Xu Hướng 2/2023 # Phân Định Giữa Truyện Truyền Kì Với Truyện Cổ Tích Thế Tục # Top 6 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Phân Định Giữa Truyện Truyền Kì Với Truyện Cổ Tích Thế Tục # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Phân Định Giữa Truyện Truyền Kì Với Truyện Cổ Tích Thế Tục được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Truyện truyền kì là một loại hình tự sự bằng văn xuôi, thuộc văn học viết. Theo Thi pháp văn học trung đại Việt Nam (Trần Đình Sử, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 293), thì truyện truyền kì Trung Quốc thường có bố cục gồm ba phần: a) Mở đầu: giới thiệu nhân vật (tên họ, quê quán, tính tình phẩm hạnh); b) Kể chuyện: kể các chuyện kì ngộ, lạ lùng; c) Kết thúc: nêu lí do kể chuyện. Các tác giả Việt Nam theo truyền thống truyền kì Trung Quốc, nhưng lại có một quá trình hình thành và phát triển gắn liền với nền văn hóa và văn học dân tộc, đặc biệt là với văn học dân gian và văn xuôi lịch sử.

Về một số đặc điểm khác của truyện truyền kì, tài liệu vừa nêu (tr. 295- 296), viết (lược ghi):

– Truyện có cốt truyện hoàn chỉnh như những tác phẩm nghệ thuật, có thắt nút, phát triển và mở nút.

– Truyện có thể kết thúc có hậu hay không.

– Truyện chú trọng vào việc hơn là chú trọng vào người, lấy việc mà biểu hiện người, răn người.

Truyện cổ tích thế tục(1) là một trong ba tiểu thể loại của truyện cổ tích (truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích thế tục, và truyện cổ tích loài vật). Truyện cổ tích thế tục được phân biệt với hai tiểu loại kia:

– So với tiểu loại truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích thế tục không có yếu tố thần kì(2), truyện phát triển chủ yếu theo logic thực tại, gồm hoàn cảnh, tính cách của nhân vật.

– So với tiểu loại truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thế tục không có nhân vật chính là các con vật nhằm phản ánh sinh hoạt, đặc điểm của chúng, cả việc giải thích nguồn gốc các hình dạng bề ngoài mà chúng hiện có.

2. Phân định giữa truyện truyền kì với truyện cổ tích thế tục

2.1. Xét 262 mẩu truyện truyền kì được chọn vào Truyện truyền kì Việt Nam (Nguyễn Huệ Chi (Chủ biên), Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2009, 3 quyển – viết tắt: [TTK])(3), có thể thấy khái niệm “truyện truyền kì” không chỉ giới hạn vào thời trung đại, mà còn mở rộng đến các tác giả thời hiện đại: Nhất Linh, Thế Lữ, Tchya, Nguyễn Tuân, Bùi Hiển,… Điều đặt ra ở đây, là có khá nhiều mẩu truyện được chép ở tài liệu này, đồng thời, cũng được nhiều bộ sưu tập truyện cổ tích ghi nhận, một số chúng là truyện cổ tích thần kì, số khác là truyện cổ tích thế tục.

TT

Tên truyện

Tài liệu gốc của [TTK/II]

Số thứ tự và số trang ở [TTK/II]

Tài liệu sưu tập truyện cổ tích (hay truyện cổ dân gian) có chép truyện này

1

“Ác báo”; “Tiếc gà chôn mẹ”; “Sự tích thằng trời trồng”

Công dư tiệp kí (Vũ Phương Đề)

57/ tr. 46-47

a) Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2000, tr. 398-399); b) Nghìn năm bia miệng, tập I (Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1992, tr. 65-67)

2

“Sống lại”; “Anh chàng họ Đào”

Lan Trì kiến văn lục (Vũ Trinh)

81/ tr. 108- 109

Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (sđd., tr. 1336-1339)

3

“Chứa ác tự hại”; “Bò béo, bò gầy”; “Làng cướp”

Sơn cư tạp thuật (Khuyết danh)

115/ tr. 182- 183

a) Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (sđd., tr. 302- 305); b) Truyện cổ Hoa Lư (Phạm Vĩnh, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1993, tr. 63-70).

4

“Tiết phụ hai chồng”

Vân nang tiểu sử (Phạm Đình Dục)

158/ tr. 495- 497

Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (sđd., tr. 424-426)

2.2. Vấn đề đặt ra là giữa truyện truyền kì và truyện cổ tích nói chung, cổ tích thế tục nói riêng, có quan hệ ra sao, mà lại có nhiều truyện nằm ở phần giao(4) của hai loại như thế? Câu trả lời, là do có khá nhiều truyện truyền kì xuất phát từ truyện kể dân gian, trước khi được các nhà văn nâng lên thành văn chương bác học, và sự thiếu nhất quán về khái niệm “truyện truyền kì” ở các bộ sách được cho là có tập hợp loại truyện này, của người đời sau.

2.2.1. Với ý thứ nhất, giả sử có một truyện A lưu truyền trong dân gian, thì các sự việc, tình tiết của nó thường phiếm chỉ. Tức tên tuổi, quê quán của nhân vật, nếu có, hay bị lược đi. Bởi có thế thì nó mới dễ dàng được kể một cách rộng khắp ở nhiều giới, nhiều hạng người, và các địa bàn khác nhau. Trong lúc, một nhà văn muốn sử dụng A để chế tác thành truyện truyền kì, thì lại theo hướng ngược lại: nhà văn này sẽ cá thể hóa, cụ thể hóa các nhân vật, sự việc. Bấy giờ, họ tên, xã huyện, thời đại xuất hiện. Điều này thường được giải thích do phong cách của mỗi bên.

(1) TIẾT PHỤ HAI CHỒNG qua một công trình sưu tập truyện cổ tích.

Ngày xưa, nhà nọ có người con gái xinh xắn, nết na. Lúc nàng lớn lên, một người học trò nghèo họ Đỗ đưa trầu cau đến hỏi làm vợ. Chàng là một tay văn hay chữ tốt, tính nết rất hiền lành. Thấy thế, người cha cô gái vui lòng hứa hôn, cô gái sung sướng được người chồng tử tế. Lễ cưới vừa xong thì cha nàng nhuốm bệnh qua đời.

Cô gái về nhà chồng một niềm trinh thuận. Chồng cô là người mồ côi cha mẹ. Gia tài chỉ có một đám vườn nhỏ với mấy quyển sách, nhưng họ sống trong bầu không khí hòa nhã, yêu thương. Chồng đọc sách, vợ quay tơ, thú gia đình tưởng không ai hơn được.

Ít lâu sau, đột nhiên người chồng mắc bệnh hủi. Người vợ lo lắng tìm thầy chạy thuốc. Phải bán luôn nữ trang của mình, bán cả đám vườn đang ở để dùng vào việc chữa chạy cho chồng. Nhưng bệnh mỗi ngày một nặng, cho đến lúc hết phương điều trị. Duy chỉ có người vợ ngày ngày hầu hạ chu tất không chút quản ngại. Thấy thế, anh chàng thương vợ quá. Chàng cho phép vợ li dị để mặc mình với số phận. Nhưng người vợ nhất định không nghe, nàng nói:

– Vợ chồng là nghĩa lâu dài, còn bệnh tật của chàng chẳng qua là sự không may. Thiếp xin cùng chung số phận với chàng, không đi đâu cả.

