Xu Hướng 2/2023 # Những Câu Chuyện Và Thơ Ca Về Trăng Của Trung Quốc # Top 6 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Những Câu Chuyện Và Thơ Ca Về Trăng Của Trung Quốc # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Những Câu Chuyện Và Thơ Ca Về Trăng Của Trung Quốc được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

D/H: Xin chào quý vị và các bạn, hoan nghênh quý vị và các bạn đến với tiết mục “Tuần san Văn hóa”, tôi là Duy Hoa.

H/A: Xin chào quý vị và các bạn, tôi là Hùng Anh.

D/H: Thưa quý vị và các bạn, ngày 15/9 năm nay là ngày rằm tháng 8 theo âm lịch, tức là Tết Trung Thu, Tết Trung Thu, Tết Nguyên Đán và Tết Đoan Ngọ là ba ngày lễ cổ truyền lớn nhất, mang đậm màu sắc dân tộc nhất ở Trung Quốc.

H/A: Vâng. Các tháng theo âm lịch Trung Quốc được tính theo chu kỳ tròn khuyết của mặt Trăng. Người Trung Quốc thích mặt Trăng, cho rằng có thể gửi gắm tình cảm nhớ nhung qua mặt Trăng, cho nên người Trung Quốc cúng Trăng, ngắm Trăng và ăn bánh Trung Thu vào Tết Trung Thu, ngày rằm tháng 8, lúc mặt Trăng tròn nhất.

D/H: Vâng. Ở Trung Quốc, kể đến mặt Trăng thì mọi người nhớ ngay tới Hằng Nga, câu chuyện Hằng Nga lên cung Trăng là truyện cổ tích ai ai cũng biết.

H/A: Vâng. Ngoài truyện cổ tích nổi tiếng về mặt Trăng ra, Trung Quốc cũng có nhiều bài thơ về Trăng, các nhà thơ nổi tiếng như Lý Bạch, Trương Cửu Linh, Đỗ Phủ, Tô Thức, v.v. đều có thơ vịnh nguyệt.

D/H: Vâng. Quý vị và các bạn thân mến, nhân dịp Tết Trung Thu, trong tiết mục “Tuần san Văn hóa” hôm nay, Hùng Anh và Duy Hoa xin giới thiệu truyện cổ tích Trung Quốc “Hằng Nga lên cung Trăng” và những bài thơ nổi tiếng về Trăng.

H/A: Hằng Nga là thần Mặt Trăng, chồng Hậu Nghệ là một vị chiến thần dũng mãnh thiện chiến, cung thần và tên thần của Hậu Nghệ bách phát bách trúng.

D/H: Lúc đó trần gian xuất hiện nhiều mãnh cầm dã thú, làm hại nhân dân. Thiên Đế được tin này liền cử Hậu Nghệ xuống trần gian tiêu diệt những thứ hại người này.

H/A: Hậu Nghệ thừa lệnh Thiên Đế, mang theo người vợ xinh đẹp của mình là Hằng Nga xuống trần gian. Với sức mạnh vô song, chẳng bao lâu Hậu Nghệ đã tiêu diệt được nhiều động vật hại người dưới trần gian.

D/H: Khi sắp hoàn thành nhiệm vụ, đã xảy ra chuyện bất ngờ. Trên bầu Trời cùng lúc xuất hiện mười mặt Trời. Mười mặt Trời đều là con Trời, chỉ vì trò chơi ác mà chúng cùng lúc xuất hiện trên bầu Trời, nhiệt độ trên mặt đất đột nhiên lên cao, rừng rậm và mùa màng bị nắng thiếu cháy, sông ngòi khô cạn, nhân dân bị chết đói chết khát, xác chết đầy đồng.

H/A: Hậu Nghệ không cầm lòng trước nỗi đau khổ của nhân dân, đã dùng lời nói ngon ngọt khuyên răn mười mặt Trời, mời mười anh em họ đơn độc hành động, mỗi ngày lần lượt chỉ xuất hiện một mặt Trời.

D/H: Nhưng, anh em mặt Trời kiêu ngạo và ngang ngược hoàn toàn không coi Hậu Nghệ ra gì, ngược lại ngày một thậm tệ hơn, cố ý xuống gần mặt đất, khiến mặt đất bùng phát nhiều đám cháy lớn.

H/A: Hậu Nghệ thấy anh em mặt Trời làm xằng làm bậy, nhiều lần khuyên răn đều không ăn lời, nhân dân đã bị thương vong vô số, không thể nào nhẫn nhịn được nữa, liền dùng cung và tên thần bắn rơi chín mặt Trời, mặt Trời cuối cùng chịu tội xin tha, Hậu Nghệ mới bớt giận cất cung tên.

D/H: Hậu Nghệ đã diệt trừ tai hại cho trần gian, nhưng lại làm mất lòng Thiên Đế, Thiên Đế nổi giận lôi đình vì Hậu Nghệ đã giết chín người con của mình, không cho phép vợ chồng Hậu Nghệ trở về Trời.

