Xu Hướng 2/2024 # Phân Tích 5 Câu Thơ Cuối Bài Thơ Bài Ca Nhà Tranh Bị Gió Thu Phá # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Phân Tích 5 Câu Thơ Cuối Bài Thơ Bài Ca Nhà Tranh Bị Gió Thu Phá được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Có ý kiến cho rằng 5 câu thơ cuối của bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá thể hiện trọn vẹn nhất giá trị nhân đạo của toàn bài thơ. Em hãy phân tích 5 câu thơ cuối bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá để chứng minh nhận định trên.

I. Dàn ý chi tiết 1. Mở bài

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm, 5 câu thơ cuối

+ Đỗ Phủ là nhà thơ xuất sắc của Trung Quốc vào thời Đường.

+ “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” là tác phẩm tiêu biểu của Đỗ Phủ.

+ Năm câu thơ cuối bài lấp lánh tư tưởng nhân đạo sâu sắc của tác giả.

2. Thân bài

-Khái quát nội dung đoạn thơ trước: Căn nhà tranh của tác giả bị gió thu phá. Những tấm tranh bay tứ tung khắp mọi nơi. Bọn trẻ con sang ăn cắp tranh mặc cho sự gào thét của tác giả. Trong đêm mưa rét, cảnh gia đình nhà thơ hiện lên thật bi đát, cùng cực.

-Nhưng trong đêm mưa rét ấy, nhà thơ không gục ngã, ông hướng tâm hồn mình vào những người dân lao động:

+ Ước mong có ngôi nhà rộng trăm ngàn gian để che chở cho khắp thiên hạ.

+ Thể hiện tấm lòng cao cả, vì nước, vì dân của tác giả.

+ Quên đi cái khổ cực của bản thân để mong cho nhân dân có cuộc sống ấm no, đất nước thái bình.

+ Bút pháp tương phản: cảnh đời và nỗi lòng, nỗi khổ và niềm ước mong.

+ Đoạn thơ như lời tâm sự chân thành của một tấm lòng luôn “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”

3. Kết bài

– Nêu cảm nghĩ về 5 câu thơ cuối

+ Năm câu thơ cuối chứa đựng tư tưởng triết lí sâu sắc của tác giả, mong cho đất nước thái bình, ấm no.

+ Tâm hồn và nhân cách Đõ Phủ mãi rực sáng.

II. Bài tham khảo

Đỗ Phủ là một trong những nhà thơ xuất sắc của Trung Quốc ở thời Đường với nhiều tác phẩm có giá trị nhân đạo cao cả. Và “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” là một tác phẩm thể hiện rõ nhất tư tưởng ấy của nhà thơ. Đặc biệt, năm câu thơ cuối bài là những câu thơ đẹp nhất, lấp lánh tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Đỗ Phủ:

” Ước được nhà rộng muôn ngàn gian

Che khắp thiên hạ kẻ sĩ đều hân hoan,

Gió mưa chẳng núng, vững như thạch bàn!

Than ôi! Bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt,

Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được!”

Căn nhà tranh của Đỗ Phủ đã bị phá bởi một trận gió thu. Những tấm tranh bị gió thổi bay tứ tung bay khắp mọi nơi. Tai họa như dồn dập ập đến, sau thiên tai là con người. Lũ trẻ con trơ tráo, ngang nhiên cướp sạch tranh mặc cho sự la hét đến “mỏi cổ khô môi” của tác giả. Mưa gió thâu đêm, gia đình tác giả lâm vào cảnh khốn cùng: nhà dột, chăn màn ướt, con thơ đạp rách chăn. Đó là cảnh sống vô cùng cực khổ của một nhà thơ tài ba bất hạnh trong thời loạn lạc.

“Ước được nhà rộng muôn ngàn gian,

Che khắp thiên hạ kẻ sĩ đều hân hoan”

Một ước mong thật vĩ đại của một con người với tấm lòng cao cả. Nhà thơ mong ước có một ngôi nhà thật to, thật rộng với “muôn ngàn gian” để che chở cho khắp thiên hạ. Ta thấy được ở Đỗ Phủ một trái tim nhân hậu bao la. Ông không chỉ ước có nhà rộng cho gia đình mình mà còn ước cho cả thiên hạ, bởi ông biết được ngoài kia cũng còn biết bao cảnh đời cũng cơ cực, khốn khó như gia đình ông lúc này. Đau xót cho nước loạn lạc, cho dân lầm than, ước muốn đất nước thái bình, nhân dân ấm no, ông quên đi cái khổ cực của bản thân mình:

“Than ôi! Bao giờ nhà ấy sừng sững trước mắt

Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được”

Ta thấy được, cái hay, cái sâu sắc của đoạn thơ là ở bút pháp tương phản: cảnh đời và nỗi lòng, nỗi khổ và niềm ước mong. Năm dòng thơ cuối như một lời tâm sự chân tình, thiết tha của tác giả. Yếu tố thực kết hợp với yếu tố trữ tình lãng mạn làm bừng sáng lên tư tưởng nhân đạo, trái tim giàu yêu thương của tác giả. Có thể nói, Đỗ Phủ là hiện thân của con người với tư tưởng “Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”

Năm câu thơ cuối là niềm ước mong của tác giả về một đất nước thái bình, nhân dân ấm no. Tấm lòng, nhân cách Đỗ Phủ rực sáng, để lại trong lòng bạn đọc nhiều ấn tượng khó quên.

Nêu Những Nét Khái Quát Về Nhà Thơ Đỗ Phủ. Nội Dung Chính Và Bố Cục Của Bài Thơ Bài Ca Nhà Tranh Bị Gió Thu Phá

Nêu những nét khái quát về nhà thơ Đỗ Phủ. Nội dung chính và bố cục của bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá

Đỗ Phủ sinh năm 712, mất năm 770, tự Tử Mĩ, hiệu Thiếu Lăng. Ông sinh ra ở Hà Nam, trong một gia đình có truyền thông làm quan, ông là cháu của nhà thơ nổi tiếng thời Đường Đỗ Thẩm Ngôn.

Đỗ Phủ từng giành thời gian 10 năm ngao du thiên hạ, ông đi nhiều nên biết nhiều và hiểu nhiều về xã hội đương thời. Ông là bạn tri kỉ của nhà thơ Lí Bạch mặc dù ông nhỏ hơn Lí Bạch đến 10 tuổi.

Đỗ Phủ có thời gian khoảng 10 năm làm quan ở kinh đô Trường An. Sau sự biến An Lộc Sơn vào năm 755, do sợ bị liên luỵ, đồng thời thấy vua không còn tin dùng mình, Đỗ Phủ từ quan và đưa gia đình về quê cư trú.

Cuộc đời Đỗ Phủ là một chuỗi ngày dài bất hạnh. Số phận long đong cùng với cuộc sống chật vật đã làm cho Đỗ Phủ mất nhiều sức lực. Suốt đời ông luôn bị cái đói và bệnh tật giày vò. Những năm tháng cuối đời ông sống thật bi thảm và qua đời trên một chiếc thuyền nhỏ cũ nát vào mùa đông năm 770.

Cũng như Lí Bạch, Đỗ Phủ là một nhà thơ lớn thời Đường nói riêng và Trung Quốc nói chung. Ông đã để lại cho hậu thế hơn một nghìn bốn trăm bài thơ. Thơ của ông phản ánh chân thật và sinh động bộ mặt của xã hội Trung Quốc đương thời. Những trang sử của thời đại nhà Đường đượcphản ánh phần nào trong thơ của ông, chính vì vậy ông được mệnh danh là thi sử.

Thơ của Đỗ Phủ chứa chan tình yêu nước, thương dân, cảm thông với những số phận bất hạnh và thời cuộc. Qua thơ, Đỗ Phủ thể hiện sự xót xa, đau đớn trước cái nghèo đói, bệnh tật, sự túng thiếu về vật chất, đồng thời còn bộc lộ tính nhân đạo, nhân văn của ông. Ngoài ra, thơ của ông còn có một số bài miêu tả cảnh đẹp thiên nhiên của quê hương, qua đó thể hiện niềm thương cảm với hiện thực cuộc sống.

* Nội dung chính và bố cục của bài thơ Bài ca nhà tranh hị gió thu phá.

Sau khi từ quan về quê ở ẩn, Đỗ Phủ được bạn bè và người thân giúp dựng một căn nhà tranh ở phía tây Thành Đô. về nhà mới chưa được bao lâu thì căn nhà bị gió thu phá nát. Trước cảnh đời éo le, Đỗ Phủ đã viết bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá để nói lên nỗi thống khổ của mình. Bài thơ được viết theo thể thơ cổ.

Bài thơ thể hiện nỗi đau đớn, xót xa của nhà thơ trước cảnh nhà tranh bị gió thu phá nát, đồng thời nhà thơ đã vượt lên nỗi đau của bản thân để nêu cao giá trị nhân đạo bằng việc phản ánh nỗi khổ của những kẻ sĩ nghèo trong thiên hạ. Qua đó, ông mơ ước có một căn nhà muôn ngàn gian vững chãi để che cho kẻ sĩ nghèo dù mình có sống trong túp lều tranh rách nát cũng vui lòng. Đó chính là tấm lòng nhân đạo và nhân văn cao cả của nhà thơ.

Bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá có thể chia làm bốn phần theo nội dung của từng đoạn và cách thức sử dụng phương thức biểu đạt của tác giả.

Phần một (Tháng tám đến mương sa): Cảnh nhà tranh bị gió thu phá. Trong phần này, tác giả đã kết hợp sử dụng phương thức miêu tả với tự sự.

Phần hai (Trẻ con đến ấm ức): Cảnh trẻ con cướp giật tranh từ mái nhà rơi xuống và nỗi ấm ức, nỗi đau trong lòng trước cảnh tượng đó của tác giả. Phương thức biểu đạt của phần này là tự sự kết hợp với biểu cảm.

Phần ba (Giây lát đến cho trót): Nỗi khổ của cả gia đình trong đêm mưa gió sau khi nhà tranh đã bị gió thu phá nát. Miêu tả và biểu cảm là hai phương thức biểu đạt của phần này.

Phần bốn (Còn lại): Mong ước của tác giả về một mái nhà vững chãi cho những kẻ nghèo trong thiên hạ, riêng bản thân tác giả có thể sống trong một mái nhà rách nát cũng vui lòng. Tác giả đã sử dụng phương thức biểu đạt trực tiếp để tạo nên giá trị nhân đạo của bài thơ.

Phân tích năm câu thơ cuối bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ.

– Đỗ Phủ (712 – 770) là nhà thơ hiện thực lớn nhất, không chỉ của đời Đường mà của cả lịch sử thi ca cổ Trung Quốc. Ông để lại hàng nghìn bài thơ tuyệt tác, được người đời mệnh danh là “thi thánh”.

– Cuộc đời ông lưu lạc lênh đênh, nếm trải nhiều đau khổ, nên tâm hồn ông chan hòa với nhân dân lầm than trong xã hội loạn lạc. Ông là “nhà thơ dân đen” (Phan Ngọc).

– Bài ca nhà tranh bị gió thu phálà một kiệt tác của Đỗ Phủ. Năm câu thơ cuối là những câu thơ đẹp nhất trong bài thơ, lấp lánh tư tưởng nhân đạo sâu sắc của thi hào Đỗ Phủ:

“Ước được nhà rộng muôn ngàn gian,

Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan,

Gió mưa chẳng núng, vững vàng như thạch bàn!

Than ôi! Bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được!”.

1. Để thấy được cái hay, cái đẹp của năm câu thơ cuối ta cần phải biết qua một vài nét của phần đầu bài thơ. Những dòng thơ tự sự chân thật, cảm động kể chuyện “gió thu tốc nhà”. Tai họa dồn dập trút lên gia đình nhà thơ trong một ngày đêm. Gió thu thổi tốc nhà “tranh bị rải khắp ven sông…”. Bao nhiêu tranh bị trẻ con xóm Nam cướp sạch. Nhà thơ “khản tiếng, rát hầu, đành chịu mất”. Thời loạn lạc đạo lí suy đồi. Tai họa dồn dập, nỗi khổ tưởng chừng không thể nào chịu đựng nổi. Mưa gió suốt đêm, nhà dột, chăn cũ mỏng và rách, rét lạnh thấu xương, thêm tuổi già bệnh tật.

Đoạn thơ như cuốn phim làm sông lại cảnh lầm than cực khổ của một nhà thơ tài ba mà bất hạnh trong xã hội loạn li.

2. Trước nỗi đau ấy, con người gục xuống khóc than? Không! Tâm hồn nhà thơ sáng ngời. Quên hết nỗi đau của riêng mình, lòng ông hướng về bao người cần lao trong xã hội. Ông mơ ước, khát khao: có ngôi nhà ngàn vạn gian “Che khắp thế gian dân rét mừng. Vững như núi, gió mưa chẳng chuyển”. Thật vô cùng cảm động, nhà thơ nguyện quên mình cho hạnh phúc của nhân dân.

Than ôi! Bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt

Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được!”.

– Cái hay, cái sâu sắc của đoạn thơ là bằng bút pháp tương phản: cảnh đời và tấm lòng, nỗi khổ và niềm mong ước. Đoạn thơ như một lời tâm sự, chân thực và cảm động được diễn tả qua hình ảnh ngôi nhà to lớn trong ước mơ của tác giả… Yếu tố hiện thực, yếu tố trữ tình lãng mạn kết hợp một cách hài hòa làm sáng lên tư tưởng, tình cảm nhân ái, lí tưởng nhân đạo bao la của Đỗ Phủ.

– Ở năm dòng cuối bài thơ, ước vọng nhân đạo chân thành thấm đượm tình người của Đỗ Phủ sáng mãi cùng thời gian. Giả sử nếu bài thơ dừng lại ở câu thơ tả thực ở phần trên thì có lẽ không phải là tác phẩm của bậc “thi thánh” nữa. Thi pháp cổ gọi năm câu thơ ấy là loại câu “cảnh cú” (làm rung chuyển cả bài thơ). Câu thơ để lại dấu ấn một hồn thơ, một tấm lòng, đi dọc thời gian từ đó đến nay đã 13 thế kỉ mà ta đọc lên vẫn xiết bao cảm động!

– Đọc Bài ca nhà tranh bị gió thu phá, ta như thấy hiện lên trước mắt hình ảnh một ông già gầy yếu ngồi trong một gian nhà bị dột dưới mưa gió tầm tã, tấm chăn mỏng ướt sũng, đôi mắt đăm chiêu, tư lự nhìn xa xăm… Hình ảnh ấy như một ám ảnh chập chờn mãi trong lòng ta.

– Năm dòng thơ cuối vừa đẹp về tư tưởng, vừa đẹp về hình ảnh, bừng sáng tấm lòng nhân đạo của tác giả. Khát vọng che chở cho dân lành đói khổ đã chắp cánh cho thơ Đỗ Phủ đến với mọi tâm hồn nhân ái và làm cho con người nhân ái hơn. Chữ “tâm” trong thơ ông đã giúp cho chữ “tài” trở nên bất tử. Đọc bài thơ, ta khâm phục và kính yêu một hồn thơ vĩ đại, một trái tim nhân hậu bao la.

Cảm nhận và suy nghĩ của em về bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ.

Đọc bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của. thi hào Đỗ Phủ tự nhiên tôi thấy gần gũi, thân thiết. Nhà tranh bị gió thu phá! Một đề tài gần gũi quen thuộc với người dân Việt Nam ta biết bao!

Đỗ Phủ sông vào thế kỉ thứ VIII, cách ngày nay 13 thế kỷ, mà cảnh gió bão trong thơ chẳng khác gì ngày hôm nay! Ai đã trải qua những cảnh gió bão, đã nhìn thấy cảnh tàn phá của gió bão trên màn ảnh nhỏ đều dễ dàng nhận thấy sự tàn phá của thiên nhiên xưa nay thật giống nhau. Mà đâu phải chỉ giống nhau! Với nhịp độ phá hoại môi trường, nhất là nạn phá rừng diễn ra ngày càng nhanh, càng nhiều như hiện nay, bão lụt gần đây hoành hành càng thất thường, càng dữ dội.

Đỗ Phủ kể đến chuyện trẻ con thôn Nam khinh ông già yếu, nỡ cướp tranh mái nhà của ông rồi chạy vào lũy tre! Có lẽ đó là chuyện thường thấy của nghìn năm trước ở nơi hẻo lánh vì cuộc sống lúc đó nghèo khổ lắm, một tấm tranh lợp nhà cũng bị tranh cướp.

Cảnh nhà dột, chăn ướt, không ngủ được trong bài thơ thật là chân thực. Đọc lên như thấy tình cảnh thê thảm hiện lên trước mắt. Chi tiết “Con nằm xấu nết đạp lót nát” rất thật. Trẻ con ngủ mê thường đạp lung tung, làm rách thêm cái chăn vốn đã cũ nát. Sự vô tình của trẻ thơ cũng làm hư hỏng thêm gia sản vốn đã nghèo nàn của nhà thơ!

Nhưng tâm hồn nhà thơ thật cao thượng và giàu có biết bao. Ông ao ước:

Ước được nhà rộng muôn ngàn gian Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan!

Ông thương nhất là kẻ sĩ nghèo trong thiên hạ, bởi họ chẳng có gì ngoài chữ nghĩa và tấm lòng lương thiện! Tấm lòng nhà thơ càng đáng quý trọng gấp bội khi ông nói muốn có nhà ngay trước mắt để ấm lòng mọi kẻ sĩ:

Than ôi, bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt

Riêng lều ta nát, chịu chết rét củng được.

Đỗ Phủ quả là một nhà thơ lớn. Ông đã vượt lên tình cảnh bi thảm của riêng mình để nghĩ đến kẻ sĩ trong thiên hạ.

Phân tích bài thơ Mao ốc vị thu phong sở phá ca (Bài ca nhà tranh bị gió thu phá) của Đỗ Phủ.

