Xu Hướng 2/2024 # Phân Tích Bài Thơ Núi Đôi Của Vũ Cao # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Phân Tích Bài Thơ Núi Đôi Của Vũ Cao được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Phân tích bài thơ Núi đôi của Vũ Cao

Bài thơ là nỗi xúc động chân thực của tác giả về một câu chuyện có thật ở vùng Xuân Dục trong kháng chiến chống Pháp. Giọng thơ tự sự đậm đà phong vị dân gian làm đẹp thêm mối tình kháng chiến, đồng thời tạo xúc động trước sự hy sinh của người con gái anh dũng.Mối tình nên thơ gắn với hoài niệm về thời đẹp nhất của tuổi thanh xuân:Bảy năm về trước em mười bảyAnh mới đôi mươi trẻ nhất làngTác giả dẫn dắt vào không gian trong veo hương đồng nội, với những địa danh thân thương gắn kết đôi bạn trẻ: Xuân Dục, Đoài Đông, Núi Đôi…giản dị và tự nhiên tạo thành thương nhớ. Tình người, tình đất, tình quê lồng vào nhau:Em vẫn đùa anh sao khéo thếNúi chồng núi vợ đứng song đôiCâu chuyện tình hết sức riêng tư, chân thật đã được gắn vào với hoàn cảnh quê hương ngày giặc chiếm đã đan cài vào đó bao tâm trạng uất nghẹn căm hờn và lo lắng bồn chồn của người dân núi Đôi. Cảm xúc này từng được diễn tả trong bài Đất Nước (1955) của Nguyễn Đình Thi:Những đêm dài hành quân nung nấuBỗng bồn chồn nhớ mắt người yêuTừ tâm trạng chàng trai trong bài thơ, ta thêm hiểu vẻ đẹp tâm hồn anh bộ đội trong kháng chiến chống Pháp luôn thắm đượm ân tình với quê hương, người thân. Tâm hồn người chiến sĩ luôn tồn tại một không gian hoài niệm, nhung nhớ đến cháy lòng – khơi lên tình cảm yêu thương và căm hờn trong lòng chiến sĩ, làm rõ vẻ đẹp giàu chất nhân văn. Lời dẫn chuyện của Vũ Cao tái hiện nguyên vẹn không khí những ngày kháng chiến, đánh thức bao cảm xúc của một thời bi hùng mà cũng ắp tràn thương nhớ của bao người. Sự hiện diện thường trực của hình tượng núi Đôi xuyên suốt những ngày chiến đấu là cách cắt nghĩa trọn vẹn ân tình với quê hương và thổi bùng ngọn lửa tình yêu mãnh liệt với cô gái Xuân Dục. Bao tâm trạng được diễn tả: khắc khoải ngóng đợi, “trăm nghìn căm uất”, náo nức ngày trở lại. Tự thân những lời thơ đã làm đẹp thêm bao nhiêu bóng hình người yêu trong tâm tưởng người chiến sĩ:Núi Đôi bốt dựng kề ba xómEm vẫn đi về những bến sông?Chính vì vậy mà nỗi đau xót sẽ làm người đọc càng day dứt, như một sự tích tụ để vỡ oà trước sự mất mát. Hơn bao giờ hết, người đọc nhận ra tội ác của kẻ thù một cách cụ thể đến từng số phận: bắt đầu từ sự xuất hiện của chúng là một dự cảm mơ hồ, tiếc nuối:Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹnĐâu ngờ từ đó mất tin nhauđể rồi trở thành sự ngóng đợi thắc thỏm: sương trắng người đi lại nhớ người. Mong đợi cháy bỏng đến khi thành hiện thực thì lại phải đối mặt với nỗi đau lớn nhất “giặc giết em rồi, dưới gốc thông”. Nỗi đau vụt đến quặn xé đã được diễn tả xúc động:A nh ngước nhìn lên hai dốc núiHàng thông, bờ cỏ, con đường quenNắng lụi bỗng dưng mờ bóng khóiNúi vẫn đôi mà anh mất em!Hình ảnh kỷ niệm yêu thương đã vụt biến thành chứng tích đau thương, nỗi đau rất thật ấy không của riêng ai bởi không chỉ là sự mất mát của anh mà là của cả quê hương, bởi “em sống trung thành, chết thủy chung”. Đó không hề là cảm giác bi lụy mà mang tính chất bi kịch, giúp người đọc ý thức được giá trị của chiến thắng. Nỗi đau càng lớn hơn khi được kể lại, nhưng sự vô tình ấy lại làm ta nhận rõ về người liệt sĩ – người yêu của anh chiến sĩ:Mấy năm cô ấy vào du kíchKhông hiểu vì sao chẳng lấy chồng?Mỗi lời kể như dao cứa vào tim, nhưng lạ thay lại làm ta thêm yêu mến, trân trọng người con gái sắt son anh dũng. Nỗi đau riêng hoà vào nỗi đau chung, ta hiểu thêm hơn về bản chất của tình yêu trong kháng chiến, với những con người bình thường mà cao cả đã vượt lên tình riêng, sẵn sàng cống hiến tất cả cho quê hương. Hình tượng người con gái Núi Đôi còn để lại suy ngẫm sâu sắc về sự hy sinh. Đó không phải là mất mát bình thường mà có khả năng biến đau thương thành sức mạnh. Bóng hình người con gái hoà vào bóng hình quê hương, thúc giục tâm tư của người còn sống, thành ý chi và quyết tâm vượt lên bất hạnh, hồi sinh sự sống. Với ý nghĩa đó, cô gái núi Đôi đã thành biểu tượng bất tử:Cha mẹ dìu nhau về nhận đấtTóc bạc thương từ mỗi gốc cauNứa gianh nửa mái lều che tạmSương nắng khuây dần chuyện xót đauTình yêu bị kẻ

Lời Bài Thơ Núi Đôi (Vũ Cao)

Bảy năm về trước em mười bảy Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng Xuân Dục, Đoài Đông hai nhánh lúa Bữa thì anh tới bữa em sang.

Lối ta đi giữa hai sườn núi Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi Em vẫn đùa anh sao khéo thế Núi chồng, núi vợ đứng song đôi.

Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn Ai ngờ từ đó mất tin nhau.

Anh vào bộ đội lên Đông Bắc Chiến đấu quên mình năm lại năm Mỗi bận dân công về lại hỏi Ai người Xuân Dục Núi Đôi chăng.

Anh nghĩ quê ta giặc chiếm rồi Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi Mỗi tin súng nổ vùng đai địch Sương trắng người đi lại nhớ người.

Đồng đội có nhau thường nhắc nhở Trung du làng nước vẫn chờ trông Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm Em vẫn đi về những bến sông.

Náo nức bao nhiêu ngày trở lại Lệnh trên ngừng bắn anh về xuôi Hành quân qua tắt đường sang huyện Anh nhớ thăm nhà thăm Núi Đôi.

Mới đến đầu ao tin sét đánh Giặc giết em rồi, dưới gốc thông Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa Em sống trung thành chết thuỷ chung.