Nhưng bệnh của người chồng ngày một đáng sợ hơn. Anh chồng luôn cố khuyên vợ trở về với mẹ đẻ, để khỏi vì mình mà khổ thân, tuy vậy vợ vẫn kiên quyết ở lại. Một hôm, để cho vợ khỏi chịu thiệt thòi, chồng cất bước lẻn đi, để lại cho vợ một phong thư, nói rằng mình sẽ không bao giờ trở về nhà nữa, và cho phép vợ tự do đi lấy chồng khác.

Sau khi chồng đi biệt, người vợ chảy không biết bao nhiêu là nước mắt. Mẹ đẻ của nàng khuyên con đi lấy chồng khác, nhưng nàng không chịu. Ba năm trôi qua, tin tức chồng vắng bặt. Nhiều người đoán rằng chàng đã quyên sinh cho khỏi đau khổ. Rồi người vợ trả nhà cửa cho họ hàng nhà chồng, trở về với mẹ đẻ, lập bàn thờ, coi như chồng đã chết. Người mẹ nàng luôn luôn bảo rằng:

– Con thủ tiết với chồng như thế là trọn đạo. Không nên bỏ phí xuân xanh một đời.

Thấy nàng xinh đẹp lại có đức hạnh, nhiều người muốn hỏi làm vợ, trong đó có người học trò họ Nguyễn. Tin qua mối lại xôn xao làm cho nàng không tự chủ được. Cuối cùng, nàng đành nhận lời đi bước nữa cùng với anh chàng họ Nguyễn. Về với chồng mới được ba năm, nàng sinh được hai người con trai. Hai vợ chồng rất tương đắc. Người học trò họ Nguyễn sau đó thi đậu tiến sĩ và được bổ làm án sát Sơn Tây.

Năm nọ ở Sơn Tây và các trấn lân cận mất mùa to, giá thóc gạo cao lên vùn vụt. Khắp mọi nơi đều có người chết. Đường sá, chợ búa đầy những đoàn người đói khổ đi kiếm miếng ăn. Quan án được lệnh đi phát gạo cho người đói.

Lại nói, chuyện anh chàng họ Đỗ từ khi trốn vợ ra đi, nhất quyết không trở về quê nữa. Chàng không muốn vì mình mà khổ đời một người đàn bà. Chàng cứ đi lang thang nay đây mai đó, sống bằng nghề bị gậy. Cứ như thế sau năm năm, bệnh của chàng vẫn như cũ, và chàng vẫn sống một cuộc đời đơn độc và đau khổ. Hôm ấy, nghe tin có cuộc phát chẩn, chàng lần mò tìm tới, nhập vào đội quân lĩnh chẩn.

Đến phiên được lĩnh, chàng kêu lên: “Tôi là học trò yếu đuối, tàn tật, không rá không mủng, không nồi không niêu, nên không muốn xin gạo, chỉ muốn xin ít tiền cho tiện…”. Nghe thế, quan án cho gọi chàng tới, hỏi mấy câu về văn chương, quả nhiên, anh chàng bề ngoài tuy rách rưới, tiều tụy, nhưng đối đáp rất trôi chảy, thơ phú, điển tích cũng phong phú. Sẵn có lòng yêu người tài giỏi, ông bèn đặc biệt lấy tiền ra cho, lại có phần hậu hơn những kẻ khác.

Khi về dinh, quan án thuật lại chuyện vừa rồi cho vợ nghe. Thấy tả hình dáng, người đàn bà ngờ rằng đó là người chồng cũ. Nàng ra chợ tìm cách đứng nấp để xem mặt, thì đúng là người chồng ngày xưa. Tự nhiên lòng thương chồng cũ nay lại bừng bừng bốc lên. Nàng phải nuốt thầm những giọt nước mắt, vì mình đang ở vào một tình thế khó xử. Suy đi nghĩ lại mãi, cuối cùng nàng dùng lời nói khéo cố khuyên người chồng mới đưa “người học trò khó mà có tài” đó về dinh, cho ở một gian lều sau trại. Như thế vừa làm được một việc nghĩa, vừa có người làm bạn văn chương. Được người chồng mới ưng thuận, nàng sung sướng vô hạn. Từ đó, ngầm sai người hầu chu cấp, chăm nom tử tế. Có điều, nàng không bao giờ để lộ một hành động gì cho chồng biết, và cũng không bao giờ cho người chồng cũ thấy mặt.

Người chồng cũ, hôm nọ đau bụng đi tả, vào giữa đêm khuya bị khát quá, bèn lần ra một cái chum gần trại múc nước uống. Hôm sau, chàng mới biết là mình uống nhầm phải một thứ nước trong đó có một con rắn trắng chết. Nhưng thật không ngờ, một thời gian sau những mụn hủi lở chốc bay hết, và dần dần bệnh tự nhiên lành hẳn; da thịt của chàng trở lại trắng trẻo như xưa. Rồi chàng ôn luyện kinh sử. Và nhờ sự giúp đỡ tận tình của quan án, chàng lại quẩy lều chõng đi thi.

Tất cả những việc đó xảy ra làm cho người đàn bà vừa vui mừng vừa đau khổ. Nàng thấy mình không thể chịu đựng âm thầm mãi như vậy được. Khi nghe tin người chồng cũ đậu tiến sĩ, sắp sửa vinh quy, nàng viết một bức thư rất dài kể hết nỗi lòng của mình cho người chồng mới biết. Nàng xin chồng tha lỗi về sự giấu giếm của mình từ bấy lâu nay. Có hai đứa con trai, nàng xin một đứa cho làm con nuôi ông nghè mới. Đoạn nàng trốn chồng con, bỏ đi biệt.

(Nguồn: Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, sđd., tr. 424-426)

(2) TIẾT PHỤ HAI CHỒNG qua một công trình về truyện truyền kì.

Đời nhà Lí, ở xã nọ thuộc huyện Nam Chân, có một nhà sinh được người con gái, từ lúc tóc còn tết bím đã thông minh không mấy người đọ nổi, lại biết chữ nghĩa và không hay buông thả nói cười. Cha nàng lấy làm lạ, lúc sắp mất dặn lại vợ rằng:

– Con gái ta lớn lên, thế nào cũng phải gả về anh nho sinh Mỗ làng nọ.

Rồi ông quay sang nói với con:

– Con hãy nhớ lấy lời cha, đừng gá nghĩa với ai khác.

Nói xong, ông tắt nghỉ.

Về sau, chàng nho sinh Mỗ nghe tin, bèn đến xin hỏi cô gái làm vợ. Vợ chồng rất tương đắc. Nhưng chỉ được ít lâu, chàng bỗng mắc bệnh hủi, không ai dám tới gần, mọi việc đều cậy nhờ vào vợ. Vợ một niềm kính yêu săn sóc, không chút nề hà. Đám trai trẻ tinh quái trong làng gặp nàng giữa đường, thường nhại bài thơ của Bạch Cư Dị để giễu:

Lưu Cương dữ phụ cộng thăng tiên Lộng Ngọc tùy phu diệc thướng thiên Hà tự nhi gia phu phụ hảo Hà cô Lí lão hợp sàng miên.

