Xu Hướng 2/2023 # Phân Tích Hình Tượng Ông Tú Qua Bài Thơ Thương Vợ # Top 5 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Phân Tích Hình Tượng Ông Tú Qua Bài Thơ Thương Vợ # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Phân Tích Hình Tượng Ông Tú Qua Bài Thơ Thương Vợ được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. Mở bài:

– Khái quát về tác giả: Tú Xương là nhà thơ độc đáo của nền văn học trung đại cuối thế kỉ XIX. Tuy cuộc đời ngắn ngủi, nhiều gian truân nhưng ông đã để lại một sự nghiệp thơ ca bất tử. Sáng tác của ông có hai mảng lớn song hành với nhau : trào phúng và trữ tình. Ở mảng thơ trữ tình, ông có hẳn một đề tài viết về người vợ của mình với tấm lòng yêu thương, trân trọng, biết ơn, trong đó có bài thơ “Thương vợ”. Đây là bài thơ hay và cảm động nhất viết về vợ của ông Tú.

– Khái quát về tác phẩm: Có thể xem “Thương vợ” là lời tri ân sâu sắc của ông Tú dành gửi tới vợ. Bài thơ được viết bằng chữ Nôm, theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với bố cục bốn phần : đề, thực, luận, kết. Bài thơ vẽ nên bức chân dung bà Tú chịu thương chịu khó, tần tảo, đảm đang, thương chồng thương con và giàu đức hi sinh; đồng thời thể hiện tấm lòng yêu thương trân trọng vợ và nhân cách cao cả của ông Tú.

Hai câu đề :

Nghệ thuật : ngôn ngữ đời thường giản dị; từ ngữ chọn lọc (quanh năm, mom sông, nuôi đủ), sử dụng số đếm (năm con, một chồng).

Nội dung : Lời kể về công việc làm ăn và gánh nặng gia đình mà bà Tú phải đảm đương thể hiện sự tri ân của ông Tú với vợ.

Hai câu thực:

Nghệ thuật : Phép đối, phép đảo, từ láy gợi hình gợi cảm, vận dụng sáng tạo thi liệu dân gian (“thân cò”).

Nội dung : Đặc tả cảnh làm ăn vất vả để mưu sinh của bà Tú, cho thấy nỗi cảm thông sâu sắc trước sự tảo tần của người vợ.

Hai câu luận :

Nghệ thuật : phép đối, vận dụng thi liệu dân gian (thành ngữ); giọng thơ mang âm hưởng dằn vặt, vật vã.

Hai câu kết :

Nghệ thuật : sử dụng khẩu ngữ; lời thơ giản dị, tự nhiên.

Nội dung : tiếng chửi – tự chửi mình và chửi thói đời đen bạc; bộc lộ nhân cách đáng trọng của ông Tú.

Nghệ thuật cả bài thơ :

Vận dụng sáng tạo ngôn ngữ và thi liệu văn hóa dân gian.

Kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và trào phúng.

III. Kết bài:

Chân dung người vợ trong cảm xúc yêu thương cùng tiếng cười tự trào và một cách nhìn về thân phận người phụ nữ của Tú Xương.

Phân Tích Bài Thơ ” Thương Vợ” Của Tú Xương

Đề bài: Phân tích bài thơ ” Thương vợ” của Tú Xương.

Tú Xương là nhà thơ trào phúng bậc thầy trong nền văn học Việt Nam. Ngoài những bài thơ trào phúng sắc nhọn, lấy tiếng cười làm vũ khí chế giễu và đả kích sâu cay bộ mặt xấu xa, đồi bại của cái xã hội thực dân nửa phong kiến, ông còn có một số bài thơ trữ tình, chứa chất bao nỗi niềm của một nhà nho nghèo về tình người và tình đời sâu nặng.

“Thương vợ” là bài thơ cảm động nhất trong những bài thơ trữ tình của Tú Xương. Nó là một bài thơ tâm sự, đồng thời cũng là một bài thơ thế sự. Bài thơ chứa chan tình thương yêu nồng hậu của nhà thơ đối với người vợ hiền thảo.