Anh ngước nhìn lên hai dốc núi Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói Núi vẫn Đôi mà anh mất em.

Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo Em còn trẻ lắm, nhất làng trong Mấy năm cô ấy làm du kích Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng.

Từ núi qua thôn đường nghẽn lối Xuân Dục Đoài Đông cỏ ngút đầy Sân biến thành ao nhà đổ chái Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay.

Cha mẹ dìu nhau về nhận đất Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau Nứa gianh nửa mái lều che tạm Sương trắng khuấy dần chuyện xót đau.

Anh nghe có tiếng người qua chợ Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu.

Nhưng núi còn kia anh vẫn nhớ Oán thù còn đó anh còn đây Ở đâu cô gái làng Xuân Dục Đã chết vì dân giữa đất này?

Ai viết tên em thành liệt sĩ Bên những hàng bia trắng giữa đồng Nhớ nhau anh gọi em, đồng chí Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

Anh đi bộ đội sao trên mũ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường Em sẽ là hoa trên đỉnh núi Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

Vẻ Đẹp Bài Thơ ” Núi Đôi” Của Vũ Cao.

Đối với bạn đọc, Vũ Cao chưa hẳn là một nhà thơ quen thuộc như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu… Nhưng ai đã đọc ” Núi đôi” của Vũ Cao thì không thể quên những lời thơ, những suy nghĩ rất thành thật của ông qua bài thơ.Vũ Cao viết “Núi đôi” trong những ngày chống Pháp. Nỗi đau của sự mất mát to lớn kết tinh, lắng đọng trong thơ ông, nhưng nỗi đau không làm người chiến sĩ ngã gục mà từ đó họ vững vàng hơn trong cuộc chiến đấu mới. “Núi đôi” là một hiện thực tồn tại của thiên nhiên, cũng là tồn tại của niềm hạnh phúc trong mối tình Xuân Dục – Đoài Đông. “Núi đôi” mang phong vị của một bài ca dao. Câu chuyện trong thơ mang màu sắc dân gian. Hai người yêu nhau. Tình yêu của họ gắn với tình yêu đất nước, quê hương. Cuối một mùa chiêm quân giặc đến, người con trai ra trận. Ngày ngừng bắn anh trở về thăm quê hương thì được tin người con gái đã ngã xuống bên mảnh đất này. Cái chết không đến với người chiến sĩ mà đến với người du kích ở lại. Vũ Cao viết “Núi đôi” hình như cũng chỉ để dành riêng cho người đã ngã xuống với tất cả tấm lòng yêu thương, nhung nhớ. Suốt bài thơ, người con trai gọi “em” xưng “anh” như đang nói với người con gái ở quê hương ” Bảy năm về trước em mười bảy Anh mới đôi mươi trẻ nhất làngXuân Dục – Đoài Đông hai cánh lúaBữa thì em tới bữa anh sang”Tình yêu của họ không biết bắt đầu từ bao giờ, nhưng nó gắn bó với cánh đồng, với đồi núi của làng quê Xuân Dục – Đoài Đông. Có những lần, khi đùa người con gái đã nghĩ đến hạnh phúc trăm năm. “Lối ta đi giữa hai sườn núiĐôi ngọn nên làng gọi núi đôiEm vẫn đùa anh sao khéo thếNúi Chồng, núi Vợ đứng song đôi”Những âm tiết cuối của dòng thơ ” núi, đôi, đôi…” tượng trưng cho sự vững chắc, rắn chắc. Hai từ ” núi đôi” , ” sánh đôi” có lẽ tượng trưng cho niềm hạnh phúc và sự đau xót lắng đọng cùng một lúc trong một con người. Núi đôi không phải chỉ có những lời ca ngợi tình yêu, ca ngợi những kỉ niệm êm đềm nơi đồng quê Xuân Dục, Đoài Đông mà còn là hình ảnh đau thương của quê hương ” Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau” . Và ngày ngừng bắn khi hành quân qua huyện, anh ghé ” thăm nhà, thăm núi đôi” nhưng : ” Mới đến đầu ao tin sét đánh Giặc giết em rồi dưới gốc thông”Giặc giết người yêu, giết cả ước mơ, giết chết hạnh phúc lứa đôi của anh. Biết bao đau đớn bàng hoàng đến vào lúc anh đang ” náo nức” hy vọng nhất. Giang Nam trong “Quê hương” đã nói lên nỗi lòng người con trai lúc ấy:

” Không tin được dù đó là sự thật. Giặc giết em rồi quăng mất xác Chỉ vì em là du kích em ơi Đau xé lòng anh chết nửa con người”Cùng chung với nỗi đau ấy, Vũ Cao viết ” tin sét đánh” nói lên được sự thảng thốt, bàng hoàng của người chiến sĩ khi nghe tin người yêu mất. Nhưng người chiến sĩ trong ” Núi đôi” không gục ngã, cái chết anh dũng ” dưới gốc thông” của người yêu có làm anh đau đớn tột độ nhưng với những suy nghĩ chân thành tha thiết, anh tự hào ” Em sống trung thành, chết thuỷ chung”Chính cuộc kháng chiến anh dũng này, chính cuộc đời ngắn ngủi nhưng đẹp đẽ, trong sáng vô ngần của người yêu đã đem lại cho anh trong nỗi nghẹn ngào có niềm kính phục ngưỡng mộ, tôn vinh. Nghĩ đến người yêu, anh nghĩ đến kỉ niệm “Anh ngước nhìn lên hai dốc núiHàng thông, bờ cỏ con đường quenNắng bụi bỗng dưng mờ bóng khóiNúi vẫn đôi mà anh mất em”Một hình ảnh tưởng như vô tình mà mang nhiều ý nghĩa ” anh ngước nhìn” . Trước nỗi đau anh không cúi mặt, câu thơ diễn tả nỗi niềm mất mát, tâm trạng xúc động tê tái: ” Núi vẫn đôi mà anh mất em”Từ tấm lòng nặng ân tình và những suy nghĩ đẹp đẽ ấy, Vũ Cao đã tìm một lời kết đẹp cho bài thơ: “Anh đi bộ đội sao trên mũMãi mãi là sao sáng dẫn đườngEm sẽ là hoa trên đỉnh núiBốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm”Câu thơ được viết ra từ một tâm hồn thi sĩ – chiến sĩ. Hình ảnh quen thuộc ” Sao trên mũ” đã gắn bó với người lính trong thời gian “chiến đấu quên mình năm lại năm”. “Sao trên mũ” là hình ảnh tượng trưng cho lý tưởng, niềm tự hào chính đáng, là hướng đi của người lính cũng là người bạn chia sẻ cùng anh nỗi buồn, giúp anh đứng vững trong tư thế người chiến sỹ. Lý tưởng đẹp ấy là lý tưởng anh đã chiến đấu suốt bao năm dài, là lý tưởng mà người yêu anh đã ngã xuống vì nó. Người yêu là người liệt sĩ của Tổ Quốc. Hình ảnh của cô gái Đoài Đông là một bông hoa tuyệt đẹp trong suy nghĩ của anh, toả cho cuộc sống hương vị trong lành. “Em sẽ là hoa trên đỉnh núi.Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm”Là một bông hoa thơm tuyệt đẹp như tâm hồn người chiến sĩ, như cuộc đời người du kích. Tất cả những gì ở câu thơ toả ra là một “ngôi sao” ; không phải chỉ ở trên mũ mà ở ngay trong trái tim anh. Ánh sáng của ngôi sao, qua câu thơ truyền đến mỗi trái tim người đọc, làm ấm lòng người. Hình như Vũ Cao không có ý định viết cho chúng ta, ông viết để tặng riêng cho người du kích. Bài thơ từ đầu đến cuối vẫn giữ nguyên một giọng điệu, một giọng thơ, giọng những lời tâm sự âu yếm với người yêu. Lúc reo vui khi nhắc đến kỉ niệm, lúc nghẹn ngào khi nói đến nỗi đau của sự mất mát, lúc đinh ninh như một lời thề thuỷ chung. Dẫu nhà thơ không có ý định viết cho chúng ta thì những tình cảm chân thành của ông, hình ảnh rất đẹp của mối tình, cái chết của người con gái và lời kết cuối bài thơ luôn làm chúng ta suy nghĩ. Mình phải sống như thế nào trong cuộc sống hôm nay.

