Xu Hướng 2/2024 # Phân Tích Hình Tượng Con Hổ Trong Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Phân Tích Hình Tượng Con Hổ Trong Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Phân tích hình tượng con hổ trong bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ

Khát vọng tự do là cảm xúc mãnh liệt và chân chính luôn tồn tại trong tâm hồn mỗi một con người. Cảm xúc này cũng trở thành cảm hứng quen thuộc trong thơ ca. Với nhà thơ Thế Lữ, để diễn tả sâu sắc nỗi chán chường thực tại cũng như niềm khao khát tự do mãnh liệt, tác giả đã xây dựng hình tượng con hổ bị giam cầm trong vườn bách thú trong bài thơ “Nhớ rừng” để thể hiện điều này.

Trong bài thơ “Nhớ rừng”, hình tượng con hổ xuất hiện xuyên suốt với mạch cảm xúc chủ đạo và trung tâm, có sự chuyển biến theo không gian và thời gian. Mở đầu bài thơ và ở đoạn thơ thứ tư là cảm xúc uất hận khi sống trong hoàn cảnh bị giam cầm. Ở đoạn thơ tiếp theo, mạch cảm xúc chuyển biến sang tâm trạng hồi tưởng, hoài niệm nhớ về quá khứ oai phong, lẫm liệt chốn núi rừng. Đoạn thơ cuối cùng nói về khát vọng quay trở về giấc mộng ngàn ngày xưa gắn với sự xót xa trong hoài niệm.

Sống trong vườn bách thú, con hổ cảm thấy uất hận “Gặm một nỗi căm hờn trong cũi sắt/ Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua”, bởi vì nó vốn là chúa tể rừng xanh, vua của muôn loài nhưng giờ đây phải ở trong cũi sắt chật hẹp, và vị thế bị hạ thấp:

“Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi

Với cặp báo chuồng bên vô tư lự”

Xưa kia, con hổ là vua của các loài vật, nhưng giờ đây trở thành đồ chơi “làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi” mua vui trong mắt lũ người “ngạo mạn, ngẩn ngơ”. Nó không chỉ uất hận mà còn chán ghét, một lòng muốn chối bỏ cuộc sống thực tại tầm thường:

“Ghét những cảnh không đời nào thay đổi

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối

Hoa chăm , cỏ xén, lối phẳng, cây trồng

Dải nước đen làm suối, chẳng thông dòng

Len dưới nách những mô gò thấp kém

“Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,

Với khi thét khúc trường ca dữ dội”

Trong hồi ức của chúa tể sơn lâm, chốn núi rừng mới là ngôi nhà thật sự, là nơi xứng tầm với vị thế, sức mạnh của bản thân. Cảm xúc chủ đạo của bài thơ là “nhớ rừng” được thể hiện tập trung ở khổ thơ thứ hai và khổ thơ thứ ba. Vì thế trong hai đoạn thơ này, bức tranh núi rừng đã hiện lên với cảnh sắc huy hoàng thông qua nhịp điệu say mê, hứng khởi, lôi cuốn. Hình tượng con hổ “Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng” gợi lên vẻ đẹp lộng lẫy, kiêu sa. Núi rừng thật sự là nơi chúa tể sơn lâm bộc lộ hết mọi sức mạnh của bản thân

“Ta bước chân lên dõng dạc, đường hoàng

Ta biết ta chúa tể muôn loài”

Đại từ nhân xưng “ta” vang lên dõng dạc, đầy tự hào cho thấy con hổ ý thức được vẻ đẹp, sức mạnh phi thường của bản thân, nó ý thức được rằng chỉ có nó mới là chủ nhân của chốn núi rừng linh thiêng. Bởi vậy, khi trong tâm trí nó vẫn ôm ấp giấc mộng được thoát khỏi cảnh chật hẹp, tù túng để trở về nơi nó vốn thuộc về:

“Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn

Để hồn ta phảng phất được gần ngươi

– Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!”

Núi rừng bỗng hiện lên trước mắt và trở thành đối tượng để con hổ đối thoại, gợi lên khao khát tự do mãnh liệt, cháy bỏng. Tâm trạng của con hổ chính là ẩn dụ cho tâm trạng của tác giả trước hoàn cảnh đất nước bị xâm lược. Tất cả đã được thể hiện bằng hệ thống từ ngữ chọn lọc, phong phú và giàu sức gợi. Bài thơ được kết cấu theo hướng đối lập, tương phản gay gắt giữa cảnh tượng vườn bách thú, và cảnh núi rừng oai nghiêm đã làm nổi bật tâm trạng đau đớn, hoài niệm da diết của con hổ đối với quá khứ huy hoàng rực rỡ.

Như vậy, hình tượng con hổ xuất hiện xuyên suốt bài thơ với nỗi uất hận cuộc sống tù túng và hoài niệm da diết núi rừng linh thiêng gắn liền với khao khát tự do mãnh liệt. Đằng sau tâm trạng đó là lòng yêu nước thầm kín của người dân mất nước thuở ấy.