H/A: Không được trở về Trời, Hậu Nghệ bèn quyết định ở lại trần gian, làm nhiều việc có ích cho nhân dân. Thế nhưng vợ anh Hằng Nga lại ngày càng chán nản cuộc sống gian khổ trên trần gian, trách móc Hậu Nghệ hồ đồ giết chết các con Thiên Đế.

D/H: Hậu Nghệ nghe nói trên núi Côn Luân có một vị thần tiên Tây Vương Mẫu có thuốc thần, uống thuốc này là có thể bay lên Trời, do đó đã trèo đèo lội suối, trải qua biết bao gian khổ, leo lên đỉnh núi Côn Luân, xin Tây Vương Mẫu cho thuốc thần, điều đáng tiếc là, thuốc thần của Tây Vương Mẫu chỉ đủ cho một người dùng.

H/A: Hậu Nghệ vừa không nỡ bỏ lại vợ một mình lên Trời, cũng không muốn một mình vợ lên Trời bỏ lại mình ở trần gian. Bởi vậy anh mang thuốc thần về nhà và giấu đi.

D/H: Hằng Nga biết Hậu Nghệ đã xin được thuốc thần, mặc dù Hằng Nga rất yêu chồng mình, nhưng vẫn không chịu nổi sự cám dỗ của thế giới cực lạc trên Trời.

H/A: Khi mặt Trăng sáng nhất vào Tết Trung Thu ngày 15 tháng 8 âm lịch, nhân lúc Hậu Nghệ vắng nhà, Hằng Nga đã uống trộm thuốc thần, bỗng chốc thấy thân mình ngày càng nhẹ, từ từ bay lên Trời, cuối cùng bay đến Mặt Trăng, vào ở cung Quảng Hàn.

D/H: Lúc về đến nhà, Hậu Nghệ rất đau khổ khi biết vợ đã bỏ mình lên Trời, nhưng không còn cách nào khác, đành phải ở lại trần gian một mình.

H/A: Mặc dù sống cô độc một mình, nhưng Hậu Nghệ tiếp tục làm việc tốt cho dân, đồng thời dạy học trò bắn cung.

D/H: Trong đám học trò có một người tên là Bàng Mông, tiến bộ rất nhanh, không bao lâu đã bắn rất giỏi, nhưng Bàng Mông nghĩ nếu Hậu Nghệ còn sống, thì mình không thể là người giỏi nhất thiên hạ, bởi vậy có một lần nhân thầy uống rượu say, đã bắn chết Hậu Nghệ từ đằng sau.

H/A: Tuy nói Hằng Nga đã lên đến mặt Trăng, nhưng nơi đây rất lạnh lẽo, chỉ có một chú thỏ giã thuốc và một ông lão đốn củi, bởi vậy Hằng Nga cả ngày buồn bã ngồi trong cung Trăng, nhất là lúc mặt Trăng đẹp nhất vào ngày 15 tháng 8 âm lịch, Hằng Nga luôn hoài niệm cuộc sống hạnh phúc với Hậu Nghệ trước đây.

H/A: Khi ngắm Trăng, người Trung Quốc cổ đại thắc mắc vì sao trên mặt Trăng có hình ảnh giống bóng cây? Trên mặt Trăng có người không? Chính vì vậy, họ đã sáng tác nhiều truyện cổ tích để giải thích, truyện “Hằng Nga lên cung Trăng” là câu chuyện nổi tiếng nhất, ai ai cũng biết ở Trung Quốc.

D/H: Vâng. Chính vì am hiểu câu chuyện “Hằng Nga lên cung Trăng”, người Trung Quốc thích thảo luận về Hằng Nga khi ngắm Trăng, mọi người cho rằng, Hằng Nga là một cô gái xinh đẹp dịu dàng.

H/A: Vì vậy, trong văn hóa Trung Quốc, mặt Trăng là âm, đại diện cho nữ giới.

D/H: Vâng. Từ xưa đến nay, mọi người đều muốn lên mặt Trăng xem có nàng Hằng Nga thật không, cho nên, vệ tinh nhân tạo quay xung quanh mặt Trăng đầu tiên do Trung Quốc phóng mang tên “Hằng Nga 1”, gửi gắm tình cảm tốt đẹp của người Trung Quốc.

H/A: Quý vị và các bạn thân mến, tiếp theo Duy Hoa và Hùng Anh xin giới thiệu những bài thơ nổi tiếng Trung Quốc về Trăng.

D/H: Đa số thơ ca về Trăng của Trung Quốc đều mang triết lý sâu xa, chẳng hạn, thơ về trăng của Thi tiên đời Đường Lý Bạch, đã ví sự ngắn ngủi của đời người với sự vĩnh hằng của thiên nhiên qua hình ảnh mặt Trăng.

H/A: Vâng. Nhà thơ Lý Bạch viết rằng: “Cổ nhân kim nhân nhược lưu thủy, cộng khán minh nguyệt giai như thử”.

D/H: Câu thơ có nghĩa là, người xưa người nay cũng như nước chảy, cùng ngắm Trăng sáng như vậy thôi.

