Xu Hướng 2/2024 # Phân Tích Bài Thơ Cảnh Rừng Việt Bắc Của Bác Hồ # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Phân Tích Bài Thơ Cảnh Rừng Việt Bắc Của Bác Hồ được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc được Bác sáng tác vào đầu năm 1947, đây là một bài thơ tràn đầy lạc quan, tràn đầy năng lượng dù Bác sống trong hoàn cảnh hết sức khó khănở chiến khu Việt Bắc.

Tuy nhiên, dù trong hoàn cảnh thiếu thốn nhưng Bác vẫn để lòng mình hướng đến thiên nhiên hùng vĩ, cái đẹp của thiên nhiên khiến lòng người luôn lạc quan và năng lượng mới.

Bài văn phân tích bài thơ Cảnh Rừng Việt Bắc của Bác Hồ:

Bài thơ Cảnh Rừng Việt Bắc được Bác Hồ viết vào mùa xuân năm 1947, sau một năm quân ta tạm rút khỏi thủ đô Hà Nội để lên núi rừng bạt ngàn Việt Bắc, lập căn cứ làm cuộc trường kỳ kháng chiến thần thánh chín năm chống thực dân Pháp. Đây là lần thứ hai, Bác Hồ và Trung ương Đảng sống, làm việc tại căn cứ địa Việt Bắc để lãnh đạo cách mạng.

Phân tích bài thơ Cảnh Rừng Việt Bắc của Bác Hồ

Lần thứ nhất là trước Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945. Nói vắn tắt đôi lời để thấy trong bối cảnh như vậy mà vị lãnh tụ vĩ đại, nhà thơ lớn Hồ Chí Minh vẫn luôn dạt dào niềm xúc động trước cảnh sắc thiên nhiên núi rừng hùng vĩ, với một tứ thơ tức cảnh hàm xúc và tràn đầy lạc quan, mà có lẽ chỉ những người cách mạng mẫu mực như Bác Hồ mới có trong một hoàn cảnh khó khăn như vậy.

Mở đầu bài thơ, Bác đã như reo lên trước cảnh đẹp thiên nhiên kỳ vĩ: “Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay”. Nhưng lạ là ở chỗ, cái hay ấy không phải là cái gì xa vời, lại càng không phải những cái gì gợi sự tò mò, kiểu như võ sĩ vào rừng săn tìm sự lạ lùng và khơi gợi trí tò mò. Ở đây, cái hay chính là thiên nhiên, nói cách khác, là sự gắn kết thiên nhiên với con người, con người với thiên nhiên ở một nơi thiên nhiên vẫn như còn nguyên sơ và con người vẫn nguyên vẹn tình yêu tha thiết với thiên nhiên.

Thế nên, dẫu có suốt ngày vượn hót, chim kêu mà có ai đó khó tính cảm thấy đinh tai, nhức óc, thì với Bác Hồ, đến cỏ cây hoa lá đất trời xanh cũng làm cho lòng Người rưng rưng tha thiết, thì ngày ngày được nghe tiếng vượn hót, chim kêu ấy càng như nhắc nhở, giục giã công việc và khơi gợi suy nghĩ vì non sông, đất nước. Chỉ với hai câu mở đầu đã cho người đọc thấy nhà thơ yêu thiên nhiên, gắn bó với thiên nhiên đến mức nào; hay nói rộng ra, lòng yêu nước ở Bác Hồ không phải là cái gì xa vời mà chính là từ tình yêu thiên nhiên, yêu những gì gắn bó, thiết tha, gần gũi với cuộc sống thường nhật của chính mình và đồng loại, mà vì nó có thể hy sinh tất thẩy để phụng sự suốt đời. Hơn nữa, trong hoàn cảnh thực tại của cuộc kháng chiến chín năm muôn vàn khó khăn, gian khổ thì thiên nhiên ở đây không chỉ “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” (thơ Tố Hữu), mà còn thực sự góp phần giải quyết những khó khăn trong sinh hoạt đời thường, nuôi dưỡng sức lực cho quân ta đánh giặc. Cái thực tại ấy được Bác Hồ khắc hoạ bằng nét mộc mạc, giản dị, chân thực trong bốn câu thơ đặc tả sinh hoạt đời thường rất gợi:

Khách đến thì mời ngô nếp nướng, Săn về thường chén thịt rừng quay. Non xanh, nước biếc tha hồ dạo, Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.

Chỉ bốn câu thôi, mà làm người đọc thấy được cuộc sống của những người đi kháng chiến ở núi rừng. Không phải là một cuộc sống hoàn toàn sung sướng “cơm gà, cá gỡ”, nhưng cũng không phải là một cuộc sống túng bấn đến mức “cơm không có mà ăn”, như hồi ấy có kẻ lầm tưởng những người kháng chiến ở rừng xanh núi ngàn. Cảnh sống ấy thật đơn giản mà lịch sự biết nhường nào, bởi cái tình người với nhau chan chứa, mặn nồng, tha thiết đến cái bắp ngô, củ sắn cũng bẻ đôi:

Khách đến thì mời ngô nếp nướng, Săn về thường chén thịt rừng quay.

Chỉ có thế, nhưng thật là thịnh soạn, với một từ “chén” đủ làm người đọc thấy niềm lạc quan của những người đi kháng chiến bất chấp khó khăn ở rừng xanh núi ngàn. Với niềm lạc quan ấy thì trước phong cảnh thiên nhiên kỳ thú, có thể thả bộ thư giãn sau những giây phút làm việc căng thẳng, hay ngồi ngâm nghi giây lát bên chén rượu, ấm trà cũng là điều rất hợp lẽ, rất đời thường:

Non xanh, nước biếc tha hồ dạo, Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.

