Xu Hướng 2/2024 # Phân Tích Bài Thơ “Ánh Trăng” Của Nguyễn Duy # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Phân Tích Bài Thơ “Ánh Trăng” Của Nguyễn Duy được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đề bài: Phân tích bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy.

Bài làm

Nguyễn Duy là nhà thơ trường thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Những sáng tác của ông đi vào lòng người đọc bởi sự nhẹ nhàng, gần gũi, mộc mạc của ngôn ngữ qua bài thơ “Hơi ấm ổ rơm”, “Tre Việt Nam”. Bài thơ “Ánh trăng” được rút ra từ tập thơ cùng tên, sáng tác năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh đã khiến người đọc có cách nhìn nhận chân thực và sâu sắc hơn về cuộc sống, về quá khứ qua hình ảnh trung tâm “ánh trăng”.

Ánh trăng là hình ảnh xuyên suốt 4 khổ thơ, xâu chuỗi các dòng hoài niệm và suy nghĩ của một đời người về hiện tại và quá khứ. Có thể nói Nguyễn Duy đã rất tinh tế để xây dựng thành công hình tượng “vô tri vô giác” nhưng có sức mạnh đánh thức và lay động trái tim.

Bài thơ được mở đầu bằng hình ảnh ánh trăng thân thuộc, gần gũi, gắn với những kỉ niệm đẹp gắn bó với tuổi thơ, với năm tháng chiến tranh ác liệt:

Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ.

Có thể nói hình ảnh “ánh trăng” đã thành biểu tượng xuyên suốt tuổi thơ của tác giả, gắn bó với những kỉ niệm khó quên. Ánh trăng tinh khiết, dịu nhẹ lan tỏa từ cánh đồng mênh mông, từ dòng sông bến nước – nơi nuôi dưỡng tâm hồn của mỗi chúng ta.

Đến những năm tháng “hồi chiến tranh ở rừng” gian khổ, vất vả, ánh trăng từ kí ức tuổi thơ ấy đã thành “tri kỉ”, thành người bạn đồng hành, người bạn tâm tình đáng mến, thủy chung, son sắt. Có thể nói Nguyễn Duy đã rất khéo, rất tinh tế khi nhân hóa ánh trăng thành một người bạn tri kỉ của những anh bộ đội cụ hồ. Sự gắn bó quấn quýt, tình cảm chân thành và trong sáng giữa anh bộ đội và anh trăng thật đáng ngưỡng mộ.

Hai dấu mốc thờ gian “hồi nhỏ” và “hồi chiến tranh” đã khiến cho ánh trăng trở nên gần gũi và nghĩa tình ở khổ thơ tiếp:

Trần trụi giữa thiên nhiên

Hồn nhiên như cây cỏ

Ngỡ không bao giờ quên

Cái vầng trăng tình nghĩa

Dù là ở đâu thì “ánh trăng” vẫn vẹn nguyên, gần gũi, phóng khoáng khiến cho tác giả có cảm giác “không bao giờ quên”, nhưng đó chỉ là “ngỡ” thôi. Vầng trăng tình nghĩa, chung thủy luôn là hình nhắc nhắc nhở tác giả không được phép quên đi.

Nhưng chính từ “ngỡ” ấy chính là dấu hiệu cho một sự rạn nứt, quên lãng ở khổ thơ tiếp theo

  Từ hồi về thành phố

Quen đèn điện của gương

Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường

Cuộc sống đô thị phồn hoa với đèn điện, cửa gương, với tiện nghi đầy đủ đã khiến cho tác giả quên mất đi người bạn tri kỉ ngày xưa đó. Ở hai câu thơ sau của khổ thơ này, giọng thơ chùng xuống khiến người đọc nghèn nghẹn. Và đặc biệt cách dùng từ “người dưng” đã gợi lên cảm giác xót xa đến tột độ. Từng là bạn tri kỉ, từng là “người” ngỡ như không quên, nhưng giờ đây tác giả vô tâm, vô tình, hờ hững xem như kẻ qua đường, không hơn không kém. Phép so sánh đấy đã khiến cho tứ thơ xoáy sâu vào lòng người nhiều nuối tiếc, day dứt, xót xa cho một sự thay đổi.

Để rồi ở khổ thơ tiếp, tác giả đã tạo ra tình huống đặc biệt khiến tác giả nhận ra:

Thình lình đèn điện tắt

Phòng buyn-đinh tối om,

Vội bật tung cửa sổ,

Đột ngột vầng trăng tròn.

Đến khổ thơ này thì tứ thơ đã đột ngột thay đổi, có lẽ chính bản thân tác giả thay đổi lớn nên mới dẫn đến sự thay đổi bất ngờ của tứ thơ như thế này. Sau chiến tranh, tác giả trở về với cuộc sống thường ngày, bận rộn với thực tại và có thể đã “quên mất” quá khứ, quên mất người bạn tri kỉ ngày xưa đó. Chính cuộc sống đủ đầy hiện tại với đèn điện sáng trưng, ánh trăng trở nên mờ nhạt. Đến khi “đèn điện tắt” tác giả mới giật mình, thảng thốt nhận ra căn phòng tối om và nhận ra lương tâm mình đã thay đổi. Từ “thình lình” được tác giả dùng một cách độc đáo, có thể nói đây chính là “sự không vững” trong tâm hồn, một sự chuyển biến bất ngờ, nhanh chóng khiến mọi thứ trở nên không vững. Cửa sổ “bật tung”, có một điều khiến tác giả cảm thấy hổ thẹn “đột ngột vầng trăng tròn”. Câu thơ này có ý thơ rất lạ, nói đúng hơn là từ ngữ rất lạ, vầng trăng không thể “đột ngột” tròn được, bởi vốn dĩ từ xưa đến nay nó vẫn tròn như thế, chỉ có con người vô tâm mới không nhận ra điều đó.

Thực sự đến khổ thơ này, tác giả đã nhận ra sự vô tâm, hờ hừng của bản thân đối với quá khứ, đối với “người bạn tri kỉ” một thời gắn bó. Với 4 câu thơ ngắn gọn, nhưng lại khiến người đọc thấy lương tâm của mình rung động lạ kì.

Đối diện với ánh trăng, tác giả nhận ra “có cái gì rưng rưng”, là ánh trăng rưng rưng hay là lòng người rưng rưng, có lẽ là cả hai. Một sự hội ngộ bất ngờ và đầy day dứt của tác giả. Ánh trăng vẫn vẹn nguyên, vẫn tròn đầy và thủy chung như xưa, chỉ có con người đổi thay.

Đến khổ thơ cuối, tứ thơ trở nên sắc nhọn:

Vầng trăng tròn vành vạnh

 Kể chi người vô tình

Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật minh

Một phép đối lập song song đủ khiến cho lương tâm của con người được thức tỉnh và ngộ ra nhiều điều. Cách dùng từ “vành vạnh”, “phăng phắc” đủ để người đọc nhận ra sự nghiêm khắc của ánh trăng khiến cho con người “giật minh”, thức tỉnh. Dù cuộc sống đổi thay, con người thay đổi, ánh trăng vẫn thế, bao dung và rộng lượng. Khổ thơ cuối đã gieo vào lòng người đọc nhiều cảm xúc khó tả và thức tỉnh những người đang dần lãng quên đi quá khứ.

Bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy với tứ thơ lạ, độc đáo, cách viết mới mẻ, hấp dẫn, từ ngữ “độc” và hơn hết là tình cảm của tác giả đã để lại trong lòng người đọc nhiều bài học sâu sắc nhất.

Phân Tích Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Nguyễn Duy là nhà văn trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Là một nhà thơ nổi tiếng và đi đầu trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Thơ văn của ông gần gũi với cuộc sống, mang hương vị thân thương, giản dị và đằm thắm. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Duy là tác phẩm Ánh trăng, tác phẩm rất đỗi gần gũi và giản dị. Ánh trăng gây nhiều xúc động bởi cách diễn tả bình dị, thủ thỉ tâm tình, giọng thơ trầm tĩnh.

Bài thơ được chia thành hai đoạn thời gian. Là quá khứ của tác giả và thời gian hiện tại. Có thể nói dù là trước kia hay ở thời điểm hiện tại vầng trăng luôn đồng hành cùng tác giả.

“Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỷ”

Vầng trăng đã gắn bó thân thiết với con người từ khi con nhỏ đến lúc trưởng. “Hồi” là một khoảng thời gian trong quá khứ được tác giả gợi nhớ. Đây cũng chính là dấu mốc thời gian riêng biệt “hồi nhỏ”, “hồi chiến tranh”. “Sống với đồng”, “với sông” “với bể” đây là không gian sống được tác giả khắc họa. Một vùng quê thanh bình, yên ả gắn với đồng lúa, sông suối. Điệp từ “với” được lặp lại ba lần khẳng định sự gắn kết, chan hòa giữa vầng trăng và con người. Không chỉ thế qua hai câu thơ đầu đã cho ta thấy được một ký ức tuổi thơ tươi đẹp của tác giả gắn liền với vầng trăng. Tiếp theo là mốc thời gian khi tác giả trưởng thành “hồi chiến tranh ở rừng” đây là lúc ác liệt, gian nan cực khổ nơi rừng sâu nước độc. Tại nơi này trong những chuyến hành quân ánh trăng vẫn luôn soi sáng, luôn bầu bạn mà trở thành “tri kỉ”. Có thể thấy được vầng trăng đã gắn bó với tác giả từ khi ông còn nhỏ ở miền quê yên bình cho đến lúc trưởng thành xông ra tiền tuyến chống giặc. Ánh trăng ánh vẫn luôn đồng hành cùng tác giả. Vượt qua nhiều khoảnh khắc của cuộc đời.

“Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa”

Vầng trăng “trần trụi”,”hồn nhiên” mộc mạc giản dị. Mọi sự vui buồn sướng khổ đều gắn bó với ánh trăng. Trăng có vẻ đẹp vô cùng bình dị, một vẻ đẹp không cần trang sức, đẹp một cách vô tư, hồn nhiên. Trăng tượng trưng vẻ đẹp thiên nhiên nên trăng hoà vào thiên nhiên, hòa vào cây cỏ. “Vầng trăng tình nghĩa” bởi trăng từng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ, bởi trăng là người bạn, tri âm, tri kỷ. Trăng hiền hòa, dịu dàng như thế “ngỡ” là tưởng là sẽ mãi chẳng không quên được cái tình cái nghĩa. Nghĩ rằng mối quan hệ giữa người và trăng vẫn bền vững, gắn kết. Nhưng cho đến khi đất nước hòa bình, tác giả trở về thành phố thì mọi chuyện đã khác.

“Từ hồi về thành phố

Quen ánh điện, cửa gương

Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường”

Trước đây họ sống ở nơi đồng quê thanh vắng, vầng trăng là vật biểu tượng cho những tháng năm gian khổ. Khi chiến tranh, vầng trăng chứng kiến tình bạn, tình đồng chí được hình thành trên những gian nan, thách thức. Nhưng bây giờ, ở thời điểm hiện tại họ quay về thành phố. Bắt đầu một cuộc sống mới. Tại thành phố hoa lệ đông đúc nơi mà “ánh điện”, “cửa gương” đã thay thế cho ánh trăng đơn độc mộc mạc kia. Nơi thành thị nhộn nhịp đông đúc, người đi kẻ lại chẳng mấy ai còn quan tâm đến “vầng trăng” đang “đi qua ngõ”. Là chính họ đã quên hay lối sống nơi thành thị khiến họ không thể nhớ đến người bạn mà họ từng xem là tri âm tri kỷ? Cuộc sống sung túc, đủ đầy đã khiến cho tác giả dần lãng quên đi vầng trăng ấy. Bây giờ chỉ như “người dưng” bước qua nhau.

Phải đến khi cái ánh sáng nhân tạo đầy tiện nghi kia tạm thời tắt đi:

“Thình lình đèn điện tắt

Phòng buyn đinh tối om

Vội bật tung cửa sổ

Đột ngột vầng trăng tròn”

Thành phố xa hoa, nhộn nhịp đột ngột trở nên “tối om” thì vầng trăng mới một lần nữa hiện diện trong tâm trí tác giả. “Vầng trăng” xuất hiện thật bất ngờ, khoảnh khắc ấy, phút giây ấy,… tác giả, bàng hoàng trước vẻ đẹp kì diệu của vầng trăng. Sự xuất hiện của ánh trăng giữa lòng thành phố được một dịp ảm đạm đã làm xáo trộn tâm hồn của nhà thơ.

Những kỷ niệm xưa cũ trong miền ký ức đột ngột sống dậy:

“Ngửa mặt lên nhìn mặt

Có cái gì rưng rưng

Như là đồng, là bể

Như là sông, là rừng”.

Nhà thơ đối diện với ánh trăng “ngửa mặt lên nhìn mặt” như là đối diện với một người bạn tuổi thơ. “Người” mà đã gắn bó trong suốt những năm tháng thơ bé và đầy ác liệt hồi ở rừng. Sự xúc động mãnh liệt không thể kiềm được “rưng rưng” nước mắt. Bao kỉ niệm đẹp một đời người ùa về, tâm hồn gắn bó, chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng xưa, với đồng, với bể, với sông, với rừng, với quê hương đất nước. “Vầng trăng” nhắc nhở tác giả đừng bao giờ quên những tháng năm gian khổ ấy, đừng bao giờ quên tình bạn, tình đồng chí đồng đội, những người đã từng đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi trong những tháng năm chiến đấu đầy gian lao thử thách.

