Xu Hướng 2/2023 # Phân Tích Bài Thơ Thu Điếu Của Nhà Thơ Nguyễn Khuyến # Top 8 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Phân Tích Bài Thơ Thu Điếu Của Nhà Thơ Nguyễn Khuyến # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Phân Tích Bài Thơ Thu Điếu Của Nhà Thơ Nguyễn Khuyến được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đề bài: Phân tích bài thơ Thu Điếu của nhà thơ Nguyễn Khuyến

Bài làm

Mùa thu từ xưa cho đến nay vẫn luôn được biết đến chính là đề tài không bao giờ cạn kiệt cảm xúc đối với thi sĩ. Ta vẫn còn nhớ Nguyễn Đình Thi phơi phới, rộn ràng và cũng vô cùng vui tươi trong “Đây mùa thu tới”, thế rồi lại còn một Hữu Thỉnh tinh tế, nhẹ nhàng trong “Sang thu”,… và nhắc nhớ đến mùa thu cũng không thể không nói đến nhà thơ Nguyễn Khuyến với chùm thơ thu vô cùng đặc sắc. Và trong 3 bài thơ thu nổi danh của ông là “Thu điếu”, “Thu vịnh”, “Thu ẩm” thì thi phẩm “Thu điếu” hay còn có tên gọi là “Mùa thu câu cá” là một trong những bài thơ hay, thể hiện được vẻ đẹp, cảnh sắc thu của vùng quê Bắc Bộ.

Đâu cần với những hình ảnh con nai vàng ngơ ngác, hay mùi thơm của hương ổi mà chính bằng ngôn từ giản dị và cái nhìn tinh tế, thì nhà thơ Nguyễn Khuyến đã thổi linh hồn vào mùa thu, cảnh thu cả sắc thu một vẻ đẹp thật dịu nhẹ và cũng thật đẹp biết bao nhiêu. Thông qua bài thơ “Thu điếu” thì một bức tranh thu nơi làng quê thanh bình, yên ả như được tái hiện lại, miêu tả lại thật sống động:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc cần câu bé tẻo teo

Không khó để có thể nhận ra được chính với không gian thu hẹp nhưng dường như mùa thu đang bao trùm lấy tất cả không gian. Tác giả Nguyễn Khuyến cũng thật là tinh tế biết bao nhiêu khi ông cũng đã lại có thể cảm nhận rõ rệt nhất mùa thu ở nước thu cũng có sự đổi khác. Đó cũng chính là hình ảnh màu nước “trong veo” phảng phất, nó lại mang được sự u buồn và lạnh lẽo đến bao nhiêu. Chính có lẽ đó chính là đặc trưng của mùa thu nơi đất Bắc, quả thật cũng hiếm có nơi nào có được hình ảnh như vậy. Tiếp đến chính là hình ảnh chiếc thuyền câu cũng như nhỏ bé lại đnag một mình giữa ao hẹp và tất cả mọi cảnh vật như lại càng thu hẹp không gian hơn. Rất dễ nhận thấy được chính cụm từ “bé tẻo teo” mà tác giả Nguyễn Khuyến thể hiện dường như đã phần nào đã lột tả được sự hữu hạn của không gian. Không chỉ thế mà tác giả Nguyễn Khuyến còn chỉ ra được cả một sự hòa hợp giữa cảnh vật khi thu về hết sức bình lặng trước không gian thu, trước cảnh thu:

Sóng biếc theo làn hơi gợn tý

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

Không thể phủ nhận được chính hai câu thơ này dường như cũng đã lại mang được một sự trầm tĩnh, yên lặng ở hai câu thơ đầu tiên đã không còn nữa rồi. Cho đến hai câu thơ này lúc này đây cũng có lẽ đường nét và âm thanh của mùa thu đang len lỏi, như cứ cố đan xen vào phá vỡ sự thanh tĩnh của không gian. Tác giả còn nhận thấy được ở đây cũng lại có sự chuyển động tinh vi mà cũng vô cùng thật nhẹ nhàng của những con sóng lăn tăn mà cũng chỉ hơi hơi gợn tý và như đã đánh dấu sự chuyển động của mùa thu đã đến.

Tổng thể ta như nhận thấy được cũng chính bức tranh mùa thu với không gian hẹp nơi vùng quê Bắc bộ và cũng lại còn có được sự chuyển động tinh tế nhẹ nhàng có lẽ đã làm xiêu lòng tác giả Nguyễn Khuyến cũng như tất cả chúng ta:

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tác giả Nguyễn Khuyến dường như cũng đã lại bắt đầu mở rộng không gian thu, một không còn thu hẹp của cái ao thu cứ thật lạnh lẽo nữa mà đã lan tỏa lên đến tận trời cao. Trên trời xanh thì lại có những đám mây như “lơ lửng” trôi. Qủa thật chính những nét thu chấm phá lên nền trời một màu xanh ngắt đặc trưng khiến cho lòng người lúc này đây dường như cũng rất khó cưỡng lại. Mùa thu của đất trời thông thường có chút gì đó ảm đạm và vắng vẻ. Không những thế thì lại có cả những con đường làng nhỏ, quanh co không bóng người qua lại. Đã thế không gian mở ra “Khách vắng teo” với cách gieo vần độc đáo “eo” dường như cũng đã lại càng gợi tả sự trầm tĩnh đến cùng cực, đến vô cùng. Có thể nói rằng cũng chính bóng dáng của con người cũng không thấy nó dường như cũng đã thể hiện được không gian thu như thật khiến cho con người trầm ngâm.

