Xu Hướng 2/2024 # Phần Tích Bài Thơ Không Ngủ Được Của Hồ Chí Minh # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Phần Tích Bài Thơ Không Ngủ Được Của Hồ Chí Minh được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nhà thơ Chế Lan Viên đã viết về nỗi lòng của bác Hồ trong những ngày xa cách quê hương thân yêu, ra đi tìm đường cứu nước:

“đèm mơ nước, ngày thấy hình của nước cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì tổ quốc chẳng yên lòng khi ngắm một cành hoa”.

Chính vì tình cảm ấy mà có nhiều đêm trong nhà tù của bọn tưởng giới thạch, bác không ngủ được vì luôn nghĩ về đất nước cũng như phong trào cách mạng trong nước. Có rất nhiều bài thơ của bác trong tập nhật kí trong tù thể hiện tình cảm này. Bài thơ không ngủ được là một điển hình:

“một canh… Hai canh… Lại ba canh trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành canh bốn, canh năm vừa chợp mắt sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”.

Ngày xưa, khoa học chưa phát triển như bây giờ, người ta dùng canh để làm đơn vị đo thời gian. Một canh tương đương với hai giờ đồng hồ. Một đêm có năm canh.

Ở câu khai, bác Hồ lặng lẽ đếm thời gian trôi qua một cách nặng nề, chậm chạp giữa không gian hôi hám, chật hẹp, tối tăm của nhà tù. Dấu chấm lửng làm tăng thêm cảm giác đó. Đã hết ba phần năm của một đêm rồi mà người vẫn:

“trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành”.

Câu thừa này đã diễn tả tâm trạng trầm tư của bác giữa đêm sâu. Những bậc đại nhân hiền triết ngày xưa thường có những đêm thao thức, đè nén nỗi lòng mình như thế. Phải chăng người có nhiều tâm trạng sâu kín? *

Như vậy, câu khai và câu thừa chưa có lời giải đáp.

Theo qui luật sinh học tự nhiên thì khi mệt mỏi quá con người sẽ thiếp đi:

“canh bốn canh năm vừa chợp mắt”

{“chợp mắt”có nghĩa là thiếp đi chứ không phải ngủ).

Nhìn chung, cả ba câu khai, thừa, chuyển vẫn còn là những lời tự sự, chưa có thơ. Nhưng đến câu hợp thì hồn thơ đã cất cánh bay xa: “sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”

(dịch nghĩa: “hồn mộng đã quẩn quanh nơi ngôi sao năm cánh”). Bản dịch nghĩa đã cho chúng ta thấy rằng hồn mộng của bác đã bay đi tìm ngôi sao năm cánh. Trong thơ văn xưa và nay, các bậc hiền triết, anh hùng, vĩ nhân đều gặp nhiều giấc mộng. Hiền thần y doãn trước lúc được mời làm quan đã từng nằm mộng thấy mình “cưỡi thuyền đến bên thái dương”. Đó là những giấc mộng nhưng không có hồn mộng.

Còn đây là những giấc mộng có hồn mộng. Hồn mộng của đường minh hoàng gặp hằng nga cùng say mê đàn ca múa hát giữa trăng thanh thật bay bổng và lãng mạn. Khi khương linh tá bị tạ ôn đình chém rơi đầu, hồn mộng của khương linh tá xách đầu còn ri máu của mình chạy theo chân ngựa. Đó là hồn mộng hết sức can đảm, oai hùng. Nhưng hồn mộng của hồ chí minh chẳng những đẹp đẽ mà cònkì vĩ, lớn lao. Hồn mộng của người đă tìm được hình ảnh lá cờ tổ quốc rực rỡ, lá cờ cách mạng tung bay phần phật trước gió. Xét về cơ sở logic, chúng ta thấy ước mơ của người không chỉ là mơ ước mà còn gắn liền với hiện thực và thực tiễn cách mạng. Bởi lẽ, tháng 5 – 1941, mặt trận việt minh đã chính thức ra đời tại một cuộc họp bí mật của ban chấp hành trung ương đảng tại pắc bó. Lá cờ đỏ có sao vàng năm cánh của mặt trận việt minh đã bay khắp mọi miền đất nước để tập hợp nhân dân đứng lên làm cách mạng. Đến bây giờ, cũng chính lá cờ ấy lại bay đến giấc mộng của bác. Có thể khẳng định rằng, tâm hồn hồ-chí minh, dù thức hay ngủ, thực hay mộng, đều hướng về tương lai tươi sáng của dân tộc. Phải chăng chỉ những bậc đại nhân, đại trí, đại dũng mói có được một tâm hồn cao khiết như thế?