Sáu câu thơ đầu nói lên hình ảnh bà Tú trong gia đình là một người vợ rất đảm đang, chịu thương chịu khó. Nếu bà vợ của Nguyễn Khuyến là một phụ nữ “hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn vấy quai cồng, tất tảchân nam đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc” (câu đối của Nguyễn Khuyến) thì bà Tú lại là một người đàn bà:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng”

“Quanh năm buôn bán” là cảnh làm ăn đầu tắt mặt tối, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác , không được một ngày nghỉ ngơi. Bà Tú “buôn bán ở mom sông”, nơi mỏm đất nhô ra, ba bề bao bọc sông nước, nơi làm ăn là cái thế đất chênh vênh. Hai chữ “mom sông” gợi tả một cuộc đời nhiều mưa nắng, một cảnh đời lắm cay cực, phải vật lộn kiếm sống, mới “nuôi đủ năm con với một chồng”.

Một gánh gia đình đè nặng lên đôi vai người mẹ, người vợ. Thông thường người ta chỉ đếm mớ rau, con cá, đếm tiền bạc,… chứ ai con, “đếm” chồng(!) Câu thơ tự trào ẩn chứa nỗi niềm chua chát về một gia cảnh gặp nhiều khó khăn: đông con, người chồng đang phải “ăn lương vợ”,

Có thể nói, hai câu thơ trong phần đề, Tú Xương ghi lại một cách chân thực hình ảnh người vợ tần tảo, đảm đang của mình.

Phần thực, tô đậm thêm chân dung bà Tú, mỗi sáng mỗi tối đi đi về về “lặn lội” làm ăn như “thân Cò” nơi “quãng vắng”. Ngôn ngữ thơ tăng cấp, tô đậm thêm nỗi cực nhọc của người vợ. Câu chữ như những nét vẽ, gam màu nối tiếp nhau, bổ trợ và gia tăng; đã “lặn lội” Lại “thân cờ”, rồi còn “khi quãng vắng”. Nỗi cực nhọc kiếm sông ở “mom sông” tưởng như không thể nào nói hết được! Hình ảnh “con cò” cái cò trong ca dao cổ: “Con cò lặn lội bờ sông…”, “Con cò đi đón cơn mưa…”, “Cái cò, cái vạc, cái nông,..” được tái hiện trong thơ Tú Xương qua hình ảnh “thân cò” lầm lũi, đã đem đến cho người đọc bao liên tưởng cảm động về bà Tú, cũng như thân phận vất vả, cực khổ, của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ:

“Lặn lội thân cò nơi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

“Thương vợ'” là bài thơ trữ tình đặc sắc của Tú Xương nói về người vợ của mình

“Eo sèo” là từ láy tượng thanh chi sự làm rầy rà bằng lời đòi, gọi liên tiếp dai đẳng: gợi tả cảnh tranh mua tranh bán, cảnh cãi vã nơi “mặt nước” lúc “đò đông”. Một cuộc đời “lặn lội”, một cảnh sống làm ăn “eo sèo”. Nghệ thuật đối đặc sắc đã làm nổi bật cảnh kiếm ăn nhiều cơ cực. Bát cơm, manh áo mà bà Tú kiếm được “nuôi đủ năm con với một chồng'” phải. “lặn lội” trong mưa nắng, phải giành giật “eo sèo”, phải trả giá bao mồ hồi, nước mắt giữa thời buổi khổ khăn! Tiếp theo là hai câu luận, Tú Xương vận dụng rất sáng tạo hai thành ngữ: “một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa”, đối xứng nhau hài hòa, màu sắc dân gian đậm đà trong cảm nhận và ngôn ngữ biểu đạt:

“Một duyên hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa dám quản công.”