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

Tiếp đến chính là hai câu thơ cuối thì thực sự đã hiển hiện lên được người câu cá. Không gian thu hiện ra thì dường như mọi thứ đều tĩnh lặng, mùa thu cũng tĩnh lặng khiến tác giả Nguyễn Khuyến cảm thấy mình đơn độc, lạc nhịp trong không gian thu. Chính cái tư thế “tựa gối” đã muốn tự thu nhỏ mình lại để phù hợp với không gian mùa thu bé nhỏ, cũng như vô cùng chật hẹp ở một vùng quê vắng vẻ.

Không dừng lại ở đó người đọc cũng thấy được từ “đớp” lại được xuất hiện ở cuối câu thơ dường như làm náo động cả bài thơ “Thu điếu”. Và đây chính là thủ pháp lấy động tả tĩnh đặc sắc mà nhà thơ Nguyễn Khuyến thể hiện được trong bài. Chính hình ảnh của cá đớp động như cũng đã khiến cho người câu cá phải giật mình khi đang mải đắm chìm trong cảnh sắc thu và tiếng đớp động này dường như cũng đã đánh thức được những nghĩ suy của tác giả hiện tại. Và nó không chỉ dường lại ở đó bới nó lại còn chính là hình ảnh ẩn dụ cho những biến động, đổi thanh của xã hội lúc bấy giờ thì dân chúng lầm than, hỗn loạn. Chỉ với hình ảnh đơn giản đó thôi mà độc giả cũng lại còn cảm nhận được nỗi lòng canh cánh lo cho dân, cho nước của Nguyễn Khuyến nhưng lại bất lực trước thời cuộc.

Bài thơ “Thu điếu” thực sự là một kiệt tác về mùa thu của đất trời, mùa thu của đất trời chỉ với những nét chấm phá nhẹ nhàng. Không chỉ vậy thì Nguyễn Khuyến cũng đã vẽ lên trước mắt người đọc một bức tranh mùa thu xứ Bắc tuyệt đẹp, hơn nữa thì bài thơ còn bộc bạch được một nỗi niềm tâm sự với dân với nước của tác giả – một người yêu nước thương dân.

Minh Tân

Tâm Sự Của Nguyễn Khuyến Qua Bài Thơ “Thu Điếu”

admin100

Nguyễn Duy Xuân

Nguyễn Khuyến

Tìm hiểu và nghiên cứu văn thơ của tác giả vốn xuất thân từ khoa bảng Hán học xưa, ai cũng thừa nhận rằng: họ chịu ảnh hưởng sâu sắc của Thi, Thư, Dịch, Lễ… và nền thơ ca cổ điển Trung Hoa như Sở từ, Hán phú, Đường thi… Dù những bài thơ tưởng như mang nặng tính “thù tạc” ngâm vịnh đi nữa, cũng không thoát ra ngoài tinh thần “thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo” (thơ để nói chí, văn để tải đạo). Bởi thế những danh từ chỉ vật như Tùng, Cúc, Trúc, Mai hay tên 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông được nhắc đến trong thơ vịnh cảnh đâu phải chỉ là những danh từ chỉ vật, chỉ mùa đơn thuần, mà còn mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc.

Vì vậy những nhận định cho rằng “Thu điếu” chỉ là bài thơ tả cảnh “mùa thu câu cá” e rằng đã hiểu chưa đúng ý nghĩa thâm thúy của bài thơ. Tất cả những hình ảnh về nước, trời, ngõ trúc, lá vàng, bèo, cá, chỉ là những cái vỏ ngoài tuy chân thực đấy những đều mang tính ẩn dụ để gửi một nỗi niềm tâm sự sâu kín mà tác giả chưa biết ngỏ cùng ai. Bởi vì, giữa thời kỳ dân tộc ta đang đắm chìm trong vòng nộ lệ, người dân mất tự do đến nghẹt thở, ngay cả nỗi cay đắng thống khổ cũng chẳng dám kêu. Trong bài “Xuân nguyên hữu cảm” nhà thơ từng đau xót hé lộ điều đó:

Vô lịch ná tri thư Giáp Tý Hữu cừu vị cảm độc Xuân Thu (1) (Không lịch, biết đâu mà ghi được Giáp Tý Kẻ thù còn đó, đâu dám đọc kinh Xuân Thu)

Trong hoàn cảnh như vậy, việc tác giả không dám nói thẳng nỗi lòng của mình cũng là đương nhiên. Không chỉ vậy, cách thể hiện “ý tại ngôn ngoại” trong thơ xưa nay vốn là đỉnh cao nghệ thuật mà thi ca mong đạt tới.