Xưa nay, người ta quan niệm: nếu câu hợp trong bài thơ tứ tuyệt chuyên chở được tinh hoa của cả bài thơ thì bài thơ đó mới đặc sắc. Chẳng hạn các bài thơ để đời như: phong kiều dạ hạc (trương kế), hoàng hạc lâu tống mạnh hạo nhiên chi quảng lăng (lí bạch). Tương tự như vậy, câu hợp bài thơ không ngủ được của hồ chí minh vừa khép lại bài thơ, vừa mỏ’ ra một chân trời cảm xúc mênh mông, bát ngát.

Có thể nói rằng, ở bài thơ không ngủ được cũng như trong toàn bộ sáng tác thi ca của mình, “con người thường ít ngủ” ấy, “con người đi trong những giấc mơ của ta” đã kết hợp bút pháp cổ điển và hiện đại một cách khéo léo nhuần nhị. Chính vì thế, thơ người vừa mới mẻ, cô đọng, hàm súc, vừa bất tử với thời gian.

Phân Tích Bài Thơ Không Ngủ Được Của Tác Giả Hồ Chí Minh

Nhà thơ Chế Lan Viên đã viết về nỗi lòng của Bác Hồ trong những ngày xa cách quê hương thân yêu, ra đi tìm đường cứu nước:

“Đêm mơ nước’, ngày thấy hình của nước

Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà

Ăn một miếng ngon cũng dắng lòng vi Tổ quốc

Chẳng yên lòng khi ngắm một cành hoa”.

Chính vì tình cảm ấy mà có nhiều đêm trong nhà tù của bọn Tưởng Giới Thạch, Bác không ngủ được vì luôn nghĩ về đất nước cũng như phong trào cách mạng trong nước. Có rất nhiều bài thơ của Bác trong tập Nhật ký trong tù thế hiện tình cảm này. Bài thơ Không ngủ được là một điển hình:

“Một canh… hai canh… lại ba canh

Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành

Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt

Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”.

Ngày xưa, khoa học chưa phát triển như bây giờ, người ta dùng canh đế làm đơn vị đo thời gian. Một canh tương đương với hai giờ đồng hồ. Một đêm có năm canh. Tiếng nhỏ giọt của đồng hồ nước sẽ báo hiệu lúc sang canh.

Ở câu khai, Bác Hồ lặng lẽ đếm thời gian trôi qua một cách nặng nề, chậm chạp giữa không gian hôi hám, chật hẹp, tối tăm của nhà tù. Dấu chấm lửng làm tăng thêm cảm giác đó. Đã hết ba phần năm của một đêm rồi mà Người vẫn:

“Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành”.

Câu thừa này đã diễn tả tâm trạng trầm tư của Bác giữa đêm sâu. Những bậc đại nhân hiền triết ngày xưa thường có những đêm thao thức, đè nén nỗi lòng mình như thế. Phải chăng Người có nhiều tâm trạng sâu kín?

Như vậy, câu khai và câu thừa chưa có lời giải đáp.

Theo qui luật sinh học tự nhiên thì khi mệt mỏi quá con người sẽ thiếp đi:

“Canh bốn canh năm vừa chợp mắt”

(“Chợp mắt” có nghĩa là thiếp đi chứ không phải ngủ).

Nhìn chung, cả ba câu khai, thừa, chuyển vẫn còn là những lời tự sự, chưa cộ thơ. Nhưng đến câu hợp thì hồn thơ đã cất cánh bay xa:

“Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”

(Dịch nghĩa: “Hồn mộng đã quẩn quanh nơi ngôi sao năm cảnh”).

Bản dịch nghĩa đã cho chúng ta thấy rằng hồn mộng của Bác đã bay đi tìm ngôi sao năm cánh. Trong thơ văn xưa và nay, các bậc hiền triết, anh hùng, vĩ nhân đều gặp nhiều giấc mộng. Hiền thần Y Doãn trước lúc được mời làm quan đã từng nằm mộng thấy mình “cưỡi thuyền đến bên thái dương”. Đó là những giấc mộng nhưng không có hồn mộng.

