Xu Hướng 12/2022 # Phân Tích Bài Thơ Ngắm Trăng Của Hồ Chí Minh Văn Hay Chọn Lọc Lớp 8 / 2023 # Top 15 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Phân Tích Bài Thơ Ngắm Trăng Của Hồ Chí Minh Văn Hay Chọn Lọc Lớp 8 / 2023 # Top 15 View

Bạn đang xem bài viết Phân Tích Bài Thơ Ngắm Trăng Của Hồ Chí Minh Văn Hay Chọn Lọc Lớp 8 / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đề bài: Phân tích bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh. Bài làm của Lê Thúy Quỳnh đạt giải Nhì học sinh giỏi cấp trường THCS huyện Việt Yên, Bắc Giang.

Mở bài: Giới thiệu về bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh

Sinh thời, Bác Hồ luôn chú tâm chăm lo cho sự nghiệp cách mạng của đất nước, Người không có ham muôn trở thành một nhà thơ nhưng như đã có lần Bác viết:

“Ngâm thơ ta vốn không ham

Nhưng ngồi trong ngục biết làm sao đây?”

Hoàn cảnh “rỗi rãi” khiến Người đến với thơ ca như một kì duyên. Trong những năm tháng bị giam trong nhà lao Tưởng Giới Thạch, Bác đã có một bài thơ thật hay: “Vọng nguyệt”.

“Ngục trung vô tửu diệc vô hoa

Đối thử lương tiêu nại nhược hà?

Nhăn hướng song tiền khán minh nguyệt

Nguyệt tòng song khích khán thi gia”

Bài thơ được dịch là “Ngắm trăng”:

“Trong tù không rượu cũng không hoa

Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ

Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”

Thân bài: Phân tích bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh

Thi đề của bài thơ là “Vọng nguyệt” – “Ngắm trăng”. Người xưa ngắm trăng trên những lầu vọng nguyệt, những vườn hoa với bạn hiền, túi thơ, chén rượu.. Nhưng nay, Bác ngắm trăng trong hoàn cảnh thật đặc biệt:

“Trong tù không rượu cũng không hoa”

Câu thơ hé mở bao điều bất ngờ. Người ngắm trăng là một người tù không có tự do “trong tù”. Trong hoàn cảnh ấy, con người thường chỉ quay quắt với cái đói, cái đau và sự hận thù. Nhưng Hồ Chí Minh với tấm lòng yêu thiên nhiên tha thiết, Người lại hướng đến ánh trăng trong sáng, dịu hiền. Chẳng những vậy, chốn ngục tù tăm tối ấy “không rượu cũng không hoa”. Từ “diệc” trong nguyên văn chữ Hán (nghĩa là “cũng”) nhấn mạnh những thiếu thốn, khó khăn trong điều kiện “ngắm trăng”của Bác.

Không tự do, không rượu, không hoa nhưng “Đối thử lương tiêu nại nhược hà?” – Đối diện với ánh trăng sáng ta biết làm sao đây? Nguyên văn chữ Hán là một câu hỏi đầy bối rối, đầy băn khoăn của tâm hồn thi nhân trước vẻ đẹp trong sáng, tròn đầy của ánh trăng. Không có những điều kiện vật chất tối thiểu, không có cả tự do nhưng ở Hồ Chí Minh đã có một cuộc “vượt ngục tinh thần” vô cùng độc đáo như Bác đã từng tâm sự:

“Thân thể ở trong lao

Tinh thần ở ngoài lao”

Thể xác bị giam cầm nhưng tâm hồn Bác vẫn bay bổng với thiên nhiên. Điều đó được lí giải bởi tình yêu của Bác đối với thiên nhiên và còn bởi một tinh thần “thép” không bị khuất phục bởi cái xấu, cái ác. Trăng trong sáng, lòng người cũng trong sáng nên giữa trăng và người đã có sự giao hòa tuyệt vời:

“Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt

Nguyệt tòng song khích khán thi gia”

Bản dịch thơ:

“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ

Trăng nhòm khe của ngắm nhà thơ”