Đặng Thị Xuân Hương ổ trưởng Tổ Văn, trường THPT chuyên Lương Văn Chánh, Phú Yên (tạpchivan.com)

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Núi Đôi (Vũ Cao)

Anh ngước nhìn lên hai dốc núi

Hàng thông bờ có con đường quen.

Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói

Núi vẫn đôi mà anh mất em!

Cha mẹ đưa nhau về nhận đất

Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau

Nứa gianh nửa mái lều che tạm

Sương nắng khuây dần chuyện xót đau.

1956

I. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Núi Đôi

Nhà thơ Vũ Cao là một nhà thơ dù tên tuổi của ông không được nhiều người biết đến, nhưng với tác phẩm Núi Đôi độc giả yêu thích phong cách thơ ông bởi lối thơ nhẹ nhàng, trữ tình đậm chất dân gian.

Bài thơ Núi Đôi được Vũ Cao sáng tác dựa trên một câu chuyên có thật. Người con gái trong bài thơ là Trần Thị Bắc một nữ du kích Việt Minh quê ở xóm Chùa, thôn Xuân Đoài – Đoài Đông xã Phù Linh (Còn gọi là Lạc Long), huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Trần Thị Bắc mất ngày 21/3/1954 khi rơi vào ổ phục kích của đối phương.

II. Bình giảng bài thơ Núi Đôi

Bài thơ Núi Đôi là sự diễn tả câu chuyện tình yêu xúc động trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Câu chuyện trong thơ mang màu sắc dân gian. Hai người yêu nhau. Tình yêu của họ gắn với tình yêu đất nước, quê hương.

Mở đầu bài thơ là sự hoài niệm về một thời đẹp nhất của tuổi trẻ, tuổi thanh xuân:

Bảy năm về trước em mười bảy

Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng

Xuân Dục – Đoài Đông hai cánh lúa

Bữa thì em tới bữa anh sang”

Hai câu thơ mở đầu là sự dẫn dắt vào một không gian trong veo với hình tượng “Anh” và “Em”. Những vần thơ tự nhiên, giản dị, Tình yêu của họ không biết bắt đầu từ bao giờ, nhưng nó gắn bó với cánh đồng, với đồi núi của làng quê Xuân Dục – Đoài Đông.

“Lối ta đi giữa hai sườn núi

Đôi ngọn nên làng gọi núi đôi

Em vẫn đùa anh sao khéo thế

Núi Chồng, núi Vợ đứng song đôi”

Sự miêu tả câu chuyện tình yêu hết sức riêng tư, chân thật gắn liền với hoàn cảnh quê hương đất nước. Hình ảnh “núi chồng” và “núi vợ” là hình tượng tạo nên ngọn ” Núi đôi” tượng trưng cho niềm hạnh phúc và sự đau xót lắng động.

Núi đôi không phải chỉ có những lời ca ngợi tình yêu, ca ngợi những kỉ niệm êm đềm nơi đồng quê Xuân Dục, Đoài Đông mà còn là hình ảnh đau thương của quê hương ” Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau”. Và ngày ngừng bắn khi hành quân qua huyện, anh ghé ” thăm nhà, thăm núi đôi” nhưng:

” Mới đến đầu ao tin sét đánh

Giặc giết em rồi dưới gốc thông”

Quân giặc đến, giết chết cả người yêu, giết chế cả tuổi trẻ, ước mơ và hạnh phúc lứa đôi. Nỗi đau đớn, bàng hoàng ấy khiến ai cũng cảm thấy rưng rưng nước mắt. Nỗi đau ấy đến vào lúc anh đang hi vọng nhất.

” Không tin được dù đó là sự thật.

Giặc giết em rồi quăng mất xác

Chỉ vì em là du kích em ơi

Đau xé lòng anh chết nửa con người”

Cụm từ “tin sét đánh” thể hiện sự bàng hoàng, của người Anh, người chiến sĩ khi nghe tin người yêu mất. Nhưng hình tượng người chiến sữ trong Núi Đôi không dù đau đớn đến tột cùng nhưng không gục ngã, vẫn luôn cảm thấy tự hào:

” Em sống trung thành, chết thuỷ chung”

Dù cuộc đời em trải qua thời gian ngắn ngủi, nhưng vô cùng đẹp đẽ và cao cả để lại trong Anh nỗi nghẹn ngào và kính phục.

“Anh ngước nhìn lên hai dốc núi

Hàng thông, bờ cỏ con đường quen

Nắng bụi bỗng dưng mờ bóng khói

Núi vẫn đôi mà anh mất em”

Những kỉ niệm về người yêu lại ùa về, những hình ảnh gắn với câu chuyện tình của em và anh thật chân thật và mộc mạc. Đó là “dốc núi”, hàng thông, bờ cỏ..nay chỉ còn “anh ngước nhìn”. Câu thơ:

” Núi vẫn đôi mà anh mất em”

Trong tâm trí của những người yêu nhay hình ảnh núi đôi là hình ảnh cặp đôi sẽ luôn gắn kết với nhau. Nhưng với anh “núi vẫn đôi” mà “anh mất em” ngọn núi đôi vẫn đứng đó, chỉ có anh là mất đi người yêu. Nỗi mất mát, chua xót thật không gì diễn tả được.

Từ tâm trạng chàng trai trong bài thơ, giúp ta phần nào hiểu được vẻ đẹp tâm hồn anh bộ đội trong kháng chiến chống Pháp luôn thắm đượm ân tình với quê hương, người thân. Tâm hồn người chiến sĩ luôn tồn tại một không gian hoài niệm, nhung nhớ đến cháy lòng – khơi lên tình cảm yêu thương và căm hờn trong lòng chiến sĩ, làm rõ vẻ đẹp giàu chất nhân văn.