Còn đây là những giấc mộng có hồn mộng. Hồn mộng của Đường Minh Hoàng gặp Hằng Nga cùng say mê đàn ca múa hát giữa trăng thanh thật bay bổng và lãng mạn. Khi Khương Linh Tá bị Tạ Ôn Đình chém rơi đầu, hồn mộng của Khương Linh Tá xách đầu còn rỉ máu của mình chạy theo chân ngựa. Đó là hồn mộng hết sức can đảm, oai hùng. Nhưng hồn mộng của Hồ Chí Minh chẳng những đẹp đẽ mà còn kỳ vĩ, lớn lao. Hồn mộng của Người đã tìm được hình ảnh lá cờ Tố quốc rực rỡ, lá cò’ cách mạng tung bay phần phật trước gió. Xét về cơ sở logic, chúng ta thấy ước mơ của Người không chỉ là mơ ước mà còn gắn liền với hiện thực và thực tiễn cách mạng. Bởi lẽ, tháng 5-1941, Mặt trận Việt Minh đã chính thức ra đời tại một cuộc họp bí mật của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Pắc Bó. Lá cờ đỏ có sao vàng năm cánh của Mặt trận Việt minh đã bay khắp mọi miền đất nước đế tập hợp nhân dân đứng lên làm cách mạng. Đến bây giờ, cũng chính lá cờ ấy lại bay đến giấc mộng của Bác. Có thể khẳng định rằng, tâm hồn Hồ Chí Minh, dù thức hay ngủ, thực hay mộng, đều hướng về tương lai tươi sáng của dân tộc. Phải chăng chỉ những bậc đại nhân, đại trí, đại dũng mới có được một tâm hồn cao khiết như thế?

Xưa nay, người ta quan niệm: nếu câu hợp trong bài thơ tứ tuyệt chuyên chở được tinh hoa của cả bài thơ thì bài thơ đó mới đặc sắc. Chẳng hạn các bài thơ để đời như: Phong kiểu dạ bạc (Trương Kế), Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi quảng lăng (Lý Bạch). Tương tự như vậy, câu hợp bài thơ Không ngủ được của Hồ Chí Minh vừa khép lại bài thơ, vừa mở ra một chân trời cảm xúc mênh mông, bát ngát.

Có thể nói rằng, ở bài thơ Không ngủ được cũng như trong toàn bộ sáng tác thi ca của mình, “con người thường ít ngủ” ấy “Con người đi trong những giấc mơ của ta” đã kết hợp bút pháp cổ điển và hiện đại một cách khéo léo nhuần nhị. Chính vì thế, thơ Người vừa mới mẻ cô đọng, hàm súc; vừa bất tử với thời gian.

Phân Tích Bài Thơ Không Ngủ Được (Nhật Ký Trong Tù

Phân tích bài thơ Không ngủ được (Nhật ký trong tù – Hồ Chí Minh)

Nhà thơ Chế Lan Viên đã viết về nỗi lòng của Bác Hồ trong những ngày xa cách quê hương thân yêu, ra đi tìm đường cứu nước:

“Đêm mơ nước’, ngày thấy hình của nước Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà Ăn một miếng ngon cũng dắng lòng vi Tổ quốc Chẳng yên lòng khi ngắm một cành hoa”.

Chính vì tình cảm ấy mà có nhiều đêm trong nhà tù của bọn Tưởng Giới Thạch, Bác không ngủ được vì luôn nghĩ về đất nước cũng như phong trào cách mạng trong nước. Có rất nhiều bài thơ của Bác trong tập Nhật ký trong tù thế hiện tình cảm này. Bài thơ Không ngủ được là một điển hình:

“Một canh… hai canh… lại ba canh Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”.

Ngày xưa, khoa học chưa phát triển như bây giờ, người ta dùng canh đế làm đơn vị đo thời gian. Một canh tương đương với hai giờ đồng hồ. Một đêm có năm canh. Tiếng nhỏ giọt của đồng hồ nước sẽ báo hiệu lúc sang canh.

Ở câu khai, Bác Hồ lặng lẽ đếm thời gian trôi qua một cách nặng nề, chậm chạp giữa không gian hôi hám, chật hẹp, tối tăm của nhà tù. Dấu chấm lửng làm tăng thêm cảm giác đó. Đã hết ba phần năm của một đêm rồi mà Người vẫn:

“Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành”.

Câu thừa này đã diễn tả tâm trạng trầm tư của Bác giữa đêm sâu. Những bậc đại nhân hiền triết ngày xưa thường có những đêm thao thức, đè nén nỗi lòng mình như thế. Phải chăng Người có nhiều tâm trạng sâu kín?

Như vậy, câu khai và câu thừa chưa có lời giải đáp.

Theo qui luật sinh học tự nhiên thì khi mệt mỏi quá con người sẽ thiếp đi:

“Canh bốn canh năm vừa chợp mắt”

(“Chợp mắt” có nghĩa là thiếp đi chứ không phải ngủ).

Nhìn chung, cả ba câu khai, thừa, chuyển vẫn còn là những lời tự sự, chưa cộ thơ. Nhưng đến câu hợp thì hồn thơ đã cất cánh bay xa:

“Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”

(Dịch nghĩa: “Hồn mộng đã quẩn quanh nơi ngôi sao năm cảnh”).

