Xu Hướng 2/2023 # Những Câu Thơ Hay Trong Truyện Kiều # Top 8 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Những Câu Thơ Hay Trong Truyện Kiều # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Những Câu Thơ Hay Trong Truyện Kiều được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Để giúp các bạn trẻ thời nay vì quá bận rộn với kinh tế thị trường, không có đủ thời gian đọc hết toàn bộ “Truyện Kiều”, tôi xin chọn 50 cặp lục bát mà tôi cho là hay nhất, để trong một quãng thời gian ngắn, bạn đọc có thể tiếp cận với những câu Kiều đặc sắc, đồng thời với các bạn đang yêu, may chăng từ những câu Kiều này, có thể “hoạt ngôn” hơn trong những trạng thái khó xử của cuộc sống.

Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Sống làm vợ khắp người ta Hại thay thác xuống làm ma không chồng.

Người đâu gặp gỡ làm chi Trăm năm biết có duyên gì hay không.

Ngổn ngang trăm mối bên lòng Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình.

Một mình lưỡng lự canh chầy Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.

Sầu đong càng lắc càng đầy Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.

Mành tương phất phất gió đàn Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình.

Gió chiều như giục cơn sầu Vi lô hiu hắt như mầu khơi trêu.

Rằng: trăm năm, kể từ đây Của tin gọi một chút này làm ghi.

Bây giờ rõ mặt đôi ta Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao.

Gìn vàng giữ ngọc cho hay Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.

Trăng thề còn đó trơ trơ Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng.

Ông tơ ghét bỏ chi nhau Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi.

Đau lòng tử biệt sinh ly Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên.

Phận sao đành vậy cũng vầy Cầm như chẳng đỗ những ngày còn xanh.

Trong tay đã sẵn đồng tiền Dù lòng đổi trắng thay đen khó gì.

Đau lòng kẻ ở người đi Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm.

Biết thân đến bước lạc loài Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.

Miếng ngon kề đến tận nơi Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham.

Đoạn trường thay lúc phân kỳ Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.

Thôi con còn nói chi con Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người.

Từ đây góc bể bên trời Nắng mưa thui thủi quê người một thân.

Vi lô san sát hơi may Một trời thu để riêng ai một người.

Dặm khuya ngất tạnh, mù khơi Thấy trăng mà thẹn những lời non sông.

Thoắt trông nhờn nhợt màu da Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao.

Thương ôi tài sắc bậc này Một dao oan nghiệt đứt dây phong trần.

Cũng liều nhắm mắt đưa chân Mà xem con tạo xoay vần đến đâu.

Đêm thu khắc lậu, canh tàn Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương.

Thân lươn bao quản lấm đầu Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.

Vui là vui gượng kẻo là Ai tri âm đó mặn mà với ai.

Đã đày vào kiếp phong trần Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi.

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên.

Thương sao cho trọn thì thương Tính sao cho vẹn mọi đường thì vâng.

Vầng trăng ai xẻ làm đôi ửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.

Long lanh đáy nước in trời Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.

Bước vào phòng cũ lầu thơ Tro than một đống, nắng mưa bốn tường.

Bốn phương mây trắng một màu Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.

Bề ngoài thơn thớt nói cười Mà trong nham hiểm giết người không dao.

Nhẹ như bấc, nặng như chì Gỡ cho ra nợ còn gì là duyên.

Phận bèo bao quản nước sa Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.

Biết thân tránh chẳng khỏi trời Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.

Đến bây giờ mới thấy đây Mà lòng đã chắc những ngày một hai.

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

Đàn bà dễ có mấy tay Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan.

Phong trần mài một lưỡi gươm Những phường giá áo túi cơm sá gì.

Chọc trời khuấy nước mặc dầu Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.

Một cung gió thảm mưa sầu Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay.

Đánh tranh chụm nóc thảo đường Một gian nước biếc mây vàng chia hai.

Thẫn thờ lúc tỉnh lúc mê Máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao.

Tưởng bây giờ là bao giờ Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao.