Đến đây, người đọc càng thấy sự bình dị và niềm lạc quan ở Bác Hồ gấp bội phần. Nhất là ở hai câu kết:

Kháng chiến thành công ta trở lại, Trăng xưa, hạc cũ với xuân này.

Thì ta càng thấy sự bình dị, lạc quan ở Bác Hồ trong một hoàn cảnh khó khăn như năm 1947 giữa núi rừng Việt Bắc biết chừng nào.

“Cảnh Rừng Việt Bắc” – Hồ Chí Minh

Đề bài: Phan tich tac pham Canh rung Viet Bac. Em hãy phân tích tác phẩm “Cảnh rừng Việt Bắc” của Hồ Chí Minh.

Hướng dẫn

Mở bài: “Cảnh rừng Việt Bắc” – Hồ chí Minh

Bác chúng ta có rât nhiều nơi để công tác, gắn trên những đoạn đường ấy, bao suy tư về cảnh và người đã thúc giục thi nhân lưu lại nó trong những trang sách để đời. Có lẽ Việt Bắc là nơi đất mang trong mình không chỉ những huyền thoại trong lịch sử là nơi bác từng sinh sống và làm việc trong những năm tháng cách mạng khó khăn của dân tộc, nơi đây còn được miêu tả đẹp hút hồn nhiều thi nhân bằng sự dung dị, chân chất, để Bác chúng ta khi gắn bó cất lên được những tiếng lòng tự hào, yêu thương để gửi lại nơi đây qua bài thơ thất ngôn bát cú cổ điển mà vẫn giàu cảm xúc.

Thân bài: “Cảnh rừng Việt Bắc” – Hồ chí Minh

Những câu thơ mở đầu của bài thơ vừa như gợi lên một vẻ thiên nhiên khiến người viết khó cưỡng, nó hiện lên qua con mắt đầy mới mẻ, say mê của thi nhân. Qua lăng kính ấy, dường như hồn thơ ấy mới toanh, bắt đầu bằng những câu thơ mang đậm tính chất tả thực như một vị du khách mới đặt chân để có thể khám phá hết những vẻ đẹp bất tận của tạo hóa đã ban tặng cho nơi đây, đem gửi gắm, giới thiệu với bạn đọc

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay,

Vượn hót chim kêu suốt cả ngày,

Khách đến thì mời ngô nếp nướng,

Săn về thường chén thịt rừng quay,

Non xanh, nước biếc tha hồ dạo,

Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.

Với âm thanh lay động những tâm hồn, giúp tâm hồn thanh bình trở lại cùng hòa quyện với mây trời, có tiếng của thiên nhiên, tiếng của rừng xanh làm người ta vui thích, kích thích sự tưng bừng và sáng tạo “Vượn hót chim kêu” giữa không gian hùng vĩ.Không quên diễn tả tình cảm đôn hậu của người dân nơi đây, thể hiện tình hiếu khách là đặc trưng của họ, để thơm nức tiếng xa gần, sự tiếp đón nhiệt thành của người Việt Bắc chẳng có gì ngoài đặc sản của rừng núinó càng mộc mạc“ngô nếp nướng”, lại càng thiết tha, chân thành làm người ta mỗi khi đi xa phải nhớ.

Tấm lòng son ấy còn thể hiện sự hoạt động đầy mạnh mẽ, hoang dã của người dân ở mỗi buổi “đi săn” những con thú rừng sa đó sẽ trở thành thứ quà ngon đãi khách quý “thịt rưng quay”, thể hiện sự vui thích khi thưởng thức nó qua động từ “chén”. Hình ảnh của Việt Bắc kháng chiến là địa danh lịch sử, mà vẻ đẹp thơ mộng của nó ở sự hùng vĩ của phong cảnh núi rừng ở đây, mượn thành ngữ xưa “Non xanh nước biếc” mới lột tả hết vẻ đẹp của nơi này

rừng núi bạt ngàn, trải dài trước tầm mắt với màu xanh dễ chịu, của nguồn nước tự nhiên xanh biếc một màu, tươi mát, đầy sức sống, mà miền xuôi thành phố ồn ào kia không thể có được,hưá hẹn nó sẽ là hình ảnh in đậm trong trái tim người đến và người đi qua nơi này. Với sự sinh hoạt thường nhật,cần cù của con người ở đây còn tạo ra nguồn lương thực dồi dào cho cuộc sống, cho sức khỏe của họ, thể hiện ở đây sự chất lượng của nguồn thực phẩm mà tạo hóa cũng ưu ái giúp đỡ miền đất ấy “Chè tươi, rượu ngon”.Việc sử dụng đầy đủ các tính từ, động từ đã làm cho câu thơ thêm hình, hay hơn.

Hai câu thơ tiếp theo là sự yêu thương dồn tụ,lời hứa hẹn cho người đi về miền xuôi làm công việc khó khăn, và quyết định vận mệnh của dân tộc, sẽ nhất định giành thắng lợi, giải phóng cho tổ quốc. Tráng, hạc, xuân là biểu tượng cho vẻ đẹp của thiôn nhiên, sự trường tồn và vĩnh hằng của thiên nhiên, của đất nước, cùa mùa xuân.