Trong bản nguyên tác chữ Hán, nhà thơ sử dụng phép đối giữa hai câu thơ “nhân” – “nguyệt”, “hướng” – “tòng”, “song tiền” – “song khích”, “minh nguyệt” – “thi gia”. Điều đó thể hiện sự đồng điệu, giao hòa giữa người và trăng để trăng và người giống như đôi bạn tri âm tri kỉ. “Nhân” đã chẳng quản ngại cảnh lao tù mà “hướng song tiền khán minh nguyệt”. Trong tiêng Hán, “khán” có nghĩa là xem, là thưởng thức. Đáp lại tấm lòng của người tù – thi nhân, vầng trăng cũng “tòng song khích khán thi gia”. Trong tiếng Hán, “tòng” là theo; trăng theo song cửa mà vào nhà lao “khán” thi gia. Đó là một cảm nhận vô cùng độc đáo. Vầng trăng là biểu tượng cho vẻ đẹp vĩnh hằng của vũ trụ, là niềm khát vọng muôn đời của các thi nhân. Vậy mà nay, trăng lên mình qua song cửa hẹp, đặt chân vào chốn lao tù ẩm ướt hôi hám để chiêm ngưỡng nhà thơ hay chính là tâm hồn nhà thơ vậy. Điều đó đã khẳng định vẻ đẹp trong con người Hồ Chí Minh.

“Vọng nguyệt” ra đời trong những năm 1942 – 1943 khi Bác Hồ bị giam trong nhà lao Tưởng Giới Thạch. Bài thơ thể hiện phong thái ung dung, coi thường hiểm nguy gian khổ của Bác. Dù trong bất kì hoàn cảnh nào, Người cũng hướng đến thiên nhiên bộc lộ tấm lòng ưu ái rộng mở với thiên nhiên. Đó là một trong những biểu hiện quan trọng của tinh thần thép Hồ Chí Minh.

Kết bài: Bài văn phân tích bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh

“Vọng nguyệt” không chỉ là một bài thơ tả cảnh đơn thuần. Thi phẩm còn là một bức tranh chân dung tinh thần tự họa của Hồ Chí Minh. Và như thế, bài thơ thực sự là một thi phẩm đáng trân trọng trong kho tàng thi ca Việt Nam.

Từ khóa tìm kiếm:

Phân tích bài thơ ngắm trăng của hồ chí minh

Phan tich bai ngam trang

Phân tích bài thơ ngắm trăng

Bài thơ ngắm trăng lớp 8

Cảm nhận về bài thơ ngắm trăng của hồ chí minh

Cam nhan ve bai tho ngam trang

Nêu Cảm Nhận Về Bài Thơ Ngắm Trăng Lớp 8 Của Hồ Chí Minh / 2023

Bài làm

Hồ Chí Minh là một người có hồn thơ rất phong phú và tinh tế. Những sáng tác của Người trong các hoàn cảnh khác nhau vẫn luôn toát lên một tình yêu đời, yêu thiên nhiên tha thiết, cùng với đó là một tâm thế ung dung, tự tại trong bất kì hoàn cảnh nào. Đến với bài thơ “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh, ta lại bắt gặp một tâm hồn thơ phóng khoáng, tinh tế và giàu cảm xúc, một tâm thế của người chiến sĩ cách mạng đáng nể trọng.

Bài thơ “Ngắm trăng” là một trong 134 bài thơ Bác Hồ viết thuộc tập thơ “Nhật kí trong tù” của Bác, viết trong những ngày tháng Bác bị giải tới giải lui ở Quảng Tây, Trung Quốc năm 1942. Bài thơ được viết theo thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, gợi ra tâm thế người chiến sĩ cách mạng đáng trân trọng.

Mở đầu bài thơ, ta bắt gặp hình ảnh người chiến sĩ cách mạng đang bị giam cầm trong ngục, nhưng vẫn đắm say trước cảnh đẹp thiên nhiên”

“Ngục trung vô tửu diệc vô hoa

Đối thử lương tiêu nại nhược hà”

(Trong tù không rượu cũng không hoa

Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ)

Trong hoàn cảnh ngục tù, khi mà cuộc sống hàng ngày vẫn diễn ra với những cực hình, đau khổ, thiếu thốn và khắc nghiệt, người chiến sĩ cách mạng vẫn có những phút giây đắm say trước thiên nhiên. Xưa kia, các thi nhân thường uống rượu, thưởng trăng, ngắm hoa, làm thơ. Nhưng hôm nay, thi nhân của chúng ta lại đang trong một hoàn cảnh đặc biệt, ngục tù giam hãm. Nhưng không vì thế mà nhân vật trữ tình bi lụy với hoàn cảnh, Người vẫn đắm say, bị thu hút bởi vẻ đẹp của thiên nhiên tạo hóa “khó hững hờ”. Qua đó, ta thấy được một tình yêu thiên nhiên đến say mệ của nhân vật trữ tính.