Đời Đường ở Trung Quốc (618 – 907), thi ca nghệ thuật phát triển vô cùng mạnh mẽ và đạt được những thành tựu cực kì rực rỡ. Với hơn 2.300 thi sĩ và khoảng 48.000 bài thơ, thơ Đường được liệt vào bằng thơ ca ưu tú nhất của nhân loại. Trong đó Đỗ Phủ (‘712 – 770) là một trong những nhà thơ vĩ đại nhất, được tôn vinh là “thi thánh”; ông là nhà thơ giàu lòng yêu nước, thương dân, lo việc đời, ghét cường quyền bạo ngược. Tính hiện thực và tinh thần nhân đạo thể hiện rõ trong hơn 1.400 bài thơ ông để lại, phản ánh tâm hồn cao đẹp của một “nhà thơ dân đen”. Cuộc đời của Đỗ Phủ trải qua nhiều bất hạnh: công danh lận đận, con chết, lưu lạc tha hương, càng cuối đời càng nghèo đói, cơm không đủ ăn, ốm đau không thuốc thang cơm cháo, nằm chết trên một chiếc thuyền rách nát nơi quê người.

Bài ca nhà tranh bị gió thu pháđược xếp vào số 100 bài thơ hay nhất của Đỗ Phủ. Ông viết bài thơ này vào những năm cuối đời mình. Năm 760 (hay 761?), được bạn bè giúp đỡ, Đỗ Phủ đã dựng được một mái nhà tranh bên cạnh khe Cán Hoa ở phía tây Thành Đô. Nhưng chỉ mấy tháng sau, ngôi nhà bị mưa bão phá nát. Năm đó, loạn An – Sử vẫn đang diễn ra khốc liệt. Bài thơ gồm có 23 câu, phần lớn là câu thất ngôn, có vài câu dài đến trên dưới chục chữ, vừa có vần trắc vừa có vần bằng. Chữ “ca” trong bài thơ “Mao ốc vị thu phong sở phá ca” là một loại thơ cổ (cổ phong) có nguồn gốc sâu xa với một điệu dân ca cổ. Nhiều nhà thơ đời Đường đều có viết thể “ca” này: Thu phố ca (Lí Bạch), Thiên Dục phiêu Đồ ca (Đỗ Phủ), Trường hận ca (Bạch Cư Dị)…

Muốn cảm nhận Bài ca nhà tranh bị gió thu phá này, có lẽ nên đọc lại bài thơ Nhớ em của Đỗ Phủ. Từ đó, ta mới có thêm căn cứ để phân tích:

“Chạy loạn sang châu Tế Nghe em đói rét hoài

Đường thăm còn vướng giặc Thư gửi biết nhờ ai?

Lủi trốn khi lo vẩn Buồn phiền lúc ốm dai

Phó cho dòng nước chảyNghìn vạn mối sầu dài!”

(Nhượng Tông dịch)

Bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá gồm có bốn phần: năm câu đầu nói bão tố phá nát ngôi nhà tranh, năm câu nối tiếp nói bọn trẻ con cướp tranh; tám câu tiếp theo tả cảnh mưa tầm tã nhà bị dột, cha con ngồi trong mưa rét; năm câu cuối thể hiện niềm mơ ước của nhà thơ.

Khổ thơ đầu như một ghi chép ngắn về trận thu phong. Đó là một trận bão tố, hoặc là một cơn lốc vào tháng 8 “gió thét già”. Ba lớp tranh trên ngôi nhà của Đỗ Phủ bị “cuộn mất” bay tứ tung khắp mọi nơi. Có tấm tranh bay rải khắp bờ sông. Có tấm tranh “treo tót ngọn rừng xa”. Có mảnh tranh bị phá nát rơi xuống mương nước. Chữ “tranh” (mao) được nhắc lại 2, 3 lần, lối viết liệt kê đã tái hiện lại trận cuồng phong lần lượt bóc đi từng tấm tranh, nhà thơ ngơ ngác nhìn, bất lực. Cả năm câu thơ đều được gieo vần bằng: “hào – mao – giao – sao – ao”, đó là những vần có âm vang diễn tả âm điệu vần thơ như tiếng khóc, tiếng thở than, về vần thơ, dịch giả Khương Hữu Dụng thể hiện đúng dụng ý nghệ thuật của Đỗ Phủ trong nguyên tác: “già – ta – xa – sa”.

Năm câu thơ tiếp theo cho thấy thời loạn, đạo lí suy đồi đến cùng cực! Lũ trẻ con hàng xóm kéo đến cướp tranh mà Đỗ Phủ gọi là “đạo tặc” – đám kẻ cướp. Chúng khinh nhà thơ “già yếu”. Chúng trơ tráo trước tiếng kêu van “môi khô miệng chảy gào không được”. Lũ trẻ gian tham cướp được chiếc tranh nào thì cứ ngang nhiên “cắp tranh đi tuốt vào lũy tre” chiếc tranh ấy. Như thế là sau thiên tai, gia đình nhà thơ lại gặp “đạo tặc”, đó là lũ “quần đồng” hạ lưu, những “tiểu tướng…” sản phẩm của một xã hội đại loạn. Nếu khổ thơ đầu chỉ mới nói đến cái rủi thì khổ thơ thứ 2 nói thêm nỗi đau, nỗi buồn trước một xã hội loạn lạc, đảo điên, trong đó lũ “quần đồng” vừa láo hỗn vừa gian tham.

Khổ thơ thứ ba ghi thêm một tai họa mới: trời mưa rét thâu đêm mà mái nhà đã bị gió thu phá nát. Gió lặng thì mây đen che phủ trời đất tối như mực. Mưa tầm tã suốt canh khuya. Nhà dột, giường không có một chỗ nào khô. Chăn rách nay thấm nước lạnh như sắt. Các chi tiết nghệ thuật được miêu tả vừa cụ thể, vừa hiện thực, gió, mưa, nhà dột, giường ướt, chăn rách…

“Mền vải lâu năm lạnh tựa sắt,

Con nằm xấu nết đạp lót nát

Đầu giường nhà dột chẳng chừa đâu

Dày hạt mưa, mưa, mưa chẳng dứt”.

Nhà thơ ngồi trong mưa, ngồi dưới mưa thâu đêm. Tuổi già, sức yếu, bệnh tật… Đỗ Phủ vừa thương vợ con, vừa thương mình. Nỗi đau khổ như dồn lại, trút lên đầu một con người vừa nếm trải nhiều bất hạnh. Đêm như dài thêm ra:

“Từ trải cơn loạn ít ngủ nghê,

Đêm dài ướt át sao cho trót?”.

Khổ thơ thứ 3, về mặt bố cục mang một ý nghĩa lớn, ghi lại cái đại họa trong một đêm thu trời mưa. Nó làm rõ thêm một kinh nghiệm sống: “Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí!”. Dân gian có câu: “Thứ nhất con đói, thứ nhì nợ đòi, thứ ba nhà dột!”. Đỗ Phủ còn thêm một sự đau khổ nữa, đólà thân già, ốm đau ngồi co ro trong mưa rét, nhìn cảnh vợ con đang nằm dưới mưa lạnh thì nỗi khổ ấy không thể nào tả hết. Cái chăn cũ, mỏng, lâu năm, bình thường đắp đã không đủ ấm, đêm nay lại bị con thơ đạp rách nát trong cảnh mưa rét, nhà thủng mái… là những chi tiết nghệ thuật nói lên cái nghèo khổ, cái cùng cực của một gia đình tàn tạ giữa thời loạn lạc, đúng như trong bài Nhớ em ông đã viết: Buồn phiền lúc ốm dai – Phó cho dòng nước chảy – Nghìn vạn mối sầu dài…

Nếu như ở khổ thơ đầu, ông sử dụng toàn vần bằng thì trong khổ thơ thứ ba này ông lại sử dụng toàn vần trắc: “sắc – hắc – thiết – liệt – tuyệt – triệt”. Đó cũng là một dụng ý nghệ thuật: vần thơ như diễn tả nỗi đau khổ đang thắt lại, dồn nén, uất kết lại trong lòng nhà thơ.

Phần thứ tư là phần hay nhất của bài thơ. Năm dòng cuối thể hiện tấm lòng cao cả của một kẻ sĩ chân chính: thương dân và lo đời.

“Ước được nhà rộng muôn ngàn gian,

Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan,

Gió mưa chẳng núng, vững vàng như thạch bàn!

Than ôi! Bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt

Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được!”.

Trong nỗi đau thương phũ phàng của cuộc đời, con người rất dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần, hoặc gục đầu cam chịu, rồi than thân trách phận. Cũng có thể suốt đêm ngồi trong mưa lạnh rét cóng, Đỗ Phủ có quyền nghĩ đến một mái lều, một tấm chăn, một bát cơm, một ngọn lửa., cho vợ con và bản thân ông. Nhưng nhà thơ đã làm cho người đọc bất ngờ trước niềm mong ước của ông. Ông mơ ước có một ngôi nhà kì vĩ “muôn ngàn gian” vô cùng vững chắc “Gió mưa chẳng núng, vững vàng như thạch bàn”. Ngôi nhà ấy để “Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan”. Có thể nói, Đỗ Phủ có tình thương lớn của một nhà nho chân chính sống và ứng xử theo phương châm:

“Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.