Nhại Thơ Thế Lữ “Hổ Nhớ Rừng “

Thư giản :  HỔ NHỚ RỪNG (2)

Khuyết danh

https://donghuongkontum.files.wordpress.com/2014/07/buon-ngoclan_fqm5.mp3

Đọc bài thơ của tác giả cũng một thời “Hổ Nhớ Rừng” như Thế Lữ, tôi không khỏi xúc động cảm thương; nhưng nghĩ lại tâm trạng của tác giả cũng là của chính tôi, nên một chút gì đó ngậm ngùi thân phận chiến sĩ thua trận nên hết thời. Văng vẳng tiếng gọi the thé từ trong bếp: nhà không quét, không hút bụi, chén không rữa, suốt ngày ôm điện thoại rù rì với mấy thằng cha YAMAHA hoặc ôm ti vi xem mấy chục thằng giành nhau một trái banh.(!) Dù cọp già bảy bó gập, nhưng chưa bị lột da, bẻ móng, hay gom xương làm cao hổ cốt, thì ta vẫn hy vọng một ngày về, “chưa biết ai thắng ai”? T10T

Ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâu !!!

Ngậm một khối u hoài bên cạnh vợ , Ta lờ khờ và lớ ngớ ngu ngơ Giận vợ già quá ngạo mạn khó ưa . Giương mắt ….lão nhìn ta như con trẻ

Nay già rồi chịu gông cùm lép vế Để mụ già nổi hứng mụ hành chơi ! Chịu ngang bầy cùng lũ chó dở hơi , Thường đẩy xe sau mỗi lần đi chợ

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ , Thưở tung hoành hống hách những ngày xưa . Đất Saigon nhớ biết mấy cho vừa , Phố xá rộn ràng gái trai dìu dặt .

Ngoài chiến trận ta vẫy vùng ngang dọc , Thật kiêu hùng quyết bảo vệ quê hương . Có toàn dân và em gái hậu phương , Nàng ngưỡng mộ tôn ta làm thần tượng

Đi bên ta nàng nhẹ như cánh phượng , Nép vào ta nhờ che chở chở che Ta hiên ngang dìu em dưới hàng me Hoặc trốn nắng vào ci nê hú hí

Chiều công viên cùng nàng mừng cho có ! Hoặc đêm về ngồi ngắm ánh trăng trong . Nàng hiền khô yếu đuối gọn trong lòng . Để từ đó yêu nàng vô bờ bến …

Đâu những yêu kiều dịu dàng thương mến Tiếng thu ca ru giấc ngủ êm đềm , Đâu những chiều có chỗ đứng bên thềm . Ta chết cứng trong tóc mềm môi ướt .

Để ta chiếm lấy phần riêng bí mật . Than ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâu !! Để giờ đây ta ngậm một mối sầu , Ghét thế sự con người nhiều thay đổi .

Những cảnh đời nhiều tầm thường giả dối . Bao bon chen bao gian dối lọc lừa . Nàng của ta cũng thay đổi bao mùa , Hay đanh đá hay chanh chua quát tháo !

Mắt nai tơ giờ trợn trừng thao láo ! Đôi môi mềm cong cớn hết tươi cười , Mỗi cuối tuần lãnh check bảo “Đưa tôi” Ta ngửa mặt “Thế thời thời phải thế” !!!!!

Nơi xứ Mỹ thôi ta đành lép vế Đành ngu ngơ đành nhẫn nhục chờ thời , Nhưng càng lâu ta càng thấy ..hết thời , Cho đến lúc tự nhiên đâm ra nhát

Để giờ đây những đêm trường ngao ngán Ta lâu ngày… phở tái vẫn thèm ăn, Vẫn đợi chờ gió đến để ..bẻ măng , Nằm phục kích ..chờ nai vàng nộp mạng ????

Ta nhớ lại những ngày xưa ngang dọc Mà giờ đây ôm hận suốt đêm thâu Hãy vùng lên có chỗ đứng ngẩng đầu Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt.

Hãy vươn lên dù chỉ còn chút sức, Hãy la to cho chằng lửa giật mình… …………………………………………………. Nói cho đã rồi sao lại nín thinh Vì vợ mới kêu ta ….đi rửa chén Thì rửa thôi (Dzậy thâu)!!!

Tác gỉả:  không Biết

PHỤ LỤC

Nhớ Rừng

Tác giả:

Thế Lữ

Tặng Nguyễn Tường Tam (Lời con Hổ ở vườn Bách thú)

Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt, Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua. Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ, Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi. Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi, Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ, Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa. Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già, Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi, Với khi thét khúc trường ca dữ dội Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng, Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng, Vờn bóng âm-thầm, lá gai, cỏ sắc. Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc Là khiến cho mọi vật đều im hơi. Ta biết ta chúa tể muôn của loài Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối, Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan? Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới? Đâu những bình minh cây xanh nắng gội Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng? Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật? Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu Ghét những cảnh không đời nào thay đổi, Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối: Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng; Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng Len dưới nách những mô gò thấp kém; Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ! Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị, Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa Nơi ta không còn được thấy bao giờ! Có biết chăng trong những ngày ngao ngán Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn Để hồn ta phảng phất được gần ngươi Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

1936 THẾ LỮ

Share this:

Twitter

Facebook

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Phân Tích Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ

Thế Lữ là bút danh của Nguyễn Thứ Lễ. Ông làm thơ, viết truyện, viết kịch, làm đạo diễn. Chủ tịch Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Phương diện nào ông cũng có thành tựu xuất sắc.Thế Lữ là thi sĩ tiên phong, được ngợi ca là Đệ nhất thi sĩ trong phong trào “Thơ mới” (1932-1941). Tác phẩm thơ: “Mấy vần thơ” thể hiện một “hồn thơ rộng mở” với cảm hứng lãng mạn dào dạt, nồng nàn, say đắm và thiết tha. Bài thơ “Nhớ rừng” được Thế Lữ viết năm 1934, in trong tập “Mấy vần thơ” và xuất bản năm 1935. Mượn lời con hổ bị nhốt ở vườn Bách thú, tác giả thể hiện tâm sự u uất, căm hờn và niềm khao khát tự do mãnh liệt của con người bị giam cầm, nô lệ.