Những suy tư, chiêm nghiệm về “vầng trăng nghĩa tình”:

“Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình…”

Nhà thơ sử dụng cách nhân hóa hình ảnh “Vầng trăng” càng làm cho bài thơ thêm sinh động chân thực. Giọng điệu tâm tình tự nhiên, chân thành, hình ảnh giàu tính biểu tượng bài thơ như một lời nhắc nhở đến muôn thế hệ. Lời thơ kết hợp tự sự với trữ tình. Hình ảnh thơ bình dị, hàm súc, giàu sức gợi và mang nhiều ý nghĩa biểu tượng tất cả đã tạo nên một bài thơ hay và giàu sức gợi cảm. Điều đặc biệt của bài thơ chính đoạn 1 và 2 khi nhà thơ chỉ viết hoa chữ đầu của đoạn thơ. Có thể thấy được tác giả đang tâm sự với độc giả những gì sâu kín trong lòng mình.

“Ánh trăng” như là một lời nhắc nhở đến chúng ta – những con người dễ dàng quên đi những thứ đã gắn bó trong những năm tháng gian khổ khi đạt được những thứ tốt hơn. Bài thơ còn mang những triết lí về lòng thủy chung khiến người đọc phải suy tư ngẫm nghĩ, nhìn lại chính bản thân mình để có thể thay đổi theo chiều hướng tích cực.

Viết bởi Nth Bảo Ngọc

Phân Tích Bài Thơ Ánh Trăng Của Tác Giả Nguyễn Duy

Bài làm

Nguyễn Duy từ lâu cũng được biết đến chính là nhà thơ trường thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Người đọc cũng thấy được chính những sáng tác của ông đi vào lòng người đọc biết bao nhiêu và nó cũng mang được sự nhẹ nhàng, gần gũi và bài thơ “Ánh trăng” là một trong những bài thơ có thể nhìn nhận chân thực và sâu sắc hơn về cuộc sống và hình ảnh được thể hiện ở đây đó chính là ánh trăng.

Thực sự có thể cảm nhận thấy được ánh trăng được biết đến là một hình ảnh xuyên suốt 4 khổ thơ. Hình ảnh nó như đã có một sự xâu chuỗi các dòng hoài niệm và suy nghĩ của một đời người, đó chính là những nghĩ suy về hiện tại và quá khứ. Không thể phủ nhận được nhà thơ Nguyễn Duy đã rất tinh tế để xây dựng thành công hình tượng ánh trăng “vô tri vô giác” nhưng có sức mạnh đánh thức và lay động trái tim mỗi người được.

Thật dễ dàng nhận thấy được rằng chính bài thơ được mở đầu bằng hình ảnh ánh trăng thân thuộc và cũng gần gũi gắn với cả thời thơ ấu chiến tranh thật ác liệt:

Hồi nhỏ sống với đồng Với sông rồi với bể Hồi chiến tranh ở rừng Vầng trăng thành tri kỉ.

Thông qua khổ thơ người đọc nhận thấy được hình ảnh “ánh trăng” dường như cũng chính là hình ảnh như đã trở thành một biểu tượng xuyên suốt tuổi thơ của tác giả. Ánh trăng gắn bó với những kỉ niệm khó quên của những ngày thơ ấu. Không thể phủ nhận được ánh trăng lúc này đây thật tinh khiết, dịu nhẹ lan tỏa từ cánh đồng mênh mông biết nhường nào. Ánh trăng gắn bó với kỷ niệm tuổi thơ rồi cho đến những năm tháng “hồi chiến tranh ở rừng” gian khổ và trăng cùng người như trở thành đôi bạn, đôi tri kỷ. Có thể thấy được với hai dấu mốc thờ gian “hồi nhỏ” và cả cái “hồi chiến tranh” thực sự cũng lại đã khiến cho ánh trăng trở nên gần gũi và nghĩa tình ở khổ thơ tiếp theo được bộc bạch thêm:

Trần trụi giữa thiên nhiên Hồn nhiên như cây cỏ Ngỡ không bao giờ quên Cái vầng trăng tình nghĩa

Cho dù là ở đâu đi chăng như thì hình ảnh “ánh trăng” vẫn vẹn nguyên, gần gũi, nó cũng vô cùng phóng khoáng khiến cho tác giả lúc này đây cũng lại có cảm giác “không bao giờ quên” được thế nhưng tất cả cũng chỉ dừng lại ở từ “ngỡ” mà thôi. Hình ảnh ánh trăng giống như một sự nhắc nhớ khiến cho tác giả không được phép quên đi sự khó khăn.

Từ hồi về thành phố Quen đèn điện của gương Vầng trăng đi qua ngõ Như người dưng qua đường

Khổ thơ như cũng mở rộng ra và cũng đã cho ta nhận thấy được lúc này đây thì cuộc sống đô thị phồn hoa với đèn điện tiện nghi thật đầy đủ, con người hiện đại hơn mà chính tác giả cũng đã quên đi những năm tháng khó khăn trước đây, và quan trọng hơn là cũng quên mất đi người bạn tri kỷ xưa kia. Không khó có thể nhận ra được đoạn thơ có giọng thơ lúc này nghẹn lại. Cách dùng từ cũng thật đắt của Nguyễn Duy là từ “người dưng” thực sự cũng đã gợi lên cảm giác xót xa đến tột độ biết bao nhiêu. Tiếp theo đó cũng chính là tình huống đặc biệt như khiến Nguyễn Duy nhận ra được:

Vầng trăng tròn vành vạnh Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc Đủ cho ta giật minh

Nguyễn Duy cũng đã sử dụng được một phép đối lập song song đủ khiến cho lương tâm của con người lúc này đây dường như cũng lại được thức tỉnh và ngộ ra nhiều điều. Thông qua hình ảnh ánh trăng nhà thơ muốn nhắn nhủ với chúng ta rằng cho dù cuộc sống đổi thay thì mỗi người không thể quên đi tình nghĩa. Thực sự với khổ thơ cuối đã gieo vào lòng độc giả biết bao nhiêu cảm xúc khó tả và thức tỉnh những người đang dần lãng quên đi quá khứ nữa.

Thi phẩm “Ánh trăng” của nhà thơ Nguyễn Duy với tứ thơ lạ, vô cùng độc đáo và cách viết mới mẻ cực hấp dẫn đã thổi vào lòng người đọc biết bao nhiêu bài học thật sâu sắc và tình nghĩa.

Minh Tân

Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Đề bài: Phân tích bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy.

“Cát trắng” và “Ánh trăng” là hai tập thơ của Nguyễn Duy, nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Một hồn thơ tươi trẻ tỏa mát bóng tre, như con sóng vỗ dòng sông thơ ấu phảng phất hương vị đồng quê:

“Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

Níu váy bà đi chợ Bình Lâm

Bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

Và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trầm

“Tre Việt Nam”, “Hơi ấm ổ rơm”, “Ánh trăng”, “Đò Lèn”… là những bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Duy. Bài thơ “Ánh trăng” rút trong tập thơ cùng tên, được tác già viết vào năm 1978, tại thành phố Hồ Chí Minh, 3 năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Bài thơ như một lời tâm sự chân thành: Vầng trăng không chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên đất nước mà nó còn gắn bó với tuổi thơ, với những ngày kháng chiến gian khổ. Vầng trăng đối với mỗi chúng ta không bao giờ có thể quên và đừng vô tình lăng quên.