Thực tế xưa nay chưa hề có một ngôi nhà “rộng muôn ngàn gian” như thế trên thế gian. Khổ thơ được sáng tạo nên bằng biện pháp tu từ so sánh và thậm xưng để diễn tả ước mơ to lớn và cảm hứng lãng mạn dào dạt, làm sáng bừng lên tấm lòng nhân ái bao la của một con người trải qua nhiều bất hạnh giữa thời loạn lạc. Sau loạn An – Sử, nhiều miền rộng lớn bị đốt phá tan hoang, hàng triệu người rơi vào thảm kịch: không cơm ăn, áo mặc, không cửa nhà, khắp mọi nơi người chết đói, chết rét đầy đường. Vì thế nhà thơ mong mỏi ai cũng có một mái ấm nương thân. Lo việc đời và thương người, khao khát hạnh phúc cho muôn dân là tình cảm tha thiết của nhiều bậc vĩ nhân, nhiều nhà thơ lớn xưa và nay. Nhà thơ Nguyễn Trãi cũng đã từng mơ ước có một cây đàn Ngu cầm – cây đàn thần của vua Thuấn để mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân khắp mọi phương trời.

“Dễ có Ngu Cầm đàn một tiếng,

Dân giàu đủ khắp đòi phương”.

(Quốc âm thi tập)

Trở lại Bài ca nhà tranh bị gió thu phá, ta vô cùng xúc động trước lời nguyền của nhà “hàn sĩ” Đỗ Phủ. Đây là những lời gan ruột, tâm huyết:

“Than ôi! Bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt

Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được!”.

Thấy được ngôi nhà ấy tức là thấy được cảnh thái bình, no ấm, yên vui đến với mọi người, mọi nhà, trong đó có những kẻ sĩ nghèo. Tác giả nêu ra một giả định rất chân thành, cảm động. Nếu thấy ngôi nhà “muôn ngàn gian” trong mơ trở thành hiện thực thì riêng Đỗ Phủ “lều ta nát, chịu chết rét cũng được!”.

Chân thực là yếu tố hàng đầu của cảm xúc thơ ca. Lời nguyền của Đỗ Phủ rất chân thực. Không chỉ riêng bài thơ này, mà qua nhiều bài thơ khác, như chùm thơ Tam lại và Tam biệt, ông đã nói đến tình thương yêu mãnh liệt và bao la đối với nhân dân lầm than giữa thời loạn lạc.

Có thể nói, năm dòng thơ cuối bài thấm đẫm tình người, chứa chan tinh thần nhân đạo. Sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực và yếu tố lãng mạn đã tạo nên giá trị nhân bản sâu sắc.

Mười ba thế kỉ đã trôi qua, Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ vẫn để lại cho chúng ta nhiều rung động và ám ảnh. Ám ảnh về những đau khổ và cay đắng mà một nhà thơ vĩ đại lỗi lạc đời Đường phải nếm trải. Rung động về một ước mơ tuyệt đẹp nhưng chẳng bao giờ có được trong một xã hội loạn lạc, bất công và thối nát. Có biết được tình cảnh bi đát của Đỗ Phủ sau khi nhà bị tốc mái, ông phải đưa vợ con xuống ở trên một chiếc thuyền con rách nát lênh đênh giữa dòng sông Tương – mới cảm được phần nào ý vị đậm đà tình nhân ái của bài thơ, cũng như cái ý vị chua chát của một cuộc đời!

Đề 1. Phân tích giá trị nhân văn sâu sắc của bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá củaĐỗ Phủ.

Đề 2. Bình giảng năm câu thơ cuối bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ.

Đề 3. Hiện thực cuộc đời nhà thơ Đỗ Phủ thể hiện như thế nào qua bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá.

Nguồn: Vietvanhoctro.com

Phân Tích 3 Câu Thơ Cuối Bài “Đồng Chí”

Phân tích 3 câu thơ cuối bài “ Đồng chí” Chiến tranh đã lùi sâu vào quá vãng trên đất nước ta.Thế hệ trẻ chúng em ngày hôm nay không fải sống trong cảnh bom rơi đạn nổ nên không thể hiểu hết ý nghĩa của cuộc sống vì chiến tranh là điều xa lạ.Chính những nhà thơ, nhà văn là những người đi trước đã giúp em hiểu được những mất mát hi sinh của thế hệ cha anh. Bài thơ"Đồng chí" của Chính Hữu có thể coi là đoá hoa đẹp nhất viết về người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp.Bài thơ đã kết thúc bằng bức tranh đẹp của tình đồng chí: "Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo" Câu thơ mở đầu bằng lời kể giản dị như đưa ta trở về với núi rừng Việt Bắc năm 1947. "Đêm nay rừng hoang sương muối" Không gian là một khu rừng hoang vắng ở núi rừng Việt Bắc vào mùa đông giá rét có sương muối lạnh buốt, phủ trắng các cành cây, kẽ lá. Trên nền cảnh đó là hình ảnh những người lính: "Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới" Câu thơ đấ sáng ngời lên tình đồng chí cao đẹp.Những đêm phục kích chờ giặc họ đứng bên nhau. Tư thế đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới đã thể hiện rõ sức mạnh của tình đồng đội giúp họ vượt lên tất cả những khắc nghiệt của thời tiết, vượt lên mọi gian khổ, thiếu thốn của những năm chống Pháp. Đêm ấy trời có trăng và một ý tưởng thơ đẹp đã bất ngờ xuất hiện: "Đầu súng trăng treo" Về khuya trăng cũng xuống thấp dần và người lính ngỡ ánh trăng treo lơ lửng trên đầu mũi súng. Ánh sáng của vầng trăng như tạm xua đi cái hoang vắng của núi rừng Việt Bắc. Hình ảnh thơ còn mang ý nghĩa biểu tượng. "Súng"biểu tượng cho sự chiến đấu của những người lính. "Trăng"biểu tượng cho sự thanh bình. Các anh chiến đấu cho sự thanh bình của Tổ quốc. Súng và trăng là gần và xa,thực tại và mơ mộng,thi sĩ và chiến sĩ gắn kết hài hoà với nhau. Hình ảnh thơ có sự gắn kết giữa hiện thực và lãng mạn. Nhịp điệu của câu thơ như nhịp lắc của một cái gì đó lơ lửng , chông chênh trong sự bát ngát. Ngôn ngữ thơ hàm súc , ngắn gọn, giàu giá trị biểu cảm. Hình ảnh thơ là sáng tạo của thơ ca, mang vẻ đẹp lãng mạn của thơ ca kháng chiến và được Chính Hữu lấy nó đặt tên cho tập thơ. Khổ thơ đã làm đẹp thêm tình đồng chí , làm đẹp lên hình ảnh những con người "Trong đêm tối tim ta là ngọn lửa". Đây là khổ thơ hay nhất của bài "Đồng chí" được viết lên bởi tình cảm trân trọng những người lính - những con người làm nên lịch sử của thơ Chính Hữu. Ba câu thơ cuối của bài thơ vừa thể hiện tình đồng chí của người lính trong chiến đấu vừa gợi lên hình ảnh người lính rất đẹp, rất lãng mạn. Trong đêm sương muối rét buốt, những người lính phải đứng gác nơi rừng hoang. Trong thời tiết, hoàn cảnh khắc nghiệt, khó khăn như vậy, những người lính vẫn luôn sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng chờ giặc tới, Trong cuộc kháng chiến gian khổ ấy, những người lính lại sát cánh bên nhau, đứng cạnh bên nhau sẵn sàng chiến đấu, không quản ngại khó khăn gian khổ. Hình ảnh những người lính hiện lên rất chân thực, rất đẹp. Hình ảnh đầu súng trăng treo vừa là hình ảnh tả thực lại vừa mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Đêm đứng gác về khuya, trăng xuống thấp, những người lính lại đeo súng trên vai nên ta có cảm giác như trăng treo nơi đầu súng. Nhưng cây súng cũng là biểu tượng cho lực lượng chiến đấu bảo vệ hoà bình, trăng là biểu tượng của hoà bình. Hình ảnh đầu súng trăng treo là hình ảnh thơ đẹp và lãng mạn, thể hiện hình ảnh của người lính cách mạng, và qua đó cũng chính là thể hiện tình đồng chí, đồng đội của người lính cách mạng trong chiến đấu gian khổ. Bằng ngôn ngữ thơ rất giản dị, chân thực, Chính Hữu đã thể hiện chân thực và sinh động tình đồng chí, đồng đội của những người lính cách mạng qua những tình huống rất bình dị. Tình dồng chí của những người lính được thể hiện trong bài thơ rất sâu sắc, thiêng liêng, là tình cảm đẹp của những người lính cách mạng, tạo nên vẻ đẹp và sức mạnh tinh thần của người lính cách mạng.

