Xu Hướng 2/2023 # Những Bài Thơ Về Hoa Mai – Hoa Mai, Mai Viet Nam, Mai Vang, Cho Thue Mai Tet, Ban Mai Tet, Mai Vang Nam Canh, Mai Bonsai, Ban Goc Mai Vang, Noi Ban Hoa Mai Dep # Top 7 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Những Bài Thơ Về Hoa Mai – Hoa Mai, Mai Viet Nam, Mai Vang, Cho Thue Mai Tet, Ban Mai Tet, Mai Vang Nam Canh, Mai Bonsai, Ban Goc Mai Vang, Noi Ban Hoa Mai Dep # Top 7 View

Bạn đang xem bài viết Những Bài Thơ Về Hoa Mai – Hoa Mai, Mai Viet Nam, Mai Vang, Cho Thue Mai Tet, Ban Mai Tet, Mai Vang Nam Canh, Mai Bonsai, Ban Goc Mai Vang, Noi Ban Hoa Mai Dep được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hoa mai rất sặc sỡ khi mùa xuân đến từ xưa cho đến nay Vị danh tướng đời Trần từng đánh tan quân Nguyên ở bến Chương Dương cũng là thi khách thường nói “giải đảo đông phong phú bất thi ’’ nghĩa là “Đè ngược gió đông mà ngâm một bài thơ” hãy nói về hoa mai trong bài thơ của ông

Những bài thỏ Hoa Mai

Thi hào Trần Quang Khải(1240-1294)

Vị danh tướng đời Trần  từng  đánh tan quân Nguyên  ở bến Chương Dương cũng là thi khách thường nói “giải đảo đông phong phú bất thi ’’ nghĩa là “Đè ngược gió đông mà ngâm một bài thơ” hãy nói về hoa mai trong bài thơ của ông

Bến đò Lưu Gia

Đò lưu cây cối ngất lưng trời

Thửơ nọ xuôi đông đã ghé chơi

Tháp cổ đình sông làn nước chảy

Đền hoang mỗ cổ sấu sành ngồi

Dư đồ phủ ấy bao nhiêu dặm ?

Non nước triều xưa trải mấy đời

Qua viếng làng thơ đầu đã bạc

Hoa mai như tuyết chiếu lòng vời

Ngô Tất Tố dịch

(bến đò Lưu Gia ,làng Lưu Xá

Tỉnh Hưng Yên , nơi Lý Huệ Tôn chạy lánh nạn ,khi Quách Bốc làm phản)

 Vườn Phúc Hưng

Lượn quanh bến phúc, nước theo vời.

Mấy mẫu vườn quê khá thảnh thơi.

Tan tuyết bờ mai châu hết nụ.

Quang mây đỉnh trúc ngọn đâm chồi.

Nắng lên mời khách pha chè thưởng,

Mưa tạch sai hề gở thuốc coi.

Xa ngóng hải nam im khói lửa

Trên giường nghiêng ngữa nhẹ hồn mai.

Ngô tất tố dịch

Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải làm chức tể tướng , lại có lúc cầm quân đánh giặc , nhưng rất hiếu học có tài văn thơ,

 tính tình tao nhả như ẩn sĩ .Chỗ ở ông được đặc tên là Phúc Hưng Yên

    Thisĩ vô danh đời Trần (khoảng năm1300)

    Bắc xứ đề Quế lâm dịch

    Đi sứ bắc (Trung Hoa ) đề trạm quốc lâm

    Canh khuya quán trọ lạnh như tờ ,

    Sương gió đầu tiên dạ vẫn vơ.

    Đầu ngựa bóng roi theo ngọn gió ,

    Hoa mai nước cũ giục hồn mơ.

    Mặt quen đất khách vằng trăng tỏ

    Tên bặt chân trời bóng nhạn thưa.

    Cái trí xông mây rày chửa toại.

    Vổ đùi …cho bổng giọng ngâm thơ.

     Ngô Tất Tố dịch

    3.Thiền sư Quyền Quang (1254-1334)

    Vị tổ thứ ba phái thiền trúc lâm đời Trần  cũng là mộ thi nhân , trong thơ cũng hay nói tới hoa mai

    Vằng vặc trăng mai ánh nước ,

    Hiu hiu gió trúc ngậm sênh

    Người hoa tươi tốt cảnh hoa lạ

    Mầu thích ca nào thử hữu tình ?