Xin được bắt đầu từ cái “ao thu lạnh lẽo nước trong veo” mà nhiều nhà nghiên cứu từng hết lời tán dương, theo cách nhà thơ Xuân Diệu cho là “Điển hình nhất cho mùa thu Việt Nam, ở miền Bắc nước ta, chứ không phải nơi nào khác” (Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Nhà xuất bản Văn học, 1982).

Mua thu, nước “trong veo” thì đúng. Nhưng nước ao “trong veo” lại chưa hẳn vào mùa thu ta mới thấy, nhất là nước ao có thả cá thì ngay cả mùa thu cũng khó mà “trong veo” được. Ao ở làng quê thì nhất thiết có thả cá, chứ không phải để làm cảnh! Vì vậy từ “trong veo” trong bài thơ hiển nhiên không phải mục đích tôn cảnh mùa thu mà lại là mùa thu “lạnh lẽo”. Các tác giả từng phân tích rất kỹ, hình dung từ “lạnh lẽo” theo ý nghĩa thời tiết đơn thuần và gán cho mùa thu một “thuộc tính” mới như sau: “… Sau một mùa hạ nóng nực kéo dài, cái lạnh lẽo của mùa thu thật đáng dễ cảm xúc hơn là từ một cái lạnh này sang cái lạnh khác dù có lạnh hơn…”(!) (Những bài văn chọn lọc – tập 1 trang 38 – Trường Cao đẳng Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh – 1994).

Ai cũng rõ, mùa thu ở xứ ta được coi là một mùa mát mẻ, dễ chịu, đâu có “lạnh lẽo”. Mà dù có sang tiết đông, cũng không nói tiết trời mùa đông lạnh lẽo. Người am hiểu tiếng Việt chỉ dùng từ “lạnh lẽo” để nói cảnh vật quạnh hiu, hoang phế, thiếu sự sống. Vì vậy, câu thơ “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo” chủ yếu miêu tả khái quát không khí thiếu sự sống của “ao thu”. Đấy cũng chính là muốn ngầm chỉ cái “không khí” của xã hội nước ta thời tác giả sống. Một xã hội “tàn thu” và tù hãm như cái ao tù đọng! Họa chăng trên cái ao tù đọng đó chỉ có đám bèo (mà tác giả nói đến ở câu kết) sống nhờ ăn bám là nhiều!

Hãy lưu ý chút nữa về những cảnh vật ông tả quanh cái “ao thu lạnh lẽo”: nào là sóng gợn, lá vàng, ngõ trúc vắng, cá đớp động… Có người nhận xét: “Trong mấy câu này ông dùng cái động để nói cái tĩnh”. Nhận xét đó đúng, vì đó là phép tả cảnh thường gặp trong thơ cổ điển. Nhưng chỉ dừng ở đó thôi thì chẳng có phát hiện gì mới mẻ. Điều cần nói ở đây không phải là cái cảm nhận tinh tế của tác giả, mà mục đích chính là tác giả muốn làm nổi bật không khí tàn tạ và “lạnh lẽo” của “ao thu”, hình ảnh ẩn dụ mà phần trên đã đề cập. Càng không phải là cảnh vật điển hình thu của “làng cảnh Việt Nam” vùng chiêm trũng như nhà thơ Xuân Diệu nhận định và cũng từng được nhiều nhà phê bình, nhà giáo tán dương!

Ai từng sống ở làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ đều thấy không khí làng quê xưa đâu có quạnh hưu “lạnh lẽo” thiếu sức sống như thế vào mùa thu! Nhất là mùa thu lại đúng vào đầu vụ sắp thu hoạch lúa mùa. Trong không khí mát mẻ, dù vào ban mai, giữa trưa hoặc chiều tối thì trong “ngõ trúc quanh co” kia cũng chẳng hề “vắng teo”! Nếu vắng bóng người ra đồng, ra chợ vì đang bận công việc giữa buổi, thì cũng không thể vắng bóng trẻ con nô đùa, vắng tiếng gà gáy, tiếng chim hót… dù không ồn ào, nhộn nhịp như lúc về đồng thì cũng không đến nỗi buồn thiu đến “lạnh lẽo”, im ắng đến mức nghe rõ cả tiếng lá vàng rụng như Nguyễn Khuyến đặc tả. Lại nữa, đường làng ngõ xóm, người Việt thường trồng tre chứ mấy khi trồng trúc, vì tre vừa làm bờ lũy bảo vệ làng, xóm vừa dùng vào nhiều việc, còn trúc thì bất quá chỉ trồng vài bụi để làm cảnh và làm cần câu là cùng! Lại vẫn biết trong chữ Nho, “Trúc” là để chỉ chung các loài thuộc họ tre. Nhưng sao ở đây nhà thơ lại không nói “ngõ tre” cho hợp với bài thơ Nôm, mà lại nói “ngõ trúc”? Ấy là bởi, “Trúc” trong thơ cổ điển luôn là biểu tượng cho người quân tử (quân tử trúc, trượng phu tùng). Vì vậy “ngõ trúc” đây có ý nói ngõ nhà người quân tử (người có nhân cách cao thượng, cương trực…) và “khách” ở đây cũng là “khách quân tử”. Khách quân tử mới vắng teo, chứ “khách tục” phỏng thiếu gì?!