Hai câu thơ tiếp theo gợi ra cho người đọc hình ảnh một thi nhân với phong thái ung dung, tự tại, giao hòa với thiên nhiên:

“Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt

Nguyệt tòng song khích khán thi gia”

(Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ)

Hai câu thơ đã được sử dụng phép đối, với hình ảnh thi nhân và trăng, có những cái nhìn giao cảm với nhau. Con người và thiên nhiên như tìm được sự đồng điệu, trăng vốn đã trở thành một người bạn tri âm, tri kỉ với nhà thơ tự lúc nào. Sự hòa hợp giữa vẻ đẹp thiên nhiên và sự cảm nhận trân trọng, tinh tế của con người khiến cho bức tranh đêm kia thêm đẹp. Hình ảnh người chiến sĩ cách mạng vượt lên trên hoàn cảnh ngục tù, vẫn lãng mạn thả hồn mình vào để thưởng trăng, để tận hưởng được ánh sáng hiền dịu của trăng, hòa mình vào ánh sáng thiên nhiên càng thêm tươi đẹp. Vậy là con người và thiên nhiên đã cùng tìm thấy sự đồng điệu với nhau về mặt tâm hồn. Qua đó, ta thấy được một tư thế ung dung, tự tại của người chiến sĩ cách mạng. Dù hoàn cảnh thực tại có khó khăn, thiếu thốn, gian khổ là mấy nhưng nhân vật trữ tình vẫn lạc quan, dành những phút giây tính lặng để được sống trọn từng khoảnh khắc với thiên nhiên. Song sắt nhà tù như ngăn cách hai thế giới riêng biệt, một bên là cảnh tối tăm ngục tù, một bên là thế giới tự do đầy ánh sáng. Nhưng song sắt ấy không thể ngăn cản được sự hòa hợp, đồng điệu về mặt tâm hồn giữa con người và thiên nhiên.

Với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật, cùng với những hình ảnh thơ gần gũi, chân thực, tác giả Hồ Chí Minh đã gợi lên được một tình yêu, đắm say trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Đồng thời, Bác cũng thể hiện được một tâm thế ung dung, tự tại, sự giao cảm, hòa hợp với thiên nhiên vô cùng tinh tế. Ngay cả trong cảnh ngục tù tối tăm, người chiến sĩ cách mạng vẫn luôn có những hành động hướng về ánh sáng và tương lai.

Bài thơ “Ngắm trăng” gợi lên cho người đọc sự thán phục trước nghị lực, tinh thần lạc quan đáng trân trọng của người chiến sĩ cách mạng. Dù trong hoàn cảnh khó khăn như thế nào, họ vẫn luôn mang trong mình tâm hồn lãng mạn, vượt lên nghịch cảnh để giao cảm với đời, hòa hợp với thiên nhiên mang trong mình tư thế ung dung, tự tại.

Cảm Nhận Bài Thơ Ngắm Trăng Của Hồ Chí Minh Hay Nhất / 2023

Mở bài: Từ xưa đến nay, trăng vốn là người bạn thơ của thi sĩ và cũng là đề tài muôn thủa trong thi ca nhạc hoa. Bước vào trang thơ của mỗi thi nhân, trăng sẽ hiện diện ở những góc độ và đường nét khác nhau. Với “Ngắm trăng”, Hồ Chí Minh không chỉ cho người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của trăng mà qua đó còn bộc lộ những nỗi niềm của chính mình trong hoàn cảnh đặc biệt chốn lao tù. Cùng cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng để thấy rõ điều đó qua bài viết sau.