Kháng chiến thành công ta trở lại,

Trăng xưa, hạc cũ với xuân này.

Vì cảnh đẹp đã ghi tạc trong những tâm tư sâu nặng trong lòng người, con người khẳng định lòng chung thủy sẽ quay trở lại thăm nơi này,lời hứa hẹn son sắt khi từ biệt mảnh đất tươi đẹp này về miền xuôi. Tac giả không bỏ mặc thiên nhiên, coi nó sống động trong tâm hồn mình,vì thế người ta chẳng bao giờ lãng quên quá khứ đẹp đễ, mất đi tình yêu thương với Việt Bắc. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp cổ điển và hiện đại đã mang đến cho câu thơ cuối của thi phẩm một vẻ đẹp phong thái ung dung tự tại, một tâm hồn giàu có và thanh cao.

Kết bài: “Cảnh rừng Việt Bắc” – Hồ chí Minh

Bài thơ rất hay, tiêu biểu cho hồn thơ, giọng điệu giản dị, mà thấm đượm,thấy được tình yêu Việt Bắc, niềm tin tưởng cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược nhất định thành công là cảm xúc chủ đạo dào dạt bài thơ này. Để hàng thập kỉ về sau, khi đọc lại, ta vẫn thấy được thi vị giàu gợi hình gợi cảm của bài thơ.

TỪ KHÓA TÌM KIẾM

PHAN TICH BAI THO “CANH RUNG VIET BAC” CUA HO CHI MINH

EM HÃY NÊU CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ ” CẢNH RỪNG VIỆT BẮC”

“CẢNH RỪNG VIỆT BẮC” ĐƯỢC HIỆN HỮU TRONG THƠ CỦA HỒ CHÍ MINH NHƯ NÀO

Cảnh Rừng Việt Bắc Trong Thơ Bác. Thanh Thản

CẢNH RỪNG VIỆT BẮC TRONG THƠ BÁC. THANH THẢN

03/02/2024:

Là một nhà thơ lớn, nên tâm hồn Bác luôn rung động, luôn tràn đầy cảm xúc trước cảnh sắc của thiên nhiên đất nước. Ngoài những bài thơ “Nhật ký trong tù”, những bài thơ chúc tết, mừng xuân, những bài thơ “tặng”… Bác còn một mảng thơ về phong cảnh thiên nhiên đất nước cũng hết sức đặc sắc. Trong mảng thơ này thì thơ viết ở Việt Bắc và về Việt Bắc là nhiều hơn cả. Hình ảnh Việt Bắc với phong cảnh núi non hùng vĩ, chim ca hoa nở, tiếng suối reo, vầng trăng vàng… luôn luôn hoà quyện trong mỗi vần thơ Bác. Chỉ đọc những vần thơ ấy thôi ta cũng đã thấy hình ảnh một Việt Bắc, một chiến khu kháng chiến hiện lên vô cùng hùng vĩ, lung linh, sinh động rồi.

Thơ viết về Việt Bắc, có một số bài Bác viết bằng chữ Hán và một số bài viết bằng tiếng Việt.

Bài “Pác Bó hùng vĩ” Bác làm tháng 2/1941, thì ngay từ đầu đề Bác đã khẳng định cảnh sắc Việt Bắc là “hùng vĩ” rồi. Bài thơ khái quát, giọng thơ tràn đầy cảm xúc của niềm vui. Bác viết:

Non xa xa, nước xa xa

Nào phải thênh thang mới gọi là

Đây núi Lê Nin, kia núi Mác

Hai tay xây dựng một sơn hà.

Dẫu vẫn là rừng, là núi nhưng Bác đã cảm thấy là “thênh thang” lắm rồi. Suốt “Mười bốn trăng tê tái gông cùm”, bị bó chặt trong bốn bức tường giam, được trở về đất nước thì còn hạnh phúc, vui sướng, thênh thang nào bằng.

Cảnh ấy có non xanh ngất trời, có sắc mây trắng quanh năm bồng bềnh nhẹ trôi… Việt Bắc trong thơ Bác như một bức tranh thủy mặc mà thật hoành tráng:

Vạn trùng sơn ủng, vạn trùng mây

(Vạn trùng núi đỡ, vạn trùng mây)

  Thướng sơn -  Lên núi: Xuân Diệu dịch

Trong bài “Nhớ bạn xưa”, đứng trên đỉnh Tây Phong Lĩnh, một lần nữa Bác lại say mê ngắm cảnh núi sông, mây gió kỳ thú của Việt Bắc như thế:

Mây ôm núi, núi ôm mây

Lòng sông chẳng gợn mảy may bụi hồng.

                                    chúng tôi dịch

Đến một con suối nhỏ cũng thật đẹp, thật nên thơ biết bao. Dòng suối trong xanh, hiền hòa, êm đềm. Tiếng suối sớm chiều du dương như tiếng hát, tiếng đàn:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

                        Cảnh khuya – 1947

Cảnh vật trên hai bên bờ suối cũng đẹp như tranh vẽ. Này là bóng cây xanh duyên dáng soi bóng nước xanh. Này là làn sóng lăn tăn chảy xuôi. Này là một bông mai nở… “Thướng sơn”, một bài ngũ ngôn tứ tuyệt mà như một bức tranh đủ không gian, sắc mầu, cảnh vật. “Thi trung hữu hoạ” là vậy. Đây là hai câu kết của bài:

Cử đầu hồng nhật cận

Đối ngạn nhất chi mai.