Cũng cần phải nói thêm rằng: Những nhà khoa bảng xuất thân từ Hán học xưa còn quan niệm mùa thu theo Chu Dịch. Mùa thu thuộc quẻ Bĩ là lúc “Âm trưởng”, “Dương tiêu”. Sang xuân, tháng Giêng, Dương mới hồi sinh và dần chuyển sang quẻ Thái. Quy luật của lịch sử cũng như quy luật của tự nhiên đều “hết cơn bĩ cực đến ngày thái lai” như vậy. Theo nhận thức về Dịch như vậy, nên trí thức xưa đều trông thời cuộc (“kiến cơ nhi tác”) mà “hành tàng”, “xuất xử”.

Vì lẽ đó mà bao nhiêu bậc tiền nhân thời trước như Chu Văn An, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm… đều theo con đường “tỵ thế” (tránh đời) khi thấy triều đại đương thời suy đồi, tàn tạ không thể vực dậy được nữa.

Nguyễn Khuyến cũng không ngoài cách hành xử đó. Ông vốn là trí thức quân tử, từng ôm ấp hoài bão “kinh bang tế thế” nên mới gắng theo đuổi con đường cử nghiệp mong cứu đời, đâu phải chỉ vì mục đích “vinh thân phì gia” như bọn tiểu nhân? Chỉ cần lấy một việc ông từ bỏ cuộc sống quan trường giầu sang để trở về “vườn Bùi chốn cũ”, vui với cảnh dưa muối tương cà, quần manh áo vải nhưng thanh bạch, đủ để chứng minh cho nhân cách cao khiết của bậc chính nhân quân tử. Cách nhìn ngày nay, chê ông là “bi quan tiêu cực”, “yếm thế vô vi” sẽ không thể hiểu nổi đó là một nhân sinh quan theo đạo Dịch mà người xưa coi là tích cực.

Nguyễn Khuyến chẳng đã từng nhận thấy rằng ông sinh ra không gặp thời của người quân tử đó sao? Ông gọi đó là “buổi Dương cửu”. Trong bài “Khóc Dương Khuê” ông từng than: “Buổi Dương cửu cùng nhau hoạn nạn..!”(2) Trong bài di chúc có tên là “Tri mệnh” ông cũng nuối tiếc cho số phận mình: “Ngã số phùng cửu cửu”(3) (Số tôi gặp buổi Dương cửu).

Vì vậy Nguyễn Khuyến mới buồn phiền, thất vọng đau đớn, mới cảm thấy cô đơn, bơ vơ giữa cái “ao thu” xã hội tù hãm, “lạnh lẽo”, khách quân tử vắng teo, chỉ thấy trước mắt nhan nhản đám “bèo” tiểu nhân, xu thời ăn bám trên “mặt ao” thời đại! Trong bài thơ chữ Hán “Phụng họa Hiếu Đình nguyên vận”, ông gọi chúng là lũ “xú di” (rợ thối tha): “Mãn mục y thường thị xú di” (Đầy trước mắt tá bọn xiêm áo xênh xang toàn là lũ rợ thối tha).

Tuy nhiên, trong cái ao tù đọng đó, không phải hoàn toàn tắt hết sự sống, tắt hết hy vọng. Giữa cái ao tù đọng lạnh lẽo kia không phải chỉ có bèo nổi, lá vàng tàn úa mà còn có tầng mây với nền trời trong trẻo cao xanh, làn “sóng biếc” soi bóng trúc bên đường và quan trọng hơn là ở đâu đó, nơi mãi tận “dưới chân bèo” kia vẫn còn sự sống đang lay động: “Cá đâu đớp động dưới chân bèo!” Những hình ảnh và âm thanh đó như báo hiệu với mọi người, với cuộc đời rằng sự sống không bao giờ tắt! “Cá” trong bài thơ phải chăng là biểu tượng cho mầm sống (Dương) tích cực ấy. Đây cũng chính là “đốm lửa” lạc quan còn le lói theo quy luật của đạo Dịch, trong tâm thức của tác giả.

Đến đây ta có thể thấy chân dung của tác giả hiện lên trên “chiếc thuyền câu bé tẻo teo” kia, tuy nhỏ bé bơ vơ… nhưng rất rõ ràng là hình bóng một Khương Tử Nha (4) bên bờ Vị Thủy, một Nghiêm Tử Lăng (5) trên sông Đồng Giang và gần chúng ta nữa là một Chu Văn An bên suối Phượng Hoàng, một Nguyễn Trãi bên khe Côn Sơn, một Nguyễn Bỉnh Khiêm trên bến Trung Tân… Đâu có phải là một ngư ông kiếm kế sinh nhai bằng nghề câu cá, hoặc giả một ông Nguyễn tầm thường nào đó, đang chăm chú tìm món nhắm cho bữa rượu chiều?!