H/A: Câu thơ của Lý Bạch khiến độc giả cảm khái muôn phần, cho dù con người trải qua bao nhiêu bể dâu, nhưng vầng Trăng không bao giờ thay đổi.

D/H: Mượn vầng Trăng bày tỏ tâm trạng nhớ nhung là chủ đề vĩnh hằng của tác phẩm văn học Trung Quốc. Vì mặt Trăng là thiên thể gần trái Đất nhất, có thể gửi gắm niềm thương nhớ và bày tỏ tâm trạng thoát khỏi mọi thứ ràng buộc của con người.

H/A: Những điều may mắn và bất hạnh trong đời người hầu như đều có thể bày tỏ thông qua ánh Trăng. Chẳng hạn, nhà thơ đời Tống Tô Thức có câu thơ viết rằng: “Nhân hữu bi hoan ly hợp, nguyệt hữu âm tình viên khuyết, thử sự cổ nan toàn. Đãn nguyện nhân trường cửu, thiên lý cộng thuyền quyên”.

D/H: Tạm dịch là: Người có vui buồn tan hợp, Trăng có tỏ mờ tròn khuyết, việc này xưa nay khó bề trọn vẹn. Chỉ ước người sống mãi, dặm nghìn cùng chung bóng yêu kiều.

H/A: Lý Bạch có một bài thơ nổi tiếng viết rằng: “Sàng tiền minh nguyệt quang, nghi thị địa thượng sương. Cử đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương.”

D/H: Tạm dịch là: Đầu giường ánh Trăng rọi, ngỡ mặt đất phủ sương. Ngẩng đầu nhìn Trăng sáng, cúi đầu nhớ quê hương.

H/A: Trong bài thơ này, nhà thơ Lý Bạch muốn gửi gắm tình cảm và nỗi nhớ quê hương qua vầng Trăng.

D/H: Ngoài ra, còn có nhiều nhà thơ ví tình cảm nhớ nhung người thân và người yêu như ánh Trăng tỏa sáng khắp nhân gian. Chẳng hạn, nhà thơ đời Đường Đỗ Phủ có câu thơ rằng: “Lộ tòng kim dạ bạch, nguyệt thị cố hương minh”. Câu thơ có nghĩa là: Từ đêm nay sương rơi trắng xóa, vầng Trăng là ánh sáng từ quê nhà.

H/A: Còn nhà thơ đời Đường Trương Cửu Linh viết rằng: “Hải thượng sinh minh nguyệt, thiên nhai cộng thử thì”. Câu thơ này tạm dịch là: Trăng sáng trên biển cả, cuối trời rạng rỡ soi.

D/H: Nỗi niềm nhớ nhung và cảm giác cô đơn thường luôn song hành, chẳng khác nào một cặp song sinh, dù ở phương Đông hay là phương Tây, tác phẩm văn học về Trăng đều chứa nhiều cảm giác cô đơn.

H/A: Chẳng hạn, câu thơ của Lý Bạch: “Hoa gian nhất hồ tửu, độc chước vô tương thân. Cử bôi yêu minh nguyệt, đối ảnh thành tam nhân”.

D/H: Tạm dịch là: “Một bầu rượu giữa vườn hoa, rượu đây không bạn cùng ta uống cùng. Nâng ly khẩn khoản mời Trăng, Trăng, ta và bóng rõ ràng thành ba”.

H/A: Quý vị và các bạn thân mến, tiết mục “Tuần san Văn hóa” hôm nay đến đây là hết, Hùng Anh chúc các bạn Tết Trung Thu vui vẻ.

D/H: Duy Hoa xin hẹn gặp lại quý vị và các bạn vào tiết mục “Tuần san Văn hóa” tuần tới.