Nếu như trong bài thơ “Tre Việt Nam” câu thơ lục bát có khi được tách ra thành 2 hoặc 3 dòng thơ để tạo nên hiệu quả nghệ thuật biểu đạt gây ấn tượng thì ở bài thơ “Ánh trăng ” này lại có một nét mới. Chữ đầu của dòng thơ, câu thơ không viết hoa. Phảỉ chăng nhà thơ muốn cho cảm xúc được dào dạt trôi theo dỏng chảy của thời gian, kỉ niệm?

Hai khổ thơ đầu nói về vầng trăng của tuổi thơ và vầng trăng thời chiến tranh. Vầng tràng tuổi thơ trải rộng trên một không gian bao la: “Hồi nhỏ sông với đồng – với “sông rồi với bể”. Hai câu thơ 10 tiếng, gieo vần lưng (đồng – sông); từ “với” được điệp lại 3 lần nhằm diễn tả một tuổi thơ đi nhiều, được hạnh phúc cảm nhận những vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên, từng được ngắm trăng trên đồng quê, ngắm trăng trên dòng sông và ngắm trăng trên bãi bể. Tuổi thơ của chúng tạ dễ có mấy ai được cái cơ may ấy như nhà thơ ? Thuở bé nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng chỉ được ngắm trăng nơi sân nhà: “Ông trăng tròn sáng tỏ – Soi rõ sân nhà em… Chỉ có trăng sáng tỏ – Soi rõ sân nhà em.. ” (Trăng sáng sân nhà em)”.

Tuổi thơ được ngắm trăng thích thế, như một chút hoài niệm xa vời. Hai câu thơ tiếp theo nói về hồi máu lửa, trăng với người lính, trăng đã thành “tri kỉ”:

vầng trăng thành tri kỉ.”

“Và vầng trăng, vầng trăng Đất nước

Vượt qua quầng lửa, mọc lên cao”.

Các tao nhân ngày xưa thường “đăng lâu vọng nguyệt “, còn anh bộ đội Cụ Hồ một thời trận mạc đã nhiều phen đứng trên đồi cao, hành quân vượt núi cũng say sưa ngắm vành trăng cao nguyên. Thật là thú vị khi đọc vần thơ trăng Nguyễn Duy vì nó đã mở ra trong lòng nhiều người một trường liên tưởng: “hồi chiến tranh ở rừng – vầng trăng thành trì kỉ”

Chất triết lí thâm trầm được diễn tả qua hình tượng “ánh trăng” đã tạo nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ

Khổ thơ thứ hai như một lời nhắc nhở của tác giả về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Lại một vần lưng nữa xuất hiện – Một ẩn dụ so sánh làm nổi bật chất trần trụi, chất hồn nhiên người lính những năm tháng ở rừng. Đó là cốt cách của các anh:

“Trần trụi với thiên nhiên

Vầng trăng là biểu tượng đẹp của những năm tháng ấy, đã trở thành “vầng trăng tri kỉ” “vầng trăng tình nghĩa ” ngỡ như không bao giờ có thể quên. Một ý thơ làm động đến đáy tâm hồn, như một sự thức tỉnh lương tâm đối với những kẻ vô tình: “Ngỡ không bao giờ quên – Cái vầng trăng tình nghĩa”

Sự thay đổi của lòng người thật đáng sợ. Hoàn cảnh sống đổi thay, con người dễ thay đổi, có lúc dễ trở nên vô tình, có kẻ dễ trở thành “ăn ở bạc”. Từ ở rừng, sau chiến thắng về thành phố, được trưng diện và xài sang: ở buynh đinh, cao ốc, quen ánh điện, cửa gương… Và “vầng trăng tri kỉ”, “vầng trăng tình nghĩa” đã bị người lãng quên dửng dưng. Cách so sánh thấm thía làm chột dạ nhiều người:

như người dưng qua đường.”

Trăng được nhân hóa, lặng lẽ đi qua đường, trăng như người dưng đi qua, chẳng còn ai nhớ, chẳng còn ai hay. Người có lương tâm, lương tri mới biết sám hối. Biết sám hối để tự hoàn thiện nhân cách, tự vươn lên, hướng tâm hồn về ánh sáng và cái cao cả. Không đao to búa lớn, không đại ngôn, mà trái lại, giọng thơ thầm thì như trò chuyện, giãi bày tâm sự, nhà thơ đang trò chuyện với mình. Chất trữ tình của thơ ca trở nên sâu lắng, chân thành. .

Cũng như dòng sông có thác ghềnh, có quanh co, uốn khúc. Cuộc đời cũng có nhiều biến động li kì. Ghi lại một tình huống “cuộc sống thị thành” của những con người mới ở rừng về thành phố, nhà thơ chỉ sử dụng 4 câu thơ 20 từ. Các từ “thình lình”, “vội”, “đột ngột” gợi tả tình thái đầy biểu cảm. Có nhà triết học nói: “Cuộc đời dạy ta nhiều hơn trang sách Vần thơ của Nguyễn Duy nói với ta rất nhiều:

“Thình lình đèn điện tắt

đột ngột vầng trăng tròn.”

Trăng xưa đã đến với người, vẫn “tròn”, vẫn “đẹp”, vẫn thủy chung với mọi người, mọi nhà, với thi nhân, với người lính. Người ngắm trăng rồi suy ngẫm bâng khuâng:

Nguyễn Tuân từng coi trăng là “cố nhân”, nhà thơ Xuân Diệu, “trong bài “Nguyệt cầm” viết cách đây 60 năm cũng có câu: “Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần”. Trở lại với tâm trạng người lính trong bài thơ này. Một cái nhìn đầy áy náy xót xa: “Ngửa mặt lên nhìn mặt”. Hai chữ “mặt” trong vần thơ: mặt trăng và mặt người cùng “đối diện đàm tâm”. Trăng chẳng nói, trăng chẳng trách thế mà người lính cảm thấy “có cái gì rưng rưng”. “Rưng rưng” nghĩa là yì xúc động, nước mắt đang ứa ra, sắp khóc. Giọt nước mắt làm cho lòng người thanh thản lại, trong sáng lại, cái tốt lành hé lệ. Bao kỉ niệm đẹp một đời người ùa về, tâm hồn gắn bó, chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng xưa, với đồng, với bể, với sông, với rừng, với quê hương đất nước. Cấu trúc câu thơ song hành, với biện pháp tu từ so sánh, với điệp từ (là) cho thấy ngòi bút của Nguyễn Duy thật tài hoa:,.. “như là đồng, là bể, như là sông, là rừng”. Đoạn thơ hay ở chất thơ bộc bạch chân thành, ở tính biểu cảm, ở tính hình tượng và hàm súc, từ ngôn ngữ hình ảnh đi vào lòng người, khắc sâu điều nhà thơ muốn tâm sự với chúng ta một cách nhẹ nhàng mà thấm thía.