Ai đó đã quá tán tụng và thi vị hóa “mùa thu câu cá”, dù cho vô tình cũng đã dung tục hóa ý nghĩa của “Thu điếu”, vô tình đã biến cụ Tam Nguyên ẩn sĩ thanh cao, chờ thời, đồng hành với phường “giá áo túi cơm” vậy.

Rất tiếc là đến cả nhan đề bài thơ, không biết vô tình hay hữu ý, ai đó cũng diễn dịch thành “Mùa thu câu cá” hoặc “Câu cá mùa thu” để đưa vào văn bản chính thức trong sách giáo khoa mà giảng dạy cho học sinh, làm mất ý nghĩa hàm ẩn thâm thúy trong nhan đề bài thơ của tác giả là “Thu điếu” – vốn dĩ là từ Hán Việt.

“Đời muôn sự chẳng vừa lòng Cố đô lui gót một trông hai chờ…” (Tập cổ)

Chúng ta không thể vận dụng cách hiểu mùa thu theo lối tả thực trong thơ hiện đại như cách hiểu của nhà thơ Xuân Diệu để hiểu những bài thơ thu trong thơ cổ điển mà làm cho cụ Tam Nguyên ở nơi cửu tuyền thêm phiền lòng lần nữa!.

(1) Giáp Tý: Đơn vị đo thời gian trong lịch phương Đông. Ở đây có ý nói không dám nói lên sự thật của cuộc sống Xuân Thu (một trong Ngũ kinh của Nho gia, là bộ lịch sử cổ của Trung Quốc tương truyền do Khổng Tử soạn, nổi tiếng về chân thực, khách quan). (2) Dương cửu: “Dương cùng ư cửu”: Dương phát đến tột cùng sau đó lại “tiêu” nhường cho Âm bát triển tức quẻ Bĩ (Theo Kinh Dịch) (3)Không phải nghĩa Nguyễn Khuyến sắp chết như chú thích sai trong sách giáo khoa. (Tham khảo Kinh Dịch) (4) Khương Tử Nha: Ẩn sĩ, câu ở bờ sông Vị Thủy, mãi 80 tuổi, vua Văn Vương nhà Chu (TQ) gặp, rước về làm quân sư, tôn làm Thái Công Thượng phụ (tôn trọng ngang cha). Ông giúp Văn Vương, Vũ Vương lập nghiệp nhà Chu. (5) Nghiêm Tử Lăng tức Nghiêm Quang: Ẩn sĩ đời Hán, bạn của Hán Quang Vũ, ở ẩn làm ruộng ở Phú Xuân, câu bên sông Đồng Giang.

Trần Ngọc Chùy nguồn vannghethainguyen

Phân Tích Bài Thơ Thu Ẩm Của Nguyễn Khuyến

Đề bài: Thu ẩm hay còn gọi là “Uống rượu mùa thu” của Khuyễn Khuyến. Em hãy viết bài văn Phân tích bài thơ Thu ẩm của Nguyễn Khuyến.

Thu ẩm có nghĩa là mùa thu uống rượu. Đây là một trong ba bài thơ Nồm nói về mùa thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến: Thu điếu (Mùa thu câu cá), Thu vịnh (Mùa thu làm thơ), Thu ẩm (Mùa thu uống rượu). Chùm thơ này là dáng thu, hổn thu của đồng bằng Bắc Bộ thời xưa. Mỗi bài thơ mang những dáng thu riêng và những nét tâm tình riêng. Thấm đượm vào cảnh vật là tâm trạng băn khoăn, u uất của nhà thơ trước tình cảnh đất nước rơi vào tay giặc.

Dáng thu trong Thu vịnh thăm thẳm, xa vời, quen mà lạ. Trời thu thì xanh ngát những mấy từng cao; khóm tre thu nhỏ lại trong hinh ảnh cần trúc, sương như khói phủ thành tầng trên mặt nước, song thưa để mặc bỏng tràng vào, hoa năm nay bỗng thành hoa năm ngoái, tiếng ngỗng thảng thốt, mơ hổ… Hổn thu như lắng chìm vào bôn trong, ẩn chứa ở chiều sâu.

Phân tích bài thơ thu ẩm của Nguyễn Khuyến

Dáng thu, hồn thu ở bài Thu điếu lại chất chứa trong sự thu nhỏ và lặng im của cảnh vật: chiếc thuyền câu bé tẻo teo, nước biếc trên mặt ao chỉ gợn tí, lá vàng khẽ rơi vèo không thành tiếng, tiếng cá đớp động rất nhẹ dưới chân bèo. Tất cả đều im lìm, tĩnh mịch. Tưởng chừng như ông câu cũng hoá đá trong tư thế tựa gối ôm cần. Tâm tư cụ Tam Nguyên ngụ trong sự chờ đợi mỏi mòn giữa không khí yên lặng gần như tuyệt đối.

Trở lại với hai bài thơ thu kia mấy dòng như vậy là có ý so sánh đế nhìn được rõ hơn dáng thu, hồn thu và tâm tư nhà thơ trong bài Thu ẩm này, ở đây, dáng thu, hồn thu và cả tâm tư nhà thơ có khác.