Nghị Luận Xã Hội : Ý Nghĩa Câu Chuyện Những Quả Bóng Bay

Đề nghị luận xã hội dành cho học sinh giỏi : Bài học rút ra từ câu chuyện sau Những quả bóng bay Một cậu bé da đen đang chơi đùa trên bãi cỏ. Phía bên kia đường, một người đàn ông đang thả nhẹ những quả bóng lên trời, những quả bóng đủ màu sắc, xanh, đỏ tím vàng và có cả màu đen nữa. Cậu bé nhìn khoái chí, chạy tới chỗ người đàn ông, hỏi nhỏ: – Chú ơi, những quả bóng màu đen có bay cao được như những quả bóng khác không ạ? Người đàn ông quay lại, bất giác giấu đi những giọt nước mắt sắp lăn nhẹ trên đôi gò má. Ông chỉ lên đám bóng bay lúc nãy chỉ còn những chấm nhỏ và trả lời cậu bé: – (…) Cậu bé nở nụ cười rạng rỡ cảm ơn người đàn ông và không quên ngắm nhìn những quả bóng đang bay trên bầu trời rộng lớn. Theo anh/chị người đàn ông đã nói gì với cậu bé? Trên cơ sở câu trả lời đó anh chị viết một bài văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của câu chuyện trên: Bài làm: Cuộc sống muôn màu, có những người ta vô tình gặp ngoài đường, nhìn bề ngoài họ dường như giản dị, nhưng họ lại chính là người giàu có nhất và ban tặng đi nhiều nhất? Cuộc sống là vậy, ta chưa thể định giá được ai nếu chỉ coi xem vẻ bề ngoài của họ, như câu truyện Những quả bóng bay đã cho ta hiểu về ý nghĩa của điều này. Đây là một câu truyện ngắn, nhưng lại mang đến cho ta nhiều nội dung ý nghĩa mới mẻ mà thấm thía. Câu truyện xung quanh hai nhân vật, cậu bé và người bán bóng bay. Câu truyện xoay quanh chủ yếu về cuộc đối thoại giữa họ. Cậu bé hiếu động, khoái chí nhìn những quả bóng bay đủ màu sắc bay trên bầu trời, nhưng cậu lại khá lạ lẫm về quả bóng màu đen, nên tiến lại hỏi :”Chú ơi, những quả bóng màu đen có bay cao được như những quả bóng khác không ạ?” dường như đọc đến đây ta cũng đưa ra cùng một câu hỏi với chú bé. Ừ nhỉ? Thường ta chỉ hay nhìn thấy những quả bóng màu sắc tươi sáng được treo lên, hiếm khi ta nhìn thấy một quả bóng nào màu đen, và cũng bởi nó ít thu hút sự chú ý và sự ưa thích của người khác. Câu hỏi ấy đã khiến cho người bán bóng bay trở nên xúc động. Và ta có thể nghĩ ông đã trả lời cậu bé theo ý nghĩa câu truyện rằng: “Những quả bóng màu đen, nó sẽ bay cao như những quả bóng khác”. Qua đó, đã cho ta nhận ra một thông điệp sống quan trọng. Màu đen, màu vàng, màu xanh, hay màu đen. Cho dù đó là màu sắc nào, mang vẻ đẹp nào, chúng đều là những quả bóng bay. Chúng có thể được treo ở những nơi phù hợp khác nhau. Quả bóng vốn có màu sắc ngay từ đầu như vậy, một màu sắc riêng biệt, nó cũng như tượng trưng cho giá trị riêng của mỗi người, giá trị của mỗi người không nên bị đánh giá phiến diện bằng cái nhìn quy chụp bề ngoài, mà là sự đánh giá nhìn nhận từ bên trong bản thân họ. Bạn có thể là quả bóng nào đó theo cá tính riêng của bạn, miễn bạn là một quả bóng bay, có thể đủ năng lực, bay cao, bay xa, và mang đến niềm vui cho nhiều người… Câu chuyện cho ta hiểu một bài học sống, đừng vội nhìn bề ngoài để đánh giá giá trị của bất kì điều gì. Mỗi con người sinh ra đều cùng chung một sự sống, có thể cống hiến và tạo nên những giá trị cho đời. Như nạn phân biệt chủng tộc Apacthai một thời, và về sau tổng thống Obama, một người da đen đầu tiên lên nắm quyền và mang lại thành công rực rỡ cho nước Mĩ. Cuộc sống là như vậy, hãy cứ giữ cho mình niềm tin vào giá trị của bản thân, con người làm nên thành công, hay thất bại, đều không phụ thuộc vào hình thức bề ngoài. Qua đó cũng dạy cho ta một bài học, hãy cố gắng để rèn luyện chính mình, vượt lên trên chính mình để khẳng định rõ giá trị bản thân. Phê phán những ai coi thường người khác, tự tin thái quá về mình. Mỗi người đều mang giá trị riêng, hãy luôn tin vào điều đó. Cảm ơn câu truyện về những quả bóng bay, qua đó cho ta hiểu rõ hơn và nhận thức đúng đắn hơn về chính bản thân mình, cố gắng để có thể bay cao, bay xa trong cuộc sống, tương lai của mình.

Những Bài Thơ Hay Về Phật Giáo

Quay về bến giác.

Là bờ hạnh phúc.

Bài 2: LUÂN HỒI, VAY TRẢ

Ai sinh ra cũng một lần phải chết,

Chết đi rồi có hết được đâu

Sự sống mới rồi sẽ lại bắt đầu,

Hành tinh xanh mãi nuôi màu hi vọng.

Đi vào đời với hai bàn tay trắng

Lúc lìa đời lại trắng cả bàn tay.

Khi sống tham nhặt cho đầy,

Phải mang lấy nghiệp trả vay nợ đời.

Kiếp luân hồi có sinh có diệt

Đời vô thường giả tạm hư không

Ngũ uẩn: “Sắc bất dị không”

An nhiên tự tại cho lòng thảnh thơi.

Sống kiếp đời chớ nên gây nghiệp

Để tát sinh tạo kiếp luân hồi,

Phước tu cực lạc, cõi trời Tây Thiên.

Bài 3: NHÂN QUẢ

Gieo tham lam, hái khổ đau,

Gieo lòng sân hận, hái sầu bi ai.

Trồng cây gai, chạm phải gai,

Hương thơm trồng huệ, trồng nhàu, trồng sen.

Gieo nhân lành, hái quả ngon,

Gieo thánh thiện, được quả tròn từ bi.