(Ngẩng đầu mặt trời đỏ

Bên suối một nhành mai)

                        Tố Hữu dịch

Mỗi nụ hoa, cánh hoa cũng là một nét xuân của núi rừng Việt Bắc:

Quy lai ngẫu quá sơn mai thụ

Mỗi đóa hoàng hoa nhất điểm xuân

(Đường về chợt gặp cây mai núi

Mỗi đóa hoa vàng một nét xuân).

      Tầm hữu vị ngộ – Tìm bạn chưa gặp

                   Phan Văn Các dịch

Rồi trăng. Các thi nhân ai cũng yêu trăng, thích ngắm trăng, mơ trăng, vịnh trăng… Trăng là một hình ảnh đẹp tràn đầy trong những áng văn thơ kim cổ. Trăng, có trăng ở biển, trăng ở đồng bằng, trăng ở rừng, ở núi… Nhưng có lẽ trăng ở rừng , ở núi là đẹp nhất, thơ mộng nhất. Trăng Việt Bắc trong thơ Bác lại càng lung linh, huyền ảo hơn:

Song ngoại nguyệt minh lung cổ thụ

Nguyệt di thụ ảnh đáo song tiền.

(Ngoài song trăng dọi cây sân

Ánh trăng nhích bóng cây gần trước song)

                     Đối trăng – Nam Trân – Dịch

Và trăng như một thực thể sống, trăng cũng có hồn, trăng còn như một người bạn tri âm, tri kỷ, nên trăng cũng ghé vào song cửa hỏi Bác thơ đã làm xong chưa khi có tin chiến thắng bay về:

Nguyệt thôi phong vấn: Thi thành vị?

(Trăng vào cửa sổ đòi thơ)

                    Báo tiệp – Tin chiến thắng

                             Huy Cận dịch

Lại đến chim muông. Rừng Việt Bắc cũng thật nhiều chim. Tiếng chim hót rộn suốt ngày làm cho những cánh rừng bằng lặng thêm vui, làm cho tâm hồn Bác càng thêm tràn đầy cảm xúc thơ:

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay

Vượn hót, chim kêu suốt cả ngày.

         Cảnh rừng Việt Bắc – 1947

Và:

Sơn kính khách lai hoa mãn địa

Tùng quân lâm đáo điểu xung thiên.

(Đường non khách tới hoa đầy

Rừng sâu quân đến tung bay chim ngàn).

                   Không đề – Xuân Thủy dịch

Đặc biệt bài “Cảnh rừng Pác Bó”, Bác làm năm 1942, là bài Bác tả được nhiều nhất về cảnh rừng Việt Bắc. Sau giọng thơ vui “Non xanh xanh, nước xanh xanh/Trong rừng xanh có mấy danh Võ Hầu” (tức Khổng Minh), là cảnh vật quanh nơi Bác ở, một cảnh vật thật xôn xao, sống động:

Chung quanh xanh ngắt một mầu

Hoa chen lá phủ, trên đầu bóng cây

Chim từng lũ, thú từng bầy

Thú kêu inh ỏi, chim bay là là

Giọng khe róc rách dưới nhà

Bên tường cảnh vẽ bức hoa bên mình

Đêm khuya chồn cáo mò rình…

Chiến khu Việt Bắc không những chỉ đẹp với phong cảnh núi sông hùng vĩ, với chim ca hoa nở như vậy, mà còn đẹp với những hoạt cảnh của con người. Đó là nơi các chiến sỹ cách mạng, bộ đội, dân công, đồng bào và các lãnh tụ gắn bó suốt những năm dài kháng chiến. Tuy cuộc sống ấy còn vô cùng thiếu thốn, gian khổ, nhưng lúc nào cũng vui, cũng tràn đầy niềm lạc quan, tin tưởng.

Đó là cuộc sống rất sôi động của những ngày kháng chiến, như nhà thơ Tố Hữu đã ghi lại trong bài thơ  Việt Bắc: “Những đường Việt Bắc của ta/Đêm đêm rầm rập như là đất rung/Quân đi điệp điệp, trùng trùng/Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan/Dân công đỏ đuốc từng đoàn/Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay…”. Trong thơ Bác thì núi rừng bằng lặng hơn, nhưng vẫn vui và cũng có nhiều đặc trưng của cuộc sống ở rừng:

Khách đến thì mời ngô nếp nướng

Săn về thường chén thịt rừng quay

Non xanh, nước biếc tha hồ dạo

Rượu ngọt, chè tươi thoả sức say.

                    Cảnh rừng Việt Bắc – 1947

Cuộc sống hàng ngày của Bác cũng thật giản dị,

đạm bạc:

Sáng ra bờ suối, tối vào hang

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng

                   Tức cảnh Pác Bó 2/1941

Thế mà Bác vẫn thấy “Cuộc đời cách mạng thật là sang”.