(Lưu Cương cùng vợ lên tiên Theo chồng, Lộng Ngọc cũng lên cõi trời Ai như nhà chị tốt đôi Cô Hà lão Lí cùng ngơi một giường)(5)

Người chồng biết chuyện, thẹn mình mắc chứng bệnh lạ lùng làm lụy đến vợ, bèn cho phép vợ cải giá. Nàng khóc lóc mà nói:

– Còn lời cha trăng trối đấy thì sao? Chẳng lẽ khi lành lặn thì ở với nhau, gặp lúc ốm đau lại chia lìa, thần nào chứng cho!

Rồi nàng nhất quyết không nghe. Chồng bèn thừa cơ trốn đi. Cả nhà tìm khắp, nhưng biệt tăm chẳng còn tung tích. Dẫu thế, nàng vẫn thề không đổi tiết. Mẹ đẻ nàng rất bực, nói dỗi:

– Chồng mày bị tàn tật, mà nay cũng còn đâu nữa. Mày định làm bà vãi ư? Thì tao biết nương tựa vai ai bây giờ?

Vừa lúc ấy, có anh học trò cũng người trong quận đến xin hỏi, bà mẹ bắt ép nàng phải nhận lời. Được vài năm, nàng sinh hai con trai, rồi người chồng lại thi đỗ, trải thăng đến chức đề hình tỉnh Sơn Tây.

Gặp năm đói kém, quan đề hình phụng mệnh vua đi phát chẩn cho dân. Bấy giờ, người ăn xin tụ tập đông như quạ, cả người học trò bị bệnh hủi kia cũng có mặt ở đấy. Khi phát gạo cho anh, anh không nhận, nói:

– Tôi ốm yếu đã lâu, không nấu nướng được, và cũng không có nồi, lấy gạo làm gì?

Đề hình nghe, lấy làm lạ, gọi anh đến hỏi:

– Anh là học trò ư? Là học trò hẳn cũng biết, người xưa những ai từng phải đi ăn xin chứ?

Chàng hủi lần lượt kể tên các ông Ngũ Viên, Đào Tiềm, Vương Bá(6),…, để đáp lại, lời lẽ rất trôi chảy. Quan lại càng lấy làm lạ, cấp cho một ít tiền, và sau khi về dinh rồi, vẫn còn than thở mãi. Thấy thế, phu nhân gạn hỏi lí do, ông nói:

– Vừa rồi, tôi đi phát chẩn, có người ăn xin là học trò, lại bị bệnh hủi, tôi đặt mấy câu hỏi khó, anh ta đều ứng đối được cả. Tội nghiệp con người như thế mà sao lại mắc bệnh hiểm nghèo thế chẳng biết!

Nàng nghe, ngờ là chồng cũ của mình, bèn lựa lời bảo chồng:

– Chí thành là đức của người danh sĩ. Ông tiếc gì một chút công khó, nỡ để cho người có học phải lụy với kiếp trong trần ư?

Quan thấy thế, liền cho gọi anh học trò hủi đến. Nàng dòm trộm thì quả là chồng cũ của mình, bèn khuyên ông cho anh ở nhờ trong nhà, và chu cấp rất hậu. Từ đó, bao giờ nàng cũng bận quần lót, thắt dây lưng thật chặt, và không chịu chung chăn gối với chồng nữa, chẳng ai hiểu là vì duyên cớ gì.

Một đêm kia, chàng hủi bỗng mắc bệnh đau bụng tháo dạ, mình nóng miệng khát, phải lần mò ra sân vục xuống uống nước trong một cái ang. Thế rồi, sáng hôm sau, bệnh hủi bỗng biến đâu mất. Xem lại, thì ra trong ang có con rắn trắng chết nằm trong ấy. Quan đề hình biết lấy làm mừng lắm, khuyên anh dự kì thi hương. Khoa ấy, anh đỗ hiếu liêm(7), rồi mùa xuân năm sau, lại đỗ luôn tiến sĩ.

Tin mừng về đến dinh, phu nhân bỗng ăn mặc chỉnh tề, bước ra nhà ngoài, lạy chồng mà nói:

– Thiếp là người không giữ tiết, chẳng đáng sống nữa làm gì; may được hầu khăn lược, đã có hai con trai, nay con lớn để lại thờ chàng, xin để đứa con thứ hai cho quan nghè mới, được thế, thiếp không còn ân hận gì nữa.

Dứt lời, nàng nuốt liều thuốc độc chết ngay. Chồng rất đỗi kinh ngạc. Đến khi vị tân khoa tiến sĩ vinh quy về tới nhà, nói chuyện với nhau, mới rõ nguồn cơn, bèn đem việc ấy tâu lên triều đình. Vua bèn ban cờ biển đề mấy chữ Lưỡng phu trinh tiết, nghĩa là tiết phụ hai chồng.

Vân Sử thị bàn rằng: Đã lấy hai chồng sao lại được gọi là trinh tiết? Vì có lấy hai chồng mới rõ tiết tháo của nàng. Nếu lấy anh chồng hủi mà trọn đời hài hòa cầm sắt thì cũng chỉ là cặp vợ chồng tốt mà thôi, chứ sao rõ ra được là người trinh tiết? Ta thấy người đời được lụa quên sồi, có mới nới cũ, có người lại còn ôm tả ấp hữu, ngủ đông ăn tây, đĩ già hoàn lương mà chồng còn cho là trinh. Đời mạt, ít có người hoàn toàn, thì gọi là “tiết phụ hai chồng” cũng được.

(Nguồn: Phạm Đình Dục, Vân nang tiểu sử, Nguyễn Đức Vân dịch – dẫn lại, theo: [TTK/II, 495-497])

So sánh hai văn bản vừa dẫn, ngoài những sự khác biệt như đã nêu, còn nhận ra:

– Nếu truyện cổ tích nhằm hướng tới những người bình thường (ngày trước, đa số là không biết chữ), thì truyện truyền kì nhằm vào lớp người có học và giới quan lại. Có thể thấy điều này, khi ở truyện truyền kì, tên các học vị, chức vụ chuẩn xác, câu hỏi của quan đề hình và lời đáp của anh học trò bị hủi khá bài bản, đặc biệt là bài thơ giễu đầy ắp các nhân vật trong sách vở Trung Hoa xưa, là những điều khó gặp ở truyện cổ tích – chưa nói đến chất giọng, quan niệm của người kể chuyện, một mực hướng về, hay bảo vệ tầng lớp nho sĩ.

Ở bài “Thể loại giai thoại” (in trong: Văn học dân gian người Việt – Góc nhìn thể loại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006, tr. 423), Kiều Thu Hoạch viết: “Riêng trong các sách Hán Nôm, thì những mẩu chuyện mang nội dung giai thoại được ghi chép khá phong phú, rải rác từ thời Lê đến thời Nguyễn. Trong đó, sách Công dư tiệp kí chẳng hạn, ghi chép khá nhiều giai thoại xung quanh các nho sĩ”.