Giới thiệu tác giả Hồ Chí Minh và tác phẩm Ngắm trăng

Trong quá trình phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm cũng như cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng, người đọc cần nắm được những nét chính về tác giả cũng như tác phẩm.

Hồ Chí Minh (sinh năm 1890 – mất năm 1969) tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung. Người quê ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Người có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Nhắc đến Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam không khỏi xúc động vì vị lãnh tụ vĩ đại ấy đã giành cả tuổi xuân ba mươi năm từ 1911 – 1941 để bôn ba khắp các châu lục, học tập những điều tốt đẹp để phụng sự cho đất nước khi trở về, mà lúc này Người đã ở độ tuổi trung niên.

Những biết quá trình kiếm tìm và mang lại hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam là một con đường rất chông gai và thử thách nhưng cuối cùng bằng bản lĩnh và tài năng, Hồ Chí Minh đã chinh phục được con đường ấy. Chính sự kiện ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” – chính thức xác lập nền độc lập, tự do của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh dấu một dấu son chói lọi trong sự nghiệp hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh và trong lịch sử Việt Nam.

Khi giai đoạn trường kì chống Pháp kết thúc, tưởng rằng gian khó đã lui lại để nhường chỗ cho một cuộc sống hòa bình đầy tươi đẹp, vậy mà khi phát xít Nhật và đế quốc Mĩ lê gót giày xâm lược đến Việt Nam, nhân dân ta lại phải gồng mình chiến đấu với chúng để bảo vệ đất nước. Vết thương cũ mà chiến tranh gây ra chưa kịp liền sẹo thì lại phải chịu bỏng rát của một cuộc chiến mới, cam go hơn, khốc liệt hơn.

Tuy nhiên nhân dân ta vẫn không hề nhụt chí chùn bước, có lẽ bởi vì có sự đồng hành của chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác là người đã tiếp tục trực tiếp lãnh đạo nhân dân ta chiến đấu chống giặc với lòng nhiệt thành và tình yêu nước. Tấm lòng cao cả mà Người dành cho dân, cho nước ấy luôn chân tình cho đến tận ngày Người ra đi vào năm 1969.

Không chỉ là một nhà cách mạng, nhà chính trị lỗi lạc mà Hồ Chí Minh còn là một nhà văn, nhà thơ rất mực tài hoa. Cả cuộc đời gắn bó mật thiết với hoạt động cách mạng đã giúp Người sáng tác rất nhiều những tác phẩm với thể loại phong phú.

Có thể kể đến một số tác phẩm chính luận nổi bật của Người như: “Bản án chế độ thực dân Pháp” (năm 1925), “Tuyên ngôn Độc lập” (năm 1945), “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (năm 1946), “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” (năm 1966) …, Người còn viết truyện kí: “Vi hành” (1923), “Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu” (1925), “Nhật kí chìm tàu” (1931) … Về thơ ca, tập thơ “Ngục trung nhật kí” ( “Nhật kí trong tù” ) với hàng trăm bài thơ chữ Hán đặc sắc được xem là tác phẩm đặc sắc kết tinh giá trị tư tưởng và nghệ thuật thơ ca của Hồ Chí Minh.

Theo kế hoạch, Bác Hồ phải đi một quãng đường dài đến Trung Quốc mà điểm xuất phát là Pác Bó (Cao Bằng). Thật không may, khi đến thị trấn Túc Vinh, Người bị bắt và bắt đầu chuỗi ngày bị giam giữ đầy khổ cực ròng rã suốt hơn một năm trời. Khi bắt giữ, chính quyền địa phương còn hết lần này đến lần khác chuyển Người khắp 30 nhà giam của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây.

Chính trong khoảng thời gian đó, “Nhật kí trong tù” ra đời, phần lớn là thơ tứ tuyệt và “Ngắm trăng” cũng nằm trong số những tác phẩm đã ra đời trong hoàn cảnh đó. Bài thơ nằm ở vị trí thứ 21 đã thể hiện rất chân thực tình yêu thiên nhiên say mê và tinh thần sắt thép ở Bác Hồ trong hoàn cảnh ngục tù gian khổ.