Khổ thơ cuối bài thơ mang tính hàm nghĩa độc đáo, đưa tới chiều sâu tư tưởng triết lí:

“Trăng cứ tròn vành vạnh

“Tròn vành vạnh” là trăng rằm, một vẻ đẹp viên mãn. “im phăng phắc” là im như tờ, không một tiếng động nhỏ. Vầng trăng cứ tròn đầy và lặng lẽ “kể chi người vô tình” là biểu tượng của sự bao dung độ lượng, của nghĩa tình thuỷ chung trọn vẹn trong sáng mà không hề đòi hòi đền đáp. Đó cũng chính là phẩm chất cao cả của nhân dân mà Nguyễn Duy cũng như nhiều nhà thơ cùng thời đã phát hiện và cảm nhận một cách sâu sắc trong thời kì chiến tranh chống Mĩ.

“Ánh trăng” là một bài thơ hay. Thể thơ năm chữ được vận dụng sáng tạo, tài hoa. Sự phong phú vần điệu, ngôn ngữ trong sáng, giọng thơ tâm tình vừa hướng nội vừa hướng ngoại. Nhà thơ tâm sự với người đọc những sâu kín nhất nơi lòng mình. Chất triết lí thâm trầm được diễn tả qua hình tượng “ánh trăng” đã tạo nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ. Không nên sống vô tình. Phải thủy chung trọn vẹn, phải nghĩa tình sắt son với bạn bè, đồng chí, với nhân dân – đó là điều mà Nguyễn Duy nói thật hay, thật cảm động qua bài thơ này.

Từ khóa tìm kiếm

phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy

anh trang cua nguyen duy

Phân Tích Vẻ Đẹp Hình Thức Của Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Gợi ý viết bài

Học sinh có thể phân tích nhiều cách, từ nhiều góc độ. Lưu ý là phải gắn với vấn đề lí luận sau đây: – Đây là nhận định về hình thức nghệ thuật của một tác phẩm văn học. Thực chất là một dạng định nghĩa thế nào là hình thức nghệ thuật hay, đẹp.

– Các phẩm chất của hình thức cần được chú trọng khi phân tích tác phẩm văn học là “sáng tạo”, “sinh động”, “phù hợp”, biểu hiện nội dung “tốt nhất, ấn tượng nhất”.

– Đó vừa là mục tiêu cần đạt tới của người cầm bút, vừa là tiêu chí để thẩm định giá trị của tác phẩm văn chương.

Thể thơ 5 chữ mộc mạc, giản dị, cùng nhịp thơ lúc ngân vang, tha thiết (khổ 1,2), lúc trĩu nặng, lắng sâu (khổ 5,6) góp phần thể hiện thành công lời tâm tình, tự nhủ, thổ lộ tự đáy lòng không chỉ của một Nguyễn Duy mà là của cả một thế hệ.

b. Kết cấu

Bài thơ có kết cấu đơn giản như một câu chuyện kể (kết hợp tự sự và trữ tình), từ chiều quá khứ xôi về hiện tại, gắn liền với mạch cảm xúc của nhà thơ.

Chú ý một số điểm gút: “ngỡ không bao giờ quên”, “từ hồi về”, “thình lình đèn điện tắt”, “vội bật tung cửa sổ”, “đột ngột vầng trăng tròn”, “ánh trăng im phăng phắc”… khắc đậm ấn tượng, cảm xúc.

Chú ý hình thức: chỉ những chữ đầu khổ thơ được viết noa, cuối khổ thơ mới có dấu chấm câu tạo nên tính đặc sắc và liền mạch cho ý thơ.

c. Hình tượng

Hình ảnh “Vầng trăng” xuyên suốt 5 khổ thơ và trở thành hình tượng “Ánh trăng ” ở khổ thơ cuối, tạo nên sự ám ảnh, khắc sâu ý tưởng, suy tư, tạo “độ xoáy” cho tứ thơ. Ý nghía của hình tượng:

– Là biểu tượng đẹp-đẽ của một thời gian lao, đầy tình nghĩa mà những người lính – trong đó có nhà thơ – từng gắn bó, yêu thương.

– Là biểu tượng sâu sắc về sự bao dung, độ lượng; sự thủy chung, nghĩa tình – vốn là phẩm chất của đất nước, nhân dân bình dị, sắt son.

– Là biểu tượng giàu tính triết lí về sự bất diệt, vĩnh cửu của thiên nhiên mang dấu ấn tâm tư con người.

– Ngôn ngữ giản dị, giàu tính đời thường, như lời kể tâm tình, gần gũi, thân thiết. Hình ảnh đơn giản mà sâu sắc, giàu tính sáng tạo, có sức biểu hiện nội dung hùng hồn, ấn tượng.

– Biện pháp tu từ được sử dụng không nhiều, nhưng cơ bản và đặc sắc (nhân hóa, so sánh, ẩn dụ…) góp phần làm lời thơ sinh động, giàu ý nghĩa.

Cảm Nhận Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Vầng trăng dịu mát, sáng trong, vầng trăng huyền diệu tròn đầy tự bao giờ đã trở nên thân thương gắn bó với con người. Nếu Bác kính yêu coi trăng như bè bạn tri âm thì Nguyễn Duy – nhà thơ trưởng thành thời kháng chiến chống Mỹ lại coi trăng là nguồn sáng lung linh để thanh lọc tâm hồn, để ăn năn hối lỗi. Bài thơ “Ánh trăng” (1978)của ông được khơi nguồn từ những cảm xúc chân thành và cao đẹp như thế.

Bài thơ mang dáng dấp như một câu chuyện với lời kể mở đầu tự nhiên,trôi chảy về mối quan hệ gán bó giữa trăng và nhà thơ:

Hồi nhỏ sống với đồng

Với sông rồi với bể

Hồi chiến tranh ở rừng

Vầng trăng thành tri kỉ

Chỉ bằng 4 câu thơ ngắn Nguyễn Du đã dựng lại được cả thời niên thiếu cho đến lúc trưởng thành,1 không gian thân thương: đồng, sông, bể.Từ không gian đầy ắp kỉ niệm ấy ta nhận ra niềm say mê,sảng khoái của con người trong cái mát lành dịu ngọt ân tình của quê hương qua ánh trăng lai láng trên cánh đồng, dòng sông, bãi biển.Không gian cứ mở rộng mãi ra, bao la bát ngát theo nhịp trưởng thành của con người. Thời gian không ngừng vận động và cậu bé lớn lên từ quê hương ấy đã trở thành chiến sĩ. Khi xa quê, đi vào cuộc chiến, nỗi nhớ thương chợt hiện về quay quắt tâm hồn,lúc này người và trăng lại càng gắn bó _ánh trăng là bạn tri kỉ chia sẻ mọi gian nan thiếu thốn, mọi buồn vui sướng khổ trong những năm tháng chiến tranh của tác giả.NHư vậy là tuổi thơ chớp mắt đã trôi qua.Cái còn lại lúc này là vầng trăng thật đơn sơ,chung thuỷ.