    Một bài thơ khác của thiền sư Huyền Quang về mai:

    Hoa mai

    Rắp xin trời hỏi lối lên ,

    Núi băng bóng lẻ ,ngang nhiên chăng đời.

    Bẻ bề đâu để nắm chơi ,

    Màu xuân muốn mượn cho nguôi bệnh già

    (Ngô Linh Ngọc dịch)

    Huyền Quang Đại sư còn tôn mai lên ngôi vị: “Ngự Sự Đài”

    “Ngự sự mai hai hàng chầu ráp ,

    Trượng phu tùng mấy chặng phò quanh”

    Ngự sử mai , trượng phu tùng ,quân tử trúc , được gọi là “tam ích hữu” nghĩa là ích giã tam hữu

    4.Thi sĩ Nguyễn Trung Ngạn “1289-1370”

    Thi nhân đời trần ,mười sáu tuổi đỗ Hoàng Giáp cùng khoa  với trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi, người có thơ “ hay không kém gì đời thịnh Đường ” đã lấy cốt cách của mai ví với cốt cách của chính ông

    “Dã mai cốt cách  nguyên phi tục ,

    Hải hạc phong tư tự bất quần.

    Cốt cách mai rừng nguyên chẳng tục,

    Phong tư bạc bể vốn không đàn”

     (Tiểu luận văn học Mai Quốc Liên )

    Thơ ông cũng đẹp như ánh mai rừng

    Trích trong cuốn kỹ thuật trồng mai ,chương 3.những bài thơ về mai(còn tiếp)

    Của ông Huỳnh Văn Thới

    Hoa mai Việt Nam

    Lqvh: Thơ “Hoa Đào Hoa Mai”

    + Trẻ đọc thuộc và đọc diễn cảm, trẻ hiểu đươc nội dung bài thơ.

    Trẻ đọc đúng nhịp, ngắt nghỉ đúng chổ, đọc rõ lời, trả lời câu hỏi của cô một cách rõ ràng.

    + Trẻ chú ý đọc thơ. Qua nội dung bài thơ trẻ biết được vẽ đẹp của thiên nhiên…

    – Lớp học rộng rãi chiếu đủ cho trẻ.

    – Tập tranh thơ “Hoa đào hoa mai”, thước chỉ.

    3. Tiến trình tổ chức hoạt động:

    Cô cất cho trẻ hát bài “Mùa xuân” và gợi hỏi trẻ về nội dung bài hát:

    + Thế các cháu có biết hoa đào hoa mai thường nở vào mùa gì không?

    * Hoạt động 2: Giới thiệu, đọc mẫu và đàm thoại cùng.

    – Cô đọc bài thơ lần một cho trẻ nghe, đọc xong cô hỏi trẻ:

    + Của tác giả nào?

    – Cô đọc lần 2 kết hợp cho trẻ xem tranh giải thích từ khó (Lấm tấm mưa bay, chỉ say, nắng pha, thắm đỏ, dát vàng, thoắt, nở rộ, hội tụ…) trích dẫn làm rõ ý nội dung bài thơ.

    – Các con vừa nghe cô đọc bài thơ gì?

    – Hoa đào, hoa mai như thế nào? Có màu gì?

    – Hoa đào (hoa mai ) thì hợp với thời tiết như thế nào?

    – Khi mùa xuân sang thì hoa đào và hoa mai sẽ như thế nào?

    – Vậy muốn có hoa đào và hoa mai thì hàng ngày mọi người phải làm gì?…

    * Hoạt động 3: Dạy trẻ đọc bài thơ.

    – Cô mời cả lớp đọc thơ cùng cô: Cô đọc chậm, rỏ lời cho trẻ đọc theo 3 đến 4 lần.

    – Khi trẻ đọc thuộc thơ cô cho trẻ đọc dưới hình thức xen kẻ tổ, nhóm, cá nhân thi đua nhau.

    – Cô chú ý sữa sai cho những trẻ đọc chưa đúng.

    – Sau mỗi lần trẻ đọc cô và trẻ cùng nhận xét tuyên dương.