Bị nhốt trong cũi sắt, căm hờn uất hận đã chứa chất thành khối, gậm mãi mà chẳng tan, càng gậm càng cay đắng. Chỉ còn biết nằm dài bất lực, đau khổ. Bị chế giễu, bị nhục nhằn tù hãm, trở thành thứ đồ chơi cho lũ người ngạo mạn, ngẩn ngơ. Đau khổ nhất là chúa sơn lâm nay bị tầm thường hóa, vị thế bị xuống cấp:

Đó là một nét tâm trạng điển hình đầy bi kịch của chúa sơn lâm khi bị sa cơ, thất thế, bị giam cầm. Trong hoàn cảnh lịch sử đất nước ta khi bài thơ ra đời (1934) thì nỗi tủi nhục, căm hờn, cay đắng của con hổ cũng đồng diệu với bi kịch của nhân dân ta trong xích xiềng nô lệ sống trong tăm tối “nhơ nhuốc lầm than”.

Tình thương nỗi nhớ sống mãi, chẳng bao giờ quên. Nhớ thuở tung hoành, nhớ cành sơn lâm bóng cả cây già. Nhớ khúc nhạc rừng hùng tráng dữ dội. Chữ “nhớ”, chữ “với” và cách ngắt nhịp (4-2-2, 5-5, 4-2-2…) biến hoá, cân xứng đã làm dội lên nỗi nhớ tiếc khôn nguôi, nhớ cồn cào, nhớ da diết. Sự phong phú về nhạc điệu đã khắc họa đời sống nội tâm vô cùng mạnh mẽ của một nhân vật phi thường từng có một quá khứ oanh liệt. Một tấm thán như sóng cuộn nhịp nhàng. Một bước chân cao sang đầy uy lực đầy dõng dạc và đường hoàng. Một cặp mắt thần khi “đã quắc” thì “mọi vật đều im hơi”. Một sức mạnh của uy quyền bất khả xâm phạm.

Đây là 10 câu thơ hay nhất bài thơ. Sau nỗi nhớ một thuở vàng son, một thời oanh liệt, bỗng chúa sơn lâm chợt tỉnh mộng, trở về thực tại với cái cũi sắt, đau đớn và cay đắng vô cùng. Như một trái núi sụp đổ xuống, mãnh hổ cất lời than. Sự kết hợp giữa cảm thán với câu hỏi tu từ làm dội lên một lời thơ, một tiếng than của “hùm thiêng sa cơ”, của một kẻ phi thường thất thế. Đó cũng là tiếng thở dài của một lớp người khao khát tự do ngày ấy.

“Nhớ rừng” là bài thơ tuyệt bút. Nó được xếp vào loại 10 bài thơ hay nhất của Thơ mới. Hình tượng tráng lệ, kì vĩ. Lối diễn tả và sử dụng ngôn ngữ biến hóa. Chất nhạc đa thanh và phức điệu tạo nên những vần thơ du dương. Thơ nên họa nên nhạc như cuốn hút và làm mê say hồn ta. Hình tượng chúa sơn lâm với nỗi nhớ rừng được nói đến với bao “lớp lớp sóng dồi”. Trong nỗi đau sa cơ, thất thế có niềm kiêu hãnh tự hào. Bài thơ như một lời nhắn gửi thiết tha về tình yêu thương đất nước. Tư tưởng lớn nhất của bài thơ là nói lên cái giá tự do và khát vọng tự do.

Phân Tích Nội Dung Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ

Thế Lữ không chỉ là người cắm ngọn cờ chiến thắng cho Thơ mơi mà còn là người tiêu biểu đầy đủ nhất cho Thơ mới chặng đầu (1932 – 1935).

Tự cho mình là người lữ khách của thế gian (bút danh Thế Lữ có ý nghĩa đó), ông đi tìm cái đẹp ở mọi nơi. Nhưng thực ra nhà thơ Thế Lữ đâu chỉ ‘xuôi ngược để vui chơi’ như ông nói, thơ Thế Lữ vẫn mang nặng tâm sự thời thế, đất nước. Bài thơ ‘Nhớ rừng’ của ông mang nặng tâm sự căm hờn, u uất và niềm khao khát tự do mãnh liệt của những người phải sống trong cảnh ‘nhục nhằn, tù hãm’.

Bài thơ liền mạch cảm xúc, được tác giả ngắt thành 5 đoạn, tuy vậy bài thơ có ba ý lớn:

1. Tâm trạng căm hờn, uất hận và nỗi ngao ngán của con hổ trong cảnh tù hãm ở vườn bách thú. (đoạn thơ đầu)

2. Hình ảnh ‘giang sơn hùng vĩ’ thuở ‘oanh liệt’ của con hổ được tái hiện trong nỗi nhớ da diết của nó (2 đoạn thơ tiếp theo).