Bản dịch nghĩa đã cho chúng ta thấy rằng hồn mộng của Bác đã bay đi tìm ngôi sao năm cánh. Trong thơ văn xưa và nay, các bậc hiền triết, anh hùng, vĩ nhân đều gặp nhiều giấc mộng. Hiền thần Y Doãn trước lúc được mời làm quan đã từng nằm mộng thấy mình “cưỡi thuyền đến bên thái dương”. Đó là những giấc mộng nhưng không có hồn mộng.

Còn đây là những giấc mộng có hồn mộng. Hồn mộng của Đường Minh Hoàng gặp Hằng Nga cùng say mê đàn ca múa hát giữa trăng thanh thật bay bổng và lãng mạn. Khi Khương Linh Tá bị Tạ Ôn Đình chém rơi đầu, hồn mộng của Khương Linh Tá xách đầu còn rỉ máu của mình chạy theo chân ngựa. Đó là hồn mộng hết sức can đảm, oai hùng. Nhưng hồn mộng của Hồ Chí Minh chẳng những đẹp đẽ mà còn kỳ vĩ, lớn lao. Hồn mộng của Người đã tìm được hình ảnh lá cờ Tố quốc rực rỡ, lá cò’ cách mạng tung bay phần phật trước gió. Xét về cơ sở logic, chúng ta thấy ước mơ của Người không chỉ là mơ ước mà còn gắn liền với hiện thực và thực tiễn cách mạng. Bởi lẽ, tháng 5-1941, Mặt trận Việt Minh đã chính thức ra đời tại một cuộc họp bí mật của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Pắc Bó. Lá cờ đỏ có sao vàng năm cánh của Mặt trận Việt minh đã bay khắp mọi miền đất nước đế tập hợp nhân dân đứng lên làm cách mạng. Đến bây giờ, cũng chính lá cờ ấy lại bay đến giấc mộng của Bác. Có thể khẳng định rằng, tâm hồn Hồ Chí Minh, dù thức hay ngủ, thực hay mộng, đều hướng về tương lai tươi sáng của dân tộc. Phải chăng chỉ những bậc đại nhân, đại trí, đại dũng mới có được một tâm hồn cao khiết như thế?

Xưa nay, người ta quan niệm: nếu câu hợp trong bài thơ tứ tuyệt

chuyên chở được tinh hoa của cả bài thơ thì bài thơ đó mới đặc sắc. Chẳng hạn các bài thơ để đời như: Phong kiểu dạ bạc (Trương Kế), Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi quảng lăng (Lý Bạch). Tương tự như vậy, câu hợp bài thơ Không ngủ được của Hồ Chí Minh vừa khép lại bài thơ, vừa mở ra một chân trời cảm xúc mênh mông, bát ngát.

Có thể nói rằng, ở bài thơ Không ngủ được cũng như trong toàn bộ sáng tác thi ca của mình, “con người thường ít ngủ” ấy “Con người đi trong những giấc mơ của ta” đã kết hợp bút pháp cổ điển và hiện đại một cách khéo léo nhuần nhị. Chính vì thế, thơ Người vừa mới mẻ cô đọng, hàm súc; vừa bất tử với thời gian.

Phân Tích Bài Thơ Cảnh Khuya Của Hồ Chí Minh

Phan tich bai tho Canh khuya cua Ho Chi Minh – Đề bài: Phân tích đoạn thơ trong bài Cảnh khuya của Hồ Chí Minh: Tiếng suối trong như tiếng hát xa…. Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

Mở bài Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh không những là một vị lãnh tụ của nhân loại mà còn là một nhà thơ đầy bản lĩnh và lòng nhân ái. Chúng ta không thể không khâm phục Người khi đã để lại một khối lương thơ văn khá đồ sộ và có tầm ảnh hưởng lớn. Nói đến Bác ta không thể không nói đến tác phẩm “Cảnh khuya”, bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh khi chúng ta đang bước sang cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp tại chiến khu Việt Bắc. Bào thơ là phong thái ung dung lạc quan của Bác khi dành cho mình những phút giây thanh thản để hòa mình cùng với thiên nhiên cảnh vật khiến cho ta thật cảm thấy ngưỡng mộ tâm hồn thanh cao ấy.

Thân bài Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh

Giữa khung cảnh đất trời núi rừng hoang sơ nơi đây điều đầu tiên Bác cảm nhận được đó chính là.