Luật trời không thể biến suy lẽ đời.

Gieo nhân thánh, được lên trời,

Giác ngộ trí tuệ, rạng ngời tòa sen.

Bài 4: VÔ THƯỜNG

Cuối đời tất yếu, tuổi già hoại tan.

Thành, tru, hoại, diệt, hợp tan vô thường,

Kiếp người chẳng phải vấn vương,

Tu được phước huệ rộng đường về thiên.

Bài 5: BẢN NGÃ DỤC VỌNG

Chúng sinh đắm đuối si mê,

Sống trong ảo vọng háo danh muộn phiền.

Ganh đua giành dật đồng tiền,

Tham lam sắc dục đảo điên mê mờ.

Biển khô mà không thấy bờ,

Trôi lăn muôn kiếp trông vô ngàn đời.

Vô minh, vọng tưởng xa vời,

Cái thân giả tạo một thời khổ đau.

Tham sân si muôn kiếp sầu,

Bến bờ giác ngộ hay mau quay về.

Xa lìa biển khổ, sông mê,

Con đường hạnh phúc tìm về thiên tai.

Bài 6: NGHIỆP CHƯỚNG

Biển khổ mênh mông bởi lỗi lầm

Chớ gieo tai vạ thành nghiệp chướng

Phúc họa trong đời kiếp hồi luân.

Bài 7: ƯỚC MƠ TUỔI THƠ

Tôi yêu mến thủa ngày xưa,

Tuổi thơ đi học đến trưa tan trường.

Lang thang xếp lá ven đường,

Làm chiếc thuyền nhỏ thả niềm ước mơ.

Hồn nhiên với tuổi ngây thơ,

Êm đềm như tiếng chuông chùa ngân nga.

Yêu từng cây cỏ, khóm hoa,

Yêu thiên nhiên, tiếng chim ca hót mừng.

Tuổi thơ đi thật tưng bừng,

Hồn nhiên trong sáng chưa từng âu lo.

Con chim oanh đã bay xa vào đời.

Hoàng hôn ngả phía chân trời,

Tôi yêu về thủa thiếu thời của tôi.

Giờ đây thương mến con người,

Sống chung vũ trụ, bầu trời thân thương.

Từ trong cái lẽ vô thường,

An nhiên, tự tại, can trường bão giông.

Bài 8: Ở TRỌ

Lang thang trong cõi Ta Bà,

Tây Thiên là chốn quê nhà xa xăm.

Quê hương ta đó ngàn năm vĩnh hằng.

Phật tử Thanh Bình Vườn hoa Phật Giáo

Đôi Điều Ít Biết Về Bài Thơ Núi Đôi Của Vũ Cao

Nhà thơ Vũ Cao trong một lần trò chuyện với khoa Văn Trường CĐSP HN, ông kể: Có nữ sinh đã khóc nói với ông rằng “Bác ơi cháu thương bác quá, vì bác đã mất người yêu”. Ông cũng không biết giải thích sao với cô nữ sinh đa cảm. Bài thơ “Núi Đôi” được ông sáng tác nhân lần ông nằm điều trị tại bệnh viện 74 ở Sóc Sơn. Ông đã nghe được câu chuyện từ đồng đội và dân làng Phù Linh về một cô gái đã hy sinh anh dũng ở Núi Đôi để bảo vệ một đoàn cán bộ khi cô mới chỉ chừng 20 tuổi. Vào thời đó, nhiều chuyện thực xung quanh cuộc sống riêng và hoạt động cách mạng của cô ít được biết rõ. Và thế là câu chuyện người ta lưu truyền bằng tình cảm khâm phục và tự hào đã tạo nên một huyền thoại đối với thế hệ trẻ sau này. Năm 1975, có một người đàn ông tìm đến gặp nhà thơ Vũ Cao, lúc đó nhà thơ mới vỡ lẽ: Liệt sỹ Trần Thị Bắc – cô gái Núi Đôi đó đã có chồng, một anh bộ đội Cụ Hồ và chuyện đời, chuyện tình của họ còn cảm động hơn nhiều những gì chúng ta đã nghe kể…