Sau ngày hòa bình (1954), trở về Thủ đô Hà Nội, Bác vẫn không nguôi ngoai nỗi nhớ thương Việt Bắc. Đó là nơi Bác đã được sống trong tình kính yêu, đùm bọc của bà con đồng bào với biết bao kỷ niệm nghĩa tình sâu nặng: – Một chiếc màn, một tấm chăn sui, một thang thuốc lúc Bác yếu đau… Rồi một cái tên Ông Ké thân thuộc, gần gũi như chính người Việt Bắc vậy… Một lần trở lại thăm Pác Bó, Bác lại thật sảng khoái một xúc cảm thơ:

Hai mươi năm trước ở hang này

Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây…

Chiến khu Việt Bắc, Chiến khu Cao – Bắc – Lạng – Hà – Tuyên – Thái mãi mãi ngời sáng hình ảnh Bác Hồ và những vần thơ của Bác. Việt Bắc sống mãi trong mỗi trái tim người dân Việt Nam. Chắc chắn mỗi lần đọc lại những vần thơ ấy của Bác, mỗi người chúng ta lại càng nhớ thương Việt Bắc, càng tự hào với Việt Bắc và yêu những vần thơ của Bác hơn.

NB. 12/2024

 T.T

Phân Tích Vẻ Đẹp Của Núi Rừng Việt Bắc Qua Bài Thơ Việt Bắc

Tố Hữu là nhà thơ tiêu biểu nhất của nền thơ Cách mạng và kháng chiến thế kỉ 20. Ở Tố Hữu có sự thống nhất đẹp đẽ giữa cuộc đời cách mạng và cuộc đời thơ. Việt Bắc là bài thơ xuất sắc của Tố Hữu. Vẻ đẹp thiên nhiên và con người Việt Bắc được ông gió gọn trong 8 câu thơ:

……..

Mở đầu đoạn thơ là nỗi nhớ thương, là tình cảm ân tình thủy chung của người ra đi đối với chiến khu Việt Bắc:

Cách sử dụng các đại từ nhân xưng ” ta” – ” mình” vốn rất quen thuộc trong ca dao, dân ca. Mượn lời ví von của dân gian, Tố Hữu vận dụng một cách sáng tạo mang một nội dung mới mẻ hiện đại. Chỉ riêng trong hai câu thơ đầu, đại từ “ta” xưng hô đến bốn lần tạo được ấn tượng mạnh mẽ. Nó bộc lộ cảm xúc trực tiếp của nhà thơ, của người ra đi đối với người ở lại. Tình cảm này hết sức chân thành, thiết tha, có sức lôi cuốn mạnh mẽ và tạo nên được đồng vọng, sẻ chia với người đọc.

Nỗi nhớ Việt Bắc của nhà thơ, người về xuôi đã được Tố Hữu biểu hiện hết sức cụ thể, phong phú. Không phải ngẫu nhiên mà trong bài thơ Việt Bắc, tác giả đã sử dụng 34 lần từ “nhớ” (biện pháp điệp từ) để làm nổi rõ tấm lòng ân nghĩa thủy chung, thương nhớ đối với chiến khu Việt Bắc. Từ “nhớ” được tác giả nhắc đến với nhiều ý nghĩa phong phú. Có khi diễn tả nổi nhớ như “nhớ gì như nhớ người yêu”. Cũng có lúc từ “nhớ” được sử dụng với hàm ý là nhớ lại “nhớ khi giặc đến giặc lùng”, …

Ngay trong đoạn thơ trích chỉ có 10 câu thì đã tới 5 lần từ “nhớ” được nhắc đến. Nào là “mình có nhớ ta”, “nhớ những hoa cùng người”, “nhớ người đan nón”, “nhớ cô em gái”, “nhớ ai tiếng hát”. Tất cả từ “nhớ” ở đoạn thơ này đều bao trùm hàm ý nhớ thương. Nỗi nhớ cứ tăng dần lên với nhiều biểu hiện và sắc thái khác nhau. Khi thì nhớ về một đối tượng cụ thể, xác định:

– “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”.

– “Nhớ cô em gái hái măng một mình”

Khi lại hướng về một đối tượng mơ hồ:

– Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”.

Mặc dù sắc thái và cung bậc có khác nhau song nỗi nhớ của nhà thơ bao giờ cũng hướng về những con người lao động cân cù, chất phác với một lòng một dạ thủy chung, sắc son với Cách mạng.

Mỗi cặp thơ là một nỗi nhớ da diết cháy bỏng của nhà thơ. Nỗi nhớ cảnh và nhớ người như đan xen hòa quyện với nhau trong bốn cặp thơ lục bát. Nếu câu 6 dành cho nỗi nhớ cảnh thì câu 8 thì diễn tả nỗi nhớ con người. Cảnh và người trong mỗi cặp thơ lại mang những đặc điểm sắc thái riêng. Cứ như thế, đoạn thơ lần lượt gợi nhớ những vẻ đẹp nên thơ, trữ tình của cảnh và người Việt Bắc. Bức tranh phong cảnh thiên nhiên đa dạng về nghệ thuật màu sắc, ánh sáng và âm thanh dần hiện ra trước mắt người đọc. Nét hài hòa của nhịp thơ và hình ảnh gợi lên ở người đọc những cảm xúc và rung động trước khung cảnh vừa hùng vĩ nên thơ, vừa mênh mông man mác.

Phong cảnh thiên nhiên mà tác giả gợi tả ở đây là phong cảnh thiên nhiên rừng núi Việt Bắc. Búc tranh thiên nhiên hiện lên tự nhiên mà đẹp và nên thơ một cách tinh tế. Tố Hữu đã làm hiện rõ cảnh sắc riêng của bốn mùa trong năm một cách tài tình chỉ bằng những cặp lục bát ngắn ngủi mà đầy đủ. Việt Bắc được ghi nhận theo dòng chảy của thời gian vĩnh hằng.