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa”

Đọc câu thơ ta thấy Bác thật tài tình trong lối so sánh của mình. Tiến suối được cảm nhận bằng thính giác nhưng điều đặc biệt ở đây là tiêng suối ấy lại trong. Có lẽ người tuy không nhìn rõ được không nếm thử nhưng người lại cảm thấy được độ trong trẻo ngọt mát của dòng suối ấy. Chắc hẳn đây là một món quà thật ý nghĩa mà thiên nhiên đã ban tặng cho nơi đây cho vùng đất vùng đất hoang sơ mang tên Việt Bắc. giữa một vùng núi hoang sơ Bác vẫn có thể nghe được cái thứ âm thanh trong trẻo của nước suối cũng nghe được âm thanh của tiếng người đang hát. Tiến hát trong thơ Bác được so sánh với âm thanh trong trẻo của tiếng suối. Cách so sánh của nhà thơ khiến ta cảm thấy thật tài tình xiết bao. Âm thanh của tiến người hát cũng không rõ là từ đâu vọng lại hay đó chính là một tưởng tượng của tác giả để làm tô đậm cho cái trong trẻo của tiến suối. Cách so sánh tài tình ấy làm tiếng suối không còn trở nên lắng đọng vô hồn mà bỗng trở nên sôi động trẻ trung và khiến cảnh rừng im ắng trở nên có âm thanh có hồn người ở trong đó. Câu thơ làm ta thấy được tính nhân văn thường thấy trong thơ Bác, cảnh vật luôn được gắn liền với con người không thể tách rời khỏi con người. Trong đêm khuya thanh vắng đang mải mê với công việc thì một phút lơ là bác cảm nhận được âm thanh trong trẻo của tiếng suối để rồi cảnh rừng Việt Bắc lại tiếp tục làm cho Bác đắm say. Bác ngước lên vầng trăng và một cảnh đẹp tuyệt vời hiện ra.

“Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”

Từ “lồng” được tác giả đặt trong cùng một câu thơ gợi cho chúng ta rất nhiều suy nghĩ. Nhắc đên từ “lồng” ta nghĩ đến hai vật nào đó lồng vào nhau đan vào nhau để tao thành một vật thể thống nhất. Ở đây ánh trăng soi rọi vào bóng cây cổ thụ ngay trước cửa phòng Bác rồi bóng cây cổ thụ ấy lại tiếp tục phủ mình lên những bông hoa. Dường như đối với Bác hình ảnh ấy đã tạo thành một chỉnh thể thống nhất tự nhiên. Cảnh vật lúc này như được hòa quyện hòa nhập vào nhau khiến cho con người xốn xang dao động. Các sự vật đan lồng vào nhau tạo nên một bức tranh chỉ có hai gam màu sáng tối, trắng đên như nhiều lớp lang, tầng bậc cao thấp lung linh, chập chờn, huyền ảo, sống động mà ấm áp, hòa hợp quấn quýt với hàng chục, hàng trăm sắc hình đa dạng. Trăng – cây cổ thụ – hoa, ba vật thể cách nhau ngàn trùng, cao thấp, lớn bé cũng rất khác nhau nhưng lại đan cài, ôm ấp, nâng đỡ, soi sáng, tôn lên vẻ đẹp của nhau tạo nên một bức tranh nên thơ, sống động, có hồn. Điệp từ “lồng” được nhắc đi, nhắc lại hai lần thật đắt, thật hay bởi nó đã tạo nên âm hưởng ngọt ngào cho câu thơ. Cảnh này có hình vật có ánh sáng và có âm thanh. Trên nền cảnh núi rừng Việt Bắc vắng vẻ huyền ảo bởi ánh trăng lồng cổ thụ tiếng suối trong xanh như nhạc điệu êm hát mãi không ngừng. Câu thơ của Bác thật giàu giá trị tạo hình như một bức tranh phong cảnh đẹp có tầng lớp. Câu thơ vẽ lên một bức tranh ba tầng với mảng đen trắng lồng gắn vào nhau. Có lẽ bởi tâm hông Bác giàu chất thơ mắt Bác quen nhìn các sự vật trong mối quan hệ giữa tự nhiên biện chứng của húng nên Bác mới có thể phát hiện ra những vẻ đẹp rất tự nhiên của chúng mà rất nhiều người không nắm bắt được những hình ảnh đó.

Nếu như ở hai câu thơ đầu Bác chỉ miêu tả về thiên nhiên thì đến hai câu thư cuối ta thấy được hình ảnh một vị lãnh tụ đang trằn trọc không ngủ:

“Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”