Xuân Dục – Đoài Đông là bên này và bên kia hai ngọn núi đôi, thuộc Xuân Đoài -xã Phù Linh (Lạc Long cũ) -Sóc Sơn-HN. Xuân Đoài gồm có 3 xóm: xóm Núi Đôi-xóm Giữa-xóm Chùa. “Xóm Chùa cháy đỏ những thân cau” chính là quê hương của cô gái Trần Thị Bắc ngày xưa – Cô gái được nhắc đến trong bài thơ “Núi đôi”. Trước những năm 1950, Lạc Long là vùng địch hậu, là trọng điểm giằng co giữa ta và quân Pháp. Núi Đôi vừa chứng kiến những tang tóc đau thương vừa ghi tạc những tấm gương anh dũng của quân và dân ta. Cho đến nay những chứng tích xung quanh Núi Đôi vẫn còn với những bốt lave, Miếu Thờ, Núi Đôi, bốt Thá…Lạc Long có 3 đồn Tây án ngữ giữa xã như chảo lửa và bị cô lập bởi vành đai trắng do địch tạo ra. Trong hoàn cảnh khốc liệt đó, người dân Lạc Long vẫn một lòng kiên trung và đây trở thành một trong những xã tiêu biểu về chiến tranh du kích thời chống Pháp với nhiều tên tuổi được ghi nhận trong đó có ông Nguyễn Văn Vấn, xã đội phó từng vác dao chém Tây giữa chợ huyện, lập nhiều chiến công trong các cuộc phá đồn tây và từng là Chiến sỹ thi đua toàn quân… Trở về Núi Đôi bây gờ hai ngọn núi vẫn còn đó, cây rừng tái sinh đã phủ xanh che đi những sườn núi lở lói sặc mùi thuốc súng năm nào. Những đồn bốt đã rêu phong, trở thành chỗ chơi trốn tìm của trẻ nhỏ… Rưng rưng giữa lối vào xóm Chùa, những đổi thay khiến người ta cảm nhận nỗi đau dường như đã chôn sâu vào lòng người sau hơn nửa thập kỷ trôi đi. Trong ký ức của những người dân ở đây, điều được nói nhiều nhất lại là huyền thoại về cô gái Núi Đôi. Có những em bé hồn nhiên bảo: “Cô ấy tên là Ngát, là Hương…” Có người bảo cô không có ai thân thích, có người khẳng định “cô ấy chưa hề có người yêu, còn trẻ lắm mới 17-18 tuổi thôi”. Chỉ hỏi riêng chuyện: “Anh đi bộ đội “sao trên mũ” ngày ấy là ai ?” Mỗi người nói một phách: Là ông A, ông B… Có lẽ thời chiến tranh khốc liệt, chẳng phải ai cũng có điều kiện hiểu về người khác một cách chân tơ kẽ tóc. Song cũng có thể, người ta chỉ muốn nghĩ về cô gái Núi Đôi bằng những thêu dệt như trong huyền thoại, tuy sai thực tế, nhưng chung quy cũng vì một sự mến mộ đối với người đã khuất.

* Và một cuộc đời có thật.

Liệt sỹ Trần Thị Bắc là con gái đầu của một gia đình có truyền thống yêu nước. Các bác, các cậu của cô đều là cơ sở của Cách mạng, là du kích. Có người là liệt sỹ, có người từng bị giặc bắt. Bố cô những năm đó cũng là xã đội phó xông pha gan dạ, bị địch bắt tra tấn chết đi sống lại. Lớn lên giữa những người như vậy, mới chỉ 15 tuổi Bắc đã tham gia các hoạt động của các đoàn thể. 17 tuổi cô vào đội du kích với nhiệm vụ làm giao thông liên lạc, tiếp tế cho đội du kích trong những lần đi bắn tỉa đồn Tây. Năm 1950, cô được cử đi học y tá rồi trở về kiêm nhiệm thêm việc cứu thương. Có lần theo đội du kích đi bắn tỉa, cô bị đạn của kẻ thù bắn xướt qua mặt để lại vết thương ngay dưới khoé mắt. Nhưng cô không hề biết sợ hãi. Là một cô gái xinh đẹp, hát hay và khéo ăn nói, năm 