Đó là cảnh mùa đông với:

Mùa đông hiện lên với sắc đỏ của hoa chuối rừng giữa đại ngàn. Trên nền xanh bất tận của muôn cây, hoa chuối rừng kiêu hãnh khoe sắc dỏ thắm tươi. Cái màu ấn tượng ấy dù đứng từ rất xa cũng có thể nhìn thấy được. Nó tập trung và thu hút cái nhìn của người đọc. Bởi nhìn từ từ rát xa nên mới có thể thấy ánh sáng phản chiếu chiếc “dao cài thắt lưng” của người đi rừng. Ánh sáng lấp lóe, bất chợt và đột nhưng rất rõ ràng.

Bức tranh mùa đông Việt Bắc không hề hiu hắt, tàn tạ như cái vốn có của thiên nhiên đất trời. Ngược lại, nó cuồn cuộn sức sống. Nó rực rỡ sắc màu và tràn trề niềm tin. Thiên nhiên đã tươi xanh, con người cũng mạnh mẽ kiên cường.

Tiếp đến, hình ảnh mùa xuân hiện ra với sắc trắng của hoa mơ trắng ngút ngàn:

Hoa mơ trắng vốn là một nét đẹp chỉ có ở núi rừng Việt Bắc. Ngày xuân, rừng mơ buông hoa trắng xóa cả núi rừng, tạo nên cảnh sắc thật kì vĩ. Những dải màu trắng hoa mơ kéo dài bất tận, như chiếc khăn mềm mại vắt ngang ngọn núi. Hình ảnh con người hiện lên trong tư thế lao động. Đôi bàn tay khéo léo chuốt từng sợi giang tỉ mỉ và cẩn trọng. Bức tranh mùa xuân tươi mát, trong sạch như tình người cán bộ son sắt, thủy chung với núi rừng, với nhân dân Việt Bắc.

Mùa hạ hiện ra với âm thanh réo rắt của tiếng ve rừng:

Tiếng ve rừng là âm thanh sống động nhất của núi rừng Việt Bắc. Không phải là tiếng kêu đơn lẻ lạc điệu của một vài chú ve. Đó là một bản đồng ca xáo động, dữ dội và rộn vang. Người nghệ sĩ của rừng cây tấu lên những khúc nhạc rộn ràng, âm vang đất trời. Có lúc im bặt rồi bất ngờ cất lên ầm ĩ. Tiếng ve hòa trong sắc vàng của rừng phách. Ve kêu cũng là lúc rừng cây phách đổ vàng. Bức tranh mùa hạ núi rừng Việt Bắc thay màu mới.

Hiện lên trong bức tranh là hình ảnh cô gái yêu kiều một mình hái măng giữa rừng. Cô hòa mình với thiên nhiên vĩ đại. Cô vui vẻ tìm kiếm những phẩm vật quý giá của rừng xanh. Dường như, cô cũng đang hân hoan ca hát cùng những chú ve, lòng rộn ràng trong bản tình ca đắm say bất tận.

Cuối cùng, hình ảnh mùa thu đọng lại với ánh trăng rừng huyền diệu và khát vọng hòa bình thiết tha:

Ánh trăng thu mở ra bức tranh mở ảo. Thật không thể nói hết vẻ đẹp của đêm trăng chốn đại ngàn. Trong bóng tối bao la và sự vắng lặng của vũ trụ, ánh trăng là nguồn sáng thu hút hồn ta, tưới tắm hồn ta tình yêu cái đẹp và tình yêu cuocj sống. Từ bào đời nay, trăng luôn là biểu tượng của cuộc sống yên bình và tươi đẹp. Trăng kết nối hồn ta với đất trời, kết nối người đi kẻ ở. Trăng luyến lưu đưa tiễn và cũng gợi nhớ kí ức xa xăm. Khi tất cả đã xa rời, trang chính là nguồn ánh sáng kì điệu đưa ta trở về.

Tố Hữu đã rất thành công khi sử dụng thể thơ lục bát mềm mại, nhuần nhuyễn một cách điêu luyện. Các câu thơ nhịp nhàng, cân đối, hài hòa đến tuyệt vời. Hình ảnh thơ được chọn lọc kĩ càng, biểu đạt sâu sắc vẻ đẹp thơ mộng của con người và thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình, thủy chung.

Đoạn thơ là sự hòa quyện tuyệt vời giữa âm thanh, sắc màu và hình ảnh tạo nên một bức tranh núi rừng hết sức tráng lệ, kì vĩ. Hình ảnh con người được khác họa tinh tế và đẹp đẽ. Tuy nhỏ bé nhưng không hề bị chìm lấp giữa núi rừng bạt ngàn. Con người là điểm nhấn, điểm tô cho bức tranh thêm sinh động. Tuy nhiên, sự thành công không chỉ ở nghệ thuật ngôn từ mà chính là tấm lòng tha thiết của tác giả đối với Việt Bắc.

Đây là đoạn thơ đẹp và hay. Đoạn thơ có cấu trúc hài hòa, cân đối, có giá trị tạo hình mang nhiều sắc thái biểu cảm và thể hiện cảm xúc chân thành nhất, sâu lắng nhất của nhà thơ Tố Hữu đối với cảnh vật và con người Việt Bắc.