Hai câu thơ cho chúng ta hiểu rõ thêm được tâm hồn yêu thiên nhiên của Bác nhưng cũng chính thiên nhiên lại khiến cho tâm hồn ấy tằn trọc chẳng thể nào ngủ nổi vì thiên nhiên mà nỗi lo cho đất nước càng dâng cao khiến cho vị lãnh tụ không thể nào chợp mắt. Giua vầng trăng sáng vằng vặc giữa cảnh khuya trong trẻo có một người đang thao thức không yên Người hòa mình vào thiên nhiên để cất tiếng thơ ngợi ca thiên nhiên núi rừng song đó chỉ là giây phút phiêu du vào mây gió còn tâm hồn người thực sự đang gửi gắm ở một chân trời khác: Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà Câu thơ vang lên như một sự bừng tỉnh cho người đọc. Có lẽ thiên nhiên chính là người bạn giúp Bác khuây khỏa, bớt đi sự vất vả mà hàng giờ hàng phút Bác phải trăn trở suy tư. Từ đây ta nhân thấy Bác là một người luôn biết hài hòa giữa công việc với tình yêu thiên nhiên. Và càng yêu thiên nhiên thì trách nhiệm đối với công việc càng cao bởi ta có thể nhận thấy đằng sau hình ảnh người ung dung ngắm trăng đó là một nõi khao khát về một đất nước thanh bình, để ngày ngày con người được sống tự do, hạnh phúc. Dương như trong Bác luôn xoáy sâu câu hỏi: Biết đến bao giờ đất nước mới được tự do để con người thỏa sức ngắm trăng.

Kết luận Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh

Bài thơ này được Bác viết trong những năm đầu kháng Pháp vô cùng khó khăn gian khổ. Nhưng ở trong thơ, ta vẫn gặp một chủ thể trữ tình rất yêu thiên nhiên, vẫn ung dung làm việc, vẫn chan hòa cùng ánh trăng thơ mộng của núi rừng. Người lo lắng cho đất nước nhưng trong tâm hồn, Bác vẫn dành cho thiên nhiên những niềm ưu ái, không vì việc quân bận rộn mà Người đành hờ hững, từ chối vẻ đẹp thiên nhiên. Điều này nói lên phẩm chất lạc quan và phong thái ung dung của Bác. Bài thơ thể hiện tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và tinh thần trách nhiệm cao cả của Bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam; là dẫn chứng chứng minh cho phong cảnh tuyệt với của người nghệ sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh.

Theo chúng tôi

Phân Tích Bài Thơ Chiều Tối Của Hồ Chí Minh

Bài làm

Hồ Chí Minh là một cái tên mà tất cả con dân Việt Nam đều ghi tạc trong tim với một lòng yêu quý, kính trọng vô bờ bến. Trong quá trình tìm lại tự do cho dân tộc, Bác đã phải chịu rất nhiều khổ cực, gian khó, đã rất nhiều lần bị bắt giam, chuyển từ nhà tù này sang nhà tù khác, bị đánh đập, tra tấn dã man. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh khó khăn ấy, ở Người vẫn ánh lên một tinh thần lạc quan, một niềm tin vào một ngày mai tươi sáng. Bài thơ “Chiều tối” nằm trong tập thơ “Nhật kí trong tù” đã thể hiện được phần nào tinh thần ấy của Người. Bài thơ chỉ đơn giản là tả lại cảnh nơi thôn dã vào một buổi chiều tối, thế nhưng ẩn chứa trong đó là một ước mơ tự do cho bản thân, ước mơ được quay trở lại quê hương để tiếp tục sứ mệnh của mình.

Bài thơ được sáng tác khi Bác bị giải từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo. Bức tranh chiều tối được nhìn qua cặp mắt của người tù tay đeo gông chân vướng xiềng : “Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không.”

Dịch thơ:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.”

Buổi chiều thường là lúc đoàn tụ, nhưng cũng là khi con người ta thấy vô cùng cô đơn nếu không có một chốn để về. Cánh chim mỏi sau một ngày kiếm ăn cũng đã bay về tổ của mình. Trên không trung chỉ còn lững lờ một chòm mây. Giữa thiên nhiên bao la hùng vĩ, con người và cảnh vật đều như dừng lại, chỉ có chòm mây ấy vẫn nhẹ nhàng trôi, càng làm nổi bật lên sự yên ắng, êm ả của buổi chiều tối nơi rừng núi. Chòm mây ấy cũng giống như Bác, đang trong tình cảnh tù tội, vẫn phải cô độc bước đi. Chòm mây cô đơn, lặng lẽ, Bác cũng lặng lẽ, cô đơn. Tuy thế, phải là một người có lòng yêu thiên nhiên, phải có một tâm thái ung dung, bình tĩnh, lạc quan, vượt lên mọi gông cùm về thể xác để ngắm thiên nhiên, hòa mình với thiên nhiên như thế. Thân xác mỏi rã rời vì phải đi cả ngày đường vất vả, nhưng Bác vẫn dõi mắt theo cánh chim về tổ, tầng mây lững lờ trôi lúc chiều về.

Tuy chỉ hai câu thơ bảy chữ, nhưng cũng đã khiến cho người đọc tưởng tượng ra được cảnh chiều muộn nơi rùng núi thật mênh mông, âm u, vắng vẻ, quạnh quẽ. Đồng thời, cũng nói lên niềm mong ước quay trở về với quê hương, ước mong được tự do như đám mây kia.