Phân Tích 3 Câu Thơ Cuối Bài “Đồng Chí”

Phân tích 3 câu thơ cuối bài " Đồng chí" Chiến tranh đã lùi sâu vào quá vãng trên đất nước ta.Thế hệ trẻ chúng em ngày hôm nay không fải sống trong cảnh bom rơi đạn nổ nên không thể hiểu hết ý nghĩa của cuộc sống vì chiến tranh là điều xa lạ.Chính những nhà thơ, nhà văn là những người đi trước đã giúp em hiểu được những mất mát hi sinh của thế hệ cha anh. Bài thơ"Đồng chí" của Chính Hữu có thể coi là đoá hoa đẹp nhất viết về người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp.Bài thơ đã kết thúc bằng bức tranh đẹp của tình đồng chí: "Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo" Câu thơ mở đầu bằng lời kể giản dị như đưa ta trở về với núi rừng Việt Bắc năm 1947. "Đêm nay rừng hoang sương muối" Không gian là một khu rừng hoang vắng ở núi rừng Việt Bắc vào mùa đông giá rét có sương muối lạnh buốt, phủ trắng các cành cây, kẽ lá. Trên nền cảnh đó là hình ảnh những người lính: "Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới" Câu thơ đấ sáng ngời lên tình đồng chí cao đẹp.Những đêm phục kích chờ giặc họ đứng bên nhau. Tư thế đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới đã thể hiện rõ sức mạnh của tình đồng đội giúp họ vượt lên tất cả những khắc nghiệt của thời tiết, vượt lên mọi gian khổ, thiếu thốn của những năm chống Pháp. Đêm ấy trời có trăng và một ý tưởng thơ đẹp đã bất ngờ xuất hiện: "Đầu súng trăng treo" Về khuya trăng cũng xuống thấp dần và người lính ngỡ ánh trăng treo lơ lửng trên đầu mũi súng. Ánh sáng của vầng trăng như tạm xua đi cái hoang vắng của núi rừng Việt Bắc. Hình ảnh thơ còn mang ý nghĩa biểu tượng. "Súng"biểu tượng cho sự chiến đấu của những người lính. "Trăng"biểu tượng cho sự thanh bình. Các anh chiến đấu cho sự thanh bình của Tổ quốc. Súng và trăng là gần và xa,thực tại và mơ mộng,thi sĩ và chiến sĩ gắn kết hài hoà với nhau. Hình ảnh thơ có sự gắn kết giữa hiện thực và lãng mạn. Nhịp điệu của câu thơ như nhịp lắc của một cái gì đó lơ lửng , chông chênh trong sự bát ngát. Ngôn ngữ thơ hàm súc , ngắn gọn, giàu giá trị biểu cảm. Hình ảnh thơ là sáng tạo của thơ ca, mang vẻ đẹp lãng mạn của thơ ca kháng chiến và được Chính Hữu lấy nó đặt tên cho tập thơ. Khổ thơ đã làm đẹp thêm tình đồng chí , làm đẹp lên hình ảnh những con người "Trong đêm tối tim ta là ngọn lửa". Đây là khổ thơ hay nhất của bài "Đồng chí" được viết lên bởi tình cảm trân trọng những người lính - những con người làm nên lịch sử của thơ Chính Hữu. Ba câu thơ cuối của bài thơ vừa thể hiện tình đồng chí của người lính trong chiến đấu vừa gợi lên hình ảnh người lính rất đẹp, rất lãng mạn. Trong đêm sương muối rét buốt, những người lính phải đứng gác nơi rừng hoang. Trong thời tiết, hoàn cảnh khắc nghiệt, khó khăn như vậy, những người lính vẫn luôn sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng chờ giặc tới, Trong cuộc kháng chiến gian khổ ấy, những người lính lại sát cánh bên nhau, đứng cạnh bên nhau sẵn sàng chiến đấu, không quản ngại khó khăn gian khổ. Hình ảnh những người lính hiện lên rất chân thực, rất đẹp. Hình ảnh đầu súng trăng treo vừa là hình ảnh tả thực lại vừa mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Đêm đứng gác về khuya, trăng xuống thấp, những người lính lại đeo súng trên vai nên ta có cảm giác như trăng treo nơi đầu súng. Nhưng cây súng cũng là biểu tượng cho lực lượng chiến đấu bảo vệ hoà bình, trăng là biểu tượng của hoà bình. Hình ảnh đầu súng trăng treo là hình ảnh thơ đẹp và lãng mạn, thể hiện hình ảnh của người lính cách mạng, và qua đó cũng chính là thể hiện tình đồng chí, đồng đội của người lính cách mạng trong chiến đấu gian khổ. Bằng ngôn ngữ thơ rất giản dị, chân thực, Chính Hữu đã thể hiện chân thực và sinh động tình đồng chí, đồng đội của những người lính cách mạng qua những tình huống rất bình dị. Tình dồng chí của những người lính được thể hiện trong bài thơ rất sâu sắc, thiêng liêng, là tình cảm đẹp của những người lính cách mạng, tạo nên vẻ đẹp và sức mạnh tinh thần của người lính cách mạng.

5 Bài Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến

5 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến hay nhất

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

Trong nền thơ ca dân tộc có nhiều bài thơ tuyệt hay nói về mùa thu. Riêng Nguyễn Khuyến đã có chùm thơ ba bài: Thu vịnh, Thu ẩm và Thu điếu. Bài thơ nào cũng hay, cũng đẹp cho thấy một tình quê dào dạt. Riêng bài “Thu điếu”, nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định là “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”. “Thu điếu” là bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc: Cảnh đẹp mùa thu quê hương, tình yêu thiên nhiên, yêu mùa thu đẹp gắn liền với tình yêu quê hương tha thiết.

“Thu điếu” được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, ngôn ngữ tinh tế, hình tượng và biểu cảm. Cảnh thu, trời thu xinh đẹp của làng quê Việt Nam như hiện lên trong dáng vẻ và màu sắc tuyệt vời dưới ngọn bút thần tình của Nguyễn Khuyến.

Hai câu đầu nói về ao thu và chiếc thuyền câu. Nước ao “trong veo” toả hơi thu “lạnh lẽo”. Sương khói mùa thu như bao trùm cảnh vật. Nước ao thu đã trong lại trong thêm, khí thu lành lạnh lại trở nên”lạnh lẽo”. Trên mặt nước hiện lên thấp thoáng một chiếc thuyền câu rất bé nhỏ -“bé tẻo teo”. Cái ao và chiếc thuyền câu là hình ảnh trung tâm của bài thơ, cũng là hình ảnh bình dị, thân thuộc, đáng yêu của quê nhà. Theo Xuân Diệu cho biết vùng đồng chiêm trũng Bình Lục, Hà Nam có cơ man nào là ao, nhiều ao cho nên ao nhỏ, ao nhỏ thì thuyền câu cũng theo đó mà “bé tẻo teo”:

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”.

Các từ ngữ: “lạnh lẽo”, “trong veo”,”bé tẻo teo” gợi tả đường nét, dáng hình, màu sắc của cảnh vật, sắc nước mùa thu; âm vang lời thơ như tiếng thu, hồn thu vọng về.

Hai câu thơ tiếp theo trong phần thực là những nét vẽ tài hoạ làm rõ thêm cái hồn của cảnh thu:“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”.

Màu”biếc” của sóng hoà hợp với sắc “vàng” của lá vẽ nên bức tranh quê đơn sơ mà lộng lẫy. Nghệ thuật đối trong phần thực rất điêu luyện, “lá vàng” với “sóng biếc”, tốc độ “vèo” của lá bay tương ứng với mức độ “tí” của sóng gợn. Nhà thơ Tản Đà đã hết lời ca ngợi chữ “vèo” trong thơ của Nguyễn Khuyến. Ông đã nói một đời thơ của mình may ra mới có được một câu thơ vừa ý trong bài “Cảm thu, tiễn thu”, “Vèo trông lá rụng đầy sân”.

Hai câu luận mở rộng không gian miêu tả. Bức tranh thu có thêm chiều cao của bầu trời “xanh ngắt” với những tầng mây “lơ lửng” trôi theo chiều gió nhẹ. Trong chùm thơ thu, Nguyễn Khuyến nhận diện sắc trời thu là “xanh ngắt”:– “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao(Thu vịnh)– “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”.(Thu ẩm)– “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt”.(Thu điếu)

“Xanh ngắt” là xanh mà có chiều sâu. Trời thu không mây (mây xám), mà xanh ngắt một màu thăm thẳm. Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian, cái nhìn vời vợi của nhà thơ, của ông lão đang câu cá. Thế rồi, ông lơ đãng đưa mắt nhìn về bốn phía làng quê. Hình như người dân quê đã ra đồng hết. Xóm thôn vắng lặng, vắng teo. Mọi con đường quanh co, hun hút, không một bóng người qua lại: “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”.

Cảnh vật êm đềm, thoáng một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt. Người câu cá như đang chìm trong giấc mộng mùa thu. Tất cả cảnh vật từ mặt nước “ao thu lạnh lẽo” đến “chiếc thuyền câu bé tẻo teo”, từ “sống biếc” đến “lá vàng”, từ”tầng mây lơ lửng đến “ngõ trúc quanh co” hiện lên với đường nét, màu sắc, âm thanh,… có khi thoáng chút bâng khuâng, man mác, nhưng rất gần gũi, thân thiết với mỗi con người Việt Nam. Phong cảnh thiên nhiên của mùa thu quê hương sao đáng yêu thế!

Cái ý vị của bài thơ “Thu điếu” là ở hai câu kết:“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,Cá đâu đớp động dưới chân bèo”.

“Tựa gối ôm cần” là tư thế của người câu cá cũng là một tâm thế nhàn của nhà thơ đã thoát vòng danh lợi. Cái âm thanh”cá đâu đớp động”, nhất là từ “đâu” gợi lên sự mơ hồ, xa vắng và chợt tỉnh. Người câu cá ở đây chính là nhà thơ, một ông quan to triều Nguyễn, yêu nước thương dân nhưng bất lực trước thời cuộc, không cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp đã cáo bệnh, từ quan. Đằng sau câu chữ hiện lên một nhà nho thanh bạch trốn đời đi ở ẩn. Đang ôm cần đi câu cá nhưng tâm hổn nhà thơ đang đắm chìm trong giấc mộng mùa thu, bỗng chợt tỉnh trở về thực tại khi”Cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Cho nên cảnh vật ao thu, trời thu êm đềm, vắng lặng như chính nỗi lòng của nhà thơ vậy – buồn cô đơn và trống vắng.