Hai chữ hồi ở câu thơ thứ nhất và thứ 3 làm cho khổ thơ như có một chỗ dừng chân. Cái dừng chân giữa ranh giới của ấu thơ và trưởng thành. Ánh trăng soi rọi về quá khứ khiến tiếng nói tâm tình trở nên sâu lắng thiết tha.

Trần trụi giữa thiên nhiên

Hồn nhiên như cây cỏ

Ngỡ không bao giờ quên

Cái vầng trăng tình nghĩa

Trăng hồn nhiên như trẻ thơ, trăng chân thành như bè bạn,trăng gắn bó sâu nặng với con người mà không trở lực nào có thể ngăn cách. Những năm tháng con người sống thật nhất với mình, trần trụi,hồn nhiên là khi con người ta trân trọng, đinh ninh một lời thề son sắt “ngỡ không bao gìơ quên,cái vầng trăng tình nghĩa” Từ ngỡ là chiếc cầu nối ngôn từ vừa khép lại thời qua khứ vừa mở ra thời hiện tại tạo nên sự chuyển tiếp cho khổ thơ thứ 3.

Từ hồi về thành phố

Quen đèn điện cửa gương

Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường

Cuộc sống hiện đại với ánh sáng chói loà của ánh điện cửa gương,với những vật dụng ngày càng hiện đại dường như đã làm lu mờ ánh sáng của vầng trăng.Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa vầng trăng nghĩa tình trong quá khứ với vầng trăng xa lạ như người dưng qua đường bây giờ.Là ánh trăng đã khác ánh trăng của ngày xưa?Không! Ánh trăng vẫn thế vẫn gần gũi thân thương dịu dàng,chỉ có hoàn cảnh sống của con người đã thay đổi khiến họ không nhận ra vẻ đẹp của vầng trăng tri kỉ ngày xưa hay chính họ đã thờ ơ,họ quên đi.Thật xót xa cho vầng trăng tuổi thơ vầng trăng đi bên nhau một thời chinh chiến như tri kỉ,vậy mà khi người ta sống giữa phồn hoa đô thị thị nó lại bị lãng quên .Ánh trăng đã đựơc tác giả nhân hoá để gửi gắm suy tư về nhân tình thế thái.Lời thơ so sánh của Nguyễn Duy “vầng trăng đi qua ngõ, như người dưng qua đường” như xoáy vào lòng người một nỗi niềm xót xa nhức nhối,bới sự phản bội ở đây không chỉ với lịch sử,với thiên nhiên mà còn với chính bản thân mình nữa.Cuộc đời như một dòng sông khi duị êm lặng lẽ, lúc cuộn sóng trào dâng,bởi thế cuộc sống thời hiện đại sao có thể êm đềm mãi cho được.

Thình lình đèn điện tắt

Phòng buyn_đinh tối om

Vội bật tung cửa sổ

Đột ngột vầng trăng tròn

Trong khoảng khắc thình lình đối diện với vầng trăng,một thời kỉ niệm ân tình ngày xưa ùa về “rưng rưng” sống dậy thổn thức,lay động da diết lòng người Ngửa mặt lên nhìn mặt.

Có cái gì rưng rưng

Như là đồng là bể

Như là sông là rừng

Hai chữ “mặt” trong một câu thơ là hai tấm lòng đang đối diện:mặt trăng và mặt người.Hay chính là con người đang đối diện với chính lòng mình,với cái phần ân tình quá khứ mà mình đã vô tình lãng quên.Có cái gì đó trào dâng lên trong lòng người,rưng rưng,cay xè và giọt lệ như sắp tuôn trào bên hàng mi.Nhà văn Nam Cao đã từng nói rất đúng rằng:”Nước mắt là tấm kính biến hình của vũ trụ” Nước mắt có thể thanh lọc tâm hồn con người, khi nào người ta còn biết khóc là khi họ còn có một trái tim,một tấm lòng để rung động và để yêu thương.Cái tốt lành trong sáng đã hé nở trong hai chữa “rưng rưng” nao lòng người ấy.Nguyễn Duy gặp lại ánh trăng như gặp lại một không gian tình nghĩa: đồng bể, sông, rừng. Ánh trăng soi rọi tâm hồn, khiến nhà thơ bừng tỉnh”.

Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

Vầng trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình.

Khổ thơ kết bài của bài thơ là hai vế đối lập mà song song. Đối lập giữa cái tròn đầy vạnh vạnh của vầng trăng là hao khuyết thiếu hụt của kẻ đã vô tâm quên đi quá khứ _cái qua khứ ân tình thuỷ chung mà họ “ngỡ không bao giờ quên”. Đối lập giữa cái im lặng độ lượng của trăng là sự thức tỉnh trong lương tri con người. Đối lập giữa hiện tại và quá khứ.Suy nghĩ của tác giả ở khổ thơ này đã được nâng lên tầm cao triết lí.Nếu ai đó có lúc quên đi những điều thiêng liêng tốt đẹp của quá khứ thì phải có những lúc giật mình tỉnh thức trong hiện tại mới mong đạt được những ân nghĩa tốt lành ở tương lai.Bởi đó là chân lí đã trở thành đạo lí của người Việt ta:”Uống nước nhớ nguồn”.

“Ánh trăng” nhẹ nhàng,trong sáng về câu chữ,tự nhiên, thuần thục về kết cấu,bình dị, dễ hiểu về ý thơ,tha thiết trong giọng điệu.Bài thơ đã đem đến cho người đọc một bài học sâu sắc:con người cần sống có trước có sau,có tình có nghĩa để không bao giờ phải giật mình day dứt về những năm tháng vô tình hờ hững đã qua.Dù XH ngày càng văn minh, hiện đại nhưng ánh trăng trên trời cao và cả ánh trăng của Nguyễn Duy vẫn thật sự cần thiết với mỗi con người bởi nó là tấm gương sáng nhất giúp chúng ta soi vào để nhận ra những gì trong lành tinh khôi nhất của cuộc đời.Vầng trăng soi sáng những tâm hồn vô tình lãng quên.

Cảm nhận bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy – Bài làm 2

Nguyễn Duy sinh năm 1948, quê ở Thanh Hóa. Ông là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến, ông có nhiều sáng tác nghệ thuật tiêu biểu là bài thơ ” Ánh Trăng” sáng tác năm 1978. Sau 3 năm, kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi. Bài thơ có ý nghĩa nhắc nhở về một thái độ ” uống nước nhớ nguồn” và sống một cách thủy chung, tình nghĩa.

“Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng lị thành tri kỉ.”

Hồi tưởng về vầng trăng tuổi thơ và vầng trăng về chiến tranh. Điệp từ ” Hồi, với” cách gieo vần vào đặc sắc trăng gắn bó với con người. Từ hồi ấu thơ, dù đu đâu trăng cũng bên cạnh. Lớn lên xa gia đình quê hương tham gia kháng chiến. Trăng và người là đôi bạn không thể thiếu nhau. Trăng chia ngọt sẻ bùi đồng kham cộng khổ.

“Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa.”

Tác giả khái quát vẻ đẹp của trăng khẳng định tình cảm yêu thương quí trọng của mình với trăng. Vầng trăng hiện lên với vẻ đẹp thiên nhiên nên trăng hòa vào thiên nhiên. Vì vậy, vầng trăng là biểu tượng đẹp của những năm tháng ấy trở thành vầng trăng tình nghĩa. Nghĩa là trăng và người không những là những người hiểu nhau mà cùng chia ngọt sẻ bùi, đồng kham cộng khổ. Từ ” ngỡ” trong bài thơ diễn tả sự ngỡ ngàng nhưng khẳng định một lần nữa tình trăng và người.

“Từ hồi về thành phố

quen ánh điện, cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường. “

Lời thơ như kể, môi trường sống thay đổi, con người cũng đổi thay. Dần dần cái vầng trăng tình nghĩa bị lẵng quên – Trăng hoàn toàn xa lạ. Trăng được nhân hóa, so sánh và thành người dưng. Vầng trăng tình nghĩa của ngày xưa không còn, thậm chí còn đáng trách hơn chỉ là người khách qua đường xa lạ. Bỏi tình cảm con người đâu còn son sắc thủy chung? Bởi thế người đời vẫn thường nhắc nhớ nhau ” Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay”.

Tình huống đời thường xảy ra.

“Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn.”

Các từ vội, đột ngột gợi ra tâm trạng đột biến của con người để gợi ra sự thật. Tác giả không đơn thuần nói về hình ảnh trăng tròn mà muốn nói sự tràn đầy tình nghĩa của nhau. Trăng vẫn thủy chung, trang trọng với người bạn năm xưa.

“Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng, là bể

như là sông, là rừng”.

Hiện tại đối mặt với vầng trăng. Người ngắm trăng suy ngẫm bâng khuâng, diễn tả nỗi xúc động đến không nói thành lời. Tình cảm dường như nén lại nhưng cứ trào ra đến thổn thức, xót xa. Cấu trúc thơ song hành cùng biện pháp tu từ so sánh, điệp từ, nhịp thơ hối hả. Bao nhiêu kỉ niệm đẹp ùa về khi tâm hồn gắn bó chan hòa với thiên nhiên với vầng trăng xưa, với đồng với bể với sóng với rừng. Đồng thời vầng trăng cũng nhắc nhở con người đừng bao giờ quên năm tháng ấy, tình bạn, đồng chí, đồng đội…

“Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình… “

Khổ thơ cuối mang tính hàm nghĩa độc đáo. Nơi tập chung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, thể hiện chiều sâu tư tưởng mang tính triết lí của tác phẩm. Khổ thơ khép lại bằng hai vế đối lập và song song. Trăng cứ tròn vành vạnh như tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ vẹn nguyên chẳng thể phai mờ. Trăng tượng trưng cho nhân dân, trăng tượng trưng cho vẻ đẹp bền vững tình bạn, tình chiến đấu trong những tháng năm không thể quên. ” Ánh trăng im phăng phắc” là nhân chứng nghĩa tình nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và chúng ta. Con người có thể vô tình lẵng quên nhưng thiên nhiên nghĩa tình quá khứ đều tràn đầy bất diệt. Sự giật mình để đổi thay trở về. Trở về với chính mình, tốt đẹp xưa kia. Đó là những giật mình để hoàn thiện hơn.

Bài thơ ” Ánh trăng” của Nguyễn Duy gây xúc động với nhiều thế hệ bởi cách diễn tả bình dị như những lời tâm sự, lời tự nhắc trân thành. Giọng thơ trầm tĩnh sâu nắng, tứ thơ bất ngờ mới lạ. Bài thơ mang ý nghĩa triết lí về sự thủy chung khiến người đọc phải giật mình suy nghĩ, nhìn lại chính mình để sống đẹp hơn, nghĩa tình hơn.

Cảm nhận bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy – Bài làm 3

Trăng hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình. Trăng đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện trên những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời đại. Nếu như ” Tĩnh dạ tứ ” cũa Lí Bạch tả cảnh đêm trăng sáng tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, ” Vọng nguyệt” của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái ung dung và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bác thì đến với bài thớ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc.Đó chính là đạo lí “uống nước nhớ nguồn”.

Những sáng tác thơ của Nguyễn Duy sâu lắng và thấn đẫm cái hồn của ca dao, dân ca Việt Nam . Thơ ông không cố tìm ra cái mới mà lại khai thác, đi sâu vào cái nghĩa tình muôn đời của người Việt. “Ánh trăng” là một bài thơ như vậy.Trăng đối với nhà thơ có ý nghĩa đặïc biệt: đó là vầng trăng tri kỉ, vầng trăng tình nghĩa và vầng trăng thức tỉnh. Nó như một hồi chuông cảng tỉnh cho mỗi con người có lối sống quên đi quá khứ.

Tác giả đã mở đầu bài thơ với hình ảnh trăng trong kí ức thuổi thơ của nhà thơ và trong chiến tranh:

Hình ảnh vầng trăng đang được trải rộng ra trong cái không gian êm đềm và trong sáng của thuổi thơ. Hai câu thơ với vỏn vẹn mười chữ nhưng dường như đã diễn tả một cách khái quát về sự vận động cả cuộc sống con người. Mỗi con người sinh ra và lớn lên có nhiều thứ để gắn bó và liên kết. Cánh đồng, sông và bể là nhưng nơi chốn cất giữ bao kỉ niệm của một thời ấâu thơ mà khó có thể quên được. Cũng chính nới đó, ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng. Với cách gieo vần lưng “đồng”, “sông” và điệp từ ” với” đã diễn tả tuổi thơ được đi nhiều, tiếp xúc nhiều và được hưởng hạnh phúc ngắm những cảnh đẹp của bãi bồi thiên nhiên cũa tác giả.Tuổi thơ như thế không phải ai cũng có được ! Khi lớn lên, vầng trăng đã tho tác giả vào chiến trường để “chờ giặc tới’.Trăng luôn sát cách bên người lính, cùng họ trải nghiệm sương gió, vượt qua những đau thương và khốc liệt của bom đạn kẻ thù. Người lính hành quân dưới ánh trăng dát vàng con đường, ngủ dưới ánh trăng, và cũng dưới ánh trăng sáng đù, tâm sự của những người lính lại mở ra để vơi đi bớt nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà. Trăng đã thật sự trởø thành “tri kỉ” của người lính trong nhưng năm tháng máu lửa.