3. Nỗi chán ghét hiện tại tầm thường, giả dối và lời nhắn gửi thống thiết của con hổ tới ‘cảnh nước non hùng vĩ’ xưa kia (phần còn lại).

1) Tâm trạng căm hờn, uất hận và nỗi ngao ngán của con hổ trong cảnh tù hãm ở vườn bách thú:

Bài thơ là lời con hổ trong vườn bách thú. Tác giả đã khai thác một đề tài đầy kịch tích, tạo ra âm hưởng bi tráng cho bài thơ. cảnh ngộ của con hổ giờ đây là cảnh ngộ của một thân tù hèn mọn, nhưng hồn vía vẫn là hồn vía của một vị chúa sơn lâm luôn hướng về một thời oanh liệt.

Đề tài ấy rất phù hợp với bút pháp lãng mạn: thiên về việc diễn tả nỗi khao khát vươn tới sự cao cả, đẹp đẽ trong mộng tưởng đắm say.

a) Tâm trạng căm hờn, uất hận và nỗi ngao ngán của con hổ trong cảnh tù hãm ở vườn bách thú được tác giả miêu tả rất ấn tượng:

Tác giả đã mô tả nỗi căm hờn, uất hận và nỗi ngao ngán của con hổ trong cảnh tù hãm ở vườn bách thú với mình thức đối lập giữa vẻ bề ngoài và thế giới nội tâm của mãnh thú.

Nhìn bề ngoài thì hình như vị chúa tể rừng xanh này đã hết thời đập phá hung dữ, nay đang thấm thìa sự bất lực và ý thức được tình thế đắng cay của mình, cam chịu cảnh gậm nhấm ‘một khối căm hờn’, ‘nằm dài trông ngày tháng dần qua’, mặc cho thân thể bị tụt xuống ngang cấp với những loài hèn kém.

Nhìn bề ngoài có cảm giác con hổ này đã được thuần hoá, cam chịu ‘làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi’ để mua vui cho người và cam chịu ‘ngang bầy cùng bọn gấu dỡ hơi – Với cặp báo chuồng bên vô tư lự’.

Nhưng thực ra, con mãnh thú vẫn ngùn ngụt lửa ‘căm hờn’, ‘uất hận’. Âm điệu câu thơ mở đầu gợi lên giọng gầm gừ, tức giận của con hổ. Sức nặng âm hưởng như dồn vào từ ‘căm hờn’ đứng giữa câu thơ. Câu thơ nhiều vần trắc diễn tả cái dằn vặt căm hờn của con hổ. Nỗi căm hờn như đúc lại thành hình thành khối (‘khối căm hờn’). Không phải ‘ngậm một khối căm hờn’ mà là ‘gậm’, nghĩa là không cam chịu, âm thầm mà dữ dội như muôn nghiến nát, nghiền tan ‘khối căm hờn’.

Cách tự xưng của con hổ vẫn là cách tự xưng kiêu hãnh của vị chúa tể quyền uy. ‘Ta… ‘ bị giam hãm, nhưng tiềm tàng trong con người nó vẫn còn nguyên sức mạnh linh thiêng kết tinh sức mạnh huyền bí của rừng thẳm (‘oai linh rừng thẳm’).

Cái nhìn của nó đối với mọi đối tượng chung quanh vẫn là cái nhìn của kẻ bề trên: với con người, kẻ đã cầm tù nó thì chỉ là ‘lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ’, khiến nó ‘khinh’ và nhìn với con mắt giễu cợt: ‘giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm’! Còn đối với bọn gấu, dưới con mắt của vị chúa sơn lâm, chỉ là một bọn ‘dở hơi’; nó thương hại ‘cặp báo chuồng bên vô tư lự’, nhởn nhơ trong cảnh nồ lệ.

Cùng với nỗi ‘căm hờn’, ‘uất hận’ còn có nỗi ngao ngán khôn cùng của con hổ trong cảnh tù hãm. Ngao ngán vì trong lòng ngùn ngụt căm hờn, uất hận,

vẫn còn nguyên sức mạnh ‘oai linh rừng thẳm’… mà đành bất lực ‘nằm dài trông ngày tháng dần qua’, mà phải dằn lòng ‘bị nhục nhằn, tù hãm’, để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi’.

b) Tâm trạng đó của con hổ rất gần gũi với tâm trạng chung cửa người dân Việt Nam mất nước, nô lệ lúc đó:

Đoạn thơ mở đầu đã chạm ngay vào nỗi đau mất nước nỗi đau của người dân nô lệ lúc bây giờ. Họ thấy nỗi căm hờn, uất hận của con hổ cũng chính là tiếng lòng mình, cả nỗi ngao ngán của con hổ cũng là nỗi ngao ngán của người dân trong cảnh đời tối tăm, u buồn bao trùm khắp đất nước.

Bài thơ vì vậy có tiếng vang rộng rãi và ít nhiều có tác dụng khơi dậy tình cảm yêu nước, khao khát độc lập, tự do của người dân Việt Nam khi đó.