1951, Bắc được giao cả 3 nhiệm vụ: quân báo, cứu thương và binh vận. Thời đó, người ta thấy có một cô gái hàng ngày quẩy gánh đi buôn bán, chiều chiều lại quanh quẩn quanh khu đồn Tây để cắt cỏ. Những tên lính đồn chẳng những không nghi ngờ mà còn tỏ ra quý mến Bắc. Cô ra vào đồn Tây tương đối dễ dàng, gánh nước giúp bọn lính đồn, lân la trò chuyện với chúng. Bắc làm quen được với những tên Tây chỉ huy để thăm dò tin tức và gây dựng được một nhân mối bao gồm hai cai ngụy, một người làm thợ mộc trong đồn Tây và một vợ Tây… Những người này đã thường xuyên cung cấp cho Bắc những thông tin về kế hoạch hoạt động của lính đồn, nhiều điều cơ mật của địch. Với những thông tin quý báu do Bắc đem về, quân ta đã tránh được rất nhiều tổn thất trong cuộc đấu tranh với quân Pháp. Sau này, khi nguy cơ bọn Pháp có thể lần ra nhân mối, cô đã tìm cách đưa hai người cai ngục được giác ngộ chạy thoát ra vùng kháng chiến. Vào ngày 12/3/1954, nhóm cán bộ của ta họp tại Lương Châu để chuẩn bị cho kế hoạch đánh phục kích địch. Tiên lượng sau khi ta đánh thì địch sẽ tức tối điên cuồng và tổ chức vây ráp càn quét, cấp trên lệnh rút bớt cán bộ nằm vùng ra vùng tự do để tránh tổn thất. Đoàn cán bộ di chuyển ra vùng tự do ngay trong đêm hôm đó gồm có trên 30 người. Bắc được cử dẫn đoàn đi vì hai lẽ: Cô thông thạo địa bàn, gan dạ và khôn khéo trong ứng phó khi có tình huống xấu. Mặt khác, bản thân cô cũng có dấu hiệu bị lộ, nên đã được lệnh chuyển công tác, hoặc sẽ về làm quân báo của huyện đội hoặc về phòng y tế huyện. Ngày 21/3 cũng là ngày Bắc về Núi Đôi thì gặp ổ phục kích của địch. Bọn địch bắt được Bắc, bịt miệng cô dự định ém chờ bắt nốt những người đi sau. Biết điều đó, Bắc đã chống cự quyết liệt. Cô cố kêu to và lao vào tên Tây chỉ huy túm lấy bộ hạ hắn. Tên này đau điếng quên mất việc lớn, kêu rống lên. Một tên lính lê dương đứng cạnh đã lôi Bắc ra và xả trọn băng đạn vào ngực cô. Đoàn cán bộ của ta ra khỏi Lương Châu nghe tiếng súng biết là bị lộ đã lui lại chờ đến khi địch rút. Khi anh em du kích và quân báo huyện tới nơi Bắc giằng co với địch thì Bắc đã hy sinh. Máu loang đỏ ối trên ngực cô bắt đầu se lại. Những viên đạn của kẻ thù vẫn còn găm nguyên ở đó. Bắc được anh em thay nhau cõng vượt vành đai trắng ra đến Cầu Cốn-Vệ Sơn-xã Tân Minh và được đồng đội an táng ở đây. Đội Hoè, chỉ huy quân đồn Miếu Thờ, có mặt trong trận phục kích đó, sau này kể lại: Hôm ấy bọn địch huy động cả lính đông gấp đôi, gồm quân của bốt Núi Đôi và bốt Miếu Thờ vì nghi du kích đang đào hầm hố quanh bốt. Bắc đã lọt vào giữa ổ phục kích, nếu cô không đánh động thì còn nhiều cán bộ bị bắt. Dân làng thương tiếc Bắc nói với nhau: “Cái Bắc nó muốn sống thì vẫn có cơ hội, vì nó quen biết với bọn Tây, có thể van xin chúng tha cho. Mặt khác, nó cũng mới chỉ bị tình nghi là du kích thôi”. Nhưng điều đáng nói lại ở chỗ, Bắc có thể tìm đường thoát cho mình nhưng cô đã chọn cái chết vì những người khác.