Lời dẫn chuyện của nhà thơ Vũ Cao tái hiện nguyên vẹn không khí những ngày kháng chiến, đánh thức bao cảm xúc của một thời bi hùng mà cũng ắp tràn thương nhớ của bao người. Sự hiện diện thường trực của hình tượng núi Đôi xuyên suốt những ngày chiến đấu là cách cắt nghĩa trọn vẹn ân tình với quê hương và thổi bùng ngọn lửa tình yêu mãnh liệt với cô gái Xuân Dục.

Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm

Em vẫn đi về những bến sông?

Nỗi đau xót sẽ làm cho người đọc, càng day dứt, mọt sự tích tụ vỡ ào trước sự mất mát. Từ đó người đọc nhận ra tội ác của kẻ thù. Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn

Đâu ngờ từ đó mất tin nhau

Nỗi đau vụt đến quặn xé đã được diễn tả xúc động:

Hình ảnh kỉ niệm yêu thương, đã vụt biến thành chứng tích tụ đau thương, nỗi đau ấy rất thật, là nỗi đau mất mát không chỉ riêng anh mà là của cả quê hương, của cả đất nước.

Mỗi một lời kể càng làm cho nỗi đau, nỗi mất mát ấy càng lớn:

Mấy năm cô ấy vào du kích

Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng?

Mỗi lời kể càng làm thêm đau đớn và càng làm cho ta thêm kính trọng, tự hòa về hình ảnh của một người con gái, một người chiến sĩ dũng cảm. Nỗi đau riêng hoà vào nỗi đau chung, ta hiểu thêm hơn về bản chất của tình yêu trong kháng chiến, với những con người bình thường mà cao cả đã vượt lên tình riêng, sẵn sàng cống hiến tất cả cho quê hương.

Liệt Sỹ, Anh Hùng Trần Thị Bắc, Nguyên Mẫu Trong Bài Thơ “Núi Đôi” Của Nhà Thơ Vũ Cao

Chân dung Liệt sỹ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Thị Bắc (1932-1954)

Hình ảnh cao đẹp của người phụ nữ trong bài thơ Núi Đôi của Vũ Cao “Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm”, đã đi theo bước chân các chiến sỹ trên đường hành quân ra trận thời chống Mỹ và gieo vào tâm khảm lớp lớp thế hệ hôm qua, hôm nay, niềm xúc động, tự hào về người liệt sỹ anh hùng, chính là một hình ảnh có thực. Những câu chuyện mà tôi được nghe người trong gia đình chị và người xã đội trưởng năm 1954 kể lại, ông Nguyễn Văn Lịch, đẹp hơn, anh hùng hơn, sâu đậm hơn những gì tôi đã mường tượng qua bài thơ của nhà thơ Vũ Cao.

Ông Trần Văn Nhuận, em trai Liệt sĩ Trần Thị Bắc thắp hương tại phần mộ chị tại Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Sóc Sơn

Câu thơ của Vũ Cao đã nói hộ chúng ta về thôn Xuân Dục Đoài, xã Phù Linh, quê hương chị, thuộc xã Lạc Long, huyện Đa Phúc, nay là huyện Sóc Sơn. Chị chào đời năm 1932 và tuổi thơ đã sớm phải chứng kiến cảnh cha bị thực dân Pháp bắt đi tù ở Sơn La, rồi Hỏa Lò. Khi đã là thiếu nữ, chị hiểu con đường cách mạng chông gai khi biết ông Trần Văn Bích là cơ sở của Huyện ủy Đa Phúc năm 1945-1946, chú ruột Trần Văn Nghiêm xung phong đi bộ đội giải phóng quân đã hy sinh. Năm 1949, 17 tuổi, chị tham gia Ban Chấp hành phụ nữ xã Lạc Long; sau đó xung phong vào du kích, như một lẽ tất yếu của lý tưởng cao đẹp, muốn dâng hiến tuổi trẻ cho độc lập tự do của đất nước, quê hương. Lúc đó, Núi Đôi – tên hai trái núi thơ mộng, cũng là cao điểm để quân đội Pháp xây dựng bốt kiên cố và trang bị hỏa lực mạnh. Ông Nguyễn Văn Lịch, nguyên xã đội trưởng kể: “Tháng 7 năm 1949, địch đã xây bốt gạch ở Núi Đôi cùng với hệ thống từ núi Thằn Lằn, Mán Tép, Đạc Tài, Tú Tạo, Phù Lỗ, tạo thành hệ thống phòng thủ, khống chế hoạt động của ta. Từ năm 1950, chúng cho xây hệ thống boong ke từ trung du về đồng bằng, lập vành đai trắng, triệt phá phong trào kháng chiến dữ dội với phương châm “Xuân Dục, Đoài Đông hai nhánh lúa/ Bữa thì anh tới bữa em sang”. “không cho lọt một tấc đất vào tay cộng sản”. Do đó, ở Núi Đôi, ngoài bốt gạch cũ, chúng xây thêm năm bốt mới bằng bê tông cốt thép và tăng cường lực lượng gồm một đại đội Tây trắng, Tây đen, một trung đội lính bảo hoàng, có cả bọn batizăng. Sóc Sơn là cửa ngõ để cán bộ ta từ vùng tự do vào vùng địch hậu, luồn sâu về Hà Nội và ngược lại. Do đó, nhiệm vụ bám dân, giữ đất, liên lạc đưa đón cán bộ là hết sức quan trọng. Du kích xã Lạc Long có khoảng 30 người, chia thành ba tổ: Tổ du kích Thượng Dược theo dõi bốt La-ni-vê; tổ du kích Lương Châu theo dõi bốt Miếu Thờ, tổ du kích Xuân Đoài theo dõi bốt Núi Đôi. Gan dạ, mưu trí, nhanh nhẹn, chị Bắc là tổ trưởng của du kích Xuân Đoài. Năm 1951, chị được giao làm cả ba nhiệm vụ: quân báo, cứu thương, binh vận. Thông minh, đẹp người, đẹp nết, chị làm công tác địch vận rất hiệu quả. Dân trong xã luôn thấy cô gái xinh tươi, tóc dài vấn trong vành khăn mỏ quạ, gánh thúng hàng đi bán ở chợ phiên, không ai biết chị đang làm nhiệm vụ, nắm tin tức. Dân làng còn lưu truyền đến tận bây giờ, câu chuyện tên chỉ huy vào làng càn quét, thấy chị xinh đẹp, muốn lấy chị làm vợ bé. Tận dụng cơ hội thuận lợi đó, chị đã binh vận được cai Năm và cai Đinh, tự động mang súng ra hàng. Ông Tám Hồng, thợ mộc trong bốt Núi Đôi và bà Tuệ là vợ Tây trở thành cơ sở nội ứng, cung cấp tin tức kịp thời cho chị kế hoạch càn quét của địch. Cũng nhờ có nhân mối mà du kích xã đã thâm nhập vào bốt Núi Đôi, lấy được lựu đạn, mìn của địch để đi mai phục chúng. Bọn giặc đánh hơi, biết chị hoạt động du kích, vào làng bắt cha chị tra tấn dã man, nhưng ông kiên gan chịu đòn thù, không nhận con là du kích.