2) Hình ảnh giang sơn hùng vĩ thời oanh liệt của chúa sơn lâm được tái hiện trong nỗi nhớ da diết được miêu tả rất hình tượng:

Cũi sắt của vườn bách thú chỉ giam được thân xác con hổ, còn hồn vía của chúa sơn lâm vẫn trở về ‘nơi giống hầm thiêng ta ngự trị’. Qua tâm hồn của hổ, rừng xưa núi cũ hiện lên thật hùng vĩ, đắm say.

a) Hùng vĩ, đắm say với ‘bóng cả, cây già ‘ đầy vẻ thâm nghiêm.

Hùng tráng với những âm thanh dữ dội: ‘tiếng gió gào ngàn’, ‘giọng nguồn hét núi’, ‘thét khúc trường ca dữ dội’.

Những động từ rất mạnh và gợi, tạo nên khúc ca dữ dội, hùng tráng của rừng núi: (‘gào’, ‘hét’, ‘thét’).

Cảnh rừng núi càng trở nên linh thiêng, hùng vĩ vì cái vẻ hoang vu, bí ẩn của nó: quê hương con hổ là ‘chốn thảo hoa không tên không tuổi’, một xứ sở vô danh tôn thêm vẻ bí ẩn… Nơi ngự trị của con hổ là ‘hang tối’ mịt mùng, lại thêm một vẻ bí ẩn, rùng rỢn!

Núi rừng đại ngàn vốn đã hùng vĩ, linh thiêng, bí ẩn, trong nỗi nhớ da diết của thân tù càng trở nên kì dị, bí ẩn, linh thiêng hơn. Cái gì cũng lớn lao, phi thường mãnh liệt, dữ dội, trước khi để chúa sơn lâm hiện ra, Thế Lữ đã dựng cảnh để gỢi không khí oai hùng. Một nền cảnh thật xứng với chúa sơn lâm!

b) Tác giả đã để vị chúa sơn lâm xuất hiện rất hào hùng:

Đúng vào lúc tiếng gào thét của thiên nhiên ở đỉnh điểm dữ dội thì chúa sơn lâm xuất hiện. Đầu tiên chỉ thấy bàn chân hổ với những bước chân ‘dõng dạc, đường hoàng’. Những câu thơ có giá trị như một đoạn phim cận cảnh quay chi tiết: sau bước chân là tấm thân xuất hiện từ từ nên càng oai hùng, to lớn. Những câu thơ tám chữ, nhịp điệu câu thơ uyển chuyển với những từ láy (‘nhịp nhàng’, ‘dõng dạc’, ‘âm thầm’… ) gợi lên vẻ mềm mại của tấm thân con hổ.

Tác giả đã chọn lựa những động từ phù hợp để miêu tả những động tác của bàn chân, tấm thân, ánh mắt của con hổ (‘bước’, ‘lượn’, ‘vờn’, ‘quắc’… ) khiến cho vị chúa sơn lâm hiện ra với một tư thế, một vẻ đẹp oai phong, lẫm liệt, đầy sức mạnh, vẻ oai phong của vị chúa tể đã chế ngự hoàn toàn cảnh vật ‘khiến cho mọi vật đều im hơi’. Con hổ đầy kiêu hãnh khi tự khẳng định địa vị cao quý của mình.

‘Ta biết ta chúa tể cả muôn loài’

3) Nỗi ngao ngán, u uất trước thực tại và lời nhắn gửi thống thiết tới cảnh ‘nước non hùng vĩ’ xưa kia của con hổ (2 đoạn thơ cuối).

Dưới con mắt của mãnh hổ, cảnh ở vườn bách thú là những cảnh ‘tầm thường, giả dối’. ‘Tầm thường giả dối’ vì đó là cảnh nhân tạo, do con người sửa sang; xếp đặt, tỉa tót, chứ không phải cảnh hoang dã, tự nhiên của đại ngàn cao cả, âm u. ‘Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng’ đối lập hẳn với ‘cảnh sơn lâm bóng cả, cây già’, với ‘chốn thảo hoa không tên không tuổi’. ‘Dăm vầng lá hiền lành’ đối lập với ‘lá gai, cỏ sắc’. ‘Dòng nước đen giả suối chẳng thông dòng’ đối lập với dòng suối đẫm ánh trăng…

a) Con hổ vô cùng chán ghét những cảnh ‘tầm thường, giả dối’ ấy. Chán ghét vì nó đơn điệu, tẻ nhạt, ‘không đời nào thay đổi’.

Cách ngắt nhịp gấp, các sắc thái diễu nhại của từ ngữ (‘len dưới nách’, ‘thấp kém’, ‘cũng học đòi bắt chước’… ) khiến cho đoạn thơ toát lên nỗi bực dọc, khinh thường, chán ghét cao độ của con hổ đối với thực tại chung quanh.

Con hổ trở về với niềm uất hận vì tù túng, nhưng uất hận hơn là phải chấp nhận cái tầm thường, giả dối. Hổ nhớ rừng là nhớ tự do, nhưng còn là nhớ cái cao cả, cái chân thực, tự nhiên. Đoạn thơ là linh hồn của hổ, nhưng cũng là linh hồn của thơ lãng mạn: đó là cảm hứng vươn tới cái cao cả, cái chân thực, cái đẹp, vượt lên trên sự tầm thường, giả dối.