Trong khung cảnh thiên nhiên mênh mông, đượm nét buồn lúc chiều muộn nơi rừng núi, bỗng xuất hiện con người:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.”

Dịch thơ:

“Cô em xóm núi xay ngô tối,

Xay hết, lò than đã rực hồng.”

Giữa cảnh buồn của thiên nhiên như trong thơ cổ, cô sơn nữ hiện lên như một điểm sáng, làm cho cả bức tranh trở nên sinh động, vui tươi hơn. Đó chính là nét cố điển mà hiện đại trong thơ của Hồ Chí Minh. Bức tranh vừa có người, vừa có hoạt động khỏe khoắn của con người trong đó. Đó chính là nét đẹp, nét đáng quý của người dân lao động. Cô gái đang miệt mài xay ngô bên lò than rực hồng để chuẩn bị bữa tối. Ở đây, bản dịch thơ không đảm bảo được nghệ thuật của bản chữ Hán. Bác đã lặp lại hai chữ “bao túc” ở cuối câu thứ ba và đầu câu thứ tư, như những vòng xay nối tiếp nhau của cô gái, như sự tuần hoàn của thời gian, trời đã tối, tối dần. Bức tranh vừa ấm áp bởi cảnh tượng lao động khỏe khoắn của người thôn nữ lao động, vừa bởi cái ánh hồng của bếp lò. Đó chỉ là một thứ hạnh phúc bình dị, vậy mà Bác vẫn gạt bỏ hết những đau đớn, mệt mỏi về thân xác để cảm nhận được.

Nhà văn Nam Cao đã viết: “Khi người ta đau chân, người ta không còn tâm trí đâu để nghĩ đến người khác được.”, để nói rằng, con người ta thường có xu hướng lo cho những đau khổ của bản thân. Thế nhưng, ở Bác Hồ – một người lúc nào cũng lo nỗi lo của dân tộc, của đất nước – vậy mà cũng vẫn luôn quan tâm đến những thứ nhỏ nhặt nhất, bình dị nhất. Đó chính là nhân cách cao đẹp của vị lãnh tụ vĩ đại của chúng ta.

Bài thơ “Chiều tối” là một bài thơ tiêu biểu cho nét đẹp cổ điển và hiện đại trong thơ Hồ Chí Minh. Bài thơ chỉ đơn giản là tả về phong cảnh thiên nhiên và con người nơi xóm núi khi chiều muộn, đồng thời, cũng ẩn chứa trong đó nỗi niềm ước mong được tự do, được sum họp của Người. Đồng thời, ở Bác, chúng ta vẫn luôn thấy ánh lên một vẻ đẹp của tinh thần quên mình, của một trái tim giàu lòng yêu thương luôn biết quan tâm đến những điều bình dị nhất.

Từ khóa tìm kiếm:

phân tích bài thơ chiều tối (5065)

phan tich bai chieu toi (1996)

phan tich bai tho chieu toi cua ho chi minh (1916)

Phan tich chieu toi (1303)

chieu toi (599)

phân tích bài thơ chiều tối (534)

phan tich bai tho chieu toi lop 11 (425)

chieu toi ho chi minh (330)

bai tho chieu toi (315)

Phan tich bai chieu toi cua ho chi minh (287)

Phân Tích Bài Thơ “Cảnh Khuya” Của Hồ Chí Minh

Đề bài: Phân tích bài thơ “Cảnh khuya” của Hồ Chí Minh

Tác giả Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà văn, nhà thơ mà người còn là một nhà lãnh tụ đại tài của dân tộc Việt Nam. Người đã sáng tác rất nhiều bài văn bài thơ hay gây được tiếng vang lớn trong nền cách mạng của nước ta. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp người đã dùng tài năng thơ ca văn chương của mình là vũ khí chiến đấu sắc bén. Bên cạnh đó, người cũng sáng tác nhiều bài thơ ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên của nước ta vô cùng đặc sắc như bài “Cảnh khuya”

Tiếng suối trong như tiếng hát xaTrăng lồng cổ thụ bóng lồng hoaCảnh khuya như vẽ người chưa ngủChưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Bài thơ được chủ tịch Hồ Chí Minh viết những năm người hoạt động ở Việt Bắc, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vô cùng cam go quyết liệt, sau những giờ phút đàm đạo việc quân người lại ngắm trăng sao, bầu bạn với những vần thơ để giải tỏa những căng thẳng,

Trong câu thơ đầu tiên tác giả Hồ Chí Minh đã gợi lên trong lòng người đọc một cánh rừng hoang sơ thiên nhiên vô cùng hoang dã, nhưng lại đẹp như một bức tranh thủy mặc nơi tiên cảnh:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Tác giả Hồ Chí Minh đã vô cùng tinh tế khi mà so sánh tiếng suối với tiếng hát, bằng cảm nhận từ thính giác đặc biệt của mình. Tác giả Hồ Chí Minh không chỉ lắng nghe bằng đôi tai mà lắng nghe bằng cả tâm hồn của mình, thể hiện một trái tim vô cùng đa cảm.