“Duyên” là duyên số, duyên phận, là cái “nợ” đời mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng .”Nắng”, “mưa” tượng trưng cho mọi vất vả, khổ cực.Các số từ trong câu thơ tăng dần lên: “tnột…hai…năm..mười…làm nổi rõ đức hi sinh thầm lặng của bà Tú, một người phụ nữ chịu thương, chịu khó vì sự ấm no, hạnh phúc của chồng con và gia đình. “Âu đành phận”,… “dám quản công”… giọng thơ nhiều xót xa, thương cảm, thương mình, thương gia cảnh nhiều éo le.

Tóm lại, sáu câu thơ đầu bằng tấm lòng biết ơn và cảm phục, Tú Xương đã phác họa một vài nét rất chân thực và cảm động về hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo của mình với bao đức tính đáng quý: đảm đang, tần tảo, chịu thương chịu khó, thầm lăng hi sinh cho hạnh phúc gia đình. Tú Xương thể hiện một tài năng điêu luyện trong sử dụng ngôn ngữ và sáng tạo hình ảnh. Các từ láy, các số từ, phép đôi, thành ngữ và hình ảnh “thân Cò”… đã tạo nên ấn tượng và sức hấp dẫn văn chương.

Hai câu kết, Tú Xương sử dụng từ ngữ thông tục, lấy tiếng chửi nơi “mom sông” lúc “buổi đò đông” đưa vào thơ rất tự nhiên, bình dị. Ông tự trách mình:

Có chồng hờ hững cũng như không!”

Trách mình “ăn lương vợ”, mà “ăn ở bạc”. Vai trò nggười chồng, người cha chẳng giúp ích được gì, vô tích sự, thậm chí còn “hờ hững” với vợ con. Lời tự trách sao mà chua xót thế! Ta đã biết, Tú Xương có văn tài, nhưng công danh dở dang, thi cử lận đận. Sống giữa một xã hội “dở Tây, dở ta”, chữ nho mạt vận, lúc mà “Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co”, cho nên nhà thơ tự trách mình đồng thời cũng là trách đời đen bạc. Ông không xu thời để vinh thân phì gia “tối rượu sâm banh, sáng sữa bò”.

Hai câu kết là cả một nỗi niềm tâm sự và thế sự đầy buồn thương, là tiếng nói của một trí thức giàu nhân cách, nặng tình đời, thương vợ con, thương gia cảnh nghèo. Tú Xương thương vợ cũng chính là thương mình vậy: nỗi đau thất thế của nhà thơ khi cảnh đời thay đổi!

Bài thơ “Thương vợ” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú. Ngôn ngữ thơ bình dị như là tiếng nói đời thường nơi “mom sông” của những người buôn bán nhỏ, cách đây một thế kỉ. Các chi tiết nghệ thuật chọn lọc vừa cá thể (bà Tú với “năm con, một chồng”) vừa khái quát sâu sắc (người phụ nữ ngày xưa). Hình tượng thơ hàm súc, gợi cảm: thương vợ, thương mình, buồn về gia cảnh thêm nỗi đau đời. “Thương vợ'” là bài thơ trữ tình đặc sắc của Tú Xương nói về người vợ, người phụ nữ ngày xưa với bao đức tính tốt đẹp, hình ảnh bà Tú được nói đến trong bài thơ rất gần gũi với người mẹ, người chị trong mỗi gia đình Việt Nam.

Tú Xương chiếm một địa vị vẻ vang trong nền văn học Việt Nam. Tên tuổi ông sống mãi với non Côi, sông Vị.

Từ khóa tìm kiếm

phân tích bài thơ thương vợ

phân tích thương vợ

phân tích bài thương vợ

phân tích bài thơ thương vợ của trần tế xương

phân tích bài thơ thương vợ của tú xương

thương vợ tú xương

Tâm Sự Của Tú Xương Qua Bài Thơ Thương Vợ

Đề bài: Tâm sự của Tú Xương qua bài thơ Thương vợ

Thơ văn Việt nam xưa và nay có những bài thơ thương vợ, khóc vợ rất cảm động. Người ta còn truyền tụng một bài thơ của Tự Đức khóc một bà phi có câu:

“Đập vỡ gương ra tìm thấy

Xếp tàn y lại để dành hơi”.