Con hổ cất lời nhắn gửi tới ‘nước non’ cũ, một non nước ‘oai linh, hùng vĩ’. Nơi ‘non nước’ cũ là nơi ngày xưa hổ có chủ quyền (‘nơi giống hầm thiêng ta ngự trị’), nơi ngày xưa có cả tự do (‘nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa’).

Nội dung lời nhắn gửi là nỗi lòng quặn đau, ngao ngán, căm hờn, u uất vì đang bị cầm tù, mất tự do, mất chủ quyền, đó còn là tấc lòng mãi mãi gắn bó, thuỷ chung với ‘non nước’ cũ (‘Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn. Để hồn ta phảng phất được gần ngươi’), nó không hề khuất phục kẻ thù và hoàn cảnh, nó

không bao giờ lãng quên, và phản bội ‘non nước’ xưa. Lời nhắn gửi mà như một lời thề son sắt, thuỷ chung.

Phải chăng đó cũng là nỗi lòng, là tấm lòng của người dân đất Việt đương thời chán ghét, u uất trong cảnh đời nô lệ mà vẫn son sắt, thuỷ chung với giống nòi, non nước?

Lời thơ thống thiết. Câu thơ kết là tiếng vang vọng sâu thẳm của tấm lòng yêu nước.

Phân Tích Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ (Có Dàn Ý Chi Tiết)

Bài thơ Nhớ rừng là một bài thơ khá độc đáo của Thế Lữ bởi vì nhân vật chính trong bài thơ này là một con hổ. Tuy nhiên, ẩn chứa đằng sau cái khát khao được trở về rừng của con hổ chính là tâm sự của một nhà thơ yêu nước không chịu chấp nhận sống cuộc đời nô lệ.

I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Nhớ rừng

– Giới thiệu về nhà thơ Thế Lữ và bài thơ Nhớ rừng.

– Thế Lữ là ngọn cờ đầu của phong trào Thơ mới, là người mở đường cho phong trào Thơ mới.

– Nội dung bài thơ xoay quanh nhân vật trung tâm là con hổ nhằm làm toát lên vẻ đẹp của tâm hồn con người yêu nước.

2. Thân bài phân tích bài thơ Nhớ rừng

Đoạn thơ 1:

– Tâm trạng của con hổ trong cảnh bị giam cầm ở trong vườn bách thú.

– Sự chán chường, ngao ngán.

– Thái độ ngạo mạn, khinh thường “lũ người”.

– Khinh cả những con vật bị nhốt ở xung quanh.

Đoạn thơ 2, 3:

– Nỗi nhớ rừng da diết, khôn nguôi của con hổ.

– Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già.

– Nhớ sự tự do và sự oai hùng của bản thân mình nơi rừng xanh.

Đoạn 4, 5:

– Khinh biệt khung cảnh trong rừng xanh.

– Một tiếng than vọng về phía rừng xanh như một nỗi niềm khao khát tự do.

– Khái quát về bài thơ Nhớ rừng và nêu cảm nhận của em về bài thơ này.

II. Bài làm phân tích bài thơ Nhớ rừng

Nhà thơ Thế Lữ là một trong những nhà thơ tiên phong cho phong trào Thơ mới. Những sáng tác của ông ghi một dấu ấn đậm nét trong nền văn học nước nhà. Trong số đó, bài thơ Nhớ rừng được đánh giá là một bài thơ xuất sắc cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện. Với thể thơ 8 chữ, nội dung, cảm xúc nói đến trong bài được bộc lộ một cách sâu sắc. Ngôn ngữ trong bài dễ hiểu nên người đọc cũng rất dễ để cảm nhận.

Hổ vốn là chúa tể của sơn lâm. Chúng oai phong, dũng mãnh với tiếng gầm khiết bất cứ con vật nào nghe thấy cũng phải sợ hãi. Ấy vậy mà nay nó phải ngậm nỗi căm hờn, không thể làm gì được khi bị nhốt trong chuồng ở vườn Bách thú:

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt

Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua

Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ

Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm

Thay vì đi lại trong rừng xanh và tỏ vẻ oai linh nơi rừng thẳm thì nay con hổ phải nằm dài trong cũi sắt với một sự ngao ngán. Nó chẳng có việc gì khác ngoài việc trông cho ngày tháng dần qua. Câu thơ thể hiện rõ sự khinh bỉ của lũ người ngoài kia. Chúng ngạo mạn, ngẩn ngơ và chỉ biết giường cặp mắt nhỏ bé và diễu cợt con hổ, diễu cợt oai linh của rừng thẳm. Ức chế dồn nén nhưng con hổ lại không làm được gì ngoài cam chịu:

Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm

Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi

Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi

Với cặp báo chuồng bên vô tư lự

Tủi nhục, uất hận rồi cuối cùng là cam chịu số phận. Đó chính là tâm trạng của con hổ lúc này. Tuy nhiên, sự cam chịu chỉ là biểu hiện bên ngoài. Trong lòng nó vẫn không chấp nhận việc mình trở thành thứ đồ chơi trong cặp mắt của thiên hạ. Ở đây, những từ ngữ căm hờn, lũ người kia khiến người đọc cảm nhận như tác giả đang ám chỉ bọn thực dân đang nhăm nhe xâm lược nước ta, chúng khiến cho người dân căm hờn.