Tiếng suối chảy trong veo ngọt lành, tinh khiết đó chính là món quà vô cùng quý báu của thiên nhiên và núi rừng Việt Bắc bạn tặng cho những người chiến sĩ bộ đội, những người đã không ngại hy sinh gian khổ xông pha nơi trận mạc để bảo vệ mảnh đất quê hương.

Không chỉ có vậy tiếng suối trong veo róc rách đó tựa những tiếng hát thánh thót của một cô thôn nữ, vùng biên cương. Một khúc hát trữ tình vô cùng sâu lắng, làm say đắm lòng người.

Tiếng hát đó có sức mạnh vô cùng to lớn nó có khả năng lan tỏa mạnh mẽ khiến cho những con người dù ở xa tới đâu cũng có thể nghe thấy được, cảm nhận được giai điệu say đắm của nó.

Nó cũng chính là tiếng hát vang lên trong đêm tối tĩnh lặng bởi nếu không nó sẽ bị hòa vào những âm hưởng khác, những tạp âm khác của cuộc sống, con người khó có thể cảm nhận được nữa.

Sự đặc biệt trong những câu thơ của tác giả Hồ Chí Minh là một âm thanh vô cùng tự nhiên đó chính là tiếng suối chảy lại được so sánh với một âm thanh của con người nó chính là tiếng hát, thể hiện sự sâu lắng, tinh tế của tác giả Hồ Chí Minh trong nghệ thuật so sánh.

Cảnh khuya càng đêm càng tĩnh lặng, yên ắng tới nhường nào, dường như tác giả có thể nghe được hết những âm thanh đặc biệt tinh tế long lành đó.

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Trong câu thơ này tác giả Hồ Chí Minh sử dụng điệp từ “lồng” để thể hiện sự ấn tượng của câu thơ. Tạo nên một bức tranh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp, tinh tế tựa như chốn bồng lai tiên cảnh. Chính từ đó làm cho câu thơ trở nên vô cùng duyên dáng hữu tình ánh trăng mênh mông lan tỏa bao trùm ánh sáng của mình lên cảnh vật Việt Bắc lên những nhánh hoa, cành cây làm cho không gian trở nên tinh khiết, lung linh sắc màu.

Tác giả đã sử dụng từ “lồng” thể hiện cho sự đồng điệu của cảnh sắc thiên nhiên và ánh trăng, làm cho câu thơ trở nên đan xen hòa quyện vào nhau một cách vô cùng dễ thương duyên dáng.

Chính trong thời khắc hiếm có đó ánh mắt người nghệ sĩ của tác giả thật tài tình để có thể nắm bắt được hồn thơ vô cùng sinh động sáng tác ra những câu thơ làm lay động lòng người.

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Trong không gian bao la trong veo vô cùng yên ắng tĩnh lặng càng làm cho hình ảnh con người cụ thể là tác giả trở nên cô quạnh, trong đêm tối tác giả cảnh đẹp càng làm cho tác giả cảm thấy vô cùng thao thức khó ngủ.

Bởi con người lúc này đã hòa mình vào với thiên nhiên, tác giả cất lời thơ thể hiện tình cảm yêu quê hương đất nước là những phút lãng du tâm hồn gửi gắm vào mây núi đất trời

Tác giả chưa ngủ vì người còn đang mang nặng một nỗi buồn nỗi sầu cho quê hương đất nước, khi quê nhà đang trong thời kỳ nô lệ, đêm tối.

Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc càng ngày càng trở nên cam go quyết liệt, khiến cho tác giả Hồ Chí Minh càng ngày càng trở nên khó ngủ trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành.

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

Bài thơ khép lại với câu thơ cuối đã nói lên hết tâm tư của tác giả khi mà người còn trăn trở, lo lắng những nỗi buồn của dân tộc, của sự nghiệp giải phóng đất nước. Bài thơ “Cảnh khuya” khiến cho người ta cảm nhận được tâm trạng của tác giả trước thời cuộc, người chưa bao giờ có những giây phút nghỉ ngơi trọn vẹn vì trái tim người đã dành trọn cho dân cho nước.

Thảo Nguyên

Cập nhật thông tin chi tiết về Phần Tích Bài Thơ Không Ngủ Được Của Hồ Chí Minh trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!