    – Giáo dục trẻ: Phải biết yêu quý, bảo vệ cây cỏ, hoa lá, biết giữ gìn vệ sinh môi trường sạch sẽ bằng cách chăm sóc cây, không vứt rác bừa bãi…

    Cô mời cả lớp cùng đọc lại bài thơ “Hoa đào hoa mai” và đi ra sân trường để ngắm các loại hoa.

    KẾ HOẠCH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI

    NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG : – Dạo chơi, nhặt lá rụng trên sân trường.

    – TCVĐ: Cáo và thỏ. – Chơi tự do: Chơi vò giấy, xé lá.

    – Trẻ ra sân ngoan, không chạy lung tung, không bứt hoa, bẻ cành. Biết nhặt lá vàng bỏ đúng vào giỏ rác. Trẻ hứng thú chơi các trò chơi.

    – Sân trường rộng, sạch, an toàn.

    – Lá cây, giấy, quần áo gọn gàng cho trẻ. Mũ cáo, mũ thỏ đủ trẻ.

    3. Tiến trình tổ chức hoạt động:

    * Dạo chơi, nhặt lá rụng trên sân trường.

    – Cô kiểm tra sức khỏe và dặn dò trẻ trước khi ra sân phải tắt hết điện, ra sân không được chạy nhảy lung tung, không xô đẩy bạn.

    – Cô cùng trẻ làm một đoàn tàu cùng nhau đi tham quan, dạo chơi vườn trường. Và hỏi trẻ:

    + Các con vừa được được đi đâu vậy? Đi dạo các con thấy những gì? Đây là cái gì?

    + Hoa để làm gì? Chúng ta phải làm gì để cho hoa được đẹp?

    – Sau đó, cho trẻ nhặt lá vàng rụng ở sân trường và cô hỏi trẻ:

    + Các con thấy sân trường hôm nay có gì rơi? Lá vàng rơi làm cho sân trường sạch hay bẩn?

    + Muốn cho sân trường sạch sẽ các con phải làm gì? Vậy các con nhặt lá vàng bỏ vào đâu?

    – Cô phát giỏ rác cho 3 tổ và phân công mỗi tổ nhặt một khoảng sân.

    – Trẻ nhặt lá vàng cô nhắc nhở trẻ đổ đúng nơi quy định của nhà trường.

    – Giáo dục trẻ: Biết bảo vệ, giữ dìn vệ sinh môi trường. Không được vứt rác, khạc nhổ bừa bải làm ô nhiểm môi trường.

    – Cho trẻ rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước.

    * Chơi tự do: Chơi vò giấy, xé lá. Cô chú ý bao quát trẻ chơi an toàn.

    Hoa Mai Thơ Thiệu Ung

    HOA MAI THƠ THIỆU UNG Hoàng Kim

    Hoa Mai Thi Thiệu Ung là một trong ba bộ đại kỳ thư đặc biệt nổi tiếng văn hoá cổ Trung Hoa lưu lại suốt ngàn năm.”Muốn biết bác phục hỏi nguyên nhân xưa Hoa Mai là khởi đầu của mùa xuân”. Câu đầu tiên Hoa Mai Thi Thiệu Ung đã viết vậy. Thiệu Ung (1011 – 1071) tự là Nghiêu Phu, hiệu là Khang Tiết, được truyền tụng là một nhà tiên tri Trung Quốc thời Bắc Tống có khả năng trực giác huyền diệu và bí ẩn. Ông quê ở Phạm Dương, Hà Bắc, sau di cư sang Cộng Thành, cuối cùng ẩn cư ở Lạc Dương. Ông đã dùng thuật Dịch số thời biến và bát quái âm dương ngũ hành để dự báo sinh vượng thịnh suy vong các đổi họ lớn trong lịch sử và giải đoán vận khí, sự việc với sự chính xác đến kinh ngạc.

    Lão nông và Thiệu Ung (Jane Ku)

    Một buổi sáng mùa xuân, Thiệu Ung dựng quầy xem quẻ số gần chân cầu. Lúc đó, một lão nông dừng lại và hỏi ông về tài vận của mình. Thiệu Ung yêu cầu ông lão chọn từ các mảnh giấy có ký tự chữ Hán trên đó. Ông lão bèn chọn một thẻ và đưa nó cho Thiệu Ung, trên đó là ký tự “?”. Thiệu Ung nói với ông lão: “Chúc mừng cụ, cụ sẽ được một bữa trưa ngon miệng ngày hôm nay. Cụ hãy về nhà và chờ đợi”. Ông lão về nhà thấy đứa cháu trai đang đợi ông và nói: “Hôm nay là ngày mừng thọ 60 tuổi của cha cháu, xin mời ông đến dự bữa tiệc rượu”. Ông lão ngạc nhiên, thay đổi y phục và vui mừng tới dự.