Bài Thơ ” Cảnh Rừng Việt Bắc”

Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, xin cảm nhận baì thơ ” Cảnh rừng Việt Bắc” của Bác , để chúng ta càng kính trọng, yêu quý Bác Hơn

Cảnh rừng Việt Bắc

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay

Khách đến thì mời ngô nếp nướng

Săn về thường chén thịt rừng quay

Non xanh nước biếc tha hồ dạo

Rượu ngọt chè tươi mặc sức say

Kháng chiến thành công ta trở lại

Hồ Chí Minh

của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1947. Trong bối cảnh lịch sử đất nước, sau ngày tuyên ngôn độc lập 02/09/1945 – Trung ương Đảng, Chính Phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về làm việc tại Hà Nội. Và cũng lấy Hà Nội làm thủ đô. Hàng loạt công việc trọng đại của đất nước trong giai đoạn này như : Bầu cử Quốc hội khóa I năm 1946 ra đời hiến pháp… Rồi Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Pháp, ký hòa ước sơ bộ với Chính phủ Pháp… đuổi quân Cảnh rừng Việt Bắc ” Tàu” ra khỏi nước ta…

Bài thơ “Cảnh rừng Việt Bắc” của Hồ Chí Minh đã có nhiều tác giả cảm nhận và họa thơ. Tôi cũng có vài cảm nhận và xin họa hai bài về đề tài này của Bác.

Với “Cảnh rừng Việt Bắc” ngay từ mở đề Hồ Chí Minh viết: Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay / Vượn hót chim kêu suốt cả ngày. Sự gắn kết con người với thiên nhiên – cái thực thiên nhiên hòa quyện, cái nguyên sơ, bản thể làm nên hoang dã, rả rích dội vào lòng người, hóa nên tình, nên ý… gần gũi yêu hay! Tưởng thật, làm giàu cảm xúc để ta ngưỡng vọng theo nhịp thơ Người đang mở.

Đến với câu thực: Khách đến thì mời ngô nếp nướng / Săn về thường chén thịt rừng quay. Những từ ngữ rất thông dụng, không cầu kỳ, nhưng chỉnh đối – rất dân dã, như những câu nói rất bình thường gần gũi với nhân dân, dễ biết, dễ hiểu tự tại trong cuộc sống, chẳng phải tìm đâu xa.

Là sự tiếp nối hai câu luận: Non xanh nước biếc tha hồ dạo / Rượu ngọt chè tươi mặc sức say. Ta lại càng thấy cảnh với người, thực tài gần lại nhau, quyện lại nhau, cùng tưởng thưởng với những gì cảnh có, người có… đơn giản nhưng nồng hậu, vào thời ấy, vào lúc ấy là quý lắm rồi. Một chút hòa tâm hồn vào với thiên nhiên, thư thải thưởng lãm, lẽ thường chỉ có với những tâm hồn dạt dào cảm xúc, yêu thiên nhiên yêu con người mới có được.

Để cho hai câu kết khẳng định mới hay sau: Kháng chiến thành công ta trở lại/ Trăng xưa hạc cũ với xuân này. Đầy niềm tin vào sự thắng lợi của cuộc kháng chiến là điều khẳng định vào sự thành công. Để có dịp trở lại với nhân dân với non nước núi rừng Việt Bắc đã che chở, bao bọc giúp đỡ cách mạng, Trung ương Đảng, Chính Phủ, Bác Hồ trong thời kỳ gian khổ nhất của cuộc kháng chiến chống Pháp, mà tri ân, tri kỷ, quý trọng tình này nghĩa ấy.

Cũng là: Trăng xưa hạc cũ với xuân này – đầy hình ảnh, hình tượng của thơ ấy là trăng, “trăng lồng cổ thụ”, “trăng nhòm khe cửa”, “trăng ngân thuyền”… hạc xưa là biểu tượng đẹp chỉ có ta mới có, cổ kính mà trọng vọng tưởng đến như thần….

Thơ Hồ Chí Minh trong “Cảnh rừng Việt Bắc” vừa giản dị mộc mạc, vừa thật mà không thường, vừa tự nhiên mà rung động, cảm xúc nên hồn thi sỹ, thành tư tưởng, thành hình ảnh, hình tượng đến nao lòng – cho ta mãi mai sau ngẫm ngợi với những vần thơ theo thể thơ Đường khó nhưng hay với tài nghệ làm thơ của Người.

Phân Tích Bài Thơ ‘Cảnh Khuya’ Của Bác Hồ

Phân tích bài thơ ‘Cảnh khuya’ của Bác Hồ

‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa,

Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoà.

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,

Chưa ngủ vì lo nổi nước nhà’

Bài thơ miêu tả cảnh khuya núi rừng một đêm trăng, nói lên những suy tư lo lắng của Bác Hồ đối với vận mệnh của dân tộc.

1.Hai câu đầu làm hiện lên trước mắt người đọc một bức tranh sơn thủy về cảnh suối rừng, trăng ngàn Việt Bắc. Nhà thơ thao thức lắng nghe tiếng suối chảy rì rầm, êm nhẹ và trong trẻo từ rừng sâu vong đến:

‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa’

Suối là vẻ đẹp chốn lâm tuyền, vẻ đẹp rừng già Việt Bắc. Bác lấy tiếng suối so sánh với tiếng hát, là khúc nhạc rừng ví với tiếng hát xa, êm ái ngọt ngào của con người, làm cho cảnh khuya chiến khu trở nên gần gũi, mang hơi ấm cuộc đời. Câu thơ làm ta liên tưởng đến tiếng suối trong bài ‘Côn Sơn ca* của ức Trai hơn 600 năm về trước:

‘Côn Sơn suôi chảy rì rầm,

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai…’

Hai hồn thơ trở nên gần gũi, thân thiết. Nguyễn Trãi đã về Côn Sơn ‘quê cũ’ để xa lánh bụi trần, danh lợi, lấy suối, đá, thông, trúc làm bầu bạn. Bác Hồ cũng đến chốn lâm tuyền Việt Bắc, xây dựng chiến khu đánh Pháp. Suối trở thành bài ca câu hát nâng*đỡ tâm hồn Bác trong những năm dài kháng chiến gian khổ.