Nỗi nhớ nhung đau đớn, dữ dội ấy còn được Bùi Hữu Nghĩa, Nguyến Thượng Hiền, Nguyến Khuyến thể hiện cảm động trong bài văn tế, câu đối khóc vợ sau này. Cảm phục, xót thương, tự hào… trước tấm lòng, đức hi sinh của vợ bằng giọng văn vừa có chút tính nghịch, vừa rất cảm động; giữa sự kết hợp giữa trào phúng và trữ tình Tú Xương đã làm “giàu” thêm đề tài viết về bà Tú và kịp góp vào nền văn học Trung đại Việt Nam một bài thơ về tình cảm thương vợ hay và sâu sắc.

“Thương vợ” là một bài thơ vừa cảm động, vừa dí dỏm của Tú Xương. Chỉ hai câu đầu của bài thơ đã nêu bật lên được vai trò trụ cột gia đình của bà:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”.

Ông Tú tỏ lòng thương vợ bắt đầu bằng sự tính công. Đúng hơn là sự biết ơn sâu sắc công lao của bà Tú. Có thời gian cụ thể: “quanh năm”; không gian cụ thể: “mom sông” càng làm nổi bật lên sự lam lũ, vất vả quần quật của bà Tú. Nơi buôn bán để kiếm miếng cơm manh áo của bà Tú là “mom sông”- là một chỗ đất nơi ra ở bờ sông, nơi ít người qua lại, sóng nước gập ghềnh gợi sự cheo leo, chênh vênh, nhiều bất trắc. Thế nhưng “quanh năm” nghĩa là ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác như một vòng tuần hoàn khép kín, dù ngày nắng hay mưa,ốm đau hay khỏe mạnh bà Tú lại quẩy quang gánh ra nơi “mom sông” ấy để buôn bán. Cách nói như là sự xô bồ, cường điệu của chuyện văn chươn, trong trường hợp này chính là sự bày tỏ lòng biết ơn đối với bà Tú về mặt thời gian lao dộng. Và điều cảm động, đáng để khâm phục bà Tú là nhịp độ làm việc không ngừng nghỉ tai một nơi làm ăn, buôn bán khó khăn nhưng không phải chỉ để nuôi thân mà “Nuôi đủ năm con với một chồng’. Đâu còn thấy hình ảnh:

“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu

Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”.

Mà trái lại đó là loại chồng: “Tiền bạc phó cho con mụ kiếm”, loại chồng “Thưng đấu nhờ lưng một mẹ mày”. Người chồng là trụ cột của gia đình, gánh vác việc nặng nhọc để cưu mang cuộc sống cho vợ con vậy mà ở đây, trong câu thơ này ông Tú cảm thấy mình như một người “thừa”, một kẻ vô dụng và như một “thứ con” đặc biệt để bà Tú pahỉ nuôi riêng. Chế độ xã hội cũ đã sản sinh ra loại ông chồng đoảng, loại ông chồng “dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm” như ông Tú không ít. Toát lên qua hai câu thơ là một niềm htơng cảm của ông Tú dành cho vợ trước đức hi sinh, tần tảo của bà; đồng thời là một lời tự trách mình vì thân làm chồng mà để vợ gánh vác việc gia đình đồng thời còn thấp thoáng niềm tự hào về vợ của mình khi làm lụng vất vả để “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Mặc dù, đó là một ông chồng không phải nhưng bằng lối văn dí dỏm, tình cảm chân thành, nhận ra được sự vất vả của vợ, tỏ ra biết nhận lỗi, biết đền bù lại bằng cái tình, bằng tấm lòng nên người đọc không hề trách mà ngược lại có chút thông cảm đối với “ông chồng’ này.