    Chiều hôm ấy, một người đàn ông khác đến quầy quẻ số của Thiệu Ung và hỏi xem vận mệnh. Ông ta cũng chọn đúng thẻ có ký tự “?”. Thiệu Ung nói với người đàn ông rằng: “Thẻ này không được tốt. Ông sẽ gặp chuyện không lành hôm nay và ông sẽ bị bắt”. Người đàn ông nghĩ ngay rằng không thể nào có chuyện ông bị bắt nếu ở trong nhà, vì vậy, ông trở về và leo lên giường. Đang ngủ, ông chợt tỉnh giấc khi có người đàn bà hét to lên rằng những con lợn của ông đang phá nát khu vườn rau của bà. Trong lúc tức giận, ông giơ tay xô người đàn bà kém may mắn, vốn đang ốm dở, ngã phịch xuống và bất đắc kỳ tử. Ngay sau đó, ông bị bắt và tống giam.

    Cũng vào chiều hôm đó, khi Thiệu Ung chuẩn bị dọn quầy để về, thì một người đàn ông đi từ phía Nam tới và xin ông nán lại. “Đại nhân, tôi đã nghe nói về tài năng tiên đoán của ông, vậy xin ông hãy cho biết vận mệnh của tôi”. Chiếc thẻ vị khách này chọn cũng là ký tự “?”. Thiệu Ung nói: đó không phải là điềm tốt và ông sẽ bị ướt đẫm trong ngày. Vị khách không tin vì hôm đó là ngày nắng và trời không mây, nhưng khi ông vừa về đến nhà và vào cổng thì ông đã bị vợ vô tình hắt một chậu nước vào người đúng lúc ấy.

    “Lịch sử, nếu xem trong một thời- không ngưng đọng, thì cũng như một vở kịch, với trời làm màn, đất là đài, ngày đêm không ngừng xoay vần mà diễn biến. Các nhân vật trong vở kịch này, bất luận là anh hùng đội trời đạp đất, thét mây hô gió như thế nào, thì đều trôi dạt trong cõi hồng trần cuồn cuộn. Liệu ai có thể thực sự làm chủ vận mệnh của chính mình?

    Tôi dạo chơi núi Xanh, Thiên An Môn, Cố Cung, Di Hòa Viên, Thiên Đàn, suy ngẫm từ Núi Xanh Bắc Kinh trong ngày Quốc tế Lao động, ngắm những nơi lưu dấu các di sản của những triều đại hiển hách nhất Trung Hoa, lắng nghe đất trời và các cổ vật kể chuyện. Tôi bất chợt gặp được một bé gái xinh đẹp tại điểm linh ứng của núi Xanh (景山, Jǐngshān, Cảnh Sơn, Green Mount), ngọn núi địa linh của đế đô và đã bế cháu gái ngắm nhìn trục hướng tâm của Cố Cung Bắc Kinh.

    Tôi cũng lại may mắn gặp được một nghệ sĩ dân gian tập hát và tặng sách. Chuyện xưa và nay gợi nhớ lời nhắn gửi sâu xa của bậc hiền minh lỗi lạc Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Muốn bình sao chẳng lấy nhân / Muốn an sao lại bắt dân ghê mình” “Biển Đông vạn dặm giang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình) (Vạn lý Đông minh quy bá ác/ Ức niên Nam cực điện long bình). Suy ngẫm về cuộc cách mạng Xanh và đỉnh cao Hòa Bình. Lời giáo sư Norman Borlaug văng vẳng bên tai tôi: “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó.” Ngày trước đó, tôi vinh hạnh được làm việc với giáo sư Zhikang Li, trưởng dự án Siêu Lúa Xanh (Green Super Rice) chương trình nghiên cứu lúa nổi tiếng của CAAS & IRRI và có cơ hội tiếp cận với các nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc. Sự hiền minh lỗi lạc của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, câu chuyện Hoa Mai Thi Thiệu Ung và di sản vô giá của giáo sư Norman Borlaug cùng với các bậc Thầy về cách mạng xanh mãi là niềm tin và nổ lực của chúng ta!