Âm thanh tiếng cá”đớp động dưới chân bèo” đã làm nổi bật khung cảnh tịch mịch của chiếc ao thu. Cảnh vật như luôn luôn quấn quýt với tình người. Thiên nhiên đối với Nguyễn Khuyến như một bầu bạn tri kỉ. Ông đã trang trải tình cảm, gửi gắm tâm hồn, tìm lời an ủi ở thiên nhiên, ở sắc “vàng” của lá thu, ở màu”xanh ngắt” của bầu trời thu, ở làn “sóng biếc” trên mặt ao thu “lạnh lẽo”…

Thật vậy, “Thu điếu” là một bài thơ tả cảnh ngụ tình rất đặc sắc của Nguyễn Khuyến. Cảnh sắc mùa thu quê hương được miêu tả bằng những gam màu đậm nhạt, những nét vẽ xa gần, tinh tế gợi cảm. Âm thanh của tiếng lá rơi đưa”vèo” trong làn gió thu, tiếng cá”đớp động” chân bèo – đó là tiếng thu dân dã, thân thuộc của đồng quê đã khơi gợi trong lòng chúng ta bao hoài niệm đẹp về quê hương đất nước.

Nghệ thuật gieo vần của Nguyễn Khuyến rất độc đáo. Vần “eo” đi vào bài thơ rất tự nhiên thoải mái, để lại ấn tượng khó quên cho người đọc; âm hưởng của những vần thơ như cuốn hút chúng ta: trong veo – bé tẻo teo – đưa vèo – vắng teo – chân bèo. Thi si Xuân Diệu đã từng viết: “Cái thú vị của bài “Thu điếu” ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi”…

Thơ là sự cách điệu tâm hồn. Nguyễn Khuyến yêu thiên nhiên mùa thu, yêu cảnh sắc đồng quê với tất cả tình quê nồng hậu. Ông là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Đọc”Thu điếu”,”Thu vịnh”,”Thu ẩm”, chúng ta yêu thêm mùa thu quê hương, yêu thêm xóm thôn đồng nội, đất nước. Với Nguyễn Khuyến, tả mùa thu, yêu mùa thu đẹp cũng là yêu quê hương đất nước. Nguyễn Khuyến là nhà thơ kiệt xuất đã chiếm một địa vị vẻ vang trong nền thơ ca cổ điển Việt Nam.

Nguyễn Khuyến là người có cốt cách thanh cao và giàu lòng yêu nước, ông một lòng không hợp tác với kẻ thù. Ông được mệnh danh là “nhà thơ của dân tình, làng cảnh Việt Nam”. Ông để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm thơ hay và đặc biệt là chùm ba bài thơ thu điển hình cho làng quê, phong cảnh Việt Nam. Trong đó nổi bật hơn cả là bài Câu cá mùa thu.

Nếu như ở bài Thu vịnh cảnh thu được đón nhận từ cao xa rồi mới đến gần thì bài Câu cá mùa thu khung cảnh thiên nhiên mùa thu lại được đón nhận ở một chiều kích khác: từ gần rồi tiến ra cao xa và từ cao xa trở về gần. Khung cảnh được mở ra với nhiều chiều hướng vô cùng sinh động.

Bài thơ có nhan đề là Câu cá mùa thu, nói về chuyện câu cá mà thực lại không phải vậy. Mượn chuyện câu cá để cảm nhận hết trời thu, cảnh thu vào cõi lòng mình. Hẳn Nguyễn Khuyến phải có tâm hồn thanh tĩnh đến tuyệt đối mới có thể có nhận đầy đủ vẻ đẹp của mùa thu: trong veo, cái hơi gợn tí của nước, độ rơi khẽ khàng của lá. Đặc biệt sự tĩnh lặng trong tâm hồn thi nhân được gợi lên một cách sâu sắc từ tiếng động duy nhất trong bài thơ là tiếng cá đớp mồi dưới chân bèo. Sự tĩnh lặng trong cảnh vật gợi cho người đọc cảm nhận về sự cô đơn, uẩn khúc trong tâm hồn nhà thơ. Trong bài các gam màu lạnh xuất hiện nhiều: trong veo, xanh ngắt,… dường như cái lạnh của thu thấm vào tâm hồn nhà thơ hay chính tâm hồn cô đơn của tác giả lan tỏa sang cảnh vật. Đặt trong bối cảnh đất nước đầy biến thiên lúc bấy giờ, có thể thấy bài thơ thể hiện tâm trạng đau buồn của Nguyễn Khuyến trước hiện tình đất nước đầy đau thương.

Bài thơ thể hiện tài năng sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của Nguyễn Khuyến. Tiếng Việt trong sáng, giản dị nhưng lại diễn tả được tất cả nhưng gì tinh tế, đẹp đẽ nhất của cảnh vật, diễn tả được tâm trạng và tấm lòng của nhà thơ. Gieo vần “eo” – tử vận tài tình góp phần miêu tả không gian nhỏ hẹp và tâm trạng đầy uẩn khúc của tác giả. Nghệ thuật lấy động tả tĩnh gợi lên cái tĩnh lặng tuyệt đối của thiên nhiên.

Bài thơ Câu cá mùa thu với ngôn ngữ bậc thầy không chỉ cho người đọc thấy tài năng của Nguyễn Khuyến trong việc dùng từ. Mà đằng sâu đó ta còn cảm nhận được một tâm hồn gắn bó tha thiết với thiên nhiên, đất nước, tấm lòng yêu nước thầm lặng nhưng không kém phần sâu nặng.

Viết về đề tài mùa thu nếu như ở văn học Trung Quốc có “Thu hứng” của Đỗ Phủ là tiêu biểu và đặc sắc thì nền văn học dân tộc Việt không thể không nhắc đến chùm thơ thu của cụ Tam Nguyên Yên Đổ_Nguyễn Khuyến. Chùm thơ thu gồm ba bài “Thu vịnh”, “Thu điếu”, “Thu ẩm” mùa thu hiện lên qua cái nhìn đa tình của nhà thơ. Đặc biệt là bài thơ”Thu điếu” (Câu cá mùa thu) mang nét đặc sắc riêng “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”, đằng sau cảnh thu, tình thu là tâm trạng, nỗi niềm thầm kín của tác giả.

Nguyễn Khuyến là người học rộng tài cao ba lần đỗ tú tài và ra làm quan dưới triều vua Tự Đức, chứng kiến “từng bước cơn hấp hối” của chế độ phong kiến thối nát. Ông không chịu hợp tác với giặc, muốn giữ mình thanh sạch mà đã về ở ẩn sau hơn mười năm làm quan. Chùm thơ thu được Nguyễn Khuyến sáng tác sau khi về ẩn cư nơi quê nhà.

“Thu điếu” cũng như hai bài thơ thu đều được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật bằng ngôn ngữ dân tộc chữ Nôm. Toàn bộ cảnh thu, tình thu được miêu tả hiện lên rõ nét trong tám câu thơ.

Nếu như ở hai câu đề nổi bật lên là sự tĩnh lặng thì hai câu thực đã mang những nét vận động nhưng nó lại động để tĩnh. Lấy cái động của cảnh vật mà tả cái tĩnh của mùa thu chốn thôn quê.

“Sóng biếc theo làn hơi gợn tíLá vàng trước gió khẽ đưa vèo”

Hai hình ảnh “sóng biếc”, “lá vàng” tưởng chừng như không có mối liên hệ mà có một sự logic, chặt chẽ với nhau. Vì gió thổi làm cho sóng gợn, lá rơi. Cảnh vật chuyển động chẳng phải ào ạt của lá mùa thu như trong thơ Đỗ Phủ mà nó thật khẽ khàng, nhẹ nhàng sóng chỉ hơi gợn tí, lá chỉ khẽ đưa vèo. Các tính từ, trạng từ “biếc”, “tí”, “vàng”, “khẽ” được sử dụng thật tài tình, kết hợp với nhau tạo nên màu sắc, hình ảnh làm cho cảnh thu trở nên sống động có hồn. Chữ “vèo”khiến cho Tản Đà khâm phục, tâm đắc vô cùng. Ông thổ lộ một đời thơ, ông mới có được một câu thơ vừa ý “Vèo trông lá rụng đầy sân”. Nguyễn Khuyến phải là một con người có một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm mới có thể cảm nhận được sự chuyển động mà như tĩnh tại. Nghệ thuật lấy động tả tĩnh đã được sử dụng thành công đem lại hiệu quả cao.