Cùng với niềm uất hận của mình, con hổ khinh ghét tất cả những thứ xung quanh. Với nó môi trường mà người ta cố tạo ra chỉ là một sự giả tạo chứ không phải rừng xanh thật nơi đáng lẽ nó phải được sống. Nó ghét từ:

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối

Cho đến:

Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng

Len dưới nách những mô gò thấp kém

Những thứ giả tạo ấy càng khiến nó nhớ hơn cảnh rừng xanh hùng vĩ ngoài kia. Nơi ấy nó đã từng có một quá khứ vàng son và đầy oanh liệt. Nó nhỡ những ngày tháng đẹp đẽ ấy:

Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả cây già

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi

Với khi thét khúc trường ca dữ dội

Ở chốn thiên nhiên hùng vĩ ấy, con hổ xuất hiện như một vị chúa tể sơn lâm. Bước chân đầy dũng mãnh, đôi mắt sáng quắc như mắt thần có thể soi rọi cả hang tối. Nó là chúa tể của rừng xanh và nó có quyền năng khiến những con thú khác phải im lặng. Những thứ ấy giờ đây không còn nữa, chính bởi vậy mà lúc này đây nó thấy nhớ rừng xanh tới cháy bỏng. Nó thèm khát được trở lại cuộc sống như trước đây:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan

Trước đây, thay vì nằm dài đợi ngày dần qua thì nó có thể ngủ ngon khi bình minh đang lên, vui vẻ chờ đợi mặt trời tắt. Thế nhưng với nó bây giờ tất cả những điều ấy đã thành dĩ vãng.Giờ đây, nó chỉ còn biết cất lên một tiếng “Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu. Từ chỗ căm uất cho số phận bị sa cơ, con hổ càng trở nên luyến tiếc cho quá khứ oai hùng của mình. Chính bởi vậy mà nó căm phẫn cuộc sống giả dối đang diễn ra xung quanh:

Ghét những cảnh không đời nào thay đổi

Những cảnh sửa sang, tầm thường giả dối

Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng

Tất cả những thứ ấy chẳng qua cũng chỉ là bắt chước lại rừng xanh mà thôi. Càng khinh bạc cuộc sống thực tại bao nhiêu nó lại càng khao khát được trở về rừng xanh bấy nhiêu, trở về với cuộc đời tự do và phóng khoáng, để được thoải mái vẫy vùng, được chạy trên những cánh đồng, được tham gia vào những cuộc rượt đuổi, được những con vật khác tỏ vẻ khúm núm và sợ hãi. Với nó, đó là một giấc mộng ngàn to lớn. Mộng chỉ là mộng và nó giờ chỉ biết than vãn với đất trời mà thôi.

Bài thơ đã thể hiện rõ khuynh hướng của phong trào Thơ mới đó là muốn thoát ly thực tại, hướng đến một cuộc sống tự do. Bài thơ không chỉ là lời con hổ mà còn là tâm trạng của cả một thế hệ hanh niên lúc bấy giờ.

Thu Thủy

Bức Tranh Tứ Bình Trong Bài Thơ “Nhớ Rừng ” Của Thế Lữ

Bức tranh tứ bình trong bài thơ “Nhớ rừng ” của Thế Lữ

          Bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ không chỉ là một “khúc trường ca dữ dội” thể hiện tâm trạng vĩ đại của chúa sơn lâm mà còn là một họa phẩm hoành tráng từng bước làm nổi hằn lên trên mặt bằng của câu chữ hình tượng vị “chúa tể cả muôn loài”. Tính tạo hình được thể hiện rất đặc sắc trong bài thơ đặc biệt là thông qua bức tranh tứ bình.

Tứ bình là một lối tạo hình quen thuộc từ cổ điển. Người xưa thường khái quát một hiện thực toàn vẹn nào đó vào bộ tranh gồm bốn bức. Cho nên tự thân tứ bình là một cấu trúc, một chỉnh thể, một thế giới. Thời gian thì Xuân Hạ Thu Đông, thảo mộc thì Tùng Trúc Cúc Mai, nghề nghiệp thì Ngư Tiều Canh Mục, nghệ thú thì Cầm Kỳ Thi Họa.v.v… Nảy sinh từ hội họa, về sau tứ bình xâm nhập vào nhiều nghệ thuật khác. Người đọc thơ có thể thấy ở Chinh phụ ngâm, những đoạn như nỗi nhớ chồng của nàng chinh phụ diễn ra trọn vẹn khi “trông bốn bề”, mỗi bề là một phía, một cung bậc, một nông nỗi của nhung nhớ. Tâm trạng buồn nản, hãi hùng của Thuý Kiều trước lầu Ngưng Bích cũng diễn thành tứ bình với điệp khúc “ buồn trông”… Vậy, dùng tứ bình thì chưa phải là gì thật đáng nói. Đáng nói là: cả bốn bức tứ bình ở đây đều là những chân dung tự họa khác nhau của cùng một con hổ. Nó đã khái quát trọn vẹn về cái “thời oanh liệt” của chúa sơn lâm.