    Chùm ảnh đẹp ghi từ mờ ảo sương sớm cho đến xế chiều tại điểm đến ao ước và những tư liệu quý thu thập được trong chuyến đi đặc biệt này lắng đọng trong tôi một di sản và bài học lịch sử cần tiếp tục giải mã. Tôi đã đúc kết Sấm Trạng Trình và đã viết bài Ngày xuân đọc Trạng Trình, nay sẽ cố gắng sưu tầm Hoa Mai Thi Thiệu Ung văn bản gốc tiếng Trung và những bản dịch nghĩa, dịch thơ tiếng Việt của 10 bài thơ Hoa Mai nói trên.

    Hoa Mai thơ Thiệu Ung là kỳ thư cần đọc lại. Tôi may mắn đã được Thăm ngôi nhà cũ của Darwin và đã từng lắng mình trước câu hỏi: Liệu “nguồn gốc muôn loài” Darwin có thực sự đúng là quy luật tiến hóa của muôn loài không? Liệu câu nói thông tuệ của ông ” Kẻ sống sót không phải là kẻ mạnh nhất hay thông minh nhất, mà là kẻ thích nghi tốt nhất” Charles Darwin (1809-1882) đã phải là một giải pháp tốt và kinh nghiệm kinh điển như sự lựa chọn của Bao Công thành thế lực bất khuất trung chính không bị cuốn vào vòng xoáy tranh đoạt?.

    Thơ Hoa Mai Thiệu Ung những lời tiên tri CHUẨN XÁC đến kinh người !!! là chuyện nghìn năm bí ẩn liên hệ thực tiễn với những bài thơ dự báo sau này tôi chợt thấy thú vị giải pháp của cụ Trạng Trình Việt Nam trong những ẩn ngữ kín đáo.

    HOA MAI TRONG TẾT VIỆT

    Hoa Mai Thi Thiệu Ung Trung Quốc đối sánh với Hoa Mai thơ Mãn Giác Việt Nam đã cách đây trên dưới ngàn năm, cùng với Tảo Mai Trần Nhân Tông và Cự ngao đới sơn của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cách đây trên năm trăm năm thực sự. Những bài thơ đó đều là những dự ngôn rất sâu sắc về quy luật của tạo hóa. Tôi xin được trích dẫn mà không lạm bàn.

    Hoa Mai thơ Mãn Giác

    Bài kệ “Cáo tật thị chúng” (Cáo bệnh với đệ tử) của thiền sư Mãn Giác (1052 – 1096) trong Thiền Uyển Tập Anh và lời bình của anh Hoàng Ngọc Dộ về cốt cách hoa mai là nhân cách người hiền, đã đi thẳng vào lòng tôi:

    Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai Sự trục nhãn tiền quá Lão tùng đầu thượng lai. Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

    Xuân đi trăm hoa rụng Xuân đến trăm hoa cười Trước mặt việc đi mãi Trên đầu già đến rồi Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước một cành mai.

    (Bản dịch của Ngô Tất Tố)

    Thiền sư Mãn Giác viết bài kệ “Cáo tật thị chúng” khi Người 45 tuổi, sau đó Người đã an nhiên kiết già thị tịch. Bài thơ kiệt tác vỏn vẹn chỉ có sáu câu, ba mươi tư chữ, bền vững trãi nghìn năm. Đối diện với cái chết, thiền sư ung dung, tự tại, thấu suốt lẽ sinh tử: Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết / Đêm qua sân trước một cành ma i.

    Lời thơ thanh thoát, giản dị một cách lạ lùng! Thực tế cuộc sống đã được hiểu đầy đủ và rõ ràng. Bản tính cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và luôn vô thường. Xuân đi trăm hoa rụng/ xuân đến trăm hoa cười/ trước mặt việc đi mãi/ trên đầu già đến rồi. Đó là qui luật muôn đời, hoa có tàn có nở, người có diệt có sinh. Hạnh phúc cuộc sống là phong thái luôn vui vẻ và sung sướng, thanh thản và thung dung, không lo âu, không phiền muộn. Sống với một tinh thần dịu hiền và một trái tim nhẹ nhõm.