Cảm nhận bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh

Với “Ngắm trăng” , Hồ Chí Minh đã tái hiện trước mắt người đọc hình ảnh về một người tù dù phải sống trong hoàn cảnh ngang trái nhưng vẫn tha thiết rung cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên và chính sự rung cảm đó đã giúp cho Người có một cuộc vượt ngục về tinh thần hoàn hảo.

Khi cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng, ta thấy ngay ở mở đầu bài thơ, Hồ Chí Minh viết:

“Ngục trung vô tửu diệc vô hoa”

Dịch nghĩa:

“Trong tù không rượu cũng không hoa”

Trước nay, đối với một người thi sĩ có tâm hồn thưởng nguyệt, rượu và hoa thường làm cho họ có thêm sự hưng phấn để hồn thơ thêm dào dạt, thiết tha. Ấy vậy mà cũng trong thời điểm thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên, có một người lại ở vào hoàn cảnh lao tù.

Mà trong tù, tìm đâu ra hoa và rượu để ngắm, để say. Có chăng chỉ là những gông cùm, xiềng xích, tra tấn, dọa nạt, đói khát hay bệnh tật mà thôi. Mà những thứ được liệt kê như trên dễ dầu gì lại không khiến con người trở nên chán nản, bi lụy. Ngẫm lại để mà thấy một người đang sống đời tự do, mỗi bước đi đều hừng hực một nỗi khát khao giành lại độc lập, tự do cho dân tộc mình bỗng chốc lại chịu cảnh lao ngục. Ngẫm lại để mà thấy hằng ngày, đối diện với họ chỉ là một khoảng không mịt mù, tối tăm, những song sắt lạnh lùng, chiếc gông xiềng nặng trĩu và bốn bức tường vô tri.

Chắc hẳn trong hoàn cảnh đó, con người dù có mạnh mẽ đến đâu, gai góc đến đâu cũng khó lòng vượt qua dễ dàng. Ấy vậy khi cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng, người đọc cũng thấy Bác vẫn từng ngày, từng giờ phải đương đầu với sự giam cầm như thế, vẫn phải chịu đựng sự tàn nhẫn, dã man của cách tra tấn, đày đọa về tinh thần mà bọn cầm quyền áp dụng. Sống trong điều kiện như vậy, có lẽ nếu không tự tìm cho mình một động lực để tồn tại, ắt hẳn rất khó khăn để có thể vượt qua.

Câu thơ thứ hai tựa hồ như một nét vẽ mà sau đường đưa bút của Hồ Chí Minh, cảnh thiên nhiên hiện hữu khá rõ ràng:

“Đối thử lương tiêu nại nhược hà?”

Dịch nghĩa:

“Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?”

Nếu như câu thơ đầu tiên làm người đọc chạnh lòng vì hoàn cảnh ngang trái mà Bác Hồ phải đối diện. Tưởng như đến câu thơ tiếp theo, tác giả sẽ nói đến cảm xúc xót xa của mình khi sống trong điều kiện đó. Thế mà thật lạ lùng, Bác lại hướng tầm mắt người đọc ra phía không gian bao la, rộng lớn của đất trời và không hết lời ca tụng cảnh đẹp ( “lương tiêu” ).

Khi cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng, ta thấy cảnh vật tươi đẹp, thu hút đến nỗi khiến người thưởng cảnh cũng bối rối, khó xử vì không “biết làm thế nào?” ( “nại nhược hà” ) khi đối diện. Giờ phút này đây, bao nhiêu những khổ đau, vất vả, cực nhọc, xót thương của cảnh tù đày dường như vắng bóng, phải chăng mối bận tâm duy nhất của Bác lúc này là dành hết cho thiên nhiên vạn vật.

Cảnh ấy khiến Người cảm thấy bồn chồn, náo nức bởi vì một tâm hồn nghệ sĩ như Hồ Chí Minh, sao thể không rung động trước một khung cảnh mà Người dành hết lời ca ngợi như vậy. Có ý kiến cho rằng, trong bản dịch thơ của Nam Trân, khi sử dụng “khó hững hờ” để thể hiện ý nghĩa “biết làm thế nào?” thì chưa làm bộc lộ hết những bồn chồn, náo nức trong tâm trạng người thi sĩ vì bản thân từ “hững hờ” mang ý nghĩa thờ ơ, lạnh nhạt, không chú ý đến điều gì đó.