                                  Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối                                   Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ?                                   Đâu những chiều mưa chuyển bốn phương ngàn                         &nbsp 2000 ;         Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới ?                                   Đâu những bình minh cây xanh nắng gội                                   Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng ?                                   Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng                                   Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt                                   Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật ?           Đọc đoạn thơ ta dễ thấy đây là đoạn tuyệt bút của “ Nhớ rừng” mà tiêu biểu nhất là lối tạo hình bằng thơ. Bốn bức là bốn nỗi hoài niệm đầy tiếc nuối, uất hận. Đồng thời, là bốn câu hỏi mà giọng điệu càng lúc càng dữ dằn. Mỗi bức một khung cảnh, một gam màu, một dáng điệu của vị “chúa tể cả muôn loài”.

           Bức thứ nhất thật thi vị :                           Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối                          Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan? Gam màu vàng lóng lánh của ánh trăng in trên suối vắng. Đối với con hổ giờ đang bị giam cầm trong cũi sắt, đó không chỉ là những kỷ niệm lấp lóa trăng vàng, mà thực sự là những “đêm vàng” – những kỷ niệm được đúc bằng vàng ròng – không bao giờ còn có lại. Chúa sơn lâm hiện ra như nhà thi sĩ của chốn lâm tuyền, với cử chỉ uống ánh trăng tan đầy thơ mộng.    Bức thứ hai, chúa sơn lâm hiện ra như một minh đế trước giang sơn của mình :                         Đâu những chiều mưa chuyển bốn phương ngàn

                        Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới? Đêm trăng đã nhường chỗ cho chiều mưa. Gam vàng đã chuyển qua gam xám bạc điểm ánh tươi xanh. Đấng vương chủ của chốn rừng già đang phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh vương quốc đương thay da đổi thịt dưới sự trị vì của mình. Trang nghiêm, ưu tư, và đầy kiêu hãnh.            Bức thứ ba, chiều mưa đã chuyển sang rạng đông, nền tranh đã rạng rỡ cái gam màu thắm nắng bình minh. Chúa sơn lâm hiện trong dáng điệu một lãnh chúa cứ nghiễm nhiên ườn mình trong giấc ngủ trễ tràng khi ngày đã lên mà thụ hưởng cái lạc thú cung – đình – rừng – xanh của mình:                         Đâu những bình minh cây xanh nắng gội                         Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng? Đọc câu thơ ta có thể hình dung: cây xanh nắng gội là màn trướng, còn chim chóc như những bầy cung nữ đang hân hoan ca múa quanh giấc nồng của hổ vương .             Bộ tứ bình khép lại bằng bức cuối cùng, cũng là bức ấn tượng hơn cả :                         Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng                         Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt                         Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật? Giọng điệu không còn là thở than, mà đã thành chất vấn đầy giận dữ và oai linh đối với quá khứ mà cũng là đối với hiện tại. Tương ứng với giọng điệu, chúa sơn lâm hiện ra cũng với một tư thế hoàn toàn khác: tư thế kiêu hùng của một bạo chúa. Nền cảnh thuộc gam màu máu. Mấy chữ “lênh láng máu” thật dễ sợ! Qua cảm nhận của chúa sơn lâm, ánh mặt trời lúc hoàng hôn đỏ rực giống hệt sắc máu lênh l&aacu 2000 te;ng. Trong chốn thảo hoa không tên tuổi ấy dường như chỉ có mặt trời là đối thủ duy nhất và xứng đáng phô bày quyền uy sánh cùng với hổ. Nhưng mảnh mặt trời kia cũng đang hấp hối trong tư thế gục ngã, lênh láng máu. Dưới con mắt mắt ngạo mạn và khing bỉ của con mãnh thú, ngôi vị cao cả của mặt trời cũng không là gì, mặt trời kia củng chỉ là những mảnh vụn tầm thường. Quyền uy của chúa sơn lâm như càng bao trùm cả vũ trụ  mà mặt trời cũng phải dần lùi bước. Đến câu “Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”, bức tứ bình cuối cùng dường như đã thể hiện được bàn chân ngạo nghễ siêu phàm của con thú như dẫm đạp lên bầu trời, cái bóng của nó dường như đã trùm kín cả vũ trụ. Hình ảnh con hổ vờn bóng, như dẫm nát mặt trời là hình ảnh đẹp đẽ và dữ dội nhất diễn tả đỉnh điểm của quyền lực kẻ thống trị vũ trụ.

         Ghê gớm thật! Ngay đến mặt trời cũng trở nên tầm thường, thì xem ra sự phi thường đã tới vô biên rồi vậy! Sự hồi tưởng đã xong: thời oanh liệt của cái tôi – hùm thiêng đạt cực điểm !

         Một thi sĩ rình trăng chốn lâm tuyền. Một vương chủ say ngắm giang sơn. Một lãnh chúa rừng xanh giữa bầy ca điểu. Một bạo chúa ngạo mạn với mặt trời. Bốn kỷ niệm kiêu hùng, bốn khoảnh khắc hoành tráng!           Bộ tứ bình hoàn tất!

          Có ý kiến cho rằng: Thơ Thế Lữ tràn đầy chất lãng mạn, lời thơ giàu hình ảnh, màu sắc và nhạc điệu; câu thơ mở rộng, ào ạt như để chứa đựng mọi cung bậc của những cảm xúc phức tạp, tinh vi trong tâm hồn. Đọc “ Nhớ rừng” và đặc biệt cảm nhận bức tranh tứ bình thì thực sự thấy lời nhận xét trên hoàn toàn đúng!

                                                                       

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Tích Hình Tượng Con Hổ Trong Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!