    Tình yêu cuộc sống thể hiện trong ý xuân và trật tự các câu thơ.” Xuân đi trăm hoa rụng/ xuân đến trăm hoa cười” ẩn chứa triết lý sâu sắc hơn là ” Xuân đến trăm hoa cười, xuân đi trăm hoa rụng/”. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) trong bài thơ nôm “Chín mươi” có câu: “Chín mươi thì kể xuân đà muộn/ Xuân ấy qua thì xuân khác còn”. Tăng Quốc Phiên chống quân Thái Bình Thiên Quốc “càng đánh càng thua” nhưng trong bản tấu chương gửi vua thì ông đã quyết ý đổi lại là “càng thua càng đánh”. Việc “đánh thua” thì vẫn vậy nhưng ý tứ của câu sau mạnh hơn hẵn câu trước.

    ‘Tảo Mai’ thơ Nhân Tông

    Phiên âm Hán Việt Ngũ xuất viên ba kim niễn tu, San hô trầm ảnh hải lân phù. Cá tam đông bạch chi tiền diện, Tá nhất biện hương xuân thượng đầu. Cam lộ lưu phương si điệp tỉnh, Dạ quang như thủy khát cầm sầu. Hằng Nga nhược thức hoa giai xứ Quế lãnh thiềm hàn chỉ ma hưu!

    Dịch nghĩa Năm cánh hoa tròn nhị điểm vàng, [Như] bóng san hô chìm, [như] vảy cá biển nổi. Cành hoa trắng xóa suốt trong ba tháng đông, Sang đầu xuân chỉ còn loáng thoáng một vài cánh thơm nhẹ. Móc ngọt chảy mùi thơm làm chú bướm si ngây tỉnh giấc, ánh sáng ban đêm như nước khiến con chim khát buồn rầu. Nếu Hằng Nga biết được vẻ đẹp thanh nhã của hoa mai, Thì có ưa gì cây quế với cung thiềm lạnh lẽo.

    Phiên âm Hán Việt Ngũ nhật kinh hàn lãn xuất môn, Đông phong tiên dĩ đáo cô côn (căn). Ảnh hoành thủy diện băng sơ bạn, Hoa áp chi đầu noãn vị phân. Thúy vũ ca trầm sơn điếm nguyệt, Họa long xuy thấp Ngọc Quan vân. Nhất chi mê nhập cố nhân mộng, Giác hậu bất kham trì tặng quân.

    Dịch nghĩa Chỉ năm ngày sợ rét lười ra khỏi cửa, Mà gió xuân đã sớm đến với gốc cây cô đơn. Bóng ngả trên mặt nước, băng giá bắt đầu tan, Hoa trĩu nặng đầu cành, hơi ấm chưa định rõ. Giọng ca Thúy vũ lắng chìm mặt trăng xóm núi. Tiếng sáo Họa long ẩm ướt đám mây Ngọc Quan. Một cành hoa lạc vào giấc mộng cố nhân, Tỉnh dậy, không thể đem tặng anh được.

    Cự ngao đới sơnNguyễn Bỉnh Khiêm

    Bích tầm tiên sơn triệt đế thanh Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực Trước cước trào vô quyển địa thanh Vạn lý Đông minh quy bá ác Ức niên Nam cực điện long bình Ngã kim dục triển phù nguy lực Vãn khước quan hà cựu đế thành

    Dịch nghĩa:

    Con rùa lớn đội núi

    Nước biếc ngâm núi tiên trong tận đáy Con rùa lớn đội được bầu ngọc mà sinh ra Ngoi đầu lên, đá có sức vá trời Bấm chân xuống, sóng cuồn cuộn không dội tiếng vào đất Biển Đông vạn dặm đưa về nắm trong bàn tay Muôn năm cõi Nam đặt vững cảnh trị bình Ta nay muốn thi thổ sức phù nguy Lấy lại quan hà, thành xưa của Tổ tiên.

    Dịch thơ:Con rùa lớn đội núi

    Núi tiên biển biếc nước trong xanh Rùa lớn đội lên non nước thành Đầu ngẩng trời dư sức vá đá Dầm chân đất sóng vỗ an lành Biển Đông vạn dặm dang tay giữ Đất Việt muôn năm vững trị bình Chí những phù nguy xin gắng sức Cõi bờ xưa cũ Tổ tiên mình.