Điều này cho thấy, đã có sự thiếu nhất quán về quan niệm truyện truyền kì chẳng những ở các bộ sách được cho là có tập hợp loại truyện này, mà còn ở sự nhìn nhận về nó của các nhà nghiên cứu hiện nay. Sự thiếu nhất quán này đã khiến một số truyện được [TTK] chọn tuyển, là truyện cổ tích (như đã dẫn), giai thoại (như “Giữa đồng ép cuộc mây mưa” [TTK/II, 524-526](8)),…

3. Kết luận

Điều quan trọng là tránh đồng nhất hay coi giữa chúng có “đường biên”, bởi với hai thực thể riêng biệt thuộc hai lĩnh vực khác loại, đó là điều không thể. Nói cách khác, cái gọi là phần giao đã nói chỉ là một sự tương ứng về sự việc được đề cập hay phản ánh (chứ không phải cùng đường biên mà có).

T.N   (TCSH330/08-2016)

——————– 1. Khái niệm “Truyện cổ tích thế tục” ở đây, tương ứng với “truyện cổ tích sinh hoạt”, “truyện cổ tích  sinh hoạt xã hội”, “truyện cổ tích thế sự”,… Đồng thời, nó là một dạng viết tắt của “Truyện cổ tích  thế tục Việt Nam”, bao gồm truyện cổ tích thế tục của người Kinh, và truyện cổ tích thế tục của  người thiểu số.

2. Yếu tố thần kì gồm ba dạng cơ bản và một dạng kết hợp, như sau:

– Dạng 1:Các đối tượng siêu nhiên và chỗ trú ngụ của họ: Bụt, thần tiên, ma quỷ,…; thiên đình,  thủy cung, địa phủ,… – Dạng 2:Các con vật, cây cối có tài phép: trăn tinh; đại bàng; con vật biết nói năng, hành động  như người; cây chặt không đứt;…   – Dạng 3:Các đồ vật có phép lạ: cây đàn thần; búa thần; gậy thần;… – Dạng 4:Sự kết hợp: a) Kết hợp giữa ba dạng 1, 2 và 3 với nhau: thần tiên biến thành con vật,  cây cối và ngược lại; đồ vật biến thành con vật, cây cối và ngược lại;… b) Kết hợp giữa con người  với ba dạng 1, 2 và 3: người được sinh đẻ và trưởng thành bất thường; người có tài phép như thần  tiên, ma quỷ; người lấy thần tiên, ma quỷ; người mang lốt con vật, cây quả; người hóa thành con  vật, cây cối, đồ vật;…   Đã là truyện cổ tích thần kì thì phải có yếu tố thần kì, còn truyện cổ tích thế tục thì không có yếu  tố ấy.

3. Tài liệu này chọn truyện từ 21 tập truyện chữ Hán (như: Công dư tiếp kí – Vũ Phương Đề; Lan Trì  kiến văn lục – Vũ Trinh; Vân nang tiểu sử -Phạm Đình Dục;…); 11 tập truyện quốc ngữ (như: Trại  Bồ Tùng Linh -Thế Lữ; Báo oán – Nguyễn Tuân; Nằm vạ – Bùi Hiển;…).  

4. Giao là một khái niệm được dùng khi tìm hiểu về tập hợp (giao của A và B là một tập hợp, gồm  những phần tử thuộc cả A và B); ở đây, được mượn dùng.

5. Theo nguyên chú, bài thơ của Bạch Cư Dị (772-846) chỉ khác hai câu sau: “Hà dĩ Sa Kha lĩnh Thôi  tẩu/ Bích du chàng dẫn hướng Tần Xuyên” (Sao lại như Sa Kha đưa chị họ Thôi đi/ Cờ biếc dẫn  tới đất Tần Xuyên). Các tên Lưu Cương, Lộng Ngọc, Hà cô, Lí lão trong bài thơ phóng tác, đều là  nhân vật thần tiên.  

6. Ngũ Viên (?-484 tr. CN), người đời Xuân Thu; Đào Tiềm (khoảng 365-427), người đời Tấn; Vương  Bá, người đời Đường. Cả ba đều là người hiền tài gặp vận đen, phải tạm ăn nhờ người khác.  

7. Hiếu liêm: chỉ học vị cử nhân (đời Minh và đời Thanh, Trung Quốc, gọi người đỗ cử nhân là  hiếu liêm).

8. Kể việc Nguyễn Công Trứ thuở chưa gặp thời, rất thích một nàng ca kĩ. Ông quảy gánh đi theo  phục vụ việc ca hát của nàng ấy ở khắp nơi. Một hôm, khi nàng ca kĩ cùng ông và một chú bé mang  đàn theo hầu đi ngang qua một cách đồng vắng vẻ, ông vờ bảo quên mang theo dây đàn, khiến chú  bé phải chạy về lấy. Bấy giờ, ông ép nàng vào cuộc mây mưa. Nàng không chống cự nổi đành phải  để mặc ông làm gì thì làm. Lúc ông hành sự, nàng có rên mấy tiếng “ứ hự”, vẻ nửa miễn cưỡng,  nửa bằng lòng. Sau đó, ông tìm đường lỉnh đi. Về sau, Nguyễn Công Trứ đỗ đạt, ra làm quan. Một  lần, nhân ngày sinh nhật của mình, ông triệu các con hát nổi tiếng ở nhiều nơi đến giúp vui. Nàng  ca kĩ ngày xưa cũng đến dự. Nàng nhận ra ông quan chính là anh đầy tớ ngày nào, bèn hát rằng:   “Giang sơn một gánh giữa đồng/ Thuyền quyên ứ hự, anh hùng nhớ không?”. Nghe nhắc lại chuyện  xưa, ông nhớ ra, bèn bỏ ra nghìn vàng, cưới nàng làm vợ lẽ. Truyện này được chép ở nhiều tài liệu sưu tập giai thoại, như: a) Trương Chính, Thơ văn Nguyễn Công  Trứ, Nxb. Văn học, 1983, tr. 163 (mục giai thoại); b) Hoàng Ngọc Phách, Kiều Thu Hoạch, Giai thoại  văn học Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2000, tr. 190-192; c) Ninh Viết Giao, Văn hóa dân gian xứ  Nghệ – Tập 3: Truyện cười và giai thoại, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2012, tr. 537-538;…   

Thế Giới Truyện Cổ Tích Kì Lạ Của Tôi

Một cái mười một hai tuổi tiểu loli, dám truy con thỏ tinh, nhận thức cái đại nam nhân còn không đến nửa ngày, thế nhưng khiến cho hôn nàng, Âu Châu tiểu loli thật sự là có đủ gan lớn cùng dũng cảm, dương nghị thực kinh ngạc, quay đầu ngượng ngập nói: “Chúng ta vừa mới nhận thức, này như thế nào không biết xấu hổ!”

Xoay đầu mới phát hiện hắn tự mình đa tình, tiểu loli chỉ vào ba điều chân trên bàn một cái pha lê bình nhỏ, ở cái kia bình nhỏ mặt trên, đoan đoan chính chính viết hai cái chữ Hán, uống ta! Thế nhưng vẫn là chữ giản thể, dương nghị nhịn không được phiên cái đại đại xem thường, thật đúng là cùng hắn nhớ rõ cốt truyện phát triển giống nhau.