Tình thương vợ được thể hiện trọn ven trong hai câu thơ 3, 4:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

Hai câu thơ gợi lên cảnh làm ăn vất vả, tội nghiệp cuat bà Tú. Chẳng hay, ông Tú đã đón nhận câu ca dao “Con cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”, từ bào giờ? Qua tiếng ru con cua một bà mẹ láng giềng hay chính trong lời ru của bà cụ Nhuận đã đi vào tiềm thức của tế Xương? Chắc chắn từ “con cò lặn lội bờ sông”, hình ảnh những bà vợ Việt Nam ngàn xưa trong xã hội cũ, ngược xuôi tần tảo, gian nan cực nhọc để nuôi chồng con cũng từ lâu đã đi vào hồn thơ giàu rung động của Tú Xương với bao nhiêu xót xa, thương cảm. Để giờ đây, trong lúc nghĩ đén bà Tú thì con cò ấy bỗng vụt dậy vỗ cacnhs bay vèo thi hứng “Thương vợ” của Tú Xương. Phép đảo ngữ “lặn lội thân cò” càng khắc họa rõ nét nỗi khổ cực, đức hi sin, sự chịu đựng của bà Tú. Hai từ “lặn lội” chen lên đứng đầu câu. Cảnh lặn lội lại càng “lặn lội”. Ca dao nói “con cò”, Tú Xương nói “thân cò”. Ý thơ cổ như xoáy sâu vào sự cực khổ. “Thân cò” gợi thân phận lẻ loi, yếu ớt, cô đơn và nó lại càng cô quạng, lạc lõng hơ khi đi cùng với từ “eo sèo”- một sự mặc cả, nhỏ nhoi, cô đơn, tội nhgiệp. Vì “năm con với một chồng”, vì “miếng cơm manh áo” mà bà Tú phải chen chúc với nhau trên những chuyến đò đưa khách sang sông. Chật hẹp, bấp bênh, mỏng manh, chơi vơi đến quá chừng! Và dường như sông nước càng mênh mông bao nhiêu thì cái độ chơi vơi, mỏng manh, bấp bênh đó lại càng tăng lên bấy nhiêu. Từ đó càng làm nổi bật tấm lòng “thương vợ” của Tú Xương và qua đó ông tỏ ra thấu hiểu hết những vất vả của bà Tú:

“Một duyên, hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công”.

Câu thơ như nói lên ý nghĩ của bà Tú. Cuộc đời như thế là duyên, mà cũng là nợ, duyên một thì nợ hai, thôi đành chịu theo số phận, không giám nề hà, không kể công gì nữa. Nhưng câu thơ còn làm nhứ đến câu ca dao:

“Một duyên, hai nợ, ba tình,

Chiêm bao lẩn khuất bên mình năm canh”.

Ngoài cái duyên, cái nợ còn có cái tình; cái tình nghĩa vợ chồng của bà Tú dành cho chồng mình. Thành ra nói “nợ” mà thực ra là nói “tình”, mà đã là tình thì ai lại kể công. Số từ tăng tiến: “một”, “hai”, “năm”, “mười” càng dồn nén sự chịu đựng của bà Tú, càng làm trào dâng lên nỗi niềm xót thương, cảm thông trước sự hi sinh vất vả, tảo tần của bà Tú.

Bài thơ kết bằng một cấu chửi- một câu chửi yêu:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không”.

Nhìn cuôck đời bà Tú như vậy có chửi cũng là lẽ tất yếu. Nhưng ở đây ai chửi? chửi ai? Và chửi cái gì? Thì cũng chỉ là ông Tú thương xót cho bà Tú mà chửi thay cho bà Tú. Ông Tú đã tự chửi mát mình về cái thói “ăn ở bạc”, cái tội “làm chồng mà hờ hững cùng như không”, làm chồng mà để vợ phải trăm cơ, nghìn cực như thế. Hai câu kết khép lại bài thơ vừa như là một lời chửi, vừa như là một lời than. Nhà thơ tự phán xét chính mình, tự trách mình và tha cho hoàn cảnh của vợ. Câu thơ cũng chỉ ra nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ của bà Tú là do “thói đời” bạc bẽo. “Thói đời” bạc bẽo đã biến ông Tú trở thành kẻ vô tích sự, chính vì thế ông trở thành gánh nặng cho vợ. Lời chửi vừa thể hiện nỗi niềm tâm sự cay đắng ch hoàn cảnh của ông Tú, vừa thể hiện nỗi xót thương, ngậm ngùi của ông Tú đối với vợ.