Không gian cảnh vật không chỉ bó hẹp trong khoảng không của mặt nước, của ao thu mà được mở rộng ra hai chiều với một tầm nhìn cao hơn, xa hơn. Đó là cái nhìn toàn cảnh bao quát lên cả bầu trời với nhiều đường nét, màu sắc thoáng đạt:“Tầng mây lo lửng trời xanh ngắtNgõ trúc quanh co khách vắng teo”

Bầu trời xanh ngắt vẫn luôn là biểu tượng đẹp của mùa thu, có lần Nguyễn Du đã từng viết: “Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng” Bầu trời xanh trong, cao thẳm của “Thu điếu” có sự nhất quán với không gian mây trời của “Thu vịnh” “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao” hay trong “Thu ẩm” với “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”. Mây trời trong “Thu điếu” không trôi mà “lơ lửng” gợi một cảnh thu đẹp và yên tĩnh như ngưng đọng lại trên khoảng không bao la, rộng lớn. Chiều sâu không gian được cụ thể hóa bằng độ “quanh co” của ngõ trúc. Hình ảnh cây trúc xuất hiện khá nhiều trong thơ của ông, nhìn khái quát nó mang một nét vắng lặng và đượm buồn mà Nguyễn Khuyến đã viết: “Dặm thế ngõ trúc đâu từng ấy/Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”. Màu xanh của da trời, màu xanh của trúc bao trùm lên sắc màu của không gian. Cảnh vật trở nên u tịch, cô liêu, hiu hắt với tính từ “vắng teo” tức là vắng tanh, vắng ngắt không một bóng người đồng thời cũng cho thấy sự thoáng đãng, trong lành của không gian nơi đây.

Sự tác động của ngoại cảnh làm cho con người không khỏi chạnh lòng mà cô đơn. Nguyễn Khuyến có lần đã từng tự thán về nỗi cô độc của đời mình: “Đời loạn đưa về như hạc độc/Tuổi giá hình bóng tựa mây côi” (Cảm hứng).

Sáu câu thơ đầu là sự miêu tả về cảnh vật, về mây trời non nước mùa thu. Đến hai câu kết ta mới thấy sự xuất hiện của con người. Cái ý vị nhất của bài “Thu điếu” nằm ở hai câu cuối: “Tựa gối buông cần lâu chẳng đượcCá đâu đớp động dưới chân bèo”

Hình ảnh cụ Tam Nguyên Yên Đổ xuất hiện với tư thế ngồi bó gối buông cần thả câu tạo nên một đường nét bất động trên bức tranh thu tĩnh lặng. Nhà thơ ngồi câu cá mà tâm thế như đặt ở nơi nào không chú tâm đến việc câu để rồi giật mình trước tiếng cá “đớp động dưới chân bèo”. Một lần nữa nghệ thuật lấy động tả tĩnh được sử dụng thành công. Tiếng cá đớp tạo nên chuyển động nhỏ cũng khiến cho nhà thơ giật mình tỉnh giấc tựa chiêm bao nó gợi lên sự tĩnh lặng, tĩnh mịch đến vô cùng. Cách hỏi “cá đâu” thật đặc sắc tạo nên sự mơ hồ trong không gian và sự ngỡ ngàng trong lòng của người điếu ngư. Hình ảnh ấy khiến cho ta liên tưởng đến cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm ung dung ngồi uống rượu dưới gốc cây:“Rượu đến cội cây ta sẽ uống/Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Thực ra, câu cá chỉ là cái cớ để Nguyễn Khuyến miêu tả bức tranh thu, qua đó nhà thơ bộc lộ tâm hồn và tâm trạng của mình. Hình ảnh người đi câu cá có thể khiến ta liên tưởng tới con người thi sĩ, nho sĩ trước tình hình đất nước lúc bấy giờ. Theo kinh nghiệm của dân gian nước trong thì không có cá nhưng tiếng cá đớp động chân bèo đã tiếp thêm động lực cho người điếu ngư không nản chí mà tiếp tục công việc của mình. Cũng giống như vậy chính trị nước ta bấy giờ rối ren, thực dân Pháp xâm lược, triều đình nhà Nguyễn chống cự yếu ớt mà nhanh chóng thỏa hiệp để hồn nước rơi vào tay giặc. Nhà thơ vì muốn bảo toàn khí tiết nên lựa chọn con đường về ở ẩn noi gương tiền nhân Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm hay cụ Đào Tiềm_Đào Uyên Minh bên Trung Quốc một đời quyết giữ để mình thanh sạch. Tuy nhiên, âm thanh cá đớp động như đánh thức nhà Nho, nhà trí sĩ yêu nước như thức tỉnh thôi thúc ông đứng lên đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc. Nhưng âm thanh ấy thật mơ hồ cũng như trăn trở trong lòng nhà thơ liệu rằng mình có thể góp sức giúp đời hay là bất hợp tác với giặc lánh mình ẩn cư.

Như vậy Nguyễn Khuyến không chỉ bộc lộ những tình cảm yêu mến thiên nhiên, quê hương đất nước mà còn kín đáo bày tỏ nỗi buồn trong sáng nhưng cô đơn của một ẩn sĩ, tuy nặng lòng yêu nước nhưng cam phận đành bất lực trước thời thế lựa chọn con đường lánh đục về trong.

Nguyễn Khuyến là một trong những đại diện lớn nhất và cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam ở giai đoạn cuối thế kỉ XIX. Thơ ông là sự kết hợp tài tình giữa tinh hoa văn học bác học với văn học dân gian. “Thu điếu” là một trong những bài thơ hay và đặc sắc với sự thành công của bút pháp nghệ thuật lấy động tả tĩnh, chấm phá điểm nhãn, sử dụng các từ láy có tính gợi hình, gợi cảm cao đặc biệt là cách gieo vần “eo” thật tài tình. Bài thơ được làm theo đúng niêm, đúng luật của thể thơ vừa mang tính quy phạm của thơ ca trung đại cũng thực hiện giải quy phạm với những sáng tạo mới không còn sử dụng những hình ảnh ước lệ, tượng trưng mà thay vào đó là sự mộc mạc, chất phác của đời sống nông thôn.

“Thu điếu” cùng với hai bài thơ trong chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến đã góp phần làm nên sự phong phú và đặc sắc cho đề tài viết về mùa thu của nền văn học dân tộc với nét đặc trưng là sự tĩnh lặng, thanh bình với những hình ảnh bình dị của làng quê.

Cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, tưởng chừng như cùng với sự kết thúc của chế độ xã hội phong kiến suy tàn lạc hậu, nền văn học Việt Nam trung đại sẽ rơi vào ngõ cụt của sự bế tắc với một phương thức phản ánh đã lỗi thời. Nhưng thật kì lạ là trong sự suy thoái tưởng chừng đã đến đỉnh điểm ấy lại xuất hiện một tài năng thơ ca vào loại xuất chúng như Nguyễn Khuyến. Ông giống như một dấu chấm cảm thán khẳng định tính cổ điển có sức lay động lòng người của văn học trung đại vào giai đoạn cuối cùng của thời kì văn học dài hàng chục thế kỉ này. Ông để lại cho quê hương, cho đất nước một di sản văn chương phong phú, đồ sộ. Nhưng nói đến nhà thơ Nguyễn Khuyến, người đọc mệnh danh ông là nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam, vì ông đã viết nhiều bài thơ hay về cảnh làng quê. Đặc biệt là chùm thơ thu của ông, trong đó có bài thơ Thu điếu:Ao thu lạnh lẽo nước trong veoMột chiếc thuyền câu bé tẻo teoSóng biếc theo làn hơi gợn tíLá vàng trước gió sẽ đưa vèoTầng mây lơ lửng trời xanh ngắtNgõ trúc quanh co khách vắng teoTựa gối ôm cần, lâu chẳng đượcCá đâu đớp động dưới chân bèo.

Chùm thơ ba bài Thu vịnh, Thu ẩm và Thu điếu. Bài nào cũng hay, cũng đẹp cho thấy một tình quê dạt dào. Riêng Thu điếu, mà nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam, là bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc: Cảnh mùa thu quê hương, tình yêu thiên nhiên, yêu mùa thu đẹp gắn liền với tình yêu quê hương tha thiết.Bài thơ được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, ngôn ngữ tinh tế, hình tượng là biểu cảm. Cảnh thu, trời thu của làng quê Vỉệt Nam như hiện lên trong dáng vẻ và màu sắc tuyệt vời dưới ngòi bút thần tình của Nguyễn Khuyến.

Hai câu đầu:Ao thu lạnh lẽo nước trong veoMột chiếc thuyền câu bé tẻo teoNhà thơ hầu như không hứng thú gì với chuyện câu cá mà đắm say với không khí cảnh sắc mùa thu, ngay câu đầu nhà thơ đã gọi cái ao của mình là ao thu, và với tính chất lạnh lẽo nước trong veo thì đó đúng là ao thu chứ không phải là môi trường thích hợp cho việc câu cá, bên cạnh đó cảm hứng của nhà thơ hoàn toàn đắm chìm trong cảnh sắc mùa thu, một cảnh trong và tĩnh gần như tuyệt đối, nước trong veo, trời xanh ngắt, khách vắng teo, giác quan của nhà thơ cực kì tinh nhậy và phải hết sức chăm chú thì mới nhận ra được những biểu hiện nhỏ nhặt tinh vi chỉ làm tôn thêm cho cái trong và tĩnh của một khung cảnh đầy màu sắc:Sóng biếc theo làn hơi gợn tíLá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

Màu biếc của sóng hòa hợp với sắc vàng của lá vẽ nên bức tranh quê đơn sơ mà lộng lẫy. Nghệ thuật trong phần thực rất điêu luyện, lá vàng với sóng biếc, tốc độ vèo của lá bay tương ứng với mức độ tí của gợn sóng. Nhà thơ Tản Đà đã hết lời ca ngợi chữ vèo trong thơ Nguyễn Khuyến. Ông đã nói một đời thơ của mình may ra mới có được câu thơ vừa ý trong bài Cảm thu, tiễn thu:“Vèo trông lá rụng đầy sân”

Đến câu luận:Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắtNgõ trúc quanh co khách vắng teo.