Khổ thơ thứ hai như một lời nhắc nhở về những năm tháng đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước hiền hậu, bình dị. Vầng trăng đù, người bạn tri kỉ đó, ngỡ như sẽ không bao giờ quên được:

Vần lưng một lần nữa lại xuất hiện: “trần trụi”, “hồn nhiên”, “thiên nhiên” làm cho âm điệu câu thơ thêm liền mạch, dường như nguồn cảm xúc cũa tác giả vẫng đang tràn đầy. Chính cái hình ảnh so sánh ẩn dụ đã tô đâm lên cái chất trần trụi, cái chất hồn nhiên của người lính trong nhữnh năm tháng ở rừng. Cái vầng trăng mộc mạc và giản dị đó là tâm hồn của những người nhà quê, của đồng, của sông. của bể và của những người lính hồn nhiên, chân chất ấy. Thế rồi cái tâm hồn – vầng trăng ấy sẽ phài làm quen với môt hoàn cảnh sống hoàn toàn mới mẻ:

Thời gian trôi qua cuốn theo mọi thứ như một cơn lốc, chỉ có tình cảm là còn ở lại trong tâm hồn mỗi con người như một ánh dương chói loà. Thế nhưng con người không thể kháng cự lại sự thay đổi đó.Người lính năm xưa nay cũng làm quen dần với những thứ xa hoa nơi “ánh điện, cửa gương”. VàØ rồi trong chính sự xa hoa đó, người lính đã quên đi người bạn tri kỉ của mình, người bạn mà tưởng chừng chẳng thể quên được, “người tri kỉ ấy” đi qua ngõ nhà mình nhưng mình lại xem như không quen không biết. Phép nhân hoá vầng trăng trong câu thơ thật sự có cái gì đó làm rung động lòng người đoc bởi vì vầng trăng ấy chính là một con người. Cũng chính phép nhân hoá đó làm cho người đọc cảm thương cho một “người bạn” bị chính người bạn thân một thời của mình lãng quên. Sự ồn ã của phố phường, những công việc mưu sinh và những nhu cầu vật chất thường nhật khác đã lôi kéo con gười ra khỏi những giá trị tinh thần ấy, một phần vô tâm của con người đã lấn át lí trí của người lính, khiến họ trở thành kẻ quay lưng với quá khứ. Con người khi được sống đầy đủ về mặt vật chất thì thường hay quên đi những giá trị tinh thần, quên đi cái nền tảng cơ bản củacuộc sống, đó chình là tình cảm con người. Nhưng rồi một tình huống bất ngờ xảy ra buộc ngươiø lính phải đối mặt:

Khi đèn điện tắt, cũng là khi không còn được sống trong cái xa hoa, đầy đủ về vật chất, người lính bỗng phải đối diện với cái thực tại tối tăm. Trong cái “thình lình”, “đột ngột” ấy, người lính vôi bật tung cửa sổ và bất ngờ nhận ra một cái gì đó. Đó chẳng phải ai xa lạ mà chính là người bạn tri kỉ năm xưa của mình đây hay sao? Con người ấy không hề biết được rằng cái người bạn tri kỉ, tình nghĩa, người bạn đã bị anh ta lãng quên luôn ở ngoài kia để chờ đợi anh ta. “Người bạn ấy” không bao giờ bỏ rơi con người, không bao giờ oán giận hay trách móc con người vì họ đã quên đi mình. Vầng trăng ấy vẫn rất vị tha và khoan dung, nó cũng sẵn sàng đón nhận tấm lòng của một con người biết sám hối, biết vươn lên hoàn thiện mình. Cuộc đời mỗi con người không ai có thể đóan biết trước được. Không ai mãi sống trong một cuộc sống yên bình mà không có khó khăn, thử thách. Cũng như một dòng sông, đời người là một chuỗi dài với những qunh co, uốn khúc . Và chính trong những khúc quanh ấy, những biến cố ấy, con người mới thật sự hiểu được cái gì là quan trọng, cái gì sẽ gắn bó với họ trong suốt hành trình dài và rộng của cuộc đới. Dường như người lính trong bài thơ đã hiểu được điều đó!

Khi người đối mặt với trăng, có cái gì đókhiến cho người lính áy náydù cho không bị quở trách một lời nào. Hai từ “mặt” trong cùng một dòng thô: mặt trăng và mặt người đang cùng nhau trò chuyện . Người lính cảm thấy có cái gì “rưng rưng” tự trong tận đáy lòng và dường như nước mắt đang muốn trào ra vì xúc động trước lòng vị tha của người bạn “tri kỉ” của mình . Đối mặt với vầng trăng, bỗng người lính cảm thấy như đang xem một thước phim quay chậm về tuổi thơ của mình ngày nào, nới có “sông” và có “bể” .Chính những thước phim quay chậm ấy làm người lính trào dâng nhưng nỗi niềm và ngững giọt nước mắt tuôn ra tự nhiên, không chút gượng ép nào! Những giọt nước mắt ấy đã phần nào làm cho người lính trở nên thanh thản hơn, làm tâm hồn anh trong sáng lại. Một lần nữa những hình tượng trong tuổi thơ và chiến tranh được láy lại làm sáng tỏ những điều mà con người cảm nhận được. Cái tâm hồn ấy, cái vẻ đẹp mộc mạc ấy không bao giờ bị mất đi, nó luôn lặng lẽ sống trong tâm hồn mỗi con người và nó sẽ lên tiếng khi con người bị tổn thương. Đoạn thơ hay ở chất thơ mộc mạc, chân thành, ngôn ngữ bình dị mà thấm thía, những hình ảnh đi vào lòng người. Vầng trăng trong khổ thớ thứ ba đã thực sự thức tỉnh con người:

Khổ thơ cuối cùnh mang tính hàm súc độc đáo và đạt tới chiều sâu tư tưởng và triết lí. “Trăng tròn vành vạnh” là vẻ đẹp của trăng vẫn viên mãn, tròn đầy và không hề bị suy suyển dù cho trải qua biết bao thăng trầm. Trăng chỉ im lặng phăng phắc, trăng không nói gì cả, trăng chỉ nhìn, nhưng cái nhìn đó đủù khiến cho con người giật mình. Ánh trăng như một tấm gương để cho con người soi mình qua đó, để con người nhận ra mình để thức tỉnh lương tri. Con người có thể chối bỏ, có thể lãng quên bất cứ điều gì trong tâm hồn anh ta . Nhưng dù gì đi nũa thì những giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc cũng luôn vậy bọc và che chởù cho con người.

“Ánh trăng” đã đi vào lòng người đọc bao thế hệ như một lời nhắc nhở đối với mỗi người: Nếu ai đã lỡ quên đi, đã lỡ đánh mất những giá trị tinh thần qúy giá thì hãy thức tỉnh và tìmlại những giá trị đó. còn ai chưa biết coi trọng những giá trị ấy thì hãy nâng niu những kí ức quý giá của mình ngay từ bây giờ, đừng để quá muộn. Bài thơ không chỉ hay về mắt nội dung mà cón có những nét đột phá trong nghệ thuật. Thể thơ năm chữ được vận dụng sáng tạo, các chữ đầu dòng thơ không viết hoa thể hiện những cảm xúc liền mạch của nhà thơ. Nhịp thơ biến ảo rất nhanh, giọng điệu tâmtình dã gấy ấn tượng mạnh trong lòng người đọc.

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Tích Bài Thơ “Ánh Trăng” Của Nguyễn Duy trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!