Tạ suối, ngòi bút nghệ thuật của Bác Hồ rất điêu luyện: lấy cái động (tiếng suối chảy) để miêu tả cái tĩnh (cảnh khuya) làm nổi bật sự thanh vắng, tĩnh lặng của chiến khu một đêm trăng. Càng về khuya, núi rừng như chìm trong vắng lặng mênh mông. Bác ‘chưa ngủ’ nên mới nghe rõ âm thanh rì rầm suối chảy.

Câu thứ hai tả trăng ngàn:

‘Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa’

Hai vế tiểu đối gợi lên vẻ đẹp hài hòa của cảnh vật thiên nhiên. Trăng được nhân hóa, rất thơ mộng ‘lồng’ vào cổ thụ, bóng cổ thụ lại ‘lồng’ vào hoa. Cảnh thiên nhiên trở nên hữu tình, huyền ảo. Chữ ‘lồng’ được láy lại hai lần, chất thơ trữ tình mang hồn người, quyến rũ. Ánh trăng tãi khắp núi rừng, dát vàng xuống rừng cây, ‘lồng’ và trùm lên cổ thụ. Cảnh rừng có tầng cao, tầng thấp, có mảnh sáng mảnh mờ. Nét vẽ tinh tế, gam màu nhẹ và tươi mát, sự phối sắc tài tình, mĩ cảm, hấp dẫn. Câu thơ của Bác là sự kế thừa sáng tạo vần thơ cổ, ngòi bút của Bác Hồ rất sành điệu, cổ kính:

‘… Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm,

Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.

Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng…’

(Chinh phụ ngâm)

Hai câu thơ Bác đầy âm thanh nhạc điệu, trong thơ vừa có nhạc vừa có họa, rất thi vị, gợi cảm. Bác đã dành cho thiên nhiên, cây rừng, trăng ngàn những tình cảm thiết tha, nồng hậu.

2. Hai câu thơ 3, 4 trong bài thơ tứ tuyệt được thi pháp cổ gọi là hai câu ‘chuyển’ và câu ‘hợp’. Cấu trúc bài thơ rất đặc biệt. Hai chữ ‘chưa ngủ’ nằm cuối câu ‘chuyển’ được đưa lên vị trí đầu câu ‘hợp’, cảnh được ‘khép’ lại, tình được ‘mở’ ra. Nghệ thuật liên hoàn hay gọi là ‘ô thước kiều’ (quạ bắc cầu) làm cho thơ liền mạch, ý thơ phát triển mở rộng:

‘Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,

Chưa ngủ vì lo nổi nước nhà’

Chưa ngủ vì thi nhân xúc động trước cảnh khuya ‘như vẽ’. Chưa ngủ thao thức, bổi hồi vì ‘lo nổi nước nhà’. Nước nhà đang bị giặc Pháp xâm lăng, con thuyền kháng chiến đang băng qua ghềnh thác thì vị ‘thuyền trưởng’ chưa thể ngủ ngon giấc được!

Nguyên Trãi đã từng thao thức vì đại nghĩa:

‘Còn một tấc lòng âu việc nước,

Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung’

(Quốc âm thi tập)

Bác Hồ cũng thao thức ‘chưa ngủ vì lo nổi nước nhà’ Cùng mang trong tâm hồn một tình yêu lớn đối với đất nước và nhân dân, thơ của Bác chứa chan tình yêu nước ‘ôm cả non sông, mọi kiếp người’ (Tố Hữu). Trong bài ‘Đi thuyền trên sông Đáy’, Bác cũng viết:

‘Lòng riêng riêng những bàn hoàn,

Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng’

Tinh cảm đẹp đẽ ấy là điểu tâm niệm thường trực của Bác: ‘Một ngày mà Tổ quốc chưa được thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên’.Có thể nói, câu thơ ‘Chưa ngủ vì lo nổi nước nhà’bình dị, sáng tỏ như một chân lí, để lại ấn tượng sâu sắc vì nó ‘mênh mông bát ngát tình’.

III. Kết luận:

‘Cảnh khuya’ -bài thơ tứ tuyệt tựa như một đóa hoa đậm đà hương sắc đã góp phần làm đẹp nền thơ ca kháng chiến. Câu thơ giàu hình tượng và truyền cảm. Cảnh và tình hòa hợp. Vừa cổ kính, vừa hiên đại. Tình yêu nước thiết tha, tình yêu thiên nhiên nồng hậu, lời thơ mĩ lệ, trong sáng là cốt cách, vẻ đẹp của bài thơ. Bác là nhà thơ lớn của dân tộc. Đọc thơ Bác, tình yêu của chúng ta đối với Bác gắn liền với tình yêu Tổ quốc.

Nguồn: chúng tôi

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Tích Bài Thơ Cảnh Rừng Việt Bắc Của Bác Hồ trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!