Tình yêu và sự hy sinh anh dũng, đẹp hơn cả trong thơ

“Em sống trung thành chết thủy chung/ Anh ngước nhìn lên hai dốc núi/ Hàng thông bờ cỏ con đường quen/ Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em”. Nhà thơ Vũ Cao nghe câu chuyện dân làng Phù Linh kể về chị, xúc động sáng tác nên bài thơ Núi Đôi nổi tiếng. Tôi cũng như bao người đinh ninh rằng, có một người con gái đã hy sinh giữa tuổi thanh xuân tươi đẹp. Chỉ đến khi lên Sóc Sơn, gặp bà Trần Thị Thiệp, em gái liệt sỹ, có khuôn mặt hao hao như ảnh chị Bắc, lại được đọc tư liệu của các nhân chứng lịch sử, tôi mới được biết thêm về cuộc đời và mối tình của chị với anh bộ đội Trịnh Khanh thuộc đại đội Trần Quốc Tuấn, trung đoàn 121- đơn vị chủ lực chiến đấu ở vùng đồng bằng- trung du Bắc Bộ.

Tọa đàm: “Liệt sĩ Trần Thị Bắc với quê hương Sóc Sơn anh hùng”,

Ngày 16-3-1954, 22 giờ đêm, chị dẫn đường cho đoàn cán bộ từ vùng tự do vào vùng tạm chiếm ở xã Phù Linh để chuẩn bị cho một trận chiến đấu. Vừa đến khu ruộng ở bãi Thái Hòa (nay ở gần trạm máy nước Xuân Đoài), cả đoàn rơi vào ổ phục kích của địch. Chị đã hô to lên cho các đồng chí biết. Giặc điên cuồng xả đạn vào người chị. Ngay trong đêm, xã đội cử bốn du kích là ông Túc, ông Thuộc, ông Hội, ông Viết Thị làm nhiệm vụ lấy xác chị Bắc. Các ông đến được nơi chị ngã xuống thì máu đã chảy loang trên bãi cỏ. Đồng đội gạt nước mắt, cõng chị về chùa Vệ Sơn Đoài (Tân Minh). Lễ mai táng liệt sỹ Trần Thị Bắc ở khu vực Cầu Cốn được tổ chức trang trọng với sự có mặt của các đồng chí huyện ủy Đa Phúc và đồng đội, nhân dân trong xã Lạc Long. Riêng gia đình chị đang ở Lương Sơn cùng bà con trong khu địch dồn dân, không có mặt trong giây phút thương đau ấy. Bà Trần Thị Thiệp, em gái liệt sỹ Trần Thị Bắc kể: Đêm ấy, nghe nó vãi đạn mooc chi ê liên tục từ Núi Đôi, mẹ tôi cũng không ngủ được, luôn cầu trời khấn phật cho chị thoát khỏi nguy hiểm. Sáng sớm hôm sau, chị Hợi tôi ra đồng Sen, thấy chiếc khăn láng đen giống hệt khăn của chị Bắc trên đồng, mang về cho mẹ tôi. Bà cụ khóc, đau cắt ruột mà cũng không ra mộ chị ở Cầu Cốn được. Bọn địch gọi hết dân làng ra bãi Chè thôn Lương Châu để điểm mặt, kiểm thẻ căn cước. Lúc ấy, cha tôi đang đi dân công hỏa tuyến phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, cũng không về được. Con gái mất, chồng đi dân công biền biệt không tin tức, mẹ tôi ốm mấy trận, tưởng không qua khỏi. Mãi đến sau hòa bình, mới thấy ông cụ về.

Tôi hỏi bà Thiệp câu chuyện ông Trịnh Khanh, bà kể: Năm 1955, ông về Cầu Cốn tìm mộ vợ rồi chuyển mộ về quê ông ở làng Vệ Linh (sau này, các liệt sĩ của Sóc Sơn được chuyển về xã Tiên Dược, chị Bắc quây quần với đồng đội ở đó).

Các đại biểu tham dự Tọa đàm: “Liệt sĩ Trần Thị Bắc với quê hương Sóc Sơn anh hùng”,

Sau ba năm để tang vợ, chính mẹ chị Bắc cùng mẹ đẻ và mẹ nuôi của ông Khanh đã đi hỏi vợ cho ông. Từ đó đến trước khi ông mất (năm 2013), dù ông sống ở thôn Hậu Dưỡng, xã Kim Chung (Đông Anh), gia đình chị Bắc vẫn coi ông Khanh như anh rể lớn trong nhà, tình nghĩa trước sau vẹn tròn trong mỗi dịp lễ tết, hiếu hỉ của gia tộc chị.

Lễ truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp cho liệt sĩ Trần Thị Bắc, tháng 7-2024

Câu chuyện tình đời kết thúc có hậu, nhân nghĩa, có thủy, có chung. Hình ảnh chị sống trung thành chết thủy chung càng đẹp trong tâm khảm mỗi người hôm nay. Tháng 7-2024, Nhà nước đã vinh danh liệt sĩ Trần Thị Bắc là Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Quê hương Sóc Sơn thật tự hào về người nữ Anh hùng đã trở thành biểu tượng cao đẹp cả trong thơ và trong đời cho thế hệ sau noi theo.

Ths. Phạm Kim Thanh

Nhà Thơ Vũ Cao

Nhà thơ Vũ Cao và vợ.

I – Vũ Cao không chỉ có “núi đôi”

Người ta nói Vũ Cao là một nhà thơ, một cây bút truyện ngắn, một nhà tiểu thuyết, một tác giả được các em nhỏ yêu quý; người ta lại nói Vũ Cao là nhà quản lý văn nghệ, là “quan văn” vì ông đã từng làm Tổng biên tập một tờ tạp chí văn chương có “thương hiệu” là tờ Văn nghệ Quân đội suốt những năm bom đạn ác liệt, khó khăn nhưng lại rất “vàng son”, Giám đốc một nhà xuất bản giữa Thủ đô là Nhà xuất bản Hà Nội… Nhưng trước sau gì ông vẫn là nhà thơ quân đội, từ quân đội, của bộ đội. Nói vậy không phải vì ông đã từng đeo lon đại tá 4 sao (lúc ông còn trong quân đội, cấp đại tá có đại tá 4 sao và đại tá 3 sao, thế nên nhà thơ Phạm Tiến Duật mới có bài thơ mừng Văn nghệ Quân đội: “Nay mừng tạp chí được huân chương / Anh Thiều (nhà văn Xuân Thiều), anh Điệng (nhà văn Dũng Hà) với anh Phương (nhà văn Hồ Phương) / Thượng tá bỗng dưng thành đại tá/ Cũng như khu phố đổi ra phường”.

Tham gia quân đội ngay từ đầu cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp và liên tục làm phóng viên mặt trận của các tờ báo quân đội như Chiến sĩ Liên khu Bốn, Vệ quốc quân, Quân đội Nhân dân… những trang viết hay nhất của ông là về bộ đội, viết cho bộ đội, về chiến tranh cách mạng và người chiến sĩ. Nói đến đội ngũ những nhà văn – chiến sĩ, những nhà văn quân đội nửa sau thế kỷ XX phải nói đến Vũ Cao.