Alice oai oai đầu nhìn dương nghị nói: “Cám ơn ngươi quan tâm, ta sẽ không loạn uống, ta biết có người uống lên không sạch sẽ thủy, sẽ tiêu chảy, nhà của chúng ta đối diện kiệt khắc, chính là bởi vì uống lên không sạch sẽ thủy, suốt sinh bệnh hơn phân nửa tháng, người đều gầy một vòng, ta nếu là uống lên không sạch sẽ thủy, khẳng định cũng sẽ giống hắn giống nhau, cho nên ta sẽ thực cẩn thận…… Di, bình nhỏ thủy thực sạch sẽ ai!”

Lẩm bẩm xong, giơ lên bên miệng uống một ngụm, tốc độ cực nhanh, dương nghị căn bản vô pháp ngăn cản, Alice phía trước nói một đống lớn nàng như thế nào cẩn thận nói, nghe đi lên là cái thực cẩn thận tiểu nha đầu, ai có thể nghĩ đến nói uống liền uống a, dương nghị ngốc bức nhìn hung hãn tiểu loli, Alice lại liếm liếm môi nói: “Uống ngon thật, nó hỗn có điểm anh đào hương vị, giống như còn có chút dứa, bơ linh tinh hương vị, ân ân, thật sự khá tốt uống, ngươi muốn hay không cũng uống thượng một ngụm……”

Lảm nhảm Alice vẫn như cũ là vô nghĩa hết bài này đến bài khác, dương nghị lại kinh ngạc nhìn Alice từ một thước năm tả hữu, nhanh chóng bắt đầu thu nhỏ lại, thu nhỏ lại tới rồi cái bàn phía dưới, thu nhỏ lại tới rồi mười tấc Anh tả hữu, dương nghị chỉ có nằm bò mới có thể cùng Alice nói chuyện, càng làm cho dương nghị không thể tưởng được chính là, Alice không những không có sợ hãi, ngược lại cao hứng mặt mày hớn hở, hoan hô thanh nói: “Ta trở nên như vậy tiểu, liền có thể đi vào những cái đó môn đi.”

Vui sướng chạy hướng kia mấy phiến đóng lại gắt gao cửa nhỏ, dương nghị trợn mắt há hốc mồm, đứa nhỏ này thiếu tâm nhãn đi? Ngay sau đó hắn liền đem ánh mắt nhìn về phía ba điều chân trên bàn, trên bàn phóng một phen kim sắc chìa khóa, một cái pha lê bình nhỏ, bên trong có chất lỏng trong suốt, hiển nhiên Alice chính là uống lên cái chai nước thuốc thu nhỏ.

Quả nhiên có có thể thu nhỏ nước thuốc, đây chính là cái thứ tốt, dương nghị không chút khách khí cất vào trong túi, ngay sau đó cầm lấy chìa khóa đi xem Alice, lại phát hiện Alice khóc lóc chạy trở về, đối hắn la to nói: “Ta quên lấy chìa khóa, ta còn là ra không được.” Một bên khóc kêu, một bên bắt lấy cái bàn chân hướng về phía trước bò, lại như thế nào cũng bò không được, một bò vừa ra lưu, một bò vừa ra lưu……

Dương nghị hít một hơi thật sâu, nói cho chính mình nhất định phải bình tĩnh, trước mắt tình hình đã sớm vượt qua hắn có khả năng lý giải phạm trù, liền nơi này là cái địa phương quỷ quái gì cũng không biết, muốn từ thụ động bò đi ra ngoài, thụ động nghiêng góc độ cùng chiều dài, tuyệt đối là thiên phương dạ đàm, nhưng là hắn biết Alice cuối cùng là đi ra con thỏ động, nói cách khác, ở cái này hoang đường trong thế giới, Alice mới là vai chính.

Chỉ cần đi theo Alice hỗn, cuối cùng sẽ bình bình an an, như vậy hắn liền cần thiết bất quá nhiều can thiệp Alice, tuy rằng nha đầu này có điểm nhị, dương nghị nhớ tới tốt nghiệp đại học thời điểm, chủ nhiệm lớp cho hắn nhắn lại, chiến lược: Nước chảy bèo trôi, chiến thuật: Tùy cơ ứng biến, hắn hiện tại cần phải làm là tùy cơ ứng biến.

Dương nghị là cái yên vui phái, vẫn là cái hành động phái, suy nghĩ cẩn thận liền sẽ không ở do dự, ngồi xổm xuống nhìn còn ở nỗ lực bò cái bàn chân Alice nói: “Ngươi đừng có gấp, ta cầm chìa khóa đi mở cửa.”

Làm vai phụ liền phải có đương vai phụ giác ngộ, dương nghị không thể nghi ngờ là thực thức thời một người, cầm lấy kim sắc chìa khóa đi mở cửa, khai nửa ngày, trung gian một phiến môn đột nhiên bị mở ra, dương nghị tức khắc hoan hô một tiếng, nhưng bị mở ra môn thật sự là quá nhỏ, tiểu nhân hắn chỉ có thể vươn cái đầu, dương nghị vươn đầu nhìn nhìn, không đợi có điều phát hiện, bả vai đột nhiên bị chụp một chút, dương nghị đột nhiên lùi về đầu, xoay người lại, lại phát hiện Alice có hai mét rất cao, trừng mắt đôi mắt nhìn hắn, hơn nữa còn ở tiếp tục trường cao.

Dương nghị cau mày, la lớn: “Ngươi lại ăn cái gì?”

Alice đã so Diêu minh đều cao, chỉ chỉ ngầm, dương nghị cúi đầu tìm tìm, ở cái bàn phía dưới phát hiện một hộp nho nhỏ bánh bích quy, hộp mặt trên viết hai chữ, ăn ta! Alice khẳng định là ăn bánh bích quy mới biến đại, ngọa tào, bánh bích quy còn có như vậy công hiệu đâu? Nếu là chỉnh đi ra bên ngoài, nghiên cứu bánh bích quy trung thành phần, kia đã có thể phát đại tài.

Những cái đó trường không cao người, chỉ cần ăn bánh bích quy, những cái đó đinh đinh tiểu nhân, nếu là mạt điểm bánh bích quy tra…… Tưởng không thành thổ hào đều khó a, bản chất chính là gian thương dương nghị đôi mắt ứa ra nhân dân tệ, nhìn nho nhỏ bánh bích quy hộp, dương nghị nhịn xuống muốn ăn chút khát vọng, hắn nhớ tới Alice bắt đầu khóc chuyện sau đó, Alice nước mắt thành hà, bị hướng đi rồi.

Như vậy nguy hiểm sự, vẫn là thiếu phát sinh tuyệt vời, huống chi môn đều bị mở ra, dương nghị vội vàng trước đem bánh bích quy cất vào trong túi, lại từ móc ra cái kia nho nhỏ bình thủy tinh, đối Alice nói: “Uống một chút, chỉ có thể uống một chút.”

Alice đều trường đến nóc nhà, cùng cái người khổng lồ giống nhau, nhưng thật ra nghe lời, vươn bàn tay to tiếp nhận dương nghị trong tay bình nhỏ, vừa muốn ngưỡng cổ uống, dương nghị đột nhiên hô to một tiếng: “Đừng uống, dùng liếm, một chút liếm, ôn nhu liếm.”

Alice bị dương nghị kêu có điểm lăng, trên cao nhìn xuống nhìn hắn một cái, kia mắt to so với hắn đầu đều đại…… Dương nghị vội vàng nói: “Liếm, mới có thể khống chế thân cao, ngươi không nghĩ đột nhiên trở nên cùng con kiến giống nhau tiểu đi?”