Cảnh vật vẫn là những cảnh vật quen thuộc. Từ nhà, từ vườn của cụ Tam Nguyên nhìn ra cánh đồng, cái ao, rặng tre, hàng giậu, ngõ xóm quanh co, hun hút, trời xanh trên đầu, khói phủ mặt nước, bóng trăng trong ao. Khác một chút là ở đây, Nguyễn Khuyến không còn là nhà thơ, là ông câu mà là ông già khề khà chén rượu giải sầu. Nhưng cũng chính vì cái khác ấy mà cảnh vật dường như biến đổi, đầy bất ngờ và thú vị. Hai câu để: Ba gian nhà cỏ thấp le te,

Ngõ tối đêm sâu, đóm lập loè.

Nhà tranh mà gọi là nhà cỏ thì giá trị đã hạ xuống một bậc nhưng chữ nghĩa khác nhau chưa mấy. Nhưng thấp le te thi đã rõ ra là lụp xụp và chẳng còn lành lặn, mái tranh đã rách nát, xác xơ đổi dạng. Tiếp theo, ngõ tối và đêm sâu là cảnh bình thường nhưng ánh lửa đom đóm lập loè lúc tối, lúc sáng làm cho ngõ tối và đêm sâu cũng biến dạng.

Hai câu thực:

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.

Sương thu lớt phớt như làn khói mỏng phủ lên bờ giậu, khiến cho rặng cây cũng nhạt bớt màu đêm. Đặc biệt tài tình là hình ảnh mặt ao lăn tăn gợn sóng, lóng lánh bóng trăng. Bóng trăng trên mặt nước lúc dồn lại, lúc loe ra, biến dạng liên tiếp.

Hai câu luận:

Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,

Mắt lão không vẩy cũng đỏ hoe.

Nguyễn Khuyến tả cảnh trời và cảnh mình. Dường như bầu trời và con người đều bị một thế lực vô hình nấo đó làm cho biến đổi: Da trời không biết ai nhuộm mà xanh ngắt, mắt mình không vầy sao cũng đỏ hoe? Hay là do say rượu? Say rượu cũng thường đỏ mắt. Chữ ai trong câu thơ lấp lửng một mối hoài nghi lấp lửng nhưng không vô ý. Đây cũng là biểu hiện tâm trạng của nhà thơ chăng? Hay là nó cũng cùng một mạch với cảm nhận hoa năm nay mà nhìn ra hoa năm ngoái và nghe tiếng ngỗng văng vẳng trên không mà giật mình tự hỏi là ngỗng nước nào? Tâm tư nhà thơ trĩu nặng trước cảnh đất nước bị lũ giặc ngoại xâm giày xéo mà mình thì đau đớn, day dứt khồng nguôi.

Cuối cùng là tửu lượng của nhà thơ cũng chẳng còn bình thường: RƯỢU tiếng rằng hay, hay chẳng mấy, Chỉ dăm ba chén đã say nhè. Tại sao cảnh vật lại có sự biến hình đổi dạng như thế? Do người nhìn say rượu chăng bởi khi say thì nhìn một hoá thành hai, thành ba hoặc nhạt nhoà tất cả. Sự vật biến đổi hình dáng, màu sắc, đường nét rối lên, nhoè ra, chập lại, lảo đảo như say.

Âm thanh bài thơ cũng theo điệu ấy. Rõ nhất và cũng bất ngờ nhất, thú vị nhất là ở các từ: le te, lập loè, loe, đỏ hoe, say nhè. Tất cả các từ quy vào âm chủ đạo là e: từ nhè, say nhè mà ra rồi nhoè ra thành nguyên âm đôi oè (lập /oè), oe (loe, hoe), các vần này cũng lảo đảo say theo, say mạnh hơn. Cảnh vật cũng như say: ánh sáng đom đóm hoá lập loè, bóng trăng chập chờn loe ra theo làn sóng, mắt người tự nhiên cũng đỏ hoe. Trong câu: Làn ao lóng lánh bóng trăng loe có đến bốn tiếng có phụ âm / nối tiếp nhau, càng làm tăng gấp bội cái cảm giác ngửa nghiêng, chao đảo không chĩ ở bóng trăng mà ở cả mặt ao, làn nước và từ đó lan toả ra toàn bài để rồi kết thúc bằng hai chữ say nhè.

Nhà thơ một mình đối diện với bầu rượu trong đêm thu vắng. Sau dăm ba chén, hơi men đã khơi dậy tâm tư. Nỗi xúc động sâu xa trong tâm hồn nhà thơ thấm vào cảnh vật, đồng điệu với dáng thu, hồn thu. Cái hay, cái tài của bài thơ Thu ẩm là ở đó. Nhà thơ buồn bã, day dứt không nguôi trước vận nước rối ren, đành mượn vài chén rượu giải khuây nhưng càng uống lại càng thấy nỗi niềm đó hiện ra rõ rệt hơn, làm lảo đảo đến cả cảnh vật đêm thu. Đã có lúc không uống rượu và tâm trạng dường như vui hơn, cụ Tam Nguyên tự cười mình và cũng thấy mình chuếnh choáng: Khấp khểnh ba chân dở tĩnh say kia mà.