Vũ Cao là nhà thơ, nói vậy bởi ông đã in ba tập thơ: “Sớm nay” (NXB Văn học, l962), “Đèo trúc” (NXB Quân đội Nhân dân, 1973, in lại 1976) và “Núi Đôi” (NXB Hà Nội, 1990) cùng khá nhiều thơ lẻ. Nói đến thơ Vũ Cao là nói tới “Núi Đôi” – một bài thơ tình không chỉ được nhiều thế hệ bạn yêu thơ thuộc lòng mà còn làm sống mãi được một địa danh. Nhà thơ Vũ Cao cũng đã kể về trường hợp viết bài thơ một cách thật giản dị: “Trong kháng chiến chống Pháp tôi có qua lại đây (vùng núi Đôi, Đa Phúc, Kim Anh, Trung Giã) nhiều lần… Sau chiến tranh, có dịp trở lại và chiều nào tôi cũng lững thững lên núi, ngồi nhìn về phía Hà Nội hoặc phía Tam Đảo, mặt trời lặn hẳn mới về đơn vị ăn cơm. Mỗi lần như vậy khi bước vào nhà, tôi thường quay lại nhìn hai ngọn núi, cứ như lưu luyến một điều gì đó mà chính tôi cũng không hiểu. Một buổi chiều mùa thu, hơi lạnh, có nắng tà và sương màu lam, bỗng từ nơi nào đó trong tiềm thức tôi nảy ra một hình ảnh: hai ngọn núi là hai con người, núi cao là nam, núi thấp là nữ, những lô cốt, những ngọn thông, những làng mạc kia là quang cảnh còn lại của cuộc chiến đấu. Phải nói thật là từ trước đó bao nhiêu năm tháng, tôi chưa hề bao giờ nghĩ là mình sẽ làm một bài thơ về núi Đôi… Nhưng lần này thì tôi lại cảm thấy một cái gì đó như một bài thơ đang đến với mình, một tư tưởng, một băn khoăn, một tình cảm, một kỷ niệm nào đó đang đến với mình. Có lẽ đối với tôi thơ tự nó đến, chứ tôi không tìm vì có tìm cũng chẳng ra”… Và đêm đó Vũ Cao đã “tóm gọn” được “Núi Đôi”. Ông kẹp bản thảo bài thơ vào tập bài bút ký nộp cho Văn nghệ Quân đội. Bài thơ được in ngay, in trước cả bài bút ký mà ông đã được phân công viết. Sau khi “Núi Đôi” được in, Vũ Cao được xem như “người nhà” của vùng trung du đó, và với ông, từ đó ông cũng coi vùng núi Đôi như quê hương thứ hai của ông. Với thơ, Vũ Cao không chỉ có “Núi Đôi”. Ông còn có nhiều bài thơ hay khác. Ví như bài “Đèo trúc” với những câu:

Đi ta đi.Ta đứng ngang trờiMây dưới chân ta, ta vượt mây rồiNúi đã xuống với đồi nương làm bạnKhông thấy nữa những vòm tre xóm bản Chỉ còn ta và gió với mây bay Quân ta đi đã ngót bốn đêm ngàyMới tới được đèo kia Đẹp lắm

Ví như bài Ngang dốc núi với những câu:Lên ngang dốc núiChợt thấy mình sayNgười ơi hoa tímĐầy rừng hoa bay Ví như bài «Sau ngày 3–9» viết về Bác Hồ với những câu: Cho con ước tự bây giờ.Mỗi năm vào buổi giao thừa, mỗi nămBác về cùng với nhân dân Đọc thơ Tết lấy một lần, hãy đi!

Và ví như trong bài “Còi tàu”:Mấy đàn chim sẻ chim ri tiễn chân tôi đã bay về lại lên…

Vũ Cao không chỉ là nhà thơ, ông còn là một nhà văn. Ngay từ trong kháng chiến chống thực dân Pháp ông đã nổi tiếng về viết phóng sự chiến tranh với những trang “tả trận”, “nóng bỏng hơi thở của chiến trường”. Ấy là hàng loạt các bài in trên các báo Quân khu IV, Quân du kích, Vệ quốc quân và Quân đội Nhân dân, trong đó có “Diệt chúng nó để trả thù” viết tháng 11-1952, năm 1955 được Nhà xuất bản Minh Đức – Thời Đại xuất bản thành sách. Trong những năm đầu hòa bình, Vũ Cao tham gia trại viết truyện anh hùng do Tổng cục Chính trị tổ chức. Trong những năm chống Mỹ cứu nước, mặc dù bận việc làm báo ông vẫn tranh thủ đi thực tế ở các miền quê, các đơn vị bộ đội và tuyến lửa khu IV để viết ký, viết truyện ngắn. Thời gian này ông viết các truyện ngắn xuất sắc: “Từ một trận địa”, “Những quả ổi chín”, “Trong một gia đình”, “Người dân Thủ đô” và “Một đoạn thơ sông Đà”… về sau được Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân in thành tập “Từ một trận địa” (1969).

Sẽ là rất không đầy đủ nếu nói đến văn xuôi Vũ Cao mà không nhắc tới mảng sách viết cho thiếu nhi của ông. Vốn là người yêu trẻ, lại xuất thân trong một gia đình có tới ba nhà văn (Vũ Tú Nam, Vũ Ngọc Bình là em trai ruột nổi danh với những tác phẩm viết cho thiếu nhi) nên ngay từ những năm đầu tiên Nhà xuất bản Kim Đồng ra đời, Vũ Cao đã có sách in tại đó. Ấy là các cuốn “Em bé bên bờ sông Lai Vu” (1958, 1987 tái bản lần thứ 4), sau đó là “Anh em anh chàng Lược” (1965)… Với những sáng tác này, Vũ Cao đã được Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tặng Huy chương Vì thế hệ trẻ.

Văn xuôi Vũ Cao cũng như thơ ông tuy không thật bề thế nhưng đa dạng và mang một dấu ấn khá riêng, đôn hậu, có phong vị và đằm thắm. “Một đoạn thơ sông Đà” viết năm 1965 là một truyện ngắn hay nhất của ông, đồng thời cũng là một trong không nhiều truyện ngắn viết về chiến tranh với một phong cách trữ tình, giàu chất thơ nhất, đây không phải là một tùy bút thơ nhưng lại rất đúng với tên truyện “một đoạn thơ”. Với các tập “Đèo trúc”, “Núi Đôi”, “Từ một trận địa”… ông đã được vinh dự nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học – nghệ thuật (2001).