Alice gật gật đầu, bang bang! Đâm nóc nhà thẳng lắc lư, chỉnh dương nghị cũng là kinh hồn táng đảm, cũng may Alice nghe nàng lời nói, bắt đầu một chút liếm trong tay bình nhỏ khẩu, liếm một chút lùn một chút, liếm một chút lùn một chút…… Thực mau khôi phục tới rồi nguyên lai thân cao, dương nghị tinh thần rung lên, làm Alice tiếp tục liếm, ít nhất đến thu nhỏ lại đến có thể đi vào môn đi a.

Thực mau Alice liền thu nhỏ lại đến cùng môn giống nhau lớn nhỏ, dương nghị xem chuẩn thời cơ, một phen đoạt lấy Alice trong tay tiểu bình thủy tinh, hiện tại hắn cần phải làm là cùng Alice giống nhau, liếm bình khẩu nước thuốc, trở nên có thể từ môn đi ra ngoài, chính là bình khẩu bị Alice liếm tràn đầy nước miếng, cũng quá ghê tởm……

Dương nghị dùng quần áo xoa xoa bình khẩu thượng nước miếng, vừa muốn liếm, liền nghe Alice hoan hô một tiếng nói: “Ta trước đi ra ngoài nhìn xem.”

Nói xong, phong giống nhau từ môn chui đi ra ngoài, nhìn Alice biến mất bóng dáng, dương nghị âm thầm cảm thán, thật là cái phong giống nhau loli, thật không phải giống nhau nhị, đó là thật nhị, nhị kính vừa lên tới, cái gì đều không quan tâm, nhanh chân liền chạy, dương nghị thật vất vả suy nghĩ cẩn thận đương vai phụ, vai chính chạy, kia trận này diễn còn có thể hay không diễn đi xuống? Dương nghị vội vàng hô: “Từ từ ta!”

Alice đã theo cửa nhỏ chạy đi ra ngoài, dương nghị cũng bất chấp ghê tởm, vội vàng đi liếm bình nhỏ, liếm một chút tiểu một chút, liếm một chút tiểu một chút, thực mau cũng thu nhỏ lại tới rồi có thể qua môn, dương nghị không dám chậm trễ, ôm dược bình đuổi theo.

Dương nghị thu nhỏ lại sau, phát hiện một vấn đề, đó chính là bình thủy tinh vô pháp thu nhỏ lại, phía trước cầm rất nhỏ, nhưng hiện tại lại cơ hồ có hắn giống nhau độ cao, hơn nữa biến trầm, muốn ném xuống, lại có chút luyến tiếc, ai biết về sau dùng không cần thượng bình nhỏ nước thuốc? Quá đặc mẹ thần kỳ, cần phải không ném, ôm bình thủy tinh, cũng liền chạy hai bước, đệ tam bước liền chạy bất động.

Chạy quá môn là cực hạn, dương nghị đều không rảnh lo xem bốn phía là cái tình huống như thế nào, hắn đầu tiên cân nhắc chính là, giải quyết như thế nào cái này tiểu bình thủy tinh? Bình thủy tinh nước thuốc bôi trên bình thủy tinh mặt ngoài, có thể hay không thu nhỏ? Thu nhỏ sau, nước thuốc có thể hay không thu nhỏ? Cũng không kịp nghĩ nhiều, dương nghị vội vàng đem bình thủy tinh nước thuốc nghiêng đảo ra tới điểm, hắn không dám dùng tay đi sờ nước thuốc, sợ tay thu nhỏ, đem nội y xé xuống tới một khối, dính điểm cái chai nước thuốc.

Kỳ dị sự tình đã xảy ra, nước thuốc nổi lên tác dụng, bình thủy tinh thu nhỏ, lau vài cái, trở nên cùng nước hoa bình như vậy đại, có thể cất vào trong túi, dương nghị nhịn không được hoan hô một tiếng, vội vàng dùng trong tay bố đem cái chai khẩu tắc trụ, cất vào trong lòng ngực, cùng lúc đó toát ra cái ý niệm, nếu là ở bình thủy tinh rải điểm có thể biến đại bánh bích quy mạt, cái chai có thể hay không vẫn luôn biến đại?

Thật muốn là như vậy, hắn liền có sử không xong thu nhỏ lại nước thuốc, hắn thực vừa lòng chính mình chỉ số thông minh, cao hứng hạ, ngẩng đầu đi tìm Alice, lại là đột nhiên sửng sốt, môn bên này là một cái ngũ thải ban lan thế giới, nơi này đóa hoa so với hắn đầu đều đại, tiểu thảo như là cây cối, chân trời có đủ mọi màu sắc đám mây, lại nhìn không tới thái dương, toàn bộ thế giới thực sáng ngời.

Không thể hiểu được sáng ngời, Alice lại đã sớm không có bóng dáng, dương nghị ngốc bức hạ, mơ hồ trung phía trước có lượng lệ quang mang phát ra, ẩn ẩn truyền đến tiếng ca, này tiếng ca tựa như ảo mộng, phảng phất ở triệu hoán hắn, làm hắn đến chính mình bên người tới.

Có tiếng ca địa phương liền nhất định sẽ có người, nghĩ đến đây dương nghị nhịn không được trong lòng kinh hỉ, bước nhanh hướng rừng cây chỗ sâu trong đi đến, tiếng ca càng ngày càng rõ ràng, hắn nghe được ra đây là một cái nữ tử tiếng ca, một cái thoáng như tiếng trời thanh âm, hắn sống đến lớn như vậy, còn chưa bao giờ nghe được quá như vậy êm tai tiếng ca.

Gần, càng ngày càng gần, rốt cuộc tới rồi thất thải quang mang sở tại, lâm đi xa gần mới thấy rõ ràng, lúc trước nhìn đến thất thải quang mang thế nhưng là mấy chục cây thật lớn đóa hoa phát ra quang mang, thật lớn đóa hoa mỗi một đóa đều không giống nhau, phảng phất là trong suốt, lại tản mát ra xích cam lam lục thanh hồng tím bất đồng quang mang, tiếng ca chính là từ này mấy chục cây thật lớn đóa hoa quay chung quanh hạ truyền ra tới.

Sở hữu đóa hoa đều ở rất nhỏ lay động, phảng phất ở vì tiếng ca bạn nhảy. Mà theo đóa hoa nhẹ vũ từng đợt thơm mát thanh nhã mùi hoa xông vào mũi, cái này địa phương mỹ lệ thế nhưng giống như tiên cảnh giống nhau. Dương nghị không có tâm tư đi ngắm phong cảnh, mà là sốt ruột hướng phía trước mà đi, lột ra so với hắn còn cao đóa hoa muốn tìm được người, mà khi hắn chen vào hướng đi trước vừa thấy, lại ngây ra một lúc ngốc đứng ở tại chỗ.

Ở Hiền Nhất Định Sẽ Gặp Lành” Là Triết Lí Của Truyện Cổ Tích Thần Kì

Đề bài: “Ở hiền nhất định sẽ gặp lành” là triết lí của truyện cổ tích thần kì. Em nghĩ gì về cách kết thúc có hậu đó.