Bình Giảng Đoạn Thơ Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Trích Trong Truyện Kiều Của Nguyễn Du

Trong khoảng đời lưu lạc của Kiều, Nguyễn Du luôn theo sát bước chân của nàng để cùng thông cảm, chia sẻ với nàng. Ngay từ đoạn đầu đời của bước đường lưu lạc “trước lầu Ngưng Bích”, nàng phải đối diện với chính mình trong nỗi đau bi kịch. Bi kịch nội tâm của phép tả cảnh ngụ tình. Kiều ở lầu Ngưng Bích là một thành tựu đặc sắc của nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật.

Thúy Kiều thông minh, nhạy cảm, tài sắc, đang sống trong cảnh “êm đềm trướng rũ màn che”. Nhưng bất ngờ tai vạ lại ập đến với gia đình nàng. Nàng buộc phải bán mình chuộc cha, trao cả cuộc đời cho Mã Giám Sinh lưu manh, và rồi lại rơi vào chốn lầu xanh của Mụ Tú, cái lầu Ngưng Bích mà mụ dành cho Kiều ở thật ra là cái cạm bẫy để rồi đưa nàng vào cuộc đời của một cô gái lầu xanh. Tâm trạng của Kiều ở lầu Ngưng Bích là dự cảm về những đắng cay mà nàng sắp sửa phải gánh chịu.

Đoạn thơ trích là một bức tranh buồn, một nỗi buồn xót xa của thân gái dặm trường phải đối với bao nghiệt ngã ở chính mình – một nỗi buồn xa xót, thê lương, buồn từ lòng người thấm vào cảnh vật, buồn từ cảnh vật xoáy vào lòng người; một nồi buồn của con người hoàn toàn cô đơn giữa khung cảnh thiên nhiên vắng lặng.

Mở đầu đoạn thơ là khung cảnh bi kịch nội tâm Thúy Kiều:

Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân, Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung. Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia

Chỉ vài nét chấm phá của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đã gợi lên một tâm trạng cô đơn, trơ trọi của Thúy Kiều trước không gian mênh mông vắng lặng. Từ lầu cao ngước mắt xa trông, nàng chỉ thấy trong tầm mắt dáng núi mờ xa và một mảnh trăng gần. Bức tranh thiên nhiên thì đẹp, nhưng lòng người thì buồn, nên cảnh cùng đeo sầu. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Nhìn xuống mặt đất thì cảnh vật bốn về xa trông bát ngát, bên thì “cát vàng cồn nọ” nhấp nhô, lượn sóng, bên thì “bụi hồng dặm kia” thưa thớt thoáng hiện dưới ánh trăng vàng. Bức tranh thiên nhiên dù nên thơ, thoáng đãng, nhưng lại rất tĩnh – cái tình lặng gần như tuyệt đối ấy, cái mênh mông vắng lặng ấy lại càng khắc sâu thêm nỗi niềm cô đơn, buồn tủi của nàng. Để rồi nỗi cô đơn ấy lại càng đấy lên đến mức tuyệt đối:

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng.

Hình ánh “mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn, khép kín. Thời gian và không gian hãm con người nơi đất lạ, miền xa. Nàng chỉ còn biết làm bạn với “mây sớm đèn khuya” để mà tự thổn thức, tự hoài niệm. Thật oái oăm cho cảnh, “Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”. Một nửa là tâm sự của Thúy Kiều và nửa kia là cảnh vật trước lầu Ngưng Bích. Hai nỗi ấy đan xen vào nhau, làm choáng ngợp lòng Kiều, khiến Kiều đau đớn bơn, tan tác hơn. Nàng đắm chìm trong nỗi buồn cô đơn, tuyệt vọng.

Trong nỗi buồn cô quạnh đó, hình ảnh người thân lại hiện về. Nàng nhớ người yêu, nhớ cha mẹ. Nỗi nhớ của nàng được Nguyễn Du miêu tá thật xúc động và sâu sắc trong lời độc thoại nội tâm.

Nàng tưởng nhớ đến Kim Trọng, nhớ về mối tình trong sáng, đẹp đẽ. Hình ảnh ánh trăng gợi nhớ lại một đêm trăng mới ngày nào họ cùng nhau thề nguyền kết tóc xe tơ, nàng thương Kim Trọng vẫn tháng ngày mong chờ, không biết nàng ở tận góc bể chân trời nào:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, Tin sương xuống những rày trông mai chờ.

Hai câu thơ là lời độc thoại, nội tâm của trái tim yêu thương. Và giờ đây, nàng càng đau đớn xót xa hơn:

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

Trong tình yêu, không biết bao giờ nàng mới thôi nhớ Kim Trọng. Chắc mải mãi là không bao giờ phai nhạt được. Lòng Kiều là một “tấm son” một tấm lòng son sắt thủy chung với Kim Trọng. Về sau, trong suốt mười lăm năm lưu lạc, hình bóng Kim Trọng lúc nào cũng khắc sâu trong tâm trí của Kiều. Câu thơ “tấm son gột rửa bao giờ cho phai” cũng có thể hiếu theo cách khác. Tấm lòng son của Kiều bị vùi dập hoen ố, biết bao giờ gột rửa được. Dù là hiểu câu thơ theo cách nào đi nữa, thì ta vẫn thấy nỗi trăn trở của Kiều là nỗi đau về mối tình tan vỡ, một nỗi đau về thân phận, về cuộc đời mà nàng đã phải chấp nhận.

Cánh ngộ của Kiều lại càng éo le hơn, khi nghi về cha mẹ:

Xót người tựa cửa hôm nay, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ? Sân Lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc từ đã vừa người ôm.

Kiêu “xót” vì hình dung cha mẹ vẫn sớm hôm tựa cửa ngóng trông tin tức của nàng. Nàng xót thương da diết và day dứt khôn nguôi về nổi không thể “quạt nồng ấp lạnh”, phụng dưỡng cha mẹ đang ngày một già nua đau yếu. Thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh”, điển cố “sân Lai”, “gốc tử” đều nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm lòng hiếu thảo của Kiều.

Nàng nhớ người yêu trước, nhớ cha mẹ sau, còn là sự thế hiện một cách tinh tế của Nguyễn Du trong việc khắc họa một cách khách quan tâm trạng của Thúy Kiều. Là người đặc biệt biêu thảo như Kiều, Nguyễn Du đã thấy và thông cảm với những đổ vở, tan nát của một mối tình mà trái tim Kiều lúc nào cũng như chảy máu vì đau thương và hối hận. Chính vì vậy mà khi viết về tâm trạng của Thúy Kiều, ông đã đặt tình trước hiếu, đảo ngược trật tự đạo lí phong kiến, để Kiều nhớ đến người yêu trước. Mặt khác, đối với cha mẹ, Kiều đã bán mình chuộc cha, ơn sinh thành đã có phần đền đáp. Còn đối với người yêu, Kiều vẫn coi mình là người có tội bạc tình. Trong tâm trạng như vậy, khi một mình một bóng, Nguyễn Du đã để Kiều trước hết nghĩ tới người yêu thì thật là một nhà thơ tâm lí bậc thầy khó lần với bất cứ ai.

Trong tâm trạng ngổn ngang những nỗi đau dằn xé của nàng, nàng ngoảnh mặt trông bốn phương trời, đâu đâu cũng thấy buồn.

Bốn cặp câu cuối đoạn là bốn bức tranh mà Kiều nhìn đến được Nguyễn Du miêu tả bằng điệp khúc “buồn trông”. Đây là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc, trong đó khung cảnh thiên nhiên luôn là khung cảnh tâm trạng, biểu đạt hoạt động nội tâm của Thúy Kiều.

Cảnh thứ nhất là cảnh chiều hôm trên cửa biển với cánh buồm thấp thoáng khi tỏ khi mờ:

Buồn trông cửa hể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cảnh buồm xa xa.

Hình ảnh cánh buồm thấp thoáng xa xa trong buổi chiều tà gợi lên ở nàng một nỗi buồn day dứt về quê nhà xa cách, về thân phận lẻ loi, cô đơn, hiu hắt đến khốn cùng!

Bức tranh thứ hai hiện ra trước mắt là hình ảnh:

Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu.

Một cánh “hoa trôi man mác” giữa dòng nước mênh mông đủ để chiếm thực tại ở nàng. Hình ảnh “hoa trôi” gợi lên nỗi buồn về thân phận lênh đênh, vô định của nàng. Nàng thực sự cảm nhận được số phận trôi nổi về sau của mình.

Càng buồn, cảnh vật càng thấm nỗi đau và gần như càng xa lạ đối với nàng:

Buồn trông nội cỏ dầu dầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Hình ảnh “nội cỏ dầu dầu” giữa “chân mây mặt đất” trong cái màu xanh xanh, mùa xa tít tắp ấy, là một nỗi bi thương vô vọng, kéo dài không biết đến tự bao giờ!

Lòng Kiều buồn, nỗi buồn tràn ngập cả bốn phương trời như bao phủ lấy nàng, ôm chặt nàng, lòng nàng cảm thấy cô đơn hơn, hãi hùng hơn. Nhưng có lẽ điều đã làm nàng khiếp sợ nhất là tiếng sóng:

Buồn trông gió cuốn mặt dềnh, Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Tiếng sóng âm vang vây chặt lấy Kiều, ầm vang trong lòng Kiều. Tiếng sóng gào thét giận dữ như báo hiệu bão tố đang rình rập như chụp xuống đời nàng.

Kiều ở lầu Ngưng Bích là bức tranh phong phú và sinh động về ngoại cảnh và tâm cảnh. Với những nét phác họa có chọn lọc về cảnh vật thiên nhiên, về ngôn ngữ độc thoại và hề thống ngôn ngữ dân tộc là chủ yếu, Nguyễn Du đã miêu tả những diễn biến tâm trạng nhân vật một cách sinh động, tạo được ấn tượng mạnh mẻ đối với người đọc.

Với một trái tim nhân đạo, giàu tính nhân văn sâu sắc, kết hợp với bút lực tài hoa, Nguyễn Du đã tạo nên một đoạn thơ nổi tiếng nhất trong Truyện Kiều.

*****

Nguồn: chúng tôi

Những Câu Truyện Cười Hay Nhất

Anh chồng đứng giữa nhà, mắt trợn ngược như Trương Phi, tay chống nạnh, miệng quát ầm ầm:

– Cô không bỏ thói bắt nạt chồng thì tôi đuổi về nhà ngoại ngay đấy, rõ chưa?

– Dạ!– Ngay từ tối nay tôi sẽ thường xuyên đi nhậu với bạn bè, khi tôi về nhà say khướt thì cũng không được cằn nhằn…

– Dạ!

– Còn phải giúp tôi cởi áo, xoa dầu và an ủi tôi rằng cần phải rèn luyện, phải uống nhiều hơn nữa cho bằng anh bằng em.

– Dạ!

– Riêng tiền lương, tôi thích đưa bao nhiêu thì đưa, không đưa cũng phải mỉm cười duyên dáng.

– Dạ!

– Nếu có cô nào gọi điện mà không có tôi ở nhà thì phải trả lời dịu dàng, và nhẹ nhàng thông báo ngay khi tôi vừa về nhà.

– Dạ!

– Còn việc nhà thì tự cô phải…

– (Tiếng gào từ ngoài sân) Anh ở nhà làm cái quái gì mà để quần áo đang phơi bay hết xuống đất thế này? Được ngày chủ nhật lại nằm ườn ra đấy phải không?

Một ông luật sư vừa mở cửa chiếc xe BMW bước xuống đường thì bổng đâu có một xe khác phóng nhanh qua và quạt mất cái cửa xe của chiếc BMW . Khi cảnh sát đến hiện trường thì thấy ông ta đang nhảy nhỏm có vẻ tức giận lắm, thấy vị cảnh sát ông ta gằn giọng phàn nàn: – Ông xem, chúng làm thiệt hại nặng nề cho cái xe BMW mới của tôi đến thế này này. Vị cảnh sát quan sát hiện trường rồi nói: – Bọn luật sư các ông chỉ coi vật chất là trên hết! Ông chỉ quan tâm đến cái xe BMW mắc dịch này mà chẳng biết rằng cái cánh tay trái của ông cũng đã bị quật rụng mất tiêu rồi! Ông luật sư kinh hoảng khi nhìn thấy cánh tay mình đã cụt mất, và kêu toáng lên: – Tôi phải tìm nó ngay. Tôi đeo cái đồng hồ Rolex ở cổ tay đó , mau mau tìm giùm tôi đi, mau lên mau lên!!!

– Quỷnh : Con biết thế nào Quỷnh này cũng có khả năng hơn cậu Quỷnh mà ! – Quỳnh : Khả năng gì vậy Quỷnh ? – Quỷnh : Dạ , đó là con đọc được chữ cậu , còn cậu không đọc được chữ con ạ ! – Quỳnh : Cái gì !?

VP : HÀ NỘI

Phân Tích Tám Câu Thơ Cuối Trong Đoanh Trích ” Kiều Ở Lầu Ngưng Bích”

Phân tích tám câu thơ cuối trong đoạn trích ” Kiều ở Lầu Ngưng Bích” của Nguyễn Du

Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc là danh nhân văn hóa thế giới. Nhắc đến ông, người ta kể đến ” Truyện Kiều”– một tác phẩm đã nâng Tiếng Việt lên thành ngôn ngữ dân tộc. Đọc truyện, ta cảm nhận được trái tim nhân hậu, đa cảm đối với con người của nhà thơ. Như Mông Liên Tưởng chủ nhân trong lời tựa Truyện Kiều đã viết ” Lời văn tả ra hình như có máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc cũng phải thấm thìa, ngậm ngùi, day dứt đến đứt ruột”. Và có đọc tám câu thơ cuối của đoạn ” Kiều ở lầu Ngưng Bích” ta mới cả m nhận được nét tinh tế, được cái hay, cái đẹp của bút pháp tài ba của Nguyễn Du, đặc biệt là bút pháp tả cảnh ngụ tình.

” Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Những dòng thơ sinh động, dưới cái tài miểu tả nội dung nhân vật của tác giả làm hiện lên một bức tranh vừa gợi tả cảnh thiên nhiên vừa gợi nỗi lòng của nàng Kiều. Một mình bơ vơ, chơ chọi giữa không gian mênh mông, nỗi nhớ nhà quê hương bỗng trỗi dậy trong lòng Kiều.

” Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng, cánh buồm xa xa”

Cửa bể là không gian biển khơi mênh mang,rợn ngợp vô cùng, đặt trong thời gian chiều tà, gợi nỗi buòn vắng da diết. Câu thơ của Nguyễn Du khiến người đọc nghĩ tới hình ảnh người con gái lấy chồng xa quê nhìn về quê vào mỗi chiều tà trong câu ca dao:

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Nhớ vềquê mẹ ruột đau chín chiều.

Trong thơ, cảnh chiều hôm giữa không gian bao la ấy có một cánh buồm lẻ loi, lạc lõng lúc ẩn lúc hiện ” thấp thoáng” đã gợi lên cho ta sự lưu lạc tha hương cùng với nỗi buồn da diết về cha mẹ của đứa con nơi ” đất khách quê người”, câu thơ từ từ ngân lên như một niềm khao khát , hoài bão, ngóng trông, nhưng hiện tại, nơi gác bể chân trời, Kiều vẫn lẻ loi một mình đối đầu với sóng gió cuộc đời, rồi thân phận kiều sẽ lênh đênh, trôi dạt về phương trời nào?

Tâm trạng sợ hãi, lo lắng của Kiều giữa biển trời vô định khiến người đọc phải xót thương, nơi xa kia Kiều nhìn thấy cánh hoa trôi và nghĩ đến thân phận mình:

” Buồn trông ngọn nước mới sa” Hoa trời man mác biết là về đâu”

“Ngọn nước mới sa” chứa đựng một sức mạnh của tự nhiên có thể vùi dập, cuốn trôi, hủy diệt những gì nhỏ bé. Giờ đây, không gian không chỉ mênh mông rợn ngợp mà nó còn mạnh mẽ dữ dội, hình ảnh hoa lìa cội, lìa cành nổi trôi trên sóng nước bị dập vùi cũng chính là cuộc đời Kiều trôi nổi giữa dòng đời, Kiều bất lực và mặc thác cho số phận xô đẩy. Đau xót thay khi Kiều giờ đây như một con chim lạc bầy đang bay trong giông tố.

Đọc hai câu thơ tiếp theo, tâm trạng sợ hãi, lo lắng của Kiều đã nâng lên thành tâm trạng tuyệt vọng, bế tắc khi Kiều còn nhìn thấy ngon cỏ rầu rầu:

” Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”

Cảnh khá ấn tượng không phải là ” cỏ nên xanh tận chân trời” của ngày xuân đầy sức sống mà là “nội cỏ rầu rầu” héo úa, tàn lụi, chết chóc càng làm cho Thúy Kiều thêm chán ngán, vô vọng. Màu ” xanh xanh” làm cho cả cổ cây không còn tươi tắn, cảnh vật thêm ảm đạm, như màu cỏ trên mộ Đảm Tiên”

” Sè sè nấm đất bên đường Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”

Hai câu thơ cuối có thể coi là bút pháp tả cảnh ngụ tình đạt đến đỉnh điểm. Sóng gió âm thanh dữ dội duy nhất xuất hiện gắn liền với sự mạnh mẽ tượng trưng cho sức mạnh phong kiến rình rập bủa vây cuộc đời Thúy Kiều.

” Buồn trông gió cuốn mặt duềnh Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

Chiều đã muộn, cảnh không còn hiện rõ nữa, âm thanh dội lên mạnh hơn. Kiều nhìn thấy ” gió cuốn” từng đợt sóng trào dâng, nghe ” sóng kêu” vang dội bỗng thấy kinh hãi, lo sợ đến hãi hùng, Kiều chơi vơi như rơi vào vực thẳm một cách bất lực, và cũng chính lúc này, Kiều trở nên tuyệt vọng yếu đuối nhất. Vì thế nàng đã mắc lừa Sở Khanh, để rồi dấn thân vào cuộc đời ” thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”

Không chỉ vậy, bốn câu lục bát được liên kết bằng điệp ngữ ” buồn trông” gợi nỗi buồn điệp trùng, triền miên, tạo âm hưởng của một bản nhạc buồn với điệp khúc tâm trạng. ” Buồn trông” ở đây là buồn mà nhìn xa trông ngóng một cái gì mơ hồ sẽ thay đổi hiện tại nhưng càng trông càng vô vọng.

Điệp ngữ ” buồn trông” kết hợp với nhiều từ láy ” thấp thoáng” , ” xa xa” ” man mác” “rầu rầu” ” xanh xanh” ” ầm ầm” đứng ở cuối câu tạo nên nhịp điệu trầm và đã diễn tả sâu sắc tâm trạng đau thương, buồn thảm của Kiều. Đồng thời với hình ảnh ẩn dụ đặc sắc, cảnh được miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thành từ tĩnh đến động và tâm trạng từ tuyệt vọng cô đơn đến lo lắng, hoang mang.

Tóm lại, ” Kiều ở Lầu Ngưng Bích” không chỉ là bức tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng. Đoạn trích thể hiện tài năng bậc thầy của Nguyễn Du trong tả cảnh ngụ tình, trong đó, tám câu thơ cuối đã gieo vào lòng người nỗi buồn thương cùng Kiều và tình yêu thương, thấu hiểu với thân phận người đàn bà của Nguyễn Du.

Từ khóa tìm kiếm:

kiều ở lầu ngưng bích lớp 9, kiều ở lầu ngưng bích truyện kiều, kiều ở lầu ngưng bích trích truyện kiều, kiều ở lầu ngưng bích ngữ văn 9, kiều ở lầu ngưng bích học văn lớp 9, kiều ở lầu ngưng bích bài giảng, cảm nhận bài kiều ở lầu ngưng bích, kiều ở lầu ngưng bích 8 câu thơ cuối, nội dung kiều ở lầu ngưng bích, 8 câu cuối kiều ở lầu ngưng bích, 8 câu cuối của bài kiều ở lầu ngưng bích, 8 câu cuối trong bài kiều ở lầu ngưng bích, nghị luận 8 câu cuối kiều ở lầu ngưng bích.

Nguồn: Phân tích tám câu thơ cuối trong đoạn trích ” Kiều ở Lầu Ngưng Bích” của Nguyễn Du

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Câu Thơ Hay Trong Truyện Kiều trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!