    Ngày xuân đọc Trạng Trình “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ.Đất Việt muôn năm vững thái bình”. Đó là hai câu thơ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) tại bài thơ “Cự Ngao Đới Sơn” trong Bạch Vân Am Thi Tập. Thông điệp ngoại giao của cụ Trạng Trình nhắn gửi con cháu về lý lẽ giữ nước rất rõ ràng: Muốn bình sao chẳng lấy nhân Muốn an sao lại bắt dân ghê mình. Điều lạ là trong câu thơ cụ Trạng dịch lý, ẩn ngữ, chiết tự tương thích với cách ứng xử hiện thời. “Cổ lai nhân giả tri vô địch, Hà tất khu khu sự chiến tranh” Từ xưa đến nay, điều nhân là vô địch, Cần gì phải khư khư theo đuổi chiến tranh. “Quân vương như hữu quang minh chúc, ủng chiếu cùng lư bộ ốc dân” Nếu nhà vua có bó đuốc sáng thì nên soi đến dân ở nơi nhà nát xóm nghèo . Trời sinh ra dân chúng, sự ấm no, ai cũng có lòng mong muốn cả”; “Xưa nay nước phải lấy dân làm gốc, nên biết rằng muốn giữ được nước, cốt phải được lòng dân”. Đạo lý, Dịch lý, Chiết tự và Ẩn ngữ Việt sâu sắc thay ! xem tiếp Ngày xuân đọc Trạng Trình

    Video yêu thích

    Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao) -Thanh ThúyQuê Hương saxophone hay nhất của Trần Mạnh TuấnBan Mai; Chỉ tình yêu ở lạiKimYouTube

    Trở về trang chínhHoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

    Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Thơ Hoa Mai

    ” Và đầu tiên, 5 bài thơ về hoa mai rất hay sưu tầm:

    Nội dung bài viết

    Phương Nam chuộng nhất giống hoa này

    Mỗi độ Xuân về nở đẹp thay

    Năm cánh vàng mơ hong gió sớm

    Một cành lộc biếc đón ban mai

    Tinh thần hơn cả Lan và Cúc

    Nhan sắc bỏ xa Huệ với Nhài

    So sánh hoa Đào trên đất Bắc

    Nhất nhì ai dễ chịu nhường ai!

    (Trần Bảo Kim Thư)

    2, Hoa Mai Ngày Tết

    Nhớ tuốt lá cho mai về kịp tết

    Kẻo giao thừa thiếu hẳn một mùi hương

    Mai vàng nở như em về đúng hẹn

    Áo vàng phơi sáng rỡ cả con đường

    Anh tuốt lá đợi mai về ngày tết

    Chở mùa xuân trên mỗi đóa vàng tươi

    Hương thoang thoảng mùa xuân tràn vườn ngọ

    Ngỡ như em đang đứng nhoẻn môi cười

    Trong giấc ngủ ngào hương hoa về hội

    Đứng vin cành em cũng đẹp như hoa

    Anh bên em giữa vườn xuân nắng xóa

    Bừng cơn mơ vàng tỏa cánh mai vàng

    (Lê Viết Tư)

    Xuân bảy lăm. Tết Tân Biên

    Mai rừng một nhánh nở bên giếng rừng

    Em đang múc nước bỗng dưng

    Nhìn mai vàng nở rưng rưng nhớ nhà

    Giờ này mẹ ở quê xa

    Cành mai mẹ cắm chắc là vàng thêm

    (Tế Hanh)

    Cao sâu từng nhập bóng cây già

    Cây vẫn thân xưa bóng chẳng nhòa

    Vườn trải băng sương trăm thức cỏ

    Xuân còn thúy vũ một cành hoa

    Lòng nghe nắng ấm say đôi chút

    Cánh để men hồng nhuốm phớt qua

    Vang tiếng chim xanh về hót đấy

    Bồng lai hẳn nhớ kẻ đi xa.