Phân Tích Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến

Đề bài:

Cảm nhận của em về bài thơ “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến.

– Bài thơ cho thấy một tình yêu quê huơng dạt dào. “Thu điếu” là “Điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”

– Cảnh thu: Cảnh thu với những hình ảnh quen thuộc, dân dã, bình dị mang đặc trưng mùa thu của đồng bằng Bắc bộ.Mùa thu đẹp, nên thơ, tĩnh lặng, phảng phất buồn.

– Tình thu:

+ Không gian thu cũng chính là không gian tâm trạng: cõi lòng nhà thơ yên tĩnh, vắng lặng

+ “Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp dộng dưới chân bèo”

* Chú ý đến tính hiện thực, sự quen thuộc, nét riêng của cảnh sắc mùa thu đòng bằng Bắc Bộ và khả năng gợi cảm thể hiện trong những từ ngữ, hình ảnh đó

*So sảnh với hình ảnh mùa thu mang tính ước lệ trong thơ trung đại để thấy sự khác biệt của cảnh sắc mùa thu trong bài

*Bài thơ thể hiện sự tinh tế của nhà thơ trong cách cảm nhận về cảnh sắc thiên nhiên mùa thu vùng đồng bằng bắc bộ, đồng thời cho thấy tình yêu thiên nhiên, đất nước, tâm trạng thời thế của tác giả.

Gợi ý làm bài

I. Mở bài

– Nguyễn Khuyến là một trong hai đại biểu xuất sắc cuối cùng của nền văn học Trung đại Việt Nam.

– Ông được coi là bậc quán quân về thơ tả cảnh mùa thu. Chùm thơ thu ba bài Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm của ông được đánh giá là tam tuyệt của thơ thu Việt Nam.

– Trong đó, Thu điếu có nét đặc sắc riêng, tả cảnh thu ở một không gian thời gian cụ thể. Đằng sau cảnh thu tĩnh lặng là nỗi niềm tâm sự thầm kín của thi nhân.

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo. Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt, Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Tựa gối ôm cần,lâu chẳng được, Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

II. Thân bài

1. Giới thiệu chung

– Mùa thu là đề tài quen thuộc của thi ca. Thơ viết về mùa thu của văn học Trung đại Việt Nam thường miêu tả cảnh đẹp vắng vẻ, úa tàn và u buồn. Cảnh thu được ghi lại một cách ước lệ tượng trưng với những nét chấm phá, chớp lấy cái hồn của tạo vật. Thu điếu của Nguyễn Khuyến cũng mang nét thi pháp ấy.

– Nhưng Nguyễn Khuyến được mệnh danh là nhà thơ của làng quê Việt Nam. Gần suốt đời mình, ông gắn bó với thôn quê, hòa hợp và thấu hiểu mảnh đất quê nhà. Thế nên, cảnh vật làng quê trong thơ ông hiện lên rất chân thực, giản dị, tinh tế. Đọc Thu điếu, ta bắt gặp một bức tranh thu đặc trưng của vùng chiêm trũng Bắc bộ, quê hương của nhà thơ. Đấy chính là nét mới mẻ của tác phẩm so với thi pháp truyền thống của văn học Trung đại Việt Nam.

– Thu điếu viết bằng chữ Nôm, làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Cảnh thu được miêu tả trong hầu hết 8 câu thơ, hình ảnh con người chỉ xuất hiện trực tiếp ở hai câu cuối bài. Cảnh trong bài vẫn là trời nước, gió, trúc – những thi liệu quen thuộc nhưng hồn thơ thì đã vượt ra khỏi khuôn sáo thi tứ cổ điển.

2. Hai câu đề

– Hình ảnh đầu tiên được tác giả miêu tả là “ao thu”. Từ ” lạnh lẽo” đặc tả khí lạnh của ao nước mùa thu, dường như cái lạnh ấy thấm sâu vào da thịt con người. Tính từ “trong veo” đã tuyệt đối hóa độ trong của nước, đồng thời còn gợi ra độ thanh sạch, sự bất động, tĩnh lặng của mặt ao. Hai âm “eo” được gieo trong một câu khiến cho cảm giác về cái lạnh và sự ngưng đọng của không gian càng trở nên tuyệt đối, đồng thời còn gợi ra không gian nhỏ hẹp của chiếc ao.

– Trên nền cảnh thu ấy xuất hiện một chiếc thuyền câu lẻ loi, đơn chiếc, bé nhỏ. Số từ chỉ số ít “một chiếc” kết hợp với từ láy “tẻo teo” khiến cho chiếc thuyền càng nhỏ bé hơn, như co lại thành một nét chấm trên nền ao cũng bé xíu và trong trong tận đáy.

– Hai câu đề đã vẽ nên cảnh sắc rất riêng biệt, mộc mạc, đơn sơ của mùa thu Bắc bộ với những nét đặc trưng nhất của khí thu, chất thu là cái lạnh và sự tĩnh lặng.