Bài thơ đã dựng lên hai bức chân dung: ông Tú và bà Tú. Bà Tú hiện lên phía trước, ông Tú khuất lấp phía sau. Vượt lên trên tất cả là tấm lobngf yêu thương, quí trọng và tri ân của ông Tú đối với người vợ tần tảo. Nhà thơ Xuân Diệu đã từng bình phẩm về bài thơ “Thương vợ” rằng: ” Thơ hay, hay ở ý tình; hay ở chữ, tiếng, hay ở sự việc; hay ở nhạc điệu: lặn lộ, eo sèo, thân cò, mặt nước, quãng vắng, đò đông, mỗi chữ đều tình cảm”. Qua đó, tấm lòng yêu thương, trân trọng cũng như những trăn trở, day dắt đã tạo nên nhân cách cao đẹp của Tú Xương, một con người dám sòng phẳng với bản thân, tự nhận ra thiếu sót của mình và không trút bỏ trách nhiệm.

Từ khóa tìm kiếm:

Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Của Tác Giả Tú Xương

Phân tích bài thơ Thương Vợ – Trong thời kỳ phong kiến người phụ nữ thường chịu nhiều thiệt thòi và không được chú ý nhiều. Một người phụ nữ sống trong thời kỳ phong kiến thường phải đeo nhiều xiềng xích bởi những lễ giáo. Người phụ nữ khi lấy chồng thì phải theo chồng, luôn phải tuân thủ tam tòng tứ đức những điều giáo lễ. Những người phụ nữ phong kiến phải chịu những nỗi đau về tinh thần và thể xác bởi trong quan điểm suy nghĩ của những nhà nho thời xưa luôn chỉ coi trọng người đàn ông và xem thường người phụ nữ. Trong suốt một chiều dài phát triển của nước ta chế độ phong kiến kéo dài đã làm ảnh hưởng rất nhiều tới suy nghĩ và lối sống của những con người trong giai đoạn đó,

Bài thơ “Thương Vợ” của nhà thơ Tú Xương là một trong những bài thơ ít ỏi hiếm hoi được viết để thương vợ, thương số phận của người phụ nữ phong kiến. Trong thơ ca cũng có nhiều tác phẩm xót thương cho thân phận người phụ nữ như Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm… nhưng chưa có bài thơ nào thể hiện nỗi lòng thương vợ như Tú Xương đã viết tặng vợ mình. Trong bài thơ của mình Tú Xương đã xây dựng một người phụ nữ vô cùng đảm đang, chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống. Khi một người phụ nữ chân yếu tay mềm nhưng lại là trụ cột gia đình nuôi đủ năm con và một người chồng mải lo đèn sách. Ngay từ những câu thơ đầu tiên của bài thơ tác giả đã nói lên sự vất vả cực nhọc của bà Tú

Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng

Sự khổ cực vất vả mà bà Tú phải gánh chịu vô cùng rõ ràng, một người vợ phải làm công việc buôn thúng bán bưng suốt ngày làm công việc của mình lo kế sinh nhai của cả gia đình. Từ mon sông gợi lên cho chúng ta về sự chênh vênh, một chút gì đó không an toàn bền vững, một sự so sánh tạo nên việc đặc biệt của một câu thơ vô cùng độc đáo thể hiện được sự vất vả của người phụ nữ. Đáng ra ông Tú mới chính là người trụ cột của gia đình. Ông phải là người lo lắng cho vợ của mình, cho các con của mình nhưng ông lại lo đèn sách công danh nên mọi việc trong ngoài đều một tay bà Tú gánh vác. Người phụ nữ xưa được ví như những hạt mưa khi rơi vào giếng thì hạnh phúc, chẳng may có ra ngoài đồng chịu cuộc sống nắng mưa khổ cực cũng phải ngậm cười chẳng thể nào dám kêu ca, hay phàn nàn gì được. Ông Tú hiểu được nỗi khổ cực của vợ mình nên ông đã viết bài thơ này để chia sẻ với vợ những đau khổ vất vả trong cuộc sống.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Hình ảnh bà Tú được chồng của mình ví như một cánh cò nhỏ bé mong manh, cô đơn một thân một mình lúc thì rạng sáng khi thì sẩm tối. Một mình thân cò gầy guộc với đôi quang gánh của mình buôn thúng bán bưng để lo lắng cho những người thân trong gia đình của mình có một cuộc sống bình thường, no đủ. Mọi kế sinh nhai đều dồn lên đôi vai gầy guộc của người phụ nữ nhỏ bé đó. Dù bà Tú chưa bao giờ kêu than chưa bao giờ dám oán trách chồng của mình. Bà vẫn luôn hài lòng hạnh phúc với cuộc sống hiện tại nhưng tự bản thân ông Tú lại cảm thấy có lỗi với vợ của mình, bởi đáng lẽ ra mọi việc trong gia đình lo toan mưu sinh phải do ông Tú gánh vác, bởi ông chính là người trụ cột, là người chồng người cha nhưng ông Tú lại không làm tròn trách nhiệm của mình nên ông có chút hối lỗi, ăn năn với vợ của mình.

Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công

Trong hai câu thơ này thể hiện được một bức chân dung của người phụ nữ vô cùng đảm đang, chịu thương chịu khó. Một người phụ nữ làm tất cả chỉ vì gia đình thân yêu của mình vì những người thân ruột thịt. Bà Tú luôn mong muốn mang lại hạnh phúc cho gia đình của mình, nên bà có làm gì cũng không bao giờ cảm thấy mệt mỏi, không quản ngại khó khăn mưa nắng. Một sự hy sinh thầm lặng nhưng vô cùng đáng để trân trọng hiểu được nỗi khổ của người phụ nữ đi bên đời mình nên ông Tú đã viết bài thơ “Thương vợ” nhằm nói hộ tiếng lòng của mình, nói lên sự tôn trọng biết ơn của ông Tú dành cho người vợ tào kha. Dù bà Tú chưa bao giờ dám kêu ca, hay phàn nàn gì khi cuộc sống quá nhiều khó khăn nhưng ông Tú vẫn hiểu nỗi vất vả của bà. Và chính ông đã nói ra hộ bà những sự vất vả khó khăn đó, từng lời thơ như một lời than thở dằn rặt của một ông chồng vì mải lo đèn sách nên đã không chăm sóc vợ con chu đáo để vợ của mình phải chịu nhều thiệt thòi

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không

Hai câu thơ kết thể hiện được sự oán trách chính mình của nhà thơ. Một lời tự phê phán của bản thân khi đã để vợ mình phải chịu nhiều vất vả. Nó cũng chính là tiếng chửi của tác giả dành cho những ông chồng vô tâm, không quan tâm tới những người phụ nữ sống quanh mình để cho vợ mình phải vất vả cực nhọc với cuộc sống. Bài thơ “Thương vợ” kết thúc với những câu thơ dí dỏm của tác giả Tú Xương nhưng thể hiện được tâm tư tình cảm của ông dành cho vợ mình. Một người chông luôn quan tâm luôn đồng cảm với vợ như Tú Xương chắc chắn không phải là người chồng hờ hững ăn ở bạc. Nhưng tác giả vẫn tự trách mình để thể hiện rõ thành ý và nỗi lòng của mình dành cho vợ.

Bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương với lời thơ giản dị, chân thành, mộc mạc nhưng lại có sức lay động lớn tới trái tim người đọc. Những lời thơ chính là những lời nhắc nhở của ông dành cho những người chồng ham chơi ham vui không biết quan tâm tới nỗi khổ của người phụ nữ, người vợ sống bên cạnh mình.

Thủy Tiên

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Tích Hình Tượng Ông Tú Qua Bài Thơ Thương Vợ trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!