Trong mỗi chúng ta, ai lại không một lần được lắng nghe bà kể chuyện, những câu chuyện luôn luôn được mở đầu hết sức nhẹ nhàng và lắng sâu ngày xửa, ngày xưa… để từ ấy, biết bao điều kì ảo, thơ mộng dần dần như thể hiện trước mắt ta. Chúng ta đã tìm thấy trong lời kể của bà, những cô Tấm, những anh Khoai hiền lánh chất phác nhưng gặp nhiều bất hạnh. Tuy nhiên, các câu chuyện cổ ấy luôn thể hiện sự công bình. Vâng, đúng thế: Truyện cổ tích thần kì thể hiện người ờ hiện nhất định sẽ gặp lành.

Ở hiền nhất định sẽ gặp lành” là triết lí của truyện cổ tích thần kì

Cùng đi sâu để làm sáng tỏ nhận định ấy, chúng ta lại sẽ hiểu thêm về cách kết thúc có hậu của các truyện cổ tích.

Vậy ở hiền là gì? Có phải đó là nói về những người lao động hiền lành tốt bụng và chăm chỉ, không hề nghĩ tới việc hại người. Thế còn gặp lành đó là gặp những điều may, điều phúc, mà nhiều điều tốt đẹp ấy nhất định sẽ đến với người ở hiền. Chắc hẳn, chúng ta không quên được một cô Tấm siêng năng, chịu khó bên người người dì ghẻ cay nghiệt. Như thế, Tấm là người ở hiền, thế sao Tấm lại gặp nhiều đau khổ? Một điều tất yếu của xã hội: người ác thì lúc nào cũng ghét những người hiền. Và ở đây Tấm bị dì hành hạ hết sức tàn nhẫn, qua biết bao gian lao. Nhưng rồi cuối cùng, Tấm bị dì hành hạ hết sức tàn nhẫn, qua biết bao gian lao. Nhưng rồi cuối cùng, Tấm lại sống trong hạnh phúc, sung sướng. Đấy là một chân lí của người xưa, nó thể hiện ý thức của con người thời trước. Những người thật thà như Tấm dù qua nhiều khó khăn nhưng rồi họ sẽ gặp lành, sẽ gặp phúc lớn. Đó chính là phần thưởng mà truyện cổ tích đã tặng cho họ một cách xứng đáng!

Cũng như Tấm, anh Khoa một anh nông dân đi ở rể cho nhà giàu – người hiền lành là thế, vậy mà, anh cũng bị bất công đè nén. Nhưng rồi, chân lí vẫn là chân lí. Anh được sống trong vui sướng, hạnh phúc bên cô út – dù anh đã phải tìm kiếm qua bao khó khăn để có cây tre trăm đốt.

Có những kẻ ác? Dĩ nhiên, học cũng được thưởng đấy. Nhưng là phần thưởng trái với người ở hiền. Thật thế, trong trí tưởng tượng của người xưa, mọi hành động, suy nghĩ, việc làm đều có giá của nó, cái hâu sau cùng ấy tốt hay xấu tuỳ thuộc vào ý nghĩa, hành động của chính họ.

Và chính chúng ta đã thấy, có mặt qua hai truyện tiêu biểu trên, là hình ảnh ông Bụt chuyên làm các việc phúc lành. Ồng mang đến cho những người đau khổ niềm vui sướng, ông như cơn mưa mát lành rào rào đổ xuống trên cây xanh. Thực vậy, hình ảnh Bụt chính là hình ảnh của người cầm cán cân công lí, ông hiện lên trong lúc bị áp bức, lừa gạt như đang mất hạnh phúc và niềm tin vào cuộc đời. Ông hiện đến như khẳng định thêm lí tưởng trong niềm tin của nhân dân ở hiền thì nhất định sẽ gặp lành.

Cái kết thúc có hậu này như một dòng suối đối với người đang đi trên sa mạc. Họ, những người bất hạnh – luôn có một sự tin tưởng vững chắc vào tương lai, vào công bằng. Tuy rằng cũng có lúc họ khóc lóc một cách tuyệt vọng, nhưng những lúc ấy, nhân dân – hiện đến giải thoát họ khỏi hoạn nạn khổ sở. Điều này chính là một niềm khát khao của người xưa, họ mơ ước trong cuộc sống sẽ không có bất công, con người sẽ luôn được sống xứng đáng với những gì mà họ mang đến cho xã hội, cho mọi người. Đúng như thế, cô Tấm có bao giờ muốn làm điều gì xấu cho ai, ngay cả đứa em xấu bụng, anh Khoai sống trong lao động cực nhọc có bao giờ kêu ca phàn nàn, người em trong truyện Cây khế thật chăm chỉ, hiền lành, tốt tính. Vì họ biết việc họ làm, cố làm để mang đến cho mình sự yên lành, hạnh phúc. Niềm khao khát của người xưa cũng là sự ước mong của chúng ta ngày nay. Mong sao không có ngưởi quá khổ trong xã hội, mong sao những kẻ ác sẽ không có đất để phát huy bản tính của họ và mong sao mọi người làm việc và sống bằng chính công sức của mình. Cũng như ngôi vị hoàng hậu của Tấm, ngôi vua của Thạch Sanh, hoặc việc lấy được vợ của anh Khoai là chính công sức, phẩm chất, trí tuệ của họ. Ngày nay, nghe lại các câu chuyện ấy, chúng ta còn thương cảm sâu sắc với những nhọc nhằn mà người ở hiền đã phải gánh chịu, thì ngày xưa ông cha ta đã có một niềm thương xót mà đòi hỏi sự bình đẳng trong xã hội đến đâu? …

Chúng ta ngày nay, được lớn lên, phát triển từ niềm tin ngây thơ lành mạnh, tươi đẹp của ông cha ta từ xưa. Lẽ tất nhiên, chúng ta phải biết trân trọng những suy nghĩ không hề vụ lợi của thuở ấu thơ nhân loại và phải biết thực hiện những ước mơ ấy của người xưa, phải làm sao trên đời không còn những cô Tấm với nét đẹp của tính tình, mà phải gánh chịu đau khổ, bất công của xã hội. Làm sao chúng ta có thể chịu được một ông phú hộ giàu có sống trên sự lao động nhọc nhằn sớm tối của anh Khoai? Cho nên, đúng là truyện cổ tích thần kì thể hiện người ở hiền nhất định sẽ gặp lành và không chỉ ở người xưa mà chúng ta ngày nay cũng mong muốn và phấn đấu để có được chân lí ấy! …

Từ khóa tìm kiếm

Tuyển Tập Truyện Cổ Tích Thế Giới

21. Chú Bé Nghèo Dưới Nấm Mồ

Xưa có một chú bé chăn dê nghèo, bố mẹ đều chết cả, quan trên đưa chú cho một nhà giàu nuôi dạy. Song vợ chồng nhà này rất cay nghiệt. Của cải đã có thừa mà họ vẫn tham lam bủn xỉn. Hễ có ai ăn mất của họ một tí bánh mỳ là họ đã tức giận rồi. Chú bé phải làm cật lực mà được ăn rất ít mà thường là ăn đòn nhiều hơn.