3. Hai câu thực

– Mùa thu tiếp tục hiện lên với hình ảnh “sóng biếc”, “lá vàng”. Cảnh vận động một cách khẽ khàng. Tác giả đã rất nhạy cảm, tinh tế khi chớp được những biến động tinh vi của tạo vật. Đó là sự chuyển động ” hơi gợn tí” của sóng, là sự đưa nhẹ, khẽ khàng của chiếc lá vàng, là sự mong manh uốn lượn của hơi nước mờ ảo trên mặt ao.

– Hai câu thơ đối nhau rất chỉnh, các sự vật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, gió thổi làm sóng gợn, làm lá rơi. Các tính từ, trạng từ “biếc”, ‘tí’, “vàng”, “khẽ”,”vèo” được sử dụng một cách hợp lí, giàu chất tạo hình, vừa tạo ra bức tranh màu sắc thanh nhã, có xanh có vàng, vừa gợi được sự uyển chuyển, sinh động của tạo vật. Cảnh được miêu tả trong hai câu thực, mặc dù là động, nhưng vì động khẽ khàng quá nên thực chất là lấy động để tả cái tĩnh lặng của mùa thu trong không gian của một chiếc ao quê nhà.

4. Hai câu luận

– Không gian cảnh vật trong hai câu luận không chỉ dừng lại ở bề mặt chiếc ao mà còn mở rộng thêm chiều cao, chiều sâu.

– Chiều cao được cụ thể bằng sự “lơ lửng” của tầng mây và độ thăm thẳm của da trời xanh ngắt. Màu da trời mùa thu dường như có ám ảnh sâu đậm trong tâm hồn Nguyễn Khuyến nên trong các bài thơ thu, ông thường nhắc tới: “Trời thu xanh ngắt mấy từng cao” (Thu vịnh ) hay “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt” ( Thu ẩm ). Bởi vậy, màu xanh ngắt của da trời không chỉ đơn giản là một sắc màu khách quan đặc trưng cảu trời thu mà có lẽ còn chính là tâm trạng nhiều ẩn ức, là chiều sâu tâm hồn đầy trăn trở của thi nhân.

– Chiều sâu của không gian được cụ thể bằng độ ” quanh co” uốn lượn của bờ trúc. Không gian trong hai câu luận đậm dặc một màu xanh, màu xanh bao trùm cả trên cao và chiều rộng. Cảnh vật thoáng đãng và yên tĩnh. Nguyên từ “vắng” đã nói rõ sự tĩnh lặng rồi nhưng “vắng teo” thì có nghĩa là cảnh vắng tanh vắng ngắt, không chút cử động, không chút âm thanh, không một bóng người.

– Bởi thế, hai câu thơ gợi ra sự trống vắng, nỗi cô đơn trong lòng người.

5. Hai câu kế

– Hình ảnh con người xuất hiện trực tiếp với tư thế ngồi bó gối, trong trạng thái trầm tư mặc tưởng. Nhà thơ ngồi câu cá mà chẳng chú tâm đến việc câu, bởi vậy mới giật mình trước tiếng cá ” đớp động dưới chân bèo”. Không gian phải yên tĩnh lắm, tâm hồn nhà thơ phải trong trẻo lắm thì mới nghe rõ âm thanh nhỏ nhẹ như vậy.

– Từ “cá đâu” là cách hỏi vừa tạo nên sự mơ hồ trong không gian vừa gợi ra sự ngỡ ngàng của lòng người. Nhà thơ dường như mất cảm giác về không gian thực tại mà chìm đắm trong không gian suy tưởng nên không thể xác định rõ hướng gây ra tiếng động mặc dù đang ngồi trong một chiếc ao rất nhỏ.

– Nhà thơ câu cá mà chẳng phải để bắt cá. Câu chỉ là cái cớ để tìm sự thư thái trong tâm hồn. Trong lúc câu, thi nhân đã thâu tóm vào lòng những vẻ đẹp tinh diệu của đường nét, màu sắc, hình khối, sự vận động tinh tế, trong sáng của cảnh vật mùa thu. Cảnh thu tuy đẹp mà buồn, buồn vì quá quạnh quẽ, vắng lặng, buồn vì người ngắm cảnh cũng đang chất chứa nỗi niềm thế sự của kẻ sĩ trước cảnh vong quốc mà thân lại nhàn nhã.

III. Kết bài

Bài thơ Thu điếu không những thể hiện được cái hồn của cảnh thu mà còn đặc tả được nét đẹp mộc mạc giản dị của nông thôn đồng bằng Bắc bộ xưa. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, Nguyễn Khuyến đã khơi gợi trong lòng người đọc những xúc cảm chân thành, trong sáng, tha thiết về cảnh sắc làng quê. Qua bài thơ, ta hiểu thêm về tấm lòng nặng tình non nước và tài thơ Nôm độc đáo của thi nhân.

Nhận xét

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Tích Bài Thơ Thu Điếu Của Nhà Thơ Nguyễn Khuyến trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!