em chỉ có điểm đến duy nhất là phương anh dù cuộc đời nhiều trái ngang.

Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ Dù muôn vời cách trở

Đến đây, mạch thơ trở nên mạnh mẽ, nhịp thơ chậm rãi hơn. Đó như một lời khẳng định chắc chắn tấm lòng son sắt thuỷ chung, trong sáng quyết vượt qua mọi cản ngăn trong tình yêu. Đó là suy nghĩ của một tâm hồn cao thượng.

Tình yêu là một hiện tượng tâm lí khác thường, đầy bí ẩn không thể truy nguyên được khởi nguồn của nó, về thời điểm bắt đầu của một tình yêu. Đó là điều mà trước đó nhà thơ Xuân Diệu băn khoăn: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu” thì nay Xuân Quỳnh lại bộc bạch một cách hồn nhiên, thật dễ thương. Tình yêu cũng như sóng biển, như gió trời: cũng tự nhiên, hồn nhiên, khó hiểu, nhiều bất ngờ thì làm sao có thể giải thích được nguồn gốc của nó. Đây là một cách cắt nghĩa rất Xuân Quỳnh. Một cách cắt nghĩa nữ tính và trực cảm.

Qua hình tượng sóng và em, Xuân Quỳnh đã nói lên thật chân thành, táo bạo. Cô không hề giấu giếm khát vọng tình yêu sôi nổi, mãnh liệt, thiết tha, nồng nàn của mình, một người phụ nữ. Biều hiếm thấy trong văn học Việt Nam trước đó.

Nhà thơ Lưu Trùng Dương trong bài Nói với người yêu từng bộc bạch:

Và cũng có người:

Họ yêu nhau nhưng hỏi :Tình yêu bắt đầu từ đâu? Và tình yêu là gì? Thì có biết bao cách trả lời

Sau bao nhiêu lí giải, cuối cùng, nhà thơ trở về với sự chiêm nghiệm cuộc đời và khát vọng được sống hết mình trong tình yêu:

Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa

Nhịp thơ lắng xuống, hình ảnh thơ mở ra (đi qua, biển dẫu rộng, bay về xa) như mang đến những dự cảm, sự khắc khoải lo âu, nhận thức và thấm thía sự hữu hạn của kiếp người, giữa cái vô cùng, vô tận của thời gian:

Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ.

“Tan ra’ không phải để mất đi mà hoà giữa cái chung và cái riêng. Các từ chỉ số lượng lớn phơi bày một nỗi khát vọng hòa nhịp tình yêu của mình với tình yêu nhân loại, khát vọng về sức sống của tình yêu với muôn thuở. Đó là một tình yêu say đắm chân thành và khát vọng trường tồn. Cách duy nhất để tình yêu trường tồn với thời gian, để trái tim yêu được đập mãi đó là “tan ra thành trăm con sóng nhỏ” . Xuân Quỳnh khát vọng được sống hết mình trong tình yêu, muốn hoá thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thuở. Hay nói như Shiller: “Tình yêu chân chính không bị mài mòn bởi thời gian, cũng không thể đổi thay bởi hoàn cảnh”

Một nỗi nhớ cồn cào, da diết, không thể nào yên, không thể nào nguôi. Nó cuồn cuộn,dào dạt như những đợt sóng biển triền miên, vô hồi, vô hạn. Nhịp thơ trong suốt bài thơ này là nhịp sóng, nhưng rõ nhất, và dào dạt, náo nức và mãnh liệt nhất là ở đoạn thơ này.

Xuân Quỳnh viết bài thơ Sóng năm 1967, khi mà nhà thơ đã từng nếm trải sự đổ vỡ trong tình yêu. Song người phụ nữ hồn nhiên, tha thiết yêu đời này vẫn còn ấp ủ biết bao hi vọng, vẫn phơi phới một niềm tin vào hạnh phúc trong tương lai. Tương lai như đang còn ở phía trước đối với Xuân Quỳnh. Tình yêu là một tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao, có sức mạnh làm trong sạch tâm hồn của con người.

Thành công của bài thơ là tạo ra âm điệu phù hợp giưa hai hình tượng sóng và tình yêu trong em. Thể thơ năm chữ có khả năng gợi âm điệu dạt dào, vừa là cái nhịp nhàng của sóng biển, vừa là cái khắc khoải của sóng lòng với nhiều cung bậc cảm xúc. Kết hợp với phương thức tổ chức ngôn từ, hình ảnh sáng tạo hòa trộn thanh âm, nhịp điệu của sóng với những trăn trở, khát khao, nhớ thương, hờn giận đan xen nối tiếp trong cõi lòng của người con gái khi yêu cũng tạo nên một yếu tố nhạc tính của thơ.

Cách sử dụng hình tượng ẩn dụ sóng đa nghĩa là một sáng tạo độc đáo của Xuân Quỳnh,khiến lời thơ vừa thực, vừa lãng mạn. Sóng như có hồn, có tính cách, tâm trạng, gợi đến sự phong phú trong tâm hồn ng con gái khi yêu – vừa say đắm vừa tỉnh táo, vừa nồng nhiệt vừa âm thầm, lúc sôi mãnh liệt, lúc lại kín đáo, sâu sắc.

“Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”. Điều đó thật đúng với bài thơ Sóng. Thơ Xuân Quỳnh rất ít triết lí mà thường nghiêng về duy cảm. Nó được viết bằng cảm xúc chân thật của một người phụ nữ, người vợ với bao lo toan chuyện cơm áo gạo tiền thời chiến tranh.

Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu hiện lên qua hình tượng sóng: tình yêu thiết tha, nồng nàn,đầy khát vọng và sắc son chung thủy, vượt lên mọi giới hạn của đời thường. Tuy có chút triết lí nhưng đó là triết lí của trái tim người phụ nữ luôn muốn đi đến tận cùng của tình yêu để tìm kiếm giá trị chân, thiện, mĩ trong cuộc đời hữu hạn này:

Sẽ không thể có được một tình yêu đích thực nếu trái tim không có những tình cảm chân thực. Sóng là một cuộc tìm kiếm không có điểm dừng, không có hồi kết. Nó mãi mãi lan tỏa trong trái tim của muôn thế hệ cho đến khi nào trái tim nhân loại ngừng đập, tình yêu trên mặt đất không còn nữa. Với bài thơ Sóng, Xuân Quỳnh đã góp một tiến nói trong trẻo, đắm say về tình yêu như một định nghĩa về sự vận động phức tạp và vĩnh hằng trong cảm xúc của con người.

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Tích Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ “Vội Vàng” Của Xuân Diệu / 2023 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!