Trong thơ Bác, có lẽ hơn cả sự để ý, quan tâm, trước cảnh đẹp có lẽ Bác cũng không giấu được sự đón đợi, phấn chấn. Nhưng xét thấy, để tìm được từ ngữ nào khác thể hiện trọn vẹn ý nghĩa câu thơ thì đó không phải là điều đơn giản. Thế nên thiết nghĩ cũng không nên khắt khe với tác giả bản dịch thơ.

Nhìn lại cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng, có thế thấy, hai câu thơ đầu của bài thơ đã làm nổi bật một tâm hồn nghệ sĩ phải ngắm trăng trong một hoàn cảnh đặc biệt chốn lao tù tưởng như không phù hợp. Tuy nhiên, Người đã mặc kệ hoàn cảnh, bỏ qua sự hiện diện của vật chất là rượu và hoa để vẫn có thể thưởng cảnh ung dung, tự tại. Nhưng trước khoảnh khắc diệu kì của cảnh đẹp, Người vẫn không khỏi xốn xang.

Cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng, ta thấy ở câu thơ thứ hai, người chiến sĩ – thi sĩ ấy đã vẽ ra trước mắt người đọc khung cảnh thiên nhiên đầy ấn tượng. Đến hai câu thơ cuối, trong cái nền của khung cảnh thiên nhiên, tác giả đã tập tập trung sự chú ý của người đọc vào mối quan hệ giữa thi sĩ và vầng trăng trên cao theo đúng tinh thần “ngắm trăng” của bài thơ:

“Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt Nguyệt tòng song khích khán thi gia.”

Dịch nghĩa:

“Người hướng ra trước song ngắm trăng sáng, Từ ngoài khe cửa, trăng ngắm nhà thơ.”

Trong hai câu thơ đều có sự xuất hiện của các hình ảnh: “nhân” , “nguyệt” , “song” (song cửa), vị trí của “song” cửa nhà tù luôn đứng chắn giữa câu thơ, còn người và “nguyệt” thì có sự hoán đổi. Chính sự linh hoạt hoán đổi vị trí này đã tạo nên tầng nghĩa giàu giá trị của bài thơ.

Ở câu thơ thứ ba, khi hướng tầm mắt ra phía “song tiền” để “khán minh nguyệt” cũng là lúc nhà thơ để cho tâm hồn mình thoát khỏi sự cầm tù để giao hòa cùng vầng trăng sáng ở không gian bầu trời bao la. Ở đây đã có một cuộc vượt ngục diễn ra, đó không phải là cuộc vượt ngục thông thường mà là vượt ngục về tinh thần.

Cảm nhận về bài thơ ngắm trăng, người đọc cũng nhận thấy không màng đến sự trớ trêu của hoàn cảnh, Bác Hồ đã neo tâm hồn mình vào vẻ đẹp của trăng trời. Đáp lại tình cảm của Người, vầng trăng cũng vượt qua rào cản của song sắt để tìm gặp mà “khán thi gia” như thể hiện sự đồng cảm, khích lệ. Sự tương giao, hòa hợp giữa trăng và người lúc này dường như đã đạp đổ cánh cửa vô tình, lạnh lùng của nhà tù.

Giờ đây, trong cuộc gặp kì ngộ giữa nhà thơ và vầng trăng, rào sắt nhà tù bỗng trở nên vô nghĩa và bất lực. Nhà tù có thể giam cầm, bắt giữ người cộng sản nhưng không thể nào biến Hồ Chí Minh thành tù nhân. Cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng, ta thấy trong hoàn cảnh “ngục trung” không hề có bóng dáng của tù nhân mà chỉ có “thi gia” – người bạn tri kỉ của trăng, và trong bài thơ, “thi gia” cũng là đối tượng chiêm ngưỡng của trăng.

Đến đây có thể thấy, song sắt cầm tù có thể ngăn cách hai không gian đối lập: một bên là nhà tù tối tăm, là hiện thực tàn bạo, còn một bên là vầng trăng thơ mộng, biểu trưng của cái đẹp và sự tự do. Tuy nhiên, nó không thể nào ngăn nhà thơ hướng đến ánh sáng và sự tự do.