Một hôm, chủ giao cho chú trông con gà mái và một đàn gà con. Gà mẹ đuổi con lạc qua một bụi tầm xuân. Bỗng một con diều hâu từ trên cao bổ xuống, quặp lấy gà mẹ bay đi mất. Chú bé lấy hết hơi sức gào: “Kẻ cắp! Kẻ cắp! Bắt lấy quân kẻ cắp!”. Nhưng nào có ích gì. Diều hu đâu có chịu tha mồi về trả. Chủ nghe tiếng kêu vội chạy ra. Lúc biết là mất gà, hắn ta giận điên lên đánh chú bé tới tấp, đến nỗi mấy ngày sau chú vẫn không nhúc nhích được.

Giờ chú phải trông đàn gà vắng mẹ. Khó khăn càng nhiều hơn vì lũ gà cứ bỏ chạy lung tung. Chú bèn nghĩ ra một cách, chú lấy dây buộc chằng lũ gà lại với nhau. Chú tưởng thế là diều hâu không thể bắt được một con gà nào nữa.

Nhưng chú đã lầm to, mấy hôm sau, chú vừa ngủ thiếp đi vì mệt và đói thì con chim độc ác kia lại đến, sà xuống bắt một con gà con. Vì con nọ đã buộc chằng vào con kia nên diều hâu vớ được trọn cả một đàn. Nó tha tít lên ngọn cây nuốt hết sạch. Vừa khi ấy tên nhà giàu cũng về tới nhà. Thấy tai họa xảy ra, hắn phát khùng, lại đánh chú bé một trận không tiếc tay, đến nỗi chú phải nằm liệt giường mấy ngày

Khi chú đã đi lại được, hắn bảo: “Mày đần độn quá không thể nào trông coi cái gì hết, thôi để sai vặt vậy”.

– Thiếu mất hai chùm.

Chú bé thật thà thú nhận là giữa đường đói và khát quá chú đã trót ăn mất số nho đó rồi. Viên thẩm phán viết thư cho người nông dân đòi phải nộp đủ số nho như đã viết trong thư.

Lần này chú bé lại phải đem nho với một lá thư khác đi. Và dọc đường, đói khát quá, cực chẳng đã, cũng như lần trước, chú lại ăn mất hai chùm. Song lần này, để giấu bức thư khỏi lộ, chú đã lục làn lấy thư ra, chặn dưới một hòn đá rồi ngồi đè lên trên. Thế mà viên thẩm phán vẫn cứ hỏi chú về số nho bị thiếu.

Chú kêu lên: “Trời ơi, sao mà ông biết được! Đến bức thư cũng không thể biết chuyện ấy cơ mà, vì tôi đã chặn một hòn đá lên rồi”. Viên thẩm phán phì cười về sự ngây ngô của chú. Ông ta biên thư cho tên nhà giàu khuyên hắn nên đối xử tốt hơn với chú bé nghèo, phải cho chú ăn uống đầy đủ và dạy cho chú biết phân biệt phải trái.

Con người nhẫn tâm nói: “Rồi ta sẽ dậy cho mày phân biệt. Nếu mày muốn ăn thì mày cũng phải chịu làm. Mày làm sai trái, ta sẽ dạy mày bằng roi vọt”.

Hôm sau hắn giao cho chú bé một việc khó. Chú phải băm mấy bó rơm làm thức ăn cho ngựa. Hắn đe chú: “Trong năm tiếng nữa, ta trở về, nếu mày vẫn chưa băm xong chỗ rơm này thì ta sẽ đánh cho mày một trận bò lê bò la”.

Hắn cùng vợ, đầy tớ trai, đầy tớ gái đi phiên trợ hàng năm và chỉ để lại cho chú bé có một mẩu bánh mì con

Chú bé ngồi trên đống rơm ra sức băm. Được một lúc thấy nóng, chú cởi áo ngoài ra quẳng lên đống rơm. Trong bụng chỉ lo làm không kịp, chú ra sức băm. Giữa lúc hăng hái, chú quên khuấy băm nát cả tấm áo của chú lẫn trong rơm. Đến lúc nhớ ra thì đã muộn rồi, không còn làm thế nào được nữa. Chú kêu lên: “Trời ơi, chết tôi rồi. Con người cay nghiệt kia có bao giờ dọa suông đâu! Hắn về mà thấy mình làm thế này thì hắn sẽ đánh mình chết mất. Thà tự tử trước còn hơn”.

Đã có một lần chú bé nghe thấy mụ chủ bảo: “Ở dưới gầm giường có niêu thuốc độc”. Sự thật mụ ta chỉ nói để dọa những kẻ tham ăn vì niêu đó đựng mật ong. Chú mới bò vào gầm giường lôi cái niêu ra đánh hết nhẵn.

Chú tự bảo: “Không hiểu sao người ta vẫn bảo cái chết là cay đắng mà mình ăn lại chỉ thấy ngọt. Trách nào mụ chủ cứ muốn được chết”.

Chú ngồi lên cái ghế, bình tĩnh đợi chết. Nhưng chú không thấy mình lả đi, trái lại nhờ món ăn rất bổ kia, chú lại cảm thấy mình khỏe ra. Chú tự bảo: “Chắc không phải là thuốc độc. Song mình còn nhớ có lần lão chủ bảo: Trong hòm quần áo có chai thuốc diệt ruồi. Nhất định nó là thuốc độc thật và phải uống thứ thuốc đó mới chết được”. Song đó cũng không phải là thuốc diệt ruồi thật mà chính là rượu nho.

Chú lôi cái chai ra tu sạch. Chú bảo: “Thứ thuốc độc này cũng ngọt”.

Nhưng chỉ một lúc sau rượu bắt đầu ngấm. Chú thấy người ngây ngất lại nghĩ bụng: Chắc chết đến nơi rồi. Chú tự nhủ: “Có lẽ mình sắp chết, phải đi ngay ra nghĩa địa tìm sẵn lấy một cái huyệt mới được”. Chú bước đi lảo đảo, đến nghĩa địa nằm trong một cái huyệt mới đào. Mỗi lúc, chú thấy mình càng thêm choáng váng. Gần đó có một quán ăn, trong quán đang có đám cưới. Nghe tiếng nhạc, chú bé cứ ngỡ mình đã lên tới thiên đàng. Sau đó chú lim đi hoàn toàn.

Chú bé không bao giờ tỉnh lại nữa, hơi rượu nóng và sương đêm giá buốt làm chú chết thật. Chú mãi mãi ở lại nơi chú đã nằm xuống.

Tên nhà giàu nghe tin chú bé chết sợ lắm, hắn chỉ lo bị tòa án xét xử. Hắn lo sợ quá ngã xuống đất ngất đi. Mụ vợ khi ấy đang rang lúa mạch dưới bếp vội chạy lên tìm cách chạy chữa cho chồng. Nào ngờ ngọn lửa bốc vào lòng chảo, rồi cháy lan ra khắp nhà. Vài giờ sau chỉ còn lại một đống tro tàn. Những năm cuối cùng của đời họ, cả hai người đều bị lương tâm cắn rứt và sống rất nghèo nàn cực khổ.

Các em có thấy chú bé nghèo đáng thương không? Chú bé chịu rất nhiều khổ cực đến nỗi chú phải tìm đến cái chết nhưng tên nhà giàu phải ân hận suốt đời.

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Định Giữa Truyện Truyền Kì Với Truyện Cổ Tích Thế Tục trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!