II -Vũ Cao -“Ông Bụt” nhà số 4

Tháng 8/1945, Cách mạng Tháng Tám vừa thành công ít tháng thì toàn quốc kháng chiến. Cũng như nhiều thanh niên thời bấy giờ, Vũ Cao “xếp bút nghiên” tòng quân và trở thành anh Vệ quốc quân. Cuộc đời gần 40 năm trong bộ đội, công việc chủ yếu của ông là viết báo. Năm 1947, ông làm phóng viên mặt trận của tờ Chiến sĩ quân khu IV, sau đó – từ tháng 4/1949 ông về công tác tại tờ Vệ quốc quân cùng với những Thâm Tâm, Thôi Hữu, Trần Đăng, Từ Bích Hoàng, Mai Văn Hiến, Dương Bích Liên… và từ tháng 10/1950 đổi thành báo Quân đội Nhân dân ông vẫn là một phóng viên chủ lực. Không chỉ viết phóng sự, đưa tin chiến sự, ông còn làm thơ, viết truyện ngắn và cùng với Từ Bích Hoàng dịch các tác phẩm của các nhà văn tiến bộ Pháp, các nhà văn Nga và Trung Quốc (A. Phađêep, I. Erenbua…). Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn cuối, Vũ Cao lại cùng một số nhà văn quân đội làm tờ Sinh hoạt văn nghệ – tiền thân của Tạp chí Văn nghệ Quân đội hiện nay với các nhà văn Thanh Tịnh, Hữu Mai, Nguyễn Thi, Văn Phác, Vũ Tú Nam, Hồ Phương, Hải Hồ, Doãn Trung, Trần Dần… và gắn bó suốt 23 năm trên cương vị biên tập viên, Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm (Tổng biên tập) với quân hàm đại tá.

Quãng thời gian Vũ Cao công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội là những năm tháng vàng son nhất của “nhà số 4”: Tạp chí phát hành tới 150.000 bản/ tháng; các cuộc thi truyện ngắn, thi thơ vẫn có sức thu hút cả ngàn người. Các nhà văn trong Ban phụ trách tờ tạp chí được xem những “ông Phật sống”: Nhà thơ Thanh Tịnh- thượng tọa (“Lên thượng tá mà sống như thượng tọa”), nhà văn Từ Bích Hoàng – “Từ Bi Hoàng”, còn Vũ Cao là “Ông Bụt chịu chơi nhưng kín đáo”. Cả ba ông đều cùng anh em đi thực tế, đi tăng gia sản xuất, đi sơ tán và còng lưng bê đất đào vét sông Tô Lịch… Tạp chí Văn nghệ Quân đội lúc ấy chỉ là cấp phòng, vậy mà mấy Đại hội Đảng bộ Tổng cục Chính trị, anh đều trúng Ủy viên chấp hành, đại diện xứng đáng cho cả giới văn học – nghệ thuật trong quân đội… Anh là đảng ủy cấp trên, thủ trưởng tạp chí, nói là không lãnh đạo gì chỉ là một cách nói chứ thực ra suốt mấy chục năm phụ trách một lớp nhà văn tài hoa với nhiều tính cách khác nhau: Nguyễn Thi, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Hữu Mai, Hồ Phương, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh, Hải Hồ, Thu Bồn… đâu phải dễ dàng. Người lãnh đạo văn nghệ như Vũ Cao quả là hiếm.

Vũ Cao là vậy, ông không giận ai bao giờ và mọi người cũng chẳng ai giận ông lâu. Ông sống giản dị đến tuềnh toàng nhưng luôn vui vẻ và chu đáo trong giao tiếp nên rất dễ gần. Có lần nhà thơ Xuân Quỳnh muốn xin về công tác ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Vũ Cao đùa: “Cô về đấy làm gì? Làm Tổng biên tập à?”. Xuân Quỳnh: “Tưởng làm gì chứ làm Tổng biên tập như anh thì dễ quá”. Nghe vậy Vũ Cao cười phá lên và bảo: “Giỏi, giỏi!”… Mấy năm trước khi nghỉ hưu, Vũ Cao sang công tác tại Nhà xuất bản Hà Nội trong cương vị Giám đốc nhưng ông vẫn thường xuyên hỏi han, qua lại Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Có người nói ông là sứ giả, là cầu nối bang giao giữa Nhà xuất bản và Tạp chí. Nói tới Vũ Cao, nghĩ về Vũ Cao người ta nghĩ ngay tới cái dáng cao lêu đêu và mái đầu húi cua với mái tóc bạc tựa hoa lau. Ông tên thật là Vũ Hữu Chỉnh, khi viết báo lấy bút danh là Vũ Cao – người cao đặt là Cao, có vậy thôi…

Nói tới Vũ Cao, người ta cũng nghĩ ngay về tiếng cười và đôi bàn chân của ông. Cái cười Vũ Cao là cái cười tự nhiên và luôn “hết cỡ”, rất thoải mái và phóng túng, rất hợp với thói quen rung đùi của ông. Nhà văn Xuân Thiều viết: “Sống với anh ở ngôi nhà số 4 đúng 20 năm, sau này anh chuyển ra ngoài nhưng vẫn thăm hỏi nhau, hễ gặp anh là gặp tiếng cười dễ lây lan, nó làm vợi đi nỗi niềm chất chứa”. Còn bàn chân của nhà thơ thì, nói theo cách nói của nhà văn Trần Cư (bạn đồng nghiệp của ông từ thời làm báo Vệ quốc quân) đó là đôi bàn chân không hợp với mọi khổ giày. Không ai có một bàn chân như thế, trừ chân của họa sĩ Văn Giáo!

Những giai thoại ấy nếu được ghi chép lại, hệ thống lại đầy đủ ta sẽ có một hình dung về Vũ Cao sinh động hơn, đời thường hơn về một nhà báo, nhà thơ, một ông Tổng biên tập, một vị Giám đốc.

Với những đóng góp to lớn trong lĩnh vực báo chí xuất bản, Vũ Cao đã được vinh dự nhận Huy chương Vì sự nghiệp báo chí Việt Nam và Kỷ niệm chương của ngành xuất bản Việt Nam.

III – Vũ Cao – Những giai thoại trong gia đình văn nghệ

Vũ Cao sinh ngày 18/2/1922 tại xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định – nơi sinh thành của những danh nhân Trần Huy Liệu, Văn Cao, Văn Ký… Lớn lên trong một gia đình có truyền thống văn học, ông đã chịu ảnh hưởng rất nhiều ở người chú ruột là nhà thơ Vũ Văn Tộ, bút danh Côi Vị (non Côi, sông Vị – hai địa danh được xem là biểu tượng của đất Nam Định xưa). Hai chú cháu thường trao đổi với nhau chuyện chữ nghĩa, văn chương. Thư họ viết cho nhau có khi cũng bằng thơ.

Chuyện kể rằng, có lần Vũ Cao từ nơi trọ học đã mượn tên một cô gái là Lê Thị Liễu người thôn Mai Trang viết một bài thơ về để trêu Côi Vị.

Bài thơ có câu:

Xa xôi thi sĩ buồn chăng táHiểu giúp lòng em nỗi chứa chan?