Hai câu thơ đã cho thấy cấu trúc đăng đối độc đáo khi xây dựng mối quan hệ: “nhân” – “song” – “nguyệt” (câu 3) và “nguyệt” – “song” – “thi gia” (câu 4), góp phần diễn tả được mối quan hệ gắn bó tri kỉ giữa trăng và người, giữa thiên nhiên và thi nhân: cả hai cùng hướng về nhau để chia sẻ cùng nhau.

Nhận xét khi cảm nhận bài thơ Ngắm trăng

Khi cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng, ta thấy về nội dung, bài thơ đã thể hiện một tình yêu thiên nhiên say mê và một tinh thần ung dung, nghệ sĩ ở Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh ngục tù gian khổ và từ đó ta có thể thấy tự hào, ngưỡng mộ hơn ở vị lãnh tụ vĩ đại của ta về khí phách, bản lĩnh và sự lãng mạn, tài hoa.

Về nghệ thuật, tác phẩm đã thể hiện được phong cách tiêu biểu của Hồ Chí Minh trong việc sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, các hình ảnh mang màu sắc cổ điển và hiện đại ( “nguyệt” , “rượu” , “hoa” ). Đặc biệt, khi tác giả vận dụng nghệ thuật đối lập của thơ Đường ở hai câu cuối của bài thơ thì đã cho người đọc thấy cách diễn tả mới mẻ và thú vị về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ và hình ảnh thiên nhiên.

Kết bài: Tóm lại, với “Ngắm trăng” , nhà thơ đã để lại cho văn học dân tộc một thi phẩm tuyệt diệu về sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên, sự kết hợp giữa chất thép và chất tình ở người chiến sĩ – thi sĩ Hồ Chí Minh. Bài thơ chính là khúc nhạc lòng của người thi sĩ, là niềm tin hướng về ánh sáng trong chốn ngục tù. Vì vậy, cả bài thơ không chỉ được soi sáng bởi vẻ đẹp của ánh trăng mà còn được soi sáng bởi vẻ đẹp của tâm hồn thi nhân…

Dàn ý cảm nhận bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh

Giới thiệu đôi nét về Hồ Chí Minh không chỉ là người chí sĩ mà còn là một người nghệ sĩ – thi sĩ.

Sơ qua về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm: Bài thơ Ngắm trăng đã thể hiện rất rõ tình yêu thiên nhiên say mê và phong thái ung dung của Bác ngay cả trong cảnh ngục tù.

Hoàn cảnh ngang trái của người chí sĩ chốn ngục tù.

Thiên nhiên xuất hiện trong cảm nhận của người chiến sĩ – thi sĩ.

Cuộc vượt ngục về tinh thần của người chiến sĩ – thi sĩ.

Tóm tắt lại giá trị nội dung và nghệ thuật làm nên thành công của tác phẩm.

Thi phẩm Ngắm trăng đã cho chúng ta hiểu sâu sắc hơn về cốt cách thanh cao của người chiến sĩ cách mạng đồng thời có tâm hồn thi sĩ.

Như vậy, khi cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng, ta thấy đây là một trong những bài thơ tứ tuyệt hay và đặc sắc nhất của Bác trong tập Nhật kí trong tù. Ngắm trăng với lối ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, giàu ý nghĩa, cùng với nghệ thuật đối tài tình đã cho thấy tình yêu thiên nhiên của Người, đồng thời cũng cho thấy tấm lòng yêu tự do với một phong thái dung dung và tự tại trong hoàn cảnh tù ngục.

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Ngắm Trăng Của Hồ Chí Minh / 2023

Cảm nghĩ về bài thơ “Ngắm Trăng” của Hồ Chí Minh

Mở bài:

Sinh thời, Hồ Chí Minh không có chủ ý theo đuổi con đường thi ca. Người xem thi ca là bầu bạn, là một nét đẹp trong lối sống. Thế nhưng, trong cuộc đời, Người đã để lại nhiều bài thơ xuất sắc. Trong đó, phải kể đến tập Nhật kí trong tù, được Bác viết khi bị giam cầm trong nhà tù Tưởng Giới Thạch. Bài thơ Ngắm trăng trích trong tập thơ ấy là mọt bài thơ tiêu biểu cho tình yêu thiên nhiên và ý chí của người tù cách mạnh Hồ Chí Minh.