Không gian được mở rộng, bức tranh thu có thêm chiều cao của bầu trời xanh ngắt với những từng mây lơ lửng trôi theo chiều gió nhẹ. Trong chùm thơ thu, Nguyễn Khuyến nhận diện sắc trời thu là xanh ngắt. Ở Thu vịnh là Trời thu xanh ngắt mấy từng cao, Thu ẩm là Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt, và Thu điếu là Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt.

Xanh ngắt là xanh mà có chiều sâu. Trời thu không mây (xám) mà xanh ngắt, thăm thẳm. Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian, cái nhìn vời vợi của nhà thơ, của ông lão đang câu cá. Thế rồi ông lơ đãng đưa mắt nhìn về bốn phía làng quê. Xóm thôn vắng lặng, tĩnh mịch, con đường quanh co, heo hút, không một bóng người qua lại.

Ngõ trúc quanh co khách vắng teoCảnh vật êm đềm, thoáng một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt. Người câu cá như đang chìm trong giấc mộng thu. Tất cả cảnh vật, từ mặt nước Ao thu lạnh lẽo đến chiếc thuyền câu bé tí teo, từ sóng biếc đến lá vàng, từ tầng mây lơ lửng đến ngõ trúc… đều hiện lên với đường nét, màu sắc, âm thanh thoáng chút bâng khuâng, man mác, rất gần gũi, thân thiết với mọi người Việt Nam.

Cái âm thanh cá đớp động gợi lên sự mơ hồ xa vắng, đánh thức tỉnh.Bài thơ Câu cá mùa thu là một bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc của Nguyễn Khuyến. Cảnh sắc mùa thu quê hương được miêu tả bằng những gam màu đậm nhạt, nét vẽ xa gần tinh tế gợi cảm. Âm thanh của tiếng lá rơi đưa vèo trong làn gió thu tiếng cá đớp động chân bèo – đó là tiếng thu dân dã, thân thuộc của đồng quê đã khơi gợi trong lòng chúng ta bao hoài niệm đẹp về quê hương đất nước.

Thơ là sự cách điệu tâm hồn, Nguyễn Khuyến yêu thiên nhiên mùa thu, yêu cảnh sắc đồng quê với tất cả tình đồng quê nồng hậu. Ông là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Đọc Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh, chúng ta thêm yêu quê hương, thêm yêu xóm thôn đồng nội, đất nước. Với Nguyễn Khuyến, tả mùa thu, yêu mùa thu đẹp cũng là yêu quê hương đất nước. Nguyễn Khuyến là nhà thơ kiệt xuất đã chiếm một địa vị vẻ vang trong nền thơ ca cổ điển Việt Nam.

“Thu điếu” cho thấy cái thần thái riêng của mùa thu ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ mà Nguyễn Khuyến đã thực sự nắm bắt và thể hiện được một cách tài tình, nên thơ.

Một không gian êm đềm, tĩnh lặng. Ao thu “lạnh lẽo” bởi khí thu bao trùm. Nước ao thu “trong veo” có thể nhìn thấy tận đáy ao. Chiếc thuyền câu, thuyền nan “bé tẻo teo”. Vùng đồng chiêm trũng Yên Đổ thuộc huyện Bình Lục, Hà Nam, quê hương cụ Tam nguyên, hầu như nhà nào cũng có một cái ao nhỏ trong vườn; ao nhỏ nên chiếc thuyền câu cũng “bé tẻo teo”.

Gió thu lành lạnh, nhè nhẹ thổi nên làn sóng biếc trên mặt ao thu chỉ xao động lăn tăn “hơi gợn tí”. Và chiếc lá thu, lá vàng “khẽ đưa vèo”. Cảnh vật từ sóng biếc đến lá vàng “khẽ đưa vèo” vừa đẹp thơ mộng, vừa êm đềm tĩnh lặng. Tác giả tả ít mà gợi nhiều, chỉ chấm phá, lấy động tả tĩnh làm nổi bật cái thần thái mùa thu trên vùng đồng bằng sông Hồng.

Không gian nghệ thuật được mở rộng về các chiều cao, chiều xa, chiều dài và chiều rộng. Bầu trời thu “xanh ngắt”, tầng mây nhẹ trôi “lơ lửng” như khách thơ lang thang du nhàn. Ai cũng cảm thấy bầu trời thu thoáng đãng, bao la, mênh mông, mỏng như dải lụa xinh xắn.Nhìn về bốn phía làng quê, chỉ thấy “ngõ trúc quanh co”. Không một bóng người qua lại, “khách vắng teo”. Lấy cảnh để ngụ tình, nhà thơ tinh tế thể hiện tâm hồn cô đơn của mình.Cảnh vật trong “Thu điếu” được chấm phá bằng đường nét tài hoa: bé tẻo teo, hơi gợn tí, khẽ đưa vèo, lơ lửng, quanh co; được điểm nhãn bằng màu sắc: nước trong veo, sóng biếc, lá vàng, trời xanh ngắt. Đó là sắc thu quê hương nhà thơ, sắc thu của vùng nông thôn Bắc Bộ. Cảnh vật êm đềm, thơ mộng, mơ hồ, xa xăm. Nét thu nào cũng đẹp, thân thuộc, đáng yêu. Nguyễn Khuyến đã trang trải tâm hồn trên từng cảnh thu, nét thu, biểu lộ một tình thu, tình quê nồng hậu, đằm thắm, thiết tha.

“Cá đâu đớp động dưới chân bèo” là một nét vẽ lấy động để tả tĩnh, lấy ngoại cảnh để phô diễn tâm hồn nhà thơ, đồng thời làm nổi bật bức tranh tâm cảnh mùa thu câu cá.Qua “Thu điếu”, ta cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của Tam nguyên Yên Đổ: yêu mùa thu đẹp gắn liền với tình yêu quê hương, một phong thái thanh cao, nhàn tản và thanh bạch.

Tác Giả Bài Thơ “Mộ Gió…” Bị Phản Đối Vì Gọi Là Nhà Thơ

* Hý HoáyDư âm về Liên hoan thơ châu Á – Thái Bình Dương lần thứ nhất tổ chức tại TP Di sản Hạ Long còn chưa dứt thì những người yêu thơ ở tỉnh chúng tôi lại tiếp vui mừng về nhà thơ Trịnh Công Lộc (công tác tại Ban Quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh) đạt giải nhì về thơ (bài thơ Mộ gió…), đồng giải nhì về ca khúc Khúc tráng ca biển (nhạc Vũ Thiết; phần lời: bài thơ Mộ gió…) cuộc thi thơ, nhạc Đây biển Việt Nam (do Báo điện tử Vietnamnet, Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhạc sĩ Việt Nam đồng tổ chức).Bài thơ Mộ gió… của nhà thơ Trịnh Công Lộc như sau:

MỘ GIÓ…

Dâng hương những chiến binh gữi biển, đảo không về !Mộ gió đây, đất thành xương cốtcứ gọi lên là rõ hình hàimộ gió đây cát vun thành da thịtmịn màng đi dìu dặt bên trời…Mộ gió đây những phút giây biển lặnggió là tay ôm ấp bến bờ xachạm vào gió như chạm vào da thịtchạm vào nhói buốt Hoàng Sa…Mộ gió đấy giăng từng hàng, từng lớpvẫn hùng binh giữa biển- đảo xa khơilà mộ gió gió thổi hoài, thổi mãithổi bùng lên những ngọn sóng ngang trời

Tác giả sáng tác bài thơ này ngày 22/8/2011. Mộ gió: mộ tượng trưng theo nghi lễ chiêu hồn những chiến binh thời Nguyễn đi bảo vệ chủ quyền biển, đảo, không trở về. Báo tỉnh số ra ngày 26-2-1012 có bài phỏng vấn nhà thơ Trịnh Công Lộc, nhân nhà thơ nhận giải thưởng nói trên.Các bạn văn, cùng đồng nghiệp đều chúc mừng Trịnh Công Lộc có được bài thơ hay. Nhưng thật bất ngờ, một Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ở tỉnh chúng tôi (Nhà văn mới được kết nạp vào HNV VN) đã gọi điện đến biên tập viên bản Báo phản đối việc gọi Trịnh Công Lộc là nhà thơ! Hội viên này cho rằng, “phải là Hội Nhà văn Việt Nam phong tước hiệu thì mới được gọi là nhà thơ hoặc nhà văn”!Không rõ Hội Nhà văn Việt Nam quán triệt Điều lệ của Hội cho hội viên mới của mình thế nào, ai lại như vị hội viên kia, có quan điểm đặc quyền, đặc lợi danh hiệu nhà thơ, một danh hiệu chỉ thuộc về sự thừa nhận của công chúng. Hay là HNV VN có quy định như thế để phân biệt đẳng cấp của hội viên với với những người cầm bút viết văn làm thơ trong thiên hạ!? http://hoaigianghl.vnweblogs.com/print/5861/352544

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Tích 5 Câu Thơ Cuối Bài Thơ Bài Ca Nhà Tranh Bị Gió Thu Phá trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!