Côi Vị nhận ra ngay giọng điệu của đứa cháu yêu bèn hồi âm trở lại cùng bằng một bài thơ rất hóm hỉnh. Mở đầu ông giả bộ:

Lê Liễu là ai, ai đó nhỉMai Trang non nước ở đâu ta?và khuyên Vũ Cao – “cô Lê Thị Liễu”:Cái kiếp văn chương chán đủ điềuHao dầu tốn bấc chẳng xu tiêuSao cô cứ gảy đàn thơ mãiRước lấy mai sau một tiếng nghèo

“Ông cháu” Vũ Cao không chỉ bị chú Côi Vị “lật tẩy” mà còn “dạy cho một bài học” về cái nghiệp văn chương. Một chuyện khác kể rằng, lúc còn đi học Vũ Cao vì ham thơ phú mà có lúc sao nhãng chuyện đèn sách, rốt cuộc trong một kỳ thi bậc thành chung, ông bị “trật vỏ chuối”. Ông rất buồn và xấu hổ. Biết vậy Côi Vị đã kịp thời gửi động viên cháu yêu một bài thơ. Bài thơ nói rằng: Chỉnh (tên thật của Vũ Cao) nên tiếp tục học tập và nếu… chẳng may có trượt nữa thì chắc hẳn rằng ông giời đã để cho Chỉnh được tự do:

Vẽ cả túi thơ và bút vẽLang thang cho thỏa chí giang hồ

Rồi Côi Vị tiếp tục… vẽ ra chân dụng ông cháu trẻ những nét biếm họa khiến Vũ Cao không nén được cười:

Bán tranh bán chữ chẳng ai muaThì Chỉnh ra sông Chỉnh chống đòĐược cái chân dài tay đại sảiTha hồ cho cả gió giông to.

Và lại một chuyện nữa kể, năm Vũ Cao 25 tuổi mà còn “phòng không”. Nhiều người, trong đó có nhà thơ Côi Vị đã khuyên ông rất nhiều, rằng gia đình ở quê rất lo ông “ế vợ”, phải lấy vợ. Nhận được thư ông chú với những lời khuyên và cả lời “đe” như thế, Vũ Cao rất lấy làm động lòng bèn viết bài thơ “Chưa muốn lấy vợ” để “ghẹo” Côi Vị. Vẫn với giọng điệu vui vẻ, hóm hỉnh, ông bảo: “Đánh chết thằng mô bảo Chỉnh xoàng” và nói rằng, ông vẫn đánh giặc, đọc sách, luyện văn chương và khỏe mạnh, và được ối cô mê… Sau cùng ông kết luận:

Lấy vợ, trời ơi! Lấy vợ ư?Xem nào râu mép có hay chưa?Tiền đâu kiếm nổi nuôi thân xácBút chỉ đào xuông mấy cẳng thơTớ chửa lôi thôi gì đến sựAi đừng ngấp nghé nữa mà dơCái thằng Vũ Chỉnh lêu đêu đóNó thẳng thương ai được nửa giờNguyệt lão chấm ai thì cứ việcMàn màn cho tớ chuyện xe tơ

Trong gia đình, cụ thân sinh ra ông cũng là một trí thức, một người rất yêu thơ và đã từng làm thơ. Năm 1997, trong dịp mừng thọ Vũ Cao 75 tuổi, có người bạn trẻ “khen” rằng ông vẫn như xưa, vẫn rất “phong độ”. Sau một tràng cười khà khà quen thuộc, Vũ Cao bỗng nhiên lặng đi. Ông tâm sự, ông đang nhớ tới những câu thơ của cụ thân sinh ra ông. Và ông kể, những năm cuối đời của cụ, cụ đã phải “theo” các con cụ hết nơi này đến nơi khác. Một lần cụ cảm tác đọc thơ:

Thân già lẽo đẽo theo chân trẻViệc nước lo toan trước việc nhà

Khi ấy ông thấy câu thơ của cụ thật bình thường, nhưng khi vào tuổi “xưa nay hiếm” ông mới thấm thía cái sâu sắc những câu thơ xưa của các bậc tiền nhân.

Riêng gia đình của Vũ Cao, có người nói có thể thành lập được một chi hội, bởi có tới bốn người là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (Vũ Cao, các em trai Vũ Tú Nam, Vũ Ngọc Bình và em dâuThanh Hương), trong đó có những người thuộc lớp hội viên sáng lập (l975) của Hội như ông, như nhà văn Vũ Tú Nam (từng giữ chức Tổng thư ký Hội).

IV -Vũ Cao – từ núi… đến núi

Lại nói về bài thơ “Núi Đôi”. Bài thơ là một câu chuyện tình bi tráng và đẹp đẽ trong thời đất nước còn tao loạn, chiến tranh, được in đi in lại cả ngàn lần, được chép trong sổ tay của những anh học trò, của những chàng lính trẻ nhiều thế hệ, ngâm trên sóng phát thanh, được đem giảng dạy tại các nhà trường cả mấy chục năm qua, được dịch ra mấy thứ tiếng và được chuyển thành phim đưa lên màn ảnh nhỏ… Hơn thế, còn được đi vào đời sống bằng cả những giai thoại, những nghi vấn văn chương rất đẹp. Và cũng nhờ có Núi Đôi – thơ mà núi Đôi – núi trở nên nổi tiếng khắp cả ba miền đất nước. Trước khi tác giả Núi Đôi về với cõi vĩnh hằng (2007), thành phố Hà Nội đã kịp đặt tên cho một con đường rất đẹp từ trung tâm thị trấn Đa Phúc trên quốc lộ 3 đến ngã tư Bưu điện Văn hoá xã Tân Minh (Sóc Sơn – Hà Nội) là đường Núi Đôi vào năm 2006. Đường dài 2.100m uốn lượn dưới chân núi Đôi. Đường Núi Đôi đẹp bên núi Đôi đẹp:

Lối ta đi giữa hai sườn núi Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi Em vẫn đùa anh : Sao khéo thế Núi chồng núi vợ đứng song đôi

Chuyện quanh bài thơ “Núi Đôi”, quanh tác giả của bài thơ chắc sẽ còn dài dài trong làng văn nghệ, trên văn đàn, thi đàn, bục giảng, trên chính quê hương có ngọn núi chồng, núi vợ và lớp trẻ mai sau. Có thể nói: “Ngọn núi Đôi kia còn, tên tuổi Vũ Cao còn”!

Núi Hổ là nơi khai sinh chàng trai Vũ Hữu Chỉnh, “Núi Đôi” thơ đã ghi danh Vũ Cao vào văn học. Bây giờ thì cả hai ngọn núi này còn đó nhưng nhà thơ của chúng ta thì đã đi xa. Dẫu vậy, nghĩ về thơ bộ đội những người yêu thơ, những bạn đọc bộ đội laị nhớ tới ông, lại nhớ về một ngọn núi nhỏ nơi miền sơn cước cùng câu chuyện tình của một thời chiến tranh lãng mạn và bi tráng. Và bóng dáng người thơ năm nào lại hiện ra qua vần thơ của một đệ tử mà sinh thời ông rất yêu quý – nhà thơ Xuân Sách:

Sáng ra nhấp một chén… khàNúi Đôi mãi mãi vẫn là Núi Đôi.

Thập tam trại, mùa hè 2024

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Tích Bài Thơ Núi Đôi Của Vũ Cao trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!