Thân bài:

Bài thơ Ngắm trăng là bức chân dung tự họa của Bác, một vị tù vĩ đại có tâm hồn cao đẹp, ý chí, nghị lực phi thường và tài năng nghệ thuật xuất sắc. Vượt lên trên nghịch cảnh tù đày, Người dành cho thiên nhiên một tình yêu lớn:

“Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ”

Mở đầu bài thơ, Bác khắc họa hoàn cảnh khắc nghiệt của mình: “trong tù”, “không rượu”, “không hoa”. Chỉ bằng một câu thơ mà đã làm hiện lên hoàn cảnh ngục tù thiếu thốn, cô đơn đáng sợ. Thế nhưng, thật kì lạ, người đọc không hề cảm thấy vách đá và sự giam hãm của ngục tù mà chỉ thấy tư thế của người tù uy nghiêm, đĩnh đạc, hướng tâm hồn lên cao với thiên nhiên. Ba từ “khó hững hờ” nói lên tâm hồn nhạy cảm và tình yêu mến thiết tha đối với cảnh vật. Chính vầng trang sáng trên bầu trời cao đã khiến người tù “khó hững hờ” mà quên đi hoàn cảnh của mình:

“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trang nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

Trăng là cái đẹp của vũ trụ. Con người vốn yêu cái đẹp. Thế nhưng, theo lẽ thường, con người chỉ cần cái đẹp khi những nhu cầu khác đã được đáp ứng. Người xưa ngắm trăng, thưởng thức cái dẹp cũng lắm công phu, phải có hoa, có rượu, có bạn bè tâm giao. nghĩ về điều ấy, ta mới khâm phục ý chí và vẻ đẹp tâm hồn của người tù Hồ Chí Minh. Bác ngắm trăng trong hoàn cảnh ngục tù, không có rượu, không có hoa, cũng chẳng có bạn bè. Thiếu tất cả nhưng hoàn cảnh không thể ngăn cản Bác thả hồn cùng vẻ đẹp của thiên nhiên.

Xiềng xích, gông cùm không khoá được hồn người. Không được tự do, người tù chủ động hướng ra cửa ngục để ngắm trăng sáng. Đó là cái chủ động của một người cách mạng luôn đứng cao hơn hoàn cảnh, vượt lên trên mọi hoàn cảnh để sống và cống hiến. Câu thơ dịch đã bỏ mất động từ “hướng” làm cho việc ngắm trăng của người tù có vẻ bình thản, tĩnh tại hơn.

Quả thực, “Ngắm trăng” không phải là cách ngắm nhìn thông thường mà là một cuộc vượt ngục tinh thần bằng thơ của một người tù nghệ sĩ yêu chuộng cái đẹp. Thân tại ngục tù, nhưng lòng Bác đã “theo vời vợi mảnh trăng thu”. Điều kì diệu nữa là, trăng cũng vượt qua song sắt nhà tù để ngắm nhà thơ. ở đây, vầng trăng không còn là một thiên thể vô tri, vô tình mà đã được nhân hoá thành một con người, hơn thế, một người bạn tri âm tri kỉ của Bác. Cả trăng và người tù đều chủ động tìm đến giao hòa cùng nhau như một đôi bạn thân thiết tự bao đời. Trong chốn lao lung, Bác đã làm nên những vần thơ tuyệt đẹp. Đằng sau những câu thơ đẹp, mềm mại như vậy chỉ có thể là một tinh thần thép, chất thép của phong thái ung dung, tự tại.

Kết bài:

Bài thơ tứ tuyệt giản dị mà hàm súc, thi đề cổ điển nhưng tinh thần là của thời đại. Qua bài thơ ta nhận thấy, đối với Bác, được sống hòa hợp với thiên nhiên và làm cách mạng là một niềm vui lớn. Tù ngục có thể giam hãm được con người Bác nhưng không thể nào giam hãm được tâm hồn Bác, một tâm hồn vốn rất yêu mến cuộc đời và dành trọn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Tích Bài Thơ Ngắm Trăng Của Hồ Chí Minh Văn Hay Chọn Lọc Lớp 8 / 2023 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!