Sau này khi Phù Linh được công nhận là xã anh hùng và chuẩn bị xét chọn phong tặng danh hiệu anh hùng đối với một số cá nhân xứng đáng. nhiều người đã có ý kiến: Phải truy tặng danh hiệu anh hùng cho cô gái Núi Đôi năm xưa. Tuy thành tích của liệt sĩ Trần Thị Bắc khiêm nhường hơn những bậc cha chú đi trước nhưng cô lại được lòng dân yêu mến, bởi cô đã sống đẹp và dám chết khi cần thiết. Cũng phải nói thêm, phải đến lần thứ ba chuyển mộ và sau khi bài thơ “Núi Đôi” của nhà thơ Vũ Cao ra đời vào năm 1956, Trần Thị Bắc mới được công nhận là liệt sĩ. Tuy nhiên trong lòng dân và trong trái tim những người thân đồng đội, Bắc vẫn đẹp và còn mãi.

Anh bộ đội “sao trên mũ” ấy là Trịnh Khanh người cùng quê Lạc Long. Chúng tôi tìm đến thôn Hậu Dưỡng – xã Kim Chung – Đông Anh – Hà Nội. Ông Trịnh Khanh bây giờ đã ngoài 70 tuổi là một lão thành Cách mạng, nguyên Chủ nhiệm khoa Lịch sử, Viện Mác-Lê Nin. Khác với dự đoán của chúng tôi, ông cởi mở nhưng rất đúng mực khi chúng tôi gợi về “một miền ký ức” mà ông ít khi nhắc tới, cả với những người bạn đồng niên. “Năm ấy đại đội tôi đóng quân ở gần khu sơ tán, tôi tình cờ quen một cô gái đồng hương đang theo học một lớp y tá tại đó. Có chung nhiều điều để chia sẻ, chúng tôi trở nên thân thiết. Nhưng rồi chúng tôi cũng phải xa nhau, mỗi người một nhiệm vụ. Bẵng đi đi gần hai năm, năm 1952, tôi mới gặp lại Bắc khi cô ấy tiếp tục theo học lớp y tá của tỉnh. Chúng tôi đã hẹn ước với nhau. Trong suốt thời gian đó, Bắc thường xuyên sang chơi, nấu cơm cho cả mấy anh em trong tiểu đoàn chúng tôi. Mọi người đã gọi cô là “dâu của tiểu đoàn”. Đó là thời gian ngắn ngủi chúng tôi sống trong hạnh phúc của những người yêu nhau. Rồi Bắc quay về Phù Linh. Tháng 1/1953, Tiểu đoàn 64 của tôi đang phải đương đầu với một trận càn của một binh đoàn Pháp. Trước trận đánh, người chỉ huy của tôi đùa: “Sau trận này sẽ duyệt cho thằng Khanh về cưới vợ”. Anh em ai cũng mừng cho tôi, chẳng ai ngờ sau đó ít phút người chỉ huy đó đã hy sinh vì đạn pháo của địch. Và phải 1 năm sau tôi mới có dịp đi tìm Bắc ở vùng tự do Hồng Kỳ. Nói đến chuyện làm lễ cưới chúng tôi đều khóc. Hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, chúng tôi lại chẳng có tiền mua thuốc nước mời bạn bè, đồng đội. Bắc trở về hậu địch gặp mẹ. Và thật bất ngờ, mẹ Bắc đã cõng theo cậu em út từ hậu địch ra mang theo bánh kẹo để chúng tôi làm lễ cưới. Đêm đó chúng tôi được mọi người chuẩn bị cho một ổ rơm trên đồi. Hai ngày sau chúng tôi lại chia tay nhau và đó là cuộc chia ly vĩnh viễn…” Chợt nhớ câu “Phiên chợ Phù Linh ai cũng bảo/Em còn trẻ lắm nhất làng trong/Mấy năm cô ấy làm du kích/Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng”, tôi thắc mắc, tại sao trong bao năm, không thấy ai nói chuyện cô Bắc năm xưa có chồng? Ông Khanh cười buồn: Chúng tôi cưới nhau ở vùng tự do, quê hương ở vùng địch hậu nên ít người biết ngoài những người thân thích. Vả lại tiếng là cưới nhưng cũng chỉ được sống cuộc sống vợ chồng có 2 ngày thôi. Sau này, người ta cũng đinh ninh như thế, tôi cũng chẳng giải thích. Nhắc lại chi một chuyện đau buồn. Năm 1975, tôi tìm gặp nhà thơ Vũ Cao để cảm ơn ông, nhà thơ lúc đó cũng mới kêu lên: “Thế Bắc có chồng rồi à?” Sau 3 tháng kể từ ngày cưới, ông Khanh nhận được một lúc 3 lá thư, 1 lá của đồng đội, một của vợ ông nhắn đã gửi cho ông chiếc đồng hồ và cái áo len, 1 lá của nhà báo tin vợ ông đã hy sinh. Ông đau đớn đến lặng người, nhưng hoàn cảnh kháng chiến nên phải đến hoà bình lập lại ông mới được trở về tìm mộ vợ. Chiều hôm ấy, những người dân thấy một anh bộ đội thờ thẫn bên gò Cầu Cốn. Người em của liệt sỹ Trần Thị Bắc nhận ra anh rể, khóc oà. Kể về ngày đó, ông Khanh nghẹn ngào không nói thành lời. Ông đọc cho chúng tôi nghe khổ thơ: Anh ngước nhìn lên hai dốc núi/Hàng cây, bờ cỏ, con đường quen/ Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/Núi vẫn đôi mà anh mất em. Chưa hề gặp người lính cụ Hồ năm nào đã yêu người liệt nữ nhưng sự hình dung của nhà thơ đã nói được những gì thổn thức trong lòng ông Khanh. Sau này, khi nỗi buồn nguôi đi, chính mẹ vợ ông, tức mẹ đẻ của liệt sỹ Trần Thị Bắc đã thân chinh đi hỏi vợ lần nữa cho ông. Ông Khanh kết hôn lần thứ hai với em gái một đồng đội đã hy sinh. Người đàn bà thứ hai trong đời ông, thật may, là người hiểu lẽ đời và sống có tình có nghĩa. Bà đã về quê bà Bắc, gặp gỡ họ mạc và các cụ thân sinh ra người đã khuất. Ai cũng quý mến và xem hai vợ chồng bà như người trong nhà. Bây giờ khi đã ngoài 70, không thể đi lại nhiều, ông Khanh vẫn cho các con về Núi Đôi vào các dịp giỗ Tết. Ông Trần Văn Nhuận, người em út đã chứng kiến đám cưới của anh chị mình bùi ngùi kể: “Anh tôi (ông Khanh) là người chu đáo, người vợ sau này cũng rất tốt. Giờ đây chúng tôi không chỉ coi anh ấy như là anh rể mà coi anh ấy như là ruột thịt”. Một lần đài truyền hình về Sóc Sơn quay phóng sự và khẳng định: Liệt sỹ Trần Thị Bắc là liệt sỹ cô đơn không ai cúng giỗ”. Những người em của bà Bắc đã khăn gói lên nhà anh rể vào đúng ngày gỗ chị. Họ thấy trên bàn thờ mâm cơm ngát mùi khói hương và lặng lẽ khóc. Những thêu dệt về thân thế của người liệt nữ vẫn không chấm dứt. Bà đã đi vào phim với một hình ảnh được thêu dệt như thế. Nhưng ít ai biết có một đời thực không tô vẽ, phóng đại vẫn đẹp mãi giữa cuộc sống thường ngày này và đẹp cả trong tình cảm ấm áp của người thân còn sống.

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Câu Chuyện Và Thơ Ca Về Trăng Của Trung Quốc trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!