    (Vũ Hoàng Chương)

    5, Hát Trên Núi

    Tay đan tay chiều muộn rồi

    Nhạc trôi dưới phố nắng ngùi trên cây

    Mắt đan mắt cay nồng cay

    Sương giảng lũng thấp nhớ đầy lên vai

    Môi đan môi nụ hôn dài

    Rẩy run đôi cánh hoa mai chợt vàng

    Đồi lang thang núi lang thang

    Dắt nhau về thủa hồng hoang hai người

    Tóc đan tóc bời rối bời

    Trăng trôi qua phố mây rời rã mây

    Ngủ đi thôi,ngọn cỏ may

    Tim anh hãy tựa những ngày còn xanh

    Ngủ đi thôi con chim oanh

    Giữ ngoan tiếng hát dỗ dành mai sau

    Núi cắt rốn, đồi chôn nhau

    Đi đâu cũng nhớ quay đầu về non

    (Mường Mán)

    ” Và tiếp theo, 5 bài thơ tình hoa mai ngày tết rất hay còn lại:

    6, Mai Vàng Nở Giữa Mùa Đông

    Áo cũ giờ đây hết mượt mà

    Không còn dài đủ để thướt tha

    Đường kim mũi chỉ mong manh quá

    Tà áo thêu mai hết đậm đà

    Áo mới vội may ép hoa vàng

    Cho kịp mừng xuân lộng lẫy sang

    Mai này duyên dáng trong ngày hội

    Tha thướt vui vầy pháo reo vang

    Hoa mai năm cánh giữa mùa đông

    Bừng ngát hương thơm thắm mộng lòng

    Trong tôi bỗng nở mai vàng thắm

    Một đóa hoa lòng thơm ngát trong.

    (Nguyễn Thị Tê Hát)

    Mai vàng đẹp lắm biết sao vừa.

    Thử hỏi nhà em đã có chưa.

    Lộc biếc hoa tươi bao kẻ thích.

    Cành xanh nhánh tốt lắm người ưa.

    Giao mùa đổi tiết mây thơ thẩn.

    Tết đến xuân về gió đẩy đưa.

    Trăn trở trong lòng nhiều ước vọng.

    Tương lai tươi đẹp vẫn không thừa.

    (Vũ Hùng Việt)

    Bản họa:

    Khéo lựa cành mai chậu cũng vừa

    Em mừng tặng đấy đẹp lòng chưa

    Mai vàng thắm sắc anh từng chuộng

    Nụ trắng tươi màu chị vẫn ưa

    Mở cánh khoe hương giờ trừ tịch

    Khơi đài quyện khói phút giao thừa

    Ngoài song bếp lửa ôm nồi bánh

    Lãng đãng mây vờn gió lộng đưa

    (Thanh Thanh Khiết)

    8, Thơ Treo Dưới Cội Mai Vàng

    Xuân đong đưa hay tình xuân tôi lạt

    Mà lòng buồn nhớ bóng dáng ngày xưa

    Chiều hôm nay một chiều của cuối mùa

    Người tri kỷ chả về vui Xuân nhỉ?

    Cố hương xa, rưng lòng người lữ thứ

    Cội Mai vàng Xuân cô lữ buồn thiu!

    (Phan Cát Linh)

    Đêm về say ngủ giấc mơ

    Tuần trà, thưởng nguyệt làm thơ cùng người!

    (Sake)

    10, Anh Về Khi Mai Nở

    Xuân lại đến người mừng nhau chúc tụng

    Tôi lại về thờ phụng cúng tổ tiên

    Xa quê hương niềm thương nhớ vô biên

    Ray rức mãi triền miên theo năm tháng

    Tôi sẽ trồng hoa mai vàng ngõ trước

    Hoa anh đào, hoa thược dược cửa sau

    Tường vôi trắng giờ rêu phủ phai màu

    Tôi sẽ sơn với màu xanh hy vọng

    Bầy em thơ tung tăng trong áo mới

    Dáng hồn nhiên mừng khoe với xóm làng

    Kể từ đây cứ mỗi độ Xuân sang

    Anh về lại khi mai vàng nở rộ

    (Gió Bụi)

    Theo chúng tôi

    Cập nhật thông tin chi tiết về Những Bài Thơ Về Hoa Mai – Hoa Mai, Mai Viet Nam, Mai Vang, Cho Thue Mai Tet, Ban Mai Tet, Mai Vang Nam Canh, Mai Bonsai, Ban Goc Mai Vang, Noi Ban